đây là bản word để trình bày

14 views
Skip to first unread message

Quỳnh Tạ Thanh

unread,
Sep 15, 2011, 2:38:21 PM9/15/11
to kinhtedautu
Trong bối cảnh vay vốn trong nước khó khăn, huy động quốc tế thông qua
việc phát hành trái phiếu ra nước ngoài đang được nhiều công ty cũng
như chính phủ nhiều nước hướng tới. Trên thế giới các nước phát triển
như Nga, Mỹ, Anh… đã hướng tới thị trường vốn quốc tế từ khá lâu. Và
hiện nay, việc huy động vốn theo cách này ngày càng phổ biến.
Hiện nay việc tìm hiểu và hướng dẫn đến thị trường vốn quốc tế không
chỉ phổ biến ở các nước phát triển mà với các nước đang phát triển thì
đây cũng là một xu hướng đang được gia tăng mạnh mẽ. Và Việt Nam cũng
không đi ngoài xu hướng này. Với vấn đề này chúng tôi chủ yếu phân
tích tình hình nước ta những năm gần đây.
Nhận thức được vai trò quan trọng của thị trường vốn quốc tế đối với
mục tiêu thực hiện công nghiệp hóa-hiện đại hóa, trong những năm gần
đây nước ta đặc biệt là các doanh nghiệp đã có nhiều động thái nhằm
thu hút vốn từ thị trường vốn quốc tế và đã đạt được kết quả tương đối
thành công. Có nhiều cách để huy động vốn qua thị trường quốc tế như
phát hành trái phiếu, cổ phiếu hoặc trái phiếu chuyển đổi ra thị
trường quốc tế để huy động vốn, hay các doanh nghiệp có thể bán một
phần vốn của mình cho các quỹ đầu tư quốc tế để huy động vốn. . Nhất
là hiện nay thị trường vốn nước ngoài không chỉ dồi dào mà còn có lãi
suất rất hấp dẫn (lãi suất liên ngân hàng ở thị trường London hiện là
0,75%/năm)

. Ví dụ như công ty cổ phần quạt Việt Nam đã bán 51% vốn cho Tập đoàn
SEB (Pháp); Công ty cổ phần Diana Việt Nam đã bán 95% vốn cho Tập
đoàn Unicharm (Nhật Bản); Masan Consumer bán 10% cổ phần cho Tập đoàn
KKR (Mỹ), công ty cổ phần Cồn rượu Hà Nội(Halico) đã bán cho Tập đoàn
đồ uống Diageo 30% vốn và thu về hơn 50 triệuUSD.
Tên công ty huy động vốn Lượng vốn bán (%) Số vốn huy động được (triệu
USD)
Công ty cổ phần Halico 30% >60
Công ty cổ phần quạt Việt Nam 51% 20
Công ty cổ phần Diana 95% >120
Công ty Masan Consumer 10% 159

Đây là một trong các cách các công ty Việt Nam dung để huy động vốn.
Tuy nhiên lượng vốn huy động qua thị trường chứng khoán lại luôn có
mức tăng nhanh hơn các nguồn vốn khác. Tình hình cụ thể được trình bày
trong bảng thống kê sau: Về phía nhà nước năm 2005 ngay ngày đầu tiên
tại Hồng Kông (19/10), số lượng các nhà đầu tư đặt mua đã đạt khoảng 1
tỷ USD, gấp 2 lần số lượng trái phiếu Chính phủ Việt Nam định phát
hành. Đến ngày 26/10, sau khi Chính phủ quyết định tăng khối lượng
phát hành thêm 250 triệu USD, số lượng các nhà đầu tư đặt mua đã tăng
lên tới hơn gấp 3 lần từ mức trên 1 tỷ USD lên khoảng 3 tỷ USD. Ngày
định giá trái phiếu, 29/10, số lượng các nhà đầu tư đặt mua đã lên tới
con số kỷ lục 4,5 tỷ USD, tức là gấp 6 lần mức Chính phủ Việt Nam phát
hành trong đợt này. Đặc biệt, có ngân hàng của Malaysia còn dùng cả
tiền dự trữ để tham gia mua 50 triệu USD. Điều này chứng tỏ, sức hút
mạnh mẽ của trái phiếu Việt Nam trên thị trường vốn quốc tế. Kết quả,
750 triệu USD trái phiếu đã được bán hết với lãi suất danh nghĩa là
6,875%/năm; trong đó các nhà đầu tư châu Á nắm giữ 38%, châu Âu 32% và
Mỹ là 30%. Trong số các nhà đầu tư này, các quỹ đầu tư tài chính là
đối tượng quan tâm nhiều nhất đến trái phiếu của Việt Nam (chiếm tới
52%), còn lại là ngân hàng (25%), các công ty bảo hiểm (17%) và các tổ
chức tài chính khác (7%). Năm 2007, chính phủ đã ban hành Nghị quyết
về việc ban hành trái phiếu quốc tế của chính phủ CHXNCNVN ra thj
trường quốc tế. Ngày 26/01/2010, Việt Nam đã phát hành thành công 1 tỷ
USD trái phiếu Chính Phủ thời hạn 10 năm trên thị trường New York(mỹ)
với lợi tức 6,95%. Đợt phát hành đã thu hút đc những luồng vốn chất
lượng như : 56%giao dịch thuộc các nhà đầu tư Mỹ, 16% là các nhà đầu
tư châu Âu và 28% là các nhà đtư châu Á. Về phía các doanh nghiệp
trong 2 năm 2010 và 2011, những doanh nghiệp lớn như Ximăng Hoàng
Thạch, Cơ điện Lạnh, Petrolimex… đã huy động được hơn 75.500 tỷ đồng
qua việc thực hiện 74 giao dịch phát hành trái phiếu thành công. Năm
2009, Công ty cổ phần Vincom phát hành thành công 100tr usd trái phiếu
chuyển đổi quốc tế và đã niêm yết trái phiếu này tại sàn giao dịch
chứng khoán Singapore. Đây là trái phiếu chuyển đổi quốc tế đầu tiên
do một doanh nghiệp tư nhân VN phát hành trên thị trường vốn quốc tế
và được niêm yết tại thị trường chứng khoán Singapore (SGX-ST). Cuối
tháng 12.2010, Đại hội cổ đông bất thường Tập đoàn Hoàng Anh Gia Lai
(HAG) đã thống nhất phát hành trái phiếu quốc tế để huy động 200 triệu
USD cho các dự án đã và đang triển khai của HAG. T6/2011, Vincom đã
phát hành thành công 40 triệu USD trái phiếu quốc tế, kỳ hạn 11 tháng
với lãi suất 6% một năm.
Năm Tên công ty/chính phủ VN Số vốn huy động được (triệu USD trái
phiếu)
2005 Chính phủ Việt Nam 750
2009 +Công ty cổ phần Vincom
+chính phủ Việt Nam(t3)
+ chính phủ Việt Nam(t8)
+ chính phủ Việt Nam(t12) 100
230.11
157
73
2010 + chính phủ Việt Nam
+ Tập đoàn HAG 1000
200
2011 +Công ty cổ phần Vincom
+ABBank 40
0.6(trái phiếu chuyển đổi)


Từ bảng số liệu trên có thể thấy việc thu hút vốn qua thị trường quốc
tế thông qua thị trường chứng khoán chủ yếu tập trung ở khu vực nhà
nước với lượng vốn huy động nhiều nhất. Đồng thời là lượng vốn huy
động được có xu hướng giảm dần trong năm 2009. Bên cạnh đó, một số
công ty khác cũng tham gia vào thị trường vốn quốc tế nhưng với lượng
vốn huy động ko nhiều và số lượng công ty tham gia là rất ít chỉ có
công ty lớn có kinh tế mạnh.
Nguyên nhân của tình trạng trên về phía các doanh nghiệp là do những
công ty vừa và nhỏ không có đủ khả năng trả nợ vốn huy động nên ko dám
tham gia thị trường vốn quốc tế mà nhường cơ hội đó cho các công ty,
tập đoàn lớn. Còn về phía chính phủ Việt Nam, nền kinh tế nước ta bị
tụt bậc trong toàn nền kinh tế thế giới cộng với sự tụt bậc về năng
lực cạnh tranh, về môi trường kinh tế vĩ mô( Việt Nam tụt 5 bậc từ
70/134 xuống 75/133 nền kinh tế so với năm trước trong bảng xếp hạng
chung, trong đó có đóng góp quan trọng của sự thay đổi trong chỉ tiêu
về ổn định kinh tế vĩ mô, tụt hạng sâu 42 bậc, từ 70 xuống 112) , sự
gia tăng cầu ngoại tệ trong khi nguồn cung lại giảm đáng kể(dự trữ
ngoại tệ cuối tháng 10/2009 là 16 tỷ USD so với 20 tỷ USD ở thời điểm
đầu năm 2008), nợ chính phủ tăng cao (Mức bội chi trong năm 2009 lên
tới 7% GDP, Năm 2008, nợ Chính phủ chiếm khoảng 36,5% GDP, năm 2009
ước lên đến 40% GDP và năm 2010 dự kiến khoảng 44% GDP) và rủi ro tài
chính(Việc vay thêm 1 tỷ USD bằng ngoại tệ (tương đương 18.000 tỷ VND)
sẽ làm cho gánh nặng nợ nần càng thêm chồng chất, rủi ro gặp phải sẽ
là rủi ro thanh toán và rủi ro tỷ giá. Rủi ro thanh toán là việc khi
trái phiếu đáo hạn, Nhà nước sẽ phải dành ra một số lượng tiền tương
ứng để thanh toán số tiền gốc đã vay )là những nguyên nhân làm giảm hệ
số tín nhiệm, năng lực tài chính, kiểm toán…khiến lượng vốn huy động
của Việt Nam lại liên tục giảm trong năm 2009. Đứng trước tình hình đó
phía Việt Nam đã có những biện pháp để khắc phục. Tăng cường hoạt động
của ngân hàng trung ương nhằm tăng tính thanh khoản cho thị
trường(thanh toán qua ngân hàng tăng nhanh về số lượng thẻ ATM) và
giảm căng thẳng trên thị trường tiền tệ và liên ngân hàng. tăng cường
năng lực hoạt động của các ngân hàng nhằm cung cấp một nền tảng vững
chắc để thực hiện công tác đánh giá. Thúc đẩy kinh tế phát triển nhằm
tăng thu ngân sách(Chính phủ thường xuyên làm việc với các Tập đoàn,
Tổng công ty lớn; thực hiện giao ban trực tuyến với các địa phương về
các biện pháp thúc đẩy sản xuất, kinh doanh, xuất khẩu, ngăn chặn suy
giảm, ổn định kinh tế vĩ mô. Tổng thu ngân sách năm 2009 tiếp tục
tăng, đạt khoảng 390,65 nghìn tỷ, bằng 100,2% kế hoạch dự toán) tập
trung đẩy mạnh xúc tiến kinh tế đối ngoại; đàm phán và đưa vào thực
hiện Hiệp định khu vực mậu dịch tự do (FTA) với một số nước(Chính phủ
tăng cường các chuyến thăm nước ngoài)
Như vậy, có thể thấy hiện nay tình hình thu hút vốn qua thị trường
quốc tế không còn tăng nhanh như trong giai đoạn trước 2005-2010. Giai
đoạn 2010- nửa đầu 2011, vấn đề này trở nên chậm chạp, không mấy khả
quan(Quý I/2011, CTCP Sữa Việt Nam (VNM), công ty duy nhất của Việt
Nam lọt vào bảng xếp hạng Forbes 500 Asia đã quyết định hủy kế hoạch
phát hành và niêm yết cổ phiếu trên thị trường chứng khoán Singapore).
Tuy nhiên, chúng ta vẫn hy vọng trong tương lai tình hình này sẽ được
cải thiện do những thành quả đã đạt được trong giai đoạn trước.
Theo ý kiến của các chuyên gia giàu kinh nghiệm với các thị trường mới
nổi, một thị trường với chính sách phát triển tốt đi kèm với các ưu
đãi đầu tư hấp dẫn khi được quảng bá rộng rãi trên thị trường vốn quốc
tế sẽ tạo động lực mạnh mẽ cho các dòng vốn đầu tư tham gia.

Do đó việc quảng bá mạnh mẽ hình ảnh môi trường đầu tư Việt Nam và
tiềm năng của nền kinh tế Việt Nam ra thị trường quốc tế là việc làm
cần thiết trong thời gian tới.
doanh nghiệp phải có trách nhiệm về các thông tin công bố; báo cáo, kế
hoạch kinh doanh; tái cơ cấu tài chính, nhân sự, dự án để đảm bảo các
chỉ tiêu kế hoạch là khả thi cao; phải trao đổi thường xuyên với nhà
đầu tư nước ngoài để nhà đầu tư nắm bắt, hiểu rõ doanh nghiệp, quy mô
vốn hóa của doanh nghiệp trên thị trường. Các công đoạn phải được sắp
xếp lại theo cách mà nhà đầu tư quốc tế nhìn nhận là minh bạch, phù
hợp với nhà đầu tư tại thị trường mình cần huy động vốn.
trước hết phải thay đổi phong cách quản trị DN và báo cáo tài chính
theo những chuẩn mực và thông lệ quốc tế.

Reply all
Reply to author
Forward
0 new messages