Tự do dân chủ và vấn đề điện hạt nhân .
Thục Quyên (SaveVietnam´sNature)
Hai cây cổ thụ của ngành năng lượng hạt nhân Việt Nam, hai vị giáo sư khả kính
Nguyễn Khắc Nhẫn và Phạm Duy Hiển, vừa dạy chúng ta một bài học không những
về sự hiểu biết đứng đắn về tình trạng điện hạt nhân (ĐHN) trên thế giới và tại VN,
mà trong cuộc phỏng vấn (1) của RFI ngày 4/09/2013, hai vị còn làm gương cho
mọi người ,lấy cách ứng xử của mình để thể hiện Tự do Nhân quyền cần thiết nhằm
bảo vệ sự sống còn của dân tộc .
Nói theo một thiền sư VN nổi tiếng khắp thế giới, không có con đường đưa
đến Tự Do Dân Chủ, chính con đường là Tự Do Dân Chủ
(TDDC). TDDC
không là một cái đích trọn vẹn xuất hiện từ không có gì và chỉ xuất hiện
trong một tương lai xa vời, TDDC cũng không phải hoàn toàn không thể có vì bị một thế lực nào đàn áp,
hay có vì một thế lực nào cho phép, mà tinh thần Tự do đã và đang tiềm ẩn và chỉ cần mỗi con dân VN nhận
thức và thể hiện nó theo phương cách của mình.
Thật ra, đáng lý GS Nguyễn Khắc Nhẫn và GS Phạm Duy Hiển không có gì phải cắt nghĩa thêm về cơ nguy thảm họa
ĐHN sẽ tàn phá đất nước và phá hủy môi trường sống của những thế hệ con cháu chúng ta, trong thời kỳ hậu
Three Mile Island , Chernobyl và Fukushima hiện nay. Mọi sự đã quá rõ ràng. Sau cả chục năm tiên phong đem sự
hiểu biết
chuyên môn cùng kinh nghiệm vài chục năm của mình để cắt nghĩa và chỉ dẫn những người chưa hiểu biết,
sự lên tiếng cuả hai vị mới đây, ngoài việc tóm tắt mọi lý do chính không cho phép Việt Nam phạm lỗi lầm giết
người đi vào con đường ĐHN, còn một lần nữa tiên phong đưa ra khía cạnh nhân bản và trách nhiệm của vấn đề:
quan tâm và dấn thân gánh vác, đem sự hiểu biết để bảo vệ sự sống của con người VN thế hệ này cũng như những
thế hệ tiếp nối, thể hiện Tự do Dân chủ bằng cách lên tiếng bất kể trong tình huống nào để nói lên sự thật, gạt bỏ
chút lợi lộc cá nhân, dù là sự yên thân của tuổi già mà mọi người có quyền hưởng.
Là người VN, nghe tiếng VN, thì chúng ta thừa tinh tế thấy rõ sự kiện, tưởng chừng là khác nhau về mức độ chống
ĐHN của hai vị giáo sư, thật ra chỉ là chút khác biệt về cách nói,tùy thuộc hoàn cảnh nơi sống. Một người đã từng
dạy học tại VN trước 75 và sau khi thành danh tại hải ngọai, đã từng về VN nhiều lần sau 75 để mong đóng góp xây
dựng đất nước và cuối cùng đã phải ngao ngán dứt khoát tuyên bố với nhà cầm quyền đương thời từ chối mọi lời mời,
ngày nào VN chưa buông bỏ chương trình “Điện hại dân, hại nước”. Người kia ,”với tư cách của một người được giao
nhiệm vụ làm ngành hạt nhân từ 35 năm nay ở trong nước” và cũng vì còn sống trong nước nên chịu sự chi phối của nền
pháp luật
khấp khiểng đương thời (với bản chất chẳng khác luật rừng) đành phải dè dặt hơn trong cách khẳng định.
GS Hiển đi từ “không nhất trí với việc làm sớm và làm ồ ạt ĐHN”, cho tới” nhưng bây giờ một khi chính phủ đã quyết,
thì chúng tôi phải nói rất mạnh … chừng nào đội ngũ nhân lực đó mà chưa sẵn sàng, thì chưa có thể làm, chưa có thể cho
vận hành, xây dựng nhà máy ĐHN được”.
Vả lại làm làm gì khi đã có những công trình nghiên cứu chứng minh VN không cần ĐHN?
Cả hai vị giáo sư , hai nhà chuyên môn sáng giá nhất của VN trong ngành năng
lượng hạt nhân, chính là những người
có thẩm quyền nhất để bác bỏ sự xuất hiện của ngành kỹ nghệ ĐHN tại VN cũng như thúc bách đòi hỏi một chương
trình năng lượng hiệu lực và có trách nhiệm, để người dân được no đủ và nâng cao mức sống của người dân cho không quá tụt hậu:
-tức khắc chú trọng nâng cao hiệu suất sử dụng điện và
-cấp tốc dồn hết sức lực, kế họach và phát triển các năng lượng tái tạo.
Đã có những giải đáp thực tiễn sẵn sàng để VN có thể học hỏi từ những nước văn minh trên thế giới và áp dụng, cớ sao
phải ngụy tạo, thủ đọan, để bịt mắt dân và hại nước cho bằng được?
Tự do Nhân quyền không phải là một đặc ân do ai ban phát. Những tổ chức dân sự mọi nơi trên thế giới đã nghiễm nhiên
hành động và chứng tỏ sức mạnh của người dân có thể áp lực những nhà cầm quyền phải trực diện sự thật và không ngừng
thay đổi theo đà tiến triển của nhân lọai , thay đổi những quyết định sai lầm có hại cho đất nước. Sức khỏe và hạnh phúc
của người dân là tiên quyết. Một quyết định sai lầm dù đã được quốc hội thông qua vẫn là một quyết định sai lầm, cần bàn
thảo lại và sửa đổi, ngay cả hủy bỏ.
Quan trọng là người dân phải dứt khoát lên tiếng .
Có rất nhiều hình thức để lên tiếng dù nhà cầm quyền không muốn dân lên tiếng hay cấm cản, gây khó dễ. Sức mạnh chính
là sự quan tâm và tinh thần trách nhiệm của lớp người có khả năng hiểu biết rộng .
Lớp người này rất may mắn Việt Nam không thiếu, chỉ cần họ theo gương
hai giáo sư Nguyễn Khắc Nhẫn và Phạm Duy Hiển lên tiếng.
Lên tiếng không phải là một hành vi can đảm mà chỉ đơn thuần là điều mà lương tâm con người đòi hỏi phải làm.
Đâu là hàng trăm ngàn những chuyên viên, sinh viên cũ của hai vị giáo sư?
Đâu là những đồng nghiệp, những nhà khoa học VN trong cũng như ngoài nước?
Đâu là những nhà trí thức, những cô giáo, thầy giáo đang mang trọng trách hướng dẫn
thế hệ con em, tương lai của đất
nước?
Đâu là những nhà tôn giáo, luật gia,với chức năng bảo tồn nền đạo đức dân tộc, đảm bảo công bằng xã hội?
Đâu là những nhà y tế đã nguyện bảo vệ sức khỏe, sự sống và môi trường sống của con người?
Đâu là những nhà truyền tin , nhà văn, với thế đứng hàng đầu trong việc nối kết mọi người trong nước với thế giới bên ngoài,
góp sức mở rộng tầm hiểu biết?
Đất nước Việt Nam có thể đang tụt hậu về mặt vật chất nhưng không thể để thế giới lầm tưởng chúng ta cũng tụt hậu về mặt
trí tuệ .Bảo vệ nhân quyền, bảo vệ môi sinh, tinh thần trách nhiệm toàn cầu là vấn đề dân trí, là đặc thù của nền văn minh thế kỷ 21.
Không thể vỗ ngực đánh đuổi ngọai xâm trong khi giao trọn tương lai sự sống của bao thế hệ con người VN cho những công ty
ĐHN ngọai quốc.
Có thể gọi là thành công khi khai mạc được một “Trung tâm Quốc tế Khoa học và Giáo dục liên ngành” với sự hiện diện của 5
nhà vật lý mang giải Nobel không, trong khi trẻ em tiểu học VN bị bỏ mặc cho tập đoàn Rosatom múa gậy vườn hoang, tung
chút tiền mọn, nhồi sọ những tuyên truyền rẻ tiền vào đầu óc non nớt của chúng ?(2).
Danh dự dân tộc Việt Nam cần được bảo vệ.
Chúng ta phải lên tiếng.
Trong tình huống này chúng ta không thể nhân danh bất cứ một cái gì để im lặng chịu trận, nhưng có thể nhân danh tất cả những gì
thiêng liêng cao qúi nhất để lên tiếng :
Tôi không đồng ý làm Điện Hạt Nhân tại VN và sẵn sàng nhận lãnh trách nhiệm phổ biến tin tức giúp mọi người
chung
quanh tôi hiểu rõ về sự nguy hại này!
T.Q.
Tác giả trực tiếp gửi
cho BVN
Báo Lề Trái Cho Lẽ Phải - Diễn Đàn Chung Cho Ý
Riêng
Phạm Thanh Nghiên
(Tặng đồng đội tôi, những người bị bắt trong mùa thu 2008).
Mười một tháng chín năm 2001 không chỉ là ngày tồi tệ trong lịch sử nước Mỹ mà còn trở thành biểu tượng về nỗi kinh hoàng cho nhân loại. Trong khi cả thế giới đang tưởng niệm bẩy năm ngày xảy ra “sự kiện 11 tháng 9” thì một chiến dịch khủng bố khác đã được thực hiện. Vụ khủng bố không xảy ra ở nước Mỹ, thủ phạm không phải Osama Bin Laden và không có ai bị chết. Mười một tháng chín năm 2008, chính quyền cộng sản đã tiến hành một chiến dịch bắt bớ với quy mô lớn nhằm vào những nhân vật đấu tranh cho Nhân quyền và Dân chủ ở Việt Nam.
Trong số những nhân vật đầu tiên bị bắt đi vào ngày 11 tháng 9 là các ông Nguyễn Xuân Nghĩa, Phạm Văn Trội, Nguyễn Văn Túc. Lần lượt những ngày kế tiếp là các nhân vật tranh đấu khác gồm: Nguyễn Mạnh Sơn, Nguyễn Văn Tính, Ngô Quỳnh, Vũ Hùng, Trần Đức Thạch, Nguyễn Kim Nhàn và tôi, Phạm Thanh Nghiên. Hơn bốn mươi năm tù là “phần thưởng” dành cho chúng tôi, dành cho khát vọng Tự do và những giá trị tốt đẹp của Con người.
Ngày hôm nay, 11 tháng 9 năm 2013, tròn 12 năm kể từ ngày khủng bố mười một tháng chín trên đất Mỹ. Và cũng đã năm năm kể từ ngày cộng sản tiến hành “chiến dịch bắt bớ mùa thu 2008”, chúng tôi đều đã lần lượt ra tù. Nhưng có một người vẫn còn nằm lại, ở một trong những nhà tù khắc nghiệt nhất của hệ thống nhà tù cộng sản: nhà văn Nguyễn Xuân Nghĩa, người nhận bản án nặng nề nhất trong số chúng tôi.
Trong năm năm qua, nhà văn của chúng ta đã trải qua bốn nhà tù. Không ít lần trong thời gian năm năm ấy ông đã bị biệt giam , bị phân biệt đối xử, bị nhốt trong buồng kỷ luật với lý do “vi phạm nội quy trại giam” mà trên
thực tế là một hình thức trả thù hèn hạ vì ông đã đấu tranh để phản đối sự vô nhân đạo của cai tù áp đặt lên ông và những người tù khác. Sự tàn bạo của chế độ nhà tù cộng sản không còn là điều xa lạ nhưng chúng ta vẫn không khỏi ngỡ ngàng nhận tin ông bị cùm chân ngay trên giường bệnh hồi cuối năm 2012. Khí phách và sự khảng khái của một nhà văn yêu nước không chỉ làm cho chúng ta xúc động, khâm phục mà còn khiến những tên cai tù máu lạnh đang lăm lăm chiếc cùm sắt phải chùn tay, lùi bước: “Nếu các anh cùm chân tôi, thì tôi sẽ chọn cái chết ngay trên giường bệnh này!”
Cách đây không lâu, sự kiện Blogger Điếu Cày tuyệt thực trong tù trở thành một trong những sự kiện khiến công luận trong và ngoài nước đặc biệt quan tâm. Người ta đếm từng ngày anh tuyệt thực và gọi đó là “lịch Điếu Cày”. “Lịch Điếu Cày” chỉ dừng lại ở con số 36 khi anh ngừng tuyệt thực đồng nghĩa với việc cai tù buộc phải đáp ứng những yêu cầu chính đáng của một người tù lương tâm bất khuất.
Người đã bất chấp hiểm nguy để báo tin Điếu Cày tuyệt thực chính là ông, nhà văn Nguyễn Xuân Nghĩa. Dùng từ “hiểm nguy” không quá vì đối với một Tù nhân lương tâm, khi trao đổi với người thân trong những cuộc thăm gặp thì dù là thông tin liên quan đến bản thân mình còn bị cho là cấm kỵ. Huống hồ đó là thông tin về một Tù nhân lương tâm khác, nhất lại là thông tin vào diện “nhạy cảm”.
Theo lời kể của bà Nguyễn Thị Nga, vợ nhà văn Nguyễn Xuân Nghĩa thì khi vừa thông báo tin này cho bà biết, “ông Nghĩa lập tức bị công an bịt mồm, lôi đi xềnh xệch” và đương nhiên, cuộc gặp bị hủy bỏ. Ngay sau đó, ông Nghĩa được chuyển từ buồng tập thể sang buồng giam chỉ có hai người. Không phải ngẫu nhiên Trần Văn Tiến, tên tội phạm làm gián điệp cho Trung Quốc, lại từng có “thành tích” đánh người (trước đó đã đánh một Tù nhân lương tâm khác là ông Nguyễn Kim Nhàn) được bố trí để ở chung với nhà văn, một người rất quyết liệt trong đấu tranh chống bá quyền Trung Quốc. Vào lần thăm gặp
gần đây, bà Nga cho biết chồng bà không chỉ bị tên Tiến đánh, mà còn liên tục bị đe dọa và xúc phạm đến nhân phẩm. Hắn từng ngang nhiên tuyên bố: “Mày (Nhà văn Nguyễn Xuân Nghĩa) sẽ chết trước khi kịp bước chân vào nhà”. Lời đe dọa nghe giống với thông điệp của chính quyền gửi đến “kẻ chống đối” hơn là của một người tù nói với một người tù.
Năm trong số sáu năm tù nhà văn đã trải qua với bao nhiêu hiểm nguy và thử thách. Một năm còn lại, có thể những hiểm nguy và thử thách sẽ nhiều hơn nhưng chúng ta tin, một con người luôn hướng đến tương lai
như ông sẽ vượt qua tất cả để trở về trong chiến thắng.
Những Tù nhân lương tâm khác đều sẽ trở về trong Chiến thắng. Vì tương lai là của chúng ta.
Hôm nay, để kỷ niệm năm năm ngày nhà văn Nguyễn Xuân Nghĩa và các đồng đội của ông bị bắt, xin được tặng lại quý độc giả bài thơ “Cầu xin đau cả loài người” ông viết hồi tháng 9 năm 2007,
một năm trước khi bị bắt. Bài thơ - như ông tâm sự- là để “kính viếng hương hồn những người dân Myanmar đã ngã xuống trong cuộc biểu tình chống chế độ quân phiệt cuối tháng 9 năm 2007”.
“Người đã ngã trên đường Yangon
Tôi sẽ ngã trên đường Hà Nội”.
Không lâu sau khi tôi, ông và nhiều anh em khác bước chân khỏi căn nhà quen thuộc của mình để đối mặt với cuộc sống ngục tù thì đường phố Yangon đã không còn thêm những xác người. Người dân Miến Điện đã được Tự do. Một kết thúc có hậu cho một Dân tộc từng trải qua nhiều đau thương, mất mát.
Việt Nam có thể phải rất lâu hoặc có thể không bao lâu nữa để có một cuộc xuống đường như mong muốn.Trong số những người “sẽ ngã” có thể có ông-nhà văn Nguyễn Xuân Nghĩa- có tôi, bạn hay bất cứ một người dân Việt Nam nào. Nhưng, chúng ta sẽ ngã cùng với nụ cười nở trên môi: Nụ cười Việt Nam. Nụ cười Chiến thắng. Nhưng trước mặt chúng tôi đã có đoàn
người vững vàng tiến tới và đang ca bài Chiến thắng.
Cầu xin đau cả loài người
Nguyễn Xuân Nghĩa
Người đã ngã trên đường Yangon
Ngực
áo cà sa đang thủng
Tiếng súng độc tài vang trên xứ sở chùa chiền
Sao người bên ấy giống mẹ tôi,
Người giống bố tôi.
Con trâu lưỡi cày chung gốc
Cây lúa, cây ngô một hạt phân cành
Sao đất nước của người giống đất nước của tôi
Hoa văn mái chùa chung nét
Tiếng chuông phương Nam, tĩnh hồn phương Bắc
Gốc Bồ Đề, tràng hạt cầm chung.
Kẻ cầm quyền bên người sao giống bên tôi
Viên đạn giống nhau ngôn từ cũng
giống
Cái người mất là cái tôi đang mất
Tiếng thét bên kia nghe ở bên này
Người đã ngã trên đường Yangon
Tôi sẽ ngã trên đường Hà
Nội.
Giọt máu trộn chung, đỏ hai mảnh đất
Cầu xin đau cả loài người.
DienDanCTM
nguồn: http://phamthanhnghien.blogspot