BINH DANG

2 views
Skip to first unread message

Huu Dong Nguyen

unread,
Nov 20, 2012, 5:01:15 PM11/20/12
to dien dan chinh tri, nuoc...@yahoogroups.com, Viet nam dien dan, Dien Dan Pho Nang, Dien dan Xa Tac, dien dan Kien Thiet, ChinhNghiaViet, Dien Dan GoiDan, dien dan VN-Online, Dan van tap chi
Tran trong kinh chuyen
NHDong

 
BÌNH   ĐẲNG
                                                                                                                                              NGUYỄN HỌC TẬP
 
Khi chúng ta nhìn hai chiếc xe Mercedes 560 SEL màu xám bạc, khi cô chiêu đãi viên mang đến cho tôi và anh bạn hai ly bia đầy tràn trong dịp lễ Oktoberfest vừa qua ở Muenchen, chúng ta nói hai chiếc Mercedes 560  SEL, hai ly bia " giống hệt nhau", đồng nhứt như nhau, đầy ấp như nhau.
Đó là chúng ta vừa nêu lên tư tưởng về sự " đồng nhứt " ( identité), chớ chúng ta chưa hẳn đề cập đến " Bình Đẳng"( égalité).
Khi đề cập đến Bình Đẳng là chúng ta nói đền sự tương quan " Công Bình" hay " Công Lý" ( Justice) giữa người và người.
Aristotes đã diển tả một cách chí lý quan niệm Bình Đẳng là Công Bình như sau:
 
   - " Bất công là bất bình đẳng và công bình là bình đẳng" ( Aristotes, Etica, Nicomachea, 1131a).
 
Và người Hy Lạp đương thời với Aristotes đã diễn tả Bình Đẳng dưới hai hình thức:
   - " Isonomía": là danh từ kép, gồm " isos": như nhau; " nómos": luật lệ. Như vậy, "Isonomía" có nghĩa là luật lệ như nhau cho tất cả mọi người hay " mọi người đều bình đẳng trước pháp luật", nói theo ngôn ngữ của chúng ta.
   - " Isogería": cũng là danh từ kép, gồm " isos": như nhau; " agorà": cộng đồng hay đoàn thể. Như vậy, " iségoria": ngang hàng nhau, bình đẳng như nhau trong cộng đồng đang nhóm họp. Trong cộng đồng đang nhóm họp hay ở giữa đoàn thể, mọi người đều bình đẳng như nhau, có quyền ăn nói, phát biểu tư tưởng mình như nhau hay " tự do ngôn luận và tự do phát biểu và truyền bá tư tưởng như nhau", nói theo quan niệm của chúng ta.
Điều đó nói lên con người chỉ được hưởng quyền bình đẳng, dân chủ, và có đời sống tổ chức văn minh, nếu chung sống trong cộng đồng.
Ngoài ra tư tưởng "bình đẳng trong cộng đồng" cũng hàm chứa tư tưởng được bình đẳng hay "tự do để" ( liberté à…) đối với những người sống trong cộng đồng, như " tự do để phát biểu tư tưởng" , " tự do để  rút thăm chọn người vào chức vụ công cộng", " tự do để tham dự vào tổ chức điều hành cuộc sống của thị xã ( Polis) "  hay tự do tham dự vào đường lối chính trị, lãnh đạo Quốc Gia.
 
A - Tiêu chuẩn của Bình Đẳng.
Trong bài nói về Dân Chủ, chúng tôi  đã có dịp bàn đến hai hình thức của Bình Đẳng: bình đẳng toán học và bình đẳng theo tỷ lệ:
 
   - Bình Đẳng Toán Học:  "cùng một thứ đối tượng cho tất cả mọi người".
 
   - Bình Đẳng theo Tỷ Lệ: " cùng một thứ đối tượng cho tất cả ai  ngang nhau". Những vật giống nhau cho những người giống nhau và những vật không đồng nhau cho những người không bằng nhau. Aristotes giải thích rõ  hơn về bình đẳng:
 
   - " Những người không bằng nhau được đãi ngộ tùy theo sự khác biệt của họ" (Aristotes, Etica, Nicomachea, V vol.).
 
Câu nói trên của Aristotes nói lên không phải sự đồng nhứt ( identité) mà là sự công bình (justice) mới là yếu tố chính của Bình Đẳng.
Và trong Bộ Luật của thời đế quốc Roma, người ta cũng tìm thấy thành ngữ:
 
   - " …suum cuique tribuere": trao trả cho mỗi người điều gì thuộc sở hữu của anh ta.
 
Trong Phúc Âm chúng ta cũng đọc được:
 
   - " Của Thiên Chúa trả về Thiên Chúa, của Caesar trả cho Caesar" ( Mt 22, 32).
 
Nêu lên hai tiêu chuẩn Bình Đẳng Toán Học và Bình Đẳng Theo Tỷ Lệ, chúng tôi không có ý phán đoán sự trổi vượt của tiêu chuẩn nầy hơn tiêu chuẩn khác.
Áp dụng tiêu chuẩn nào vào thực tế là do hoàn cảnh, tùy sự hợp tình hợp lý và hiệu năng của nó. Ví dụ câu nói: " mọi người đều bình đẳng trước pháp luật", nếu chúng ta không áp dụng tiêu chuẩn Bình Đẳng Toán Học, tức là " pháp luật đều như nhau cho tất cả mọi người", nền dân chủ của chúng ta đang bị lung lay, chúng ta đang hành xử thiên vị bè phái Đảng Trị. Chúng ta đang lập vây cánh, chỉ áp dụng luật lệ lên đầu lên cổ người khác, còn đối với " các đồng chí, cán bộ và Đảng Ta" thì khỏi.
 
Ngược lại, chúng ta không thể áp dụng tiêu chuẩn Bình Đẳng Toán Học cho lãnh vực thuế vụ chẳng hạn. Sự công bằng trong thuế vụ phải được tính theo tỷ lệ của lợi tức: thuế ngang nhau cho những người có cùng lợi tức như nhau, và thuế cao hơn hay thấp hơn cho những người giàu hơn hay cho nông dân, công nhân, thủ công nghệ không lợi lộc được bao nhiêu.
Ap dụng tiêu chuẩn Bình Đẳng Toán Học là điều khá đơn sơ, áp dụng một cách máy móc, ai cũng làm được.
Áp dụng tiêu chuẩn Bình Đẳng theo Tỷ Lệ mới phúc tạp. Bởi lẽ chúng ta phải áp dụng theo tỷ lệ nào và đối với ai, để có sự công bằng?
Ai là người ngang hàng với ai? Và đánh thuế bao nhiêu phần trăm.
Định chế lũy tiến cho thuế vụ công bằng không phải là việc ngồi phỏng đoán , mà là kết quả của bao nhiêu cân nhắc,
   - không những cho mức thuế vụ được hợp lý, công bằng,
   - mà còn tiên đoán được hậu quả mức sống gia đình của dân chúng bảo đảm cho an ninh xã hội, hậu quả đến mức lạm phát hay thu hẹp mãi lực ảnh hưởng đến luật cung cầu, đến mức sản xuất kỷ nghệ và tổng sản lượng nội địa ( GDP, Gross Domestic Product), hậu quả đến vai trò đầu tư và thị trường chứng khoán, đến hối xuất của tiến tệ và vấn đề giải quyết nạn thất nghiệp.
 
B - Phân loại Bình Đẳng.
Theo cách phân loại cỗ điển, người ta có thể chia Bình Đẳng thành những loại sau đây:
Bình Đẳng pháp luật và chính trị,
Bình Đẳng xã hội,
Bình Đẳng có điều kiện nhập cuộc ( opportunité d'accès),
Bình Đẳng kinh tế.
 
1 - Bình Đẳng luật pháp và chính trị.
Chúng ta vừa đề cập ở trên, Bình Đẳng luật pháp và chính trị , khi chúng ta bàn về định nghĩa Bình Đẳng theo người Hy Lạp, tức là " isonomía" và " iségoria".
Chúng ta cũng nói đến tính cách phổ quát ( généralité), bao gồm tất cả ( inclusivité) mà luật pháp và chính trị phải có, nếu không dân chủ sẽ trở thành bè phái, mà người Ý gọi là lập vây cánh ( consociativismo).
Bình đẳng luật pháp và chính trị là hình thức và đặc tính của luật pháp nói lên khung cảnh trong đó quyền bình đẳng của người dân được xác định và được luật pháp bảo vệ.
Tư tưởng vừa nêu lên của chúng ta khác với tư tưởng của Karl Marx và các đệ tử của ông. Họ cho rằng chỉ có Bình Đẳng Kinh Tế mới là Bình Đẳng  thực thụ ( substantielle), là Bình Đẳng của những gì thực hữu chứa đựng thực sự bên trong, trong khi đó thì Bình Đẳng luật pháp và chính trị chỉ là cái vỏ rỗng bên ngoài, không ăn nhập vào đâu, nói để mà nói.
Rất tiếc Marx không sống dưới thời Stalin, nếu không thì ông đã có kinh nghiệm thật sự những gì Bình Đẳng luật pháp và chính trị quyết định, nhứt là đối với Stalin, luật pháp không có gì khác hơn là những điều kiện của nhóm đương quyền có thế lực tạo ra để áp đặt ý muốn của mình trên dân chúng yếu thế bị trị để đạt được mục đích, nhứt là mục đích quyền lực và kinh tế.
 Ai sống dưới chế độ Cộng Sản sẽ có kinh nghiệm bản thân khi bị mất các quyền làm người của mình do luật pháp và chính trị cộng sản áp đặt.
 
2 - Bình Đẳng xã hội.
Là  bình đẳng nói lên sự tôn trọng lẫn nhau, ngang hàng nhau, môi trường của hoàn cảnh xã hội Hoa Kỳ mà A. de Tocqueville phải ngạc nhiên khi lần đầu tiên bước chân đến Hoa Kỳ ( A. de Tocqueville, Démocratie en Amérique, 1835-1840, trat. It., Torino, Utet, 1968 ).
Tinh thần Bình Đẳng xã hội không do ai áp đặt từ trên xuống, mà do sự xác tín và cách sống tự nhiên của xã hội.
3 + 4 - Bình Đẳng có điều kiện nhập cuộc và Bình Đẳng kinh tế.
Tinh thần Bình Đẳng có điều kiện hội nhập ( opportunité d'accès) được Bản Tuyên Ngôn Nhân Quyền và Quyền Công Dân Cách Mạng Pháp  nói lên như sau:
    " Nhận thức rằng tất cả mọi công dân đều bình đẳng trước pháp luật, nên tất cả đều có quyền được trả lương như nhau và ngang hàng nhau trong việc đảm nhận những chức vụ công, tùy theo khả năng của họ và chỉ dựa trên một tiêu chuẩn duy nhứt là đức độ và trí thức của họ" ( Điều 6). 
Điều tuyên bố vừa kể của Bản Tuyên Ngôn Nhân Quyền và Quyền Công Dân 1789 cho chúng ta thấy rằng những nhà cách mạng Pháp lúc đó dựa trên Bình Đẳng luật pháp và chính trị để rút ra quyền Bình Đẳng có điều kiện nhập cuộc, chỉ tùy vào khả năng xứng đáng của người dân: " …đức độ và trí thức của họ".
Bản Tuyên Ngôn Nhân Quyền và Quyền Công Dân 1789 đưa ra quyến Bình Đẳng có điều kiện nhập cuộc, nhưng không xác nhận thêm những điều phức tạp hàm chứa bên dưới lời tuyên bố.
Giờ đây sau hơn 200 năm của thời điểm cách mạng lịch sử đó, chúng ta có thể tìm được thêm những điều kiện phức tạp , mà có lẽ các nhà cách mạng lúc đó chưa để ý đến hay chưa có giờ để kịp nói  ra:
   - quyền Bình Đẳng có điều kiện nhập cuộc là một chuyện,
   - còn quyền Bình Đẳng khởi hành (départ) là một chuyện khác nữa.
Lấy một ví dụ nôm na: Thị xã Paris tổ chức cuộc chạy đua có giải thưởng tại vận động trường Paris sur Seine. Tất cả mọi người dân Paris, kể cả bác hai, cậu bảy, thiếm tám, cu Tèo, cu Tý đều có quyền tham dự ( Bình Đẳng có điều kiện nhập cuộc).
Nhưng nếu ban tổ chức sắp tất cả đều đứng trước mức khởi hành ngang nhau, thì chắc chắn thiếm tám mập thù lù, bác hai mầy trên 70 tuổi sẽ không có cách gì  đua tài ngang sức với cậu bảy trai tơ đương sức và cu Tèo, cu Tý coi nhỏ vậy mà chạy mau như hươu.
Nói cách khác, trong cuộc chạy đua trên, những người tham dự, nếu được xếp đặt như vừa kể,  không có sự Bình Đẳng khởi hành ( Egalité de départ).
 
Bình Đẳng có điều kiện nhập cuộc là sự công nhận ngang hàng nhau đối với những khả năng bằng nhau và do đó thăng thưởng công lao như nhau: chức vụ ngang nhau, lương bổng ngang nhau cho tài ba bằng nhau.
Trong khi đó thì Bình Đẳng khởi hành có nghĩa là những người dự cuộc phải có những điều kiện khởi hành tương ứng ( chớ không bằng nhau), mới mong cuộc chạy đua có kết quả khả dĩ chấp nhận được. Nói cách khác, ban tổ chức phải sắp cho thiếm tám mập và bác hai trên 70 tuổi chạy trước hoặc khởi hành từ gần mức đến hơn cậu bảy, cu Tèo, cu Tý.
Hiểu như vậy có nghĩa là Bình Đẳng khởi hành sẽ được trợ giúp bằng những phương thức thiên vị ( discrimination).
Qua ví dụ nôm na trên, chúng ta thấy rằng việc tạo ra điều kiện thích ứng cho Bình Đẳng khởi hành không phải là chuyện đơn sơ, dễ làm như chuyện áp dụng Bình Đẳng Toán Học.
Trước hết trong một Quốc Gia, một trong những việc làm đầu tiên để tạo ra các điều kiện thích ứng cho Bình Đẳng khởi hành là phải có một nền giáo dục  đồng đều cho tất cả.
Nhưng thiết lập hệ thống  luật lệ và và cơ sở giáo dục cho tất cả, chưa hẳn đã giải quyết được vấn đề. Bởi lẽ những người nghèo khó còn bị bất lợi trong nhiều lãnh vựa khác nữa, ngoài ra lãnh vực văn hóa, trong đó có lãnh vực kinh tế. Người  nghèo không đủ ăn, cho dù có đại học mở cửa phía bên kia đường, chưa chắc có đủ thời giờ và phương tiện để đến học. Từ đó, chúng ta thấy rằng Bình Đẳng khởi hành phải  được giải quyết bằng cả Bình Đẳng kinh tế. Và đó là những gì chúng ta có thể tìm thấy trong dự án Hiến Pháp được tiến hành nghiên cứu cho Việt Nam không thẻ thiếu:
 
    - " Bổn phận của Quốc Gia là dẹp bỏ đi những chướng ngại vật về phương diện kinh tế và xã hội, là những chướng ngại vật, trong khi cản trợ thực sự tự do và bình đẳng của người dân, không cho phép họ triển nở hoàn hảo con người của mình và tham dự thiết thực vào các đời sống  chính trị, kinh tế và xã hội của xứ sở " ( Điều 3, 2 Hiến Pháp 1947 Ý Quốc).
 
   - " Học đường được mở cửa cho tất cả mọi người…
Nền giáo dục ở bậc thấp và trung cấp có tính cách miển phí và bắt buộc, được giảng dạy ít nhứt là 12 năm.Đối với những ai có khả năng và xứng đáng chuyên cần, dầu thiếu phương tiện, cũng có quyền được học hỏi đến các cấp bậc cao nhứt.
Quốc Gia có bổn phận bảo đảm quyền nầy trở thành thực hữu bằng học bổng, phụ cấp gia đình và bằng các phương thế tiền liệu khác, được cấp phát qua các kỳ thi tuyển" ( Điều 37, id.).
 
Nói như vậy không có nghĩa là Bình Đẳng khởi hành hoàn toàn chỉ là Bình Đẳng kinh tế và mục đích của Bình Đảng khởi hành  chỉ là Bình Đẳng kinh tế.
Nhưng nếu không có Bình Đẳng kinh tế, thì Bình Đẳng khởi hành khó mà đạt được.
Trong cuộc chạy đua của bác hai, thiếm tám, cậy bảy và Cu Tèo, Cu Tý, chúng ta đã khám phá thêm một khía cạnh khác của Bình Đẳng nhập cuộc, đó là Bình Đẳng mức đến (Eùgalité d'arrivée) hay Bình Đẳng kết quả ( Eùgalité finale).
Nói tóm lại, tư tưởng Bình Đẳng có điều kiện nhập cuộc của các nhà cách mạng Pháp đề ra hàm chứa hai hình thức Bình Đẳng khác, đó là
   - Bình Đẳng khởi hành
   - và Bình Đẳng mức tới.
Muốn đạt được  Bình Đẳng mức tới, nhiều lúc chúng ta bị bắt buộc phải áp dụng  Bất Bình Đẳng khởi hành, ưu đãi những thành phần yếu thế và giảm bớt Bình Đẳng với thành phần ưu thế.
Không phải chỉ có những nước dân chủ tự do mới nhận thấy điều đó. Khởi đầu từ Karl Marx, các nước Cộng Sản vẫn đặt Bình Đẳng là quốc sách. Nhưng đường lối giải quyết của các nước dân chủ không đồng nhứt với cách hành xử của các nước Cộng Sản.
Đuờng lối hành xử của các nước dân chủ tự do là
  - giảm thiểu mức nghèo đói cùng cực của dân chúng ,
  - cũng như hạ bớt mức  giàu có tỷ phú của một thiểu số thành đạt vượt mức trong kinh tế.
Do đó mà xã hội của các nước tự do được diển tả như hình một cái ché đựng nước ở Việt Nam:
   - chân của ché càng ngày càng bé đi ( thành phần nghèo khó bần tiện của các nước dân chủ tự do càng ngày càng trở nên thiểu số không đáng kể),
   - bụng của ché phình ra (hạng trung lưu có nhà cửa, xe cộ, có đồng lương hay lợi tức trung bình càng ngày càng đông)
   - và miệng của ché tóp lại ( số kỷ nghệ gia tỷ phú cũng không phải là đa số).
 
Qua liên hệ giữa Bình Đẳng có yếu tố nhập cuộc, Bình Đẳng khởi hành và Bình Đẳng kết quả với Bình Đẳng kinh tế, các nhà lãnh đạo những Quốc Gia dân chủ tự do  xác tín rằng giảm thiểu mức nghèo túng của dân cũng như hạ bớt mức giàu có vượt bực của tỷ phú,
   - không những chỉ nhằm mục đích thực hiện sự " công bằng về kinh tế",
   - mà còn nhằm thực hiện Bình Đẳng có các yếu tố nhập cuộc.
Dĩ nhiên cộng cuộc áp dụng mục tiêu các Bình Đẳng trên không đơn giản như việc áp dụng tiêu chuẩn toán học. Ngoài ra việc xác nhận đâu là môi trường áp dụng tiêu chuẩn Bình Đẳng theo tỷ lệ, các nhà hữu trách trong các nước tự do còn phải quy định theo tỷ lệ nào, cùng với những hậu quả về an ninh xã hội và kinh tế, như chúng ta đã dề cập ở trên.
Việc giảm thiểu mức dị biệt giữa các tầng lớp xã hội
   - không những bằng phương thức đánh thuế theo lũy tiến,
   - mà còn bằng cách ưu đãi các thành phần yếu thế  bằng nhiều phương thức dễ dãi về luật pháp, thuế vụ, tín dụng và phụ cấp:
     * các ngân hàng phát triển nông nghiệp, phát triển tiểu công nghệ, phát triển ngư nghiệp,
     * luật người cày có ruộng
     * hoặc đợt hữu sản hóa Taxi dưới thời Tổng Thống Ngô Đình Diệm, Tổng Thống Nguyễn văn Thiệu,
     * chính sách miễn thuế liên tiếp trong ba năm cho giới trẻ ở miền Nam Ý, miền nghèo tài nguyên hơn các miền khác, kể từ ngày họ thành lập cơ xưởng kỹ nghệ, thương mại,
     * chính sách tài trợ người thất nghiệp…
là những phương thức điển hình mà các nước tự do áp dụng để giải quyết vấn đề.
Dù sao qua những thí dụ vừa kể, chúng ta thấy Chính Quyền các nước tự do
   - không giải quyết vấn đề Bình Đẳng bằng cách sang bằng mạc rệp mọi từng lớp xã hội thành vô sản (Bình Đẳng toán học),
   - cũng không nằm trong tâm thức các nước tự do cung cấp miển phí cho từng lớp yếu thế để họ ăn không ngồi chờ, mọi chuyện đã có " đảng và nhà nước lo",
   - mà là giúp họ có cơ hội và phương tiện để họ tự thăng tiến, Bình Đẳng khởi hành.
 
Nhân cách của con người tự do, con người được Thiên Chúa dựng nên " giống hình ảnh Ngài" ( Gn 1, 27), có trí khôn ngoan và lòng ước muốn tự do, phản ảnh lại sự khôn ngoan vô tận và tự do không biên giới của Thiên Chúa là vậy.
 
Trái lại với Bình Đẳng là quốc sách, thay vì áp dụng Bình Đẳng theo tỷ lệ cho Bình Đẳng kinh tế, chủ thuyết Cộng Sản áp dụng Bình Đẳng toán học cho bất cứ lãnh vực nào, biến dân chúng trở thành khối vô sản và tiêu diệt mọi sáng kiến cá nhân, khả năng và động lực cầu tiến của con người và tiềm năng làm cho đất nước trở thành thịnh vượng.
Để biến mọi người đều Bình Đẳng toán học như nhau, Cộng Sản đã không ngần ngại truất bỏ tư hữu bằng mọi cuộc đấu tố giai cấp, đánh đổ tư sản ngoại bản, phú ông " cường hào ác bá", " kẻ thù của dân tộc".
Một trong những điều mà các nhà lãnh đạo các nước tự do luôn chú tâm trong việc tìm phương thế thực hiện Bình Đẳng có yếu tố nhập cuộc và Bình Đẳng khởi hành để đưa đến Bình Đẳng kết quả khả dĩ chấp nhận được là không nên áp dụng những phương thế để thực thi một Bình Đẳng, mà hậu quả có thể tạo ra nhiều Bất Bình Đẳng trong nhiều lãnh vực khác. Những cuộc đấu tố trong tiến trình giai cấp đấu tranh của Xã Hội Chủ Nghĩa có nằm trong sự khôn ngoan thận trọng nầy không, hỏi để chúng ta cùng nhau suy nghĩ.
Chính sự khác biệt về phương thức hành động của các nước tự do và các nước cộng sản trong việc giải quyết Bình Đẳng, bằng chính sách thuế vụ theo lũy tiến, ưu đãi giới yếu kém bằng luật pháp dễ dãi hơn, tín dụng ngân hàng của các nước tự do đã không đưa đến hậu quả tiêu cực về Bình Đẳng kinh tế như trong chính sách giai cấp đấu tranh của Cộng Sản.
Nói cách khác, Chính Quyền các nước tự do
   - không bao giờ truất bỏ quyền tư hữu của dân chúng,
   - trái lại còn dùng những chính sách ưu đãi để kích thích sáng kiến cá nhân, tiềm năng sáng tạo làm triển nở " số vốn nhân thức" (human capital),yếu tố chính yếu trong việc phát triển kinh tế.
 
Sự phát triển vượt bậc về kinh tế của các nước tự do mà Adam Smith đã tiên đoán trước đây trên 200 năm, trong quyển " Sự phú cường của các quốc gia" ( The Wealth of Nations), đặt nền tảng trên " số vốn nhân thức" đã và đang thể hiện hiển nhiên trước mắt chúng ta, so với nền kinh tế chỉ huy mạc rệp, tiêu diệt sáng kiến bằng cách truất hữu tư sản  của các nước Vĩ Đại  Xã Hội Chủ Nghĩa Anh Em.
 
Và sau cùng, muốn thực thi hình thức tiêu cực của Bình Đẳng kinh tế ( không ai được có của cải riêng,  không chấp nhận tư hữu), vô sản hóa hoàn toàn dân chúng để rồi từ đó phân chia đồng đều cho mọi người, Chính Quyền các nước Cộng Sản cần có uy quyền toàn năng, vuợt quá tầm tay kiểm soát của dân chúng, cho dầu họ có tự gọi là Chính Phủ Nhân Dân, Nhà Nước Nhân Dân… và cái gì đó Nhân Dân đi nữa cũng vậy.
Một Chính Quyền như vậy, mặc dầu có mệnh danh là gì Nhân Dân đi nữa, nhưng tự bản chất là một Chính Quyền độc tài rõ rệt.
Đàng khác nếu không ai kiểm soát được Chính Quyền đó, thì ai có thể lấy gì bảo đảm là Chính Quyền đang thực thi Bình Đẳng một cách công minh chính trực, hay đang đãi ngộ vây cánh "tập đoàn Cộng Sản, Đảng và Nhà Nước"?
 
Trong phần trình bày ở trên, chúng ta có đế cập  đến định nghĩa của Aristotes:
 
   - " Bất công là bất bình đẳng và công bình là bình đẳng".
 
Chúng ta có thể đảo ngược lại câu định nghĩa trên như sau:
 
   - " Chỉ có bình đẳng thật sự ở đâu có công bình và ở đâu có bất công, thì ở đó có bất bình đẳng".
 
Tìm phương thế để biến xã hội bình đẳng
   - theo quan niệm công bằng " suum cuique tribuere" ( trao trả cho mỗi người những gì thuộc về anh ta) là một chuyện,
   - còn biến tất cả thành đồng nhất rập khuôn ( identiques, tất cả đều vô sản mạc rệp như nhau) là tư tưởng vừa xuẩn động, vừa không tưởng.
Bởi lẽ con người từ ngày xuất hiện trên mặt đất đều không đồng nhất nhau. Ngay từ khởi thủy của loài người theo Thánh Kinh, ông Adong và bà Evà có hai đứa con là Cain và Abêlê cũng khác biệt nhau.
 
Trong thời thầy Tam Tạng đi thỉnh kinh, các đệ tử cũng khác biệt nhau.
Và cũng vì mọi người khác biệt nhau, mà ông chủ nhà ( có nghĩa là chính Thiên Chúa) có việc ra đi , ông cũng không ủy thác cho mọi người của cải đồng đều nhau. Ông giao cho người nầy năm nén, người kia ba nén, kẻ khác một nén, tùy theo khả năng quản tri của mỗi người, mà ông đã biết rỏ. Và kết quả cho thấy là ông có lý ( Mt 25, 14-30).
Tính tình và lối sống của nhiều người cũng không giống nhau.
   - Người thì chí thú biết nhìn xa thấy rộng, biết tiên liệu để đầu tư vào đúng việc, đúng lúc, như người thương gia thấy trong thửa ruộng có hột bẹt qúy, về nhà hy sinh bán hết của cải để mua cho bằng được thửa ruộng ( Mt 13, 44-45).
   - Người khác lại vung vãi, tiêu xài hết của cải như anh con trai hoang đàng ( Lc 15, 11-20).
   - Còn nữa, có người chạy đôn chạy đáo dọn dẹp nhà cửa cho khang trang để đón tiếp Chúa Giêsu như cô Martha, nhưng cũng có người ngồi suốt ngày bên cạnh Chúa Giêsu say sưa lắng nghe và chiêm ngắm đạo lý cao siêu Người dạy, như cô Maria ( Lc 11, 36-42).
Trong xã hội Việt Nam chúng ta cũng có
   - những nhân vật tài trí vượt bực, đậu thủ khoa liên tiếp ba bằng tiến sĩ như cụ Nguyễn Khuyến, " Tam Nguyên Yên Đổ",
   - nhưng cũng có người tài năng kém cỏi, đến độ Trần Tế Xương đã phải hạ câu:
      * " Nực cười cho kẻ bất tài mần thơ ".
Nói tóm lại, sự không đồng nhất giữa người và người là một thực trạng, vượt quá khả năng và tầm hiểu biết của con người.
Từ đó chúng ta có thể kết luận rằng:
   - tìm phương thể để tạo môi trường bình đẳng giữa người với người trong xã hội, theo tiêu chuẩn công bằng, là điều chúng ta có thể làm được và cũng là bổn phận của chúng ta phải thực hiện.
   - Nhưng san bằng mọi khác biệt để tạo "đồng nhất rập khuôn" ( vô sản chuyên chế )  đối với bất cứ ai là quan niệm và hành động xuẩn động không tưởng.
 
Qua những điều vừa kể, chúng tôi nghĩ rằng dối với những ai tin vào tôn giáo, Phật Giáo, Thiên Chúa Giáo, Cao Đài,Hòa Hảo cũng vậy, chúng ta không có gì phải nghi ngại đứng trước thực trạng khác biệt giữa người với người.
Trái lại, những huấn thị của tôn giáo giúp chúng ta có cái nhìn đầy đủ hơn về sự khác biệt trong xã hội và hướng dẫn chúng ta bổ túc những gì phương thức tổ chức xã hội Bình Đẳng theo tiêu chuẩn Công Bình không giải đáp thoả đáng.
Nói cách khác người Phật Tử không phải chỉ có một phương thức duy nhứt để tổ chức Quốc Gia, tổ chức theo tiêu chuẩn Bình Đẳng hay Công Bình. Đức Phật còn dạy chúng ta " Từ bi, đại lượng, hỷ xã".
Người Ki Tô hữu cũng vậy, Chúa Giêsu không chỉ dạy chúng ta
   - " Của Thiên Chúa trả cho Thiên Chúa, của Caesar trả cho Caesar" ( Mt 22, 22),
   - Người còn dạy chúng ta một thực tại trong đó mọi người chúng ta là anh em với nhau, bởi lẽ chúng ta tất cả đều có một Cha chung trên trời : " Lạy Cha chúng con ở trên trời…" ( Mt 6, 9).
Và nếu chúng ta là anh em cùng một Cha với nhau, thì tinh thần Bình Đẳng - Công Bình thôi, chưa phải là phương thức duy nhứt để đối đãi, chung sống hoà thuận và thương yêu nhau.
 
Lá cờ của Quốc Gia Pháp, Xanh, Trắng, Đỏ ( Liberté, Éùgalité, Fraternité) nói lên tinh thần tổ chức xã hội của người Pháp và cũng là tinh thần của các Quốc Gia Tây Âu.
 Xã hội Tây Âu không phải chỉ là xã hội trong đó con người sống
   - tự do khỏi mọi áp bức ( Liberté),
   - trong đó mọi người đều bình đẳng như nhau ( Égalité),   
    mà còn trong đó mọi người đều sống trong tình thương, tương thân tương trợ nhau như anh em ruột thịt ( Fraternité).
 
Chúng tôi nghĩ rằng chúng ta đang đứng trước vấn đề Bình Đẳng, một trong những vấn đề vượt quá tầm  tay của chính trị và kinh tế.
Những gì vượt qua tầm tay của chính trị và kinh tế để giải quyết, chúng ta có thể tìm thấy ánh sáng trong luân lý và tôn giáo.
   - " Nhân nghĩa", " Từ bi hỷ xã, đại lượng tha thứ " của Tam Giáo , nền tảng của xã hội Á Châu,
   - cũng như " Đức bác ái" dựa trên tình huynh đệ của tất cả chúng ta đều có một Cha chung trên trời của Ki Tô giáo
sẽ là những nền tảng giúp chúng ta kiến tạo xã hội nhân bản cho Việt Nam.
Vai trò hướng dẫn và bổ túc cho chính trị và kinh tế của tôn giáo trong việc tổ chức xã hội nhân bản cho Việt Nam là yếu tố không thể thiếu trong tâm thức của những ai có trách nhiệm đối với Quốc Gia, nếu chúng ta không muốn cho xã hội Việt Nam trở thành môi trường trong đó cảnh tượng
 
" Nước trong leo lẻo, cá đớp cá
   Trời nắng chang chang, người đánh người" ( Cao Bá Quát)
 
là việc xãy ra như cơm bửa hay coi đồng bào anh em như " Tư sản, ngoại bản, phú ông, cường hào ác bá, là kẻ thù của dân tộc và nợ máu đối với nhân dân" cần phải đem ra đấu tố không thương xót.
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
BÌNH ĐẲNG - Gs Nguyên Hoc Tap.doc
Reply all
Reply to author
Forward
0 new messages