Ngày 30/4 -- Người Việt Của Tôi Tại Quận Dĩ An

48 views
Skip to first unread message
Message has been deleted
Message has been deleted
Message has been deleted

Viet...@gmail.com

unread,
Apr 15, 2009, 9:33:00 PM4/15/09
to Kiến - Thiết

Người Việt Của Tôi Tại Quận Dĩ An

- Viết Cho Ngày 30 Tháng Tư Đen.
- Viết cho những Người Lính, Nghĩa Quân, Cảnh Sát, Xây Dựng Nông Thôn
và Dân Chúng của Quận Dĩ An xưa.
- Kính tặng Ông Quận Dĩ An -- Ông Quận Thủy Quân Lục Chiến Sát Cộng --
Trung Tá Nguyễn Minh Châu.
- Để tưởng nhớ Chú Ba -- Trưởng Chi Cảnh Sát Dĩ An.

Về địa dư, thì quận Dĩ An thuộc về Vùng III. Từ Sài Gòn đi Biên Hòa,
nếu đi đường trong (đường ngoài là đường Xa Lộ Sài Gòn - Biên Hòa),
chúng ta sẽ tới Thủ Đức rồi tới Dĩ An và cuối cùng là Biên Hòa.

Mặc dù ở khoảng giữa Sài Gòn - Biên Hòa, nhưng người ta biết đến Thủ
Đức và Biên Hòa nhiều hơn là biết tới Dĩ An, vì hai nơi kể trên có quá
nhiều cảnh đẹp, thức ăn và trái cây ngon, như Suối Tiên, Nem Thủ Đức,
Buởi Biên Hòa ....

Dĩ An chỉ là một quận thuộc về ... miền quê, không có bất cứ một thứ
gì đặc sắc, ngoài cái việc ở kế cận Sài Gòn.

Đúng vậy, nếu đứng ngay ở quận lỵ Dĩ An, chúng ta sẽ thấy ngôi chợ,
bót cảnh sát, ga xe lửa .... Nhưng qua khỏi ga xe lửa một chút, chừng
vài cây số thôi, là chúng ta đã tới miền quê rồi đó, với những cánh
đồng lúa và vườn trái cây xanh mướt thấp thoáng những mái tranh đơn
sơ. Và trong một vài mái tranh đơn sơ đó, có ... Việt Cộng.

Sau Hiệp Định Geneve 1954, phân chia đất nước làm Hai Miền: Miền Bắc
theo Cộng Sản, còn Miền Nam theo Tự Do, thuộc Pháp. Khi Pháp rút về
nước, trao chính quyền lại cho Quốc Trưởng Bảo Đại. Sau một cuộc
“Trưng Cầu Dân Ý” Bảo Đại bị truất phế, nhường cho Ông Ngô Đình Diệm
lên làm Tổng Thống. Bọn Việt Cộng ở Miền Nam, một số tập kết về Miền
Bắc, số còn lại “Rút Gân Rút Cốt Thay Hình Đổi Dạng, Nằm Vùng Chờ Cơ
Hội”.

Tổng Thống Ngô Đình Diệm lập chính phủ Cộng Hòa, lo vãn hồi an ninh
trật tự cho Miền Nam Tự Do, Ông cho bắt hết đám Việt Cộng nằm vùng,
xây dựng nền kinh tế vững mạnh. Cuộc sống người dân trở lại bình
thường, Dân Dĩ An nhờ đó, cũng sống rất yên lành.

Tôi sinh ra và lớn lên ở Dĩ An, chứng kiến những sự việc xẩy ra ở đó
qua hai đợt di cư của Người Miền Bắc vào Nam: Năm 1954 và năm 1975.

Dân Di cư Miền Bắc, được tập trung sinh sống ở khu Thủ Đức, Hố Nai,
Tam Hiệp ... gần Biên Hòa, và đương nhiên là gần Dĩ An.

Thời đó, tôi còn rất nhỏ, mới bắt đầu đi học Tiểu Học.

Tới trường, hễ nghe đứa nào nói cái giọng khó nghe, thì hiểu liền, đó
là dân “Bắc Kỳ”. Đang đi ngoài đường, hễ nghe ai đó nói:

“Rê Su Ma, nậy Chúa tôi”.

Là tụi tôi biết liền, đó là dân “Bắc Kỳ”.

Ra chợ, hễ thấy bà nào có hàm răng đen bóng, là bọn chúng tôi biết
ngay, đó là dân “Bắc Kỳ”.

Một vài điều tôi còn nhớ như in vào đầu là, thời đó còn xài tiền giấy
xé làm hai: Một Đồng xé làm hai thành hai tờ Năm Cắc. Những đứa nhỏ
Bắc Kỳ cùng học với chúng tôi, tụi nó hiền lành, chỉ nhìn tụi tôi chơi
giỡn chứ không bao giờ dám chọc ghẹo tụi tôi cả. Má tôi và những người
chòm xóm bán hàng ngoài chợ thì nói những Người Bắc Kỳ chụi khó làm
việc và rất nhẫn nhịn, cái gì cũng cười.

Tôi được má kể lại là, lâu lâu, chính phủ tổ chức chiếu phim thời sự
vào buổi tối, ở đầu chợ Dĩ An, để dân chúng đi xem, đông lắm, vui vẻ
lắm, thái bình thịnh trị lắm.

Vào thời gian xẩy ra Đảo Chánh Ngô Đình Diệm và những cuộc Đảo Chánh
kế tiếp, tôi không biết và không nhớ nhiều cho lắm, vì lúc đó tôi chỉ
là một đứa nhỏ chín mười tuổi mà thôi. Chỉ có một điều làm tôi nhớ:
Một lần chính quyền địa phương chiếu bóng tuyên truyền giáo dục phòng
bệnh chữa bệnh, Việt Cộng thẩy lựu đạn làm đám con nít tụi tôi chết
nhiều lắm. Tôi không nhớ năm đó là năm nào, chỉ nhớ rằng, trong lúc
đang mải mê xem phim chống bệnh tật: Máu đỏ và máu xanh trong cơ thể
chống lại vi trùng xâm nhập vào người, thì nghe một tiếng nổ lớn:

“Ầm”

Nhìn chung quanh, tôi thấy người ta ngã xuống đất, máu chẩy thật
nhiều, bọn tôi sợ quá, xúm nhau chạy về nhà. Kể từ đó, ba má tôi cấm
đám anh em tụi tôi không được đi xem hát nữa.

Qua một thời gian vài năm không đi coi hát ở chợ nữa, có một bữa, mấy
đứa bạn tôi rủ đi coi hát ở đầu chợ nữa. Tụi nó nói với tôi:

“Có Ông Quận mới về, ổng ... sát cộng lắm, nên tụi nó không dám về
thẩy lựu đạn nữa, đi coi hát được rồi.”

Nói thì nói vậy, chứ má tôi đâu có dám cho tụi tôi đi coi nữa. Anh em
tụi tôi ham coi hát, lén lén đi từ đứa, mỗi đứa coi một khúc rồi về
thế cho đứa khác đi coi. May là không có ai thẩy lựu đạn nữa, nên má
tôi không biết chuyện này.

Mấy bữa sau, tụi tôi có chuyện đi ra quận đường. Đang đi, tôi chợt
thấy có một chiếc “Xe Jeep” chạy trờ tới, có một Ông mặc đồ rằn ri nhà
binh ngồi trên xe bước xuống, chống cây gậy đi chậm chậm. Dưới cặp mắt
con nít của tôi, thì Ông rất là oai phong. Tôi đâu có biết Ông đó là
ai, cứ mở bự con mắt ra mà dòm Ông. Những người lớn tuổi đi kế bên tôi
lao xao nói chuyện với nhau. Một bác đi kế bên tôi nói lớn ra vẻ thích
thú:

-“Đó, Ông Quận Dĩ An mới về đó!”

-“Ông Quận đó ... sát cộng lắm đó! Ổng cho lính đi phá hầm Việt Cộng
hoài à, kỳ nào cũng giết được mấy đứa, làm tụi nó sợ lắm, trốn hết
trơn rồi.”

-“Ổng là Lính “Thủy Quân Lục Chiến” đó, đánh trận ngầu lắm đó!”

-“Ổng tên gì vậy?”

-“Ai biết ổng tên gì! Nghe người ta kêu ổng là “Ông Quận Thủy Quân Lục
Chiến”, vậy thôi, chứ ai mà biết ổng tên gì!”

Mấy ngày sau, nhân dịp tết Trung Thu, bọn con nít tụi tôi được đi theo
thầy giáo tới quận đường để lãnh lồng đèn và bánh trung thu. Đây là
lần đầu tiên trong đời, tôi đuợc tới quận đường và được lãnh quà Trung
Thu. Tôi không còn nhớ đã được lãnh lồng đèn kiểu gì? Nhưng còn nhớ
rất rõ là được phát một cái bánh dẻo nhỏ bằng 3 ngón tay, ăn có mùi lá
dứa.

Nhà tôi ở ngay chợ Dĩ An, mỗi ngày ngoài giờ học và nhưng giờ chạy
chơi với bạn bè, tôi đều phụ má bán hàng, nên được nghe nói rất nhiều
về “Ông Quận Dĩ An Thủy Quân Lục Chiến".

Có người kể:

“Tối qua, Ông Quận cho lính đi phá hầm, giết nhiều du kích lắm, thằng
con của Năm Rê (không phải tên thật) hổng dám dề kêu đi đắp mô nữa”.

Cũng có người nói:

“Tối bữa trước, thằng Năm con Ông Chín Lùa kéo đám trong bưng về chặn
đường Ông Tám Hó (không phải là tên thật) Hội Đồng Xã đặng giết. May
phước, Ông Tám có thằng nghĩa quân xách súng đi theo, bắn trả lại rồi
chạy thục mạng ra tới Xã ở luôn đó, mấy bữa rồi cũng không dám về
nhà.”

Một ông già có sạp bán hang ... đã thật là vui vẻ nói lớn:

“Hổm rày quận mình yên lắm rồi! Tụi tui và bà con chòm xóm hết bị mấy
cái đám ác ôn tối trời về bắt đi đắp mô rồi. Nhớ lại hồi đó, tối bị
lùa đi đắp mô, sáng lại phải đi phá mô, hổng còn sức đâu mà làm ăn!”

Như tôi đã nói ở trên, từ ga xe lửa Dĩ An đi theo đường cái vô sâu
chừng vài cây số, tới vùng Nhị Tỳ, Nhà Đèn Dĩ An là tới khu ruộng lúa
và những đám rừng âm u (chưa tới Ngã Ba Cây Lơn). Những người đi theo
Việt Cộng ban ngày vẫn làm ruộng trồng rau, ban đêm nhập với đám Việt
Cộng trong rừng ra, tới từng nhà đòi đóng thuế, hoặc giết những người
trong Hội Đồng Xã. Nhà hàng xóm gần nhau, ai theo Việt Cộng, ai theo
Quốc Gia, dân chúng có khi biết nhau hết, nhưng không dám nói ra.

Có một bữa, dân chúng kéo nhau đi coi xác Việt Cộng chết, được Ông
Quận kéo về để dọc đường rầy xe lửa. Tôi tò mò lén đi coi. Tới nơi,
tôi thấy có chừng sáu bẩy cái xác Việt Cộng, đứa thì mặc quần xà lỏn,
đứa thì mặc đồ bà ba đen, quấn khăn rằn bị bắn chết, máu chẩy đầy
mình. Lính Nghĩa Quân cầm súng đứng gác kế bên. Người ta đi coi đông
lắm, tới tận nơi mà dòm. Tôi thấy xác chết thì sợ quá, không dám tới
gần, chỉ đứng lớ xớ phía xa.

Có người léo xéo nói với nhau: “Xác đó là thằng ... Tám (không phải
là tên thật), con của Sáu Lô đó”.

Có người làm gan, tới hỏi anh Nghĩa Quân đứng gác:

“Việt Cộng bị bắn chết rồi, sao không đem đi chôn, mà lại đem trưng ra
đây? Coi dễ sợ quá, hôi hám quá đi”.

Anh Nghĩa Quân trả lời: “Tụi tôi mới đi phá hầm bí mật của Việt Cộng
tối qua đó, Ông Quận cho kéo về, chờ làm giấy tờ xong mới đem chôn,
cũng để đó đặng cho bà con biết, đừng có đi theo Việt Cộng mà có ngày
bị chết thảm như cái đám này đó!”

Tôi lớn lên theo tình hình an ninh của quận Dĩ An. Ông quận Dĩ An vẫn
còn làm việc ở quận, tôi không có dịp gặp Ông nữa, nhưng nghe dân
chúng nói rất nhiều về những điều Ông làm. Ông chịu lo lắng cho vấn đề
an ninh của dân chúng, chịu hành quân, chịu đi phá hầm, truy lùng Việt
Cộng lắm.

Vì thế, dân chúng mới đặt cho Ông cái tên:

“Ông Quận Sát Cộng”

Bây giờ thì tôi đã lớn đủ để hiểu Việt Cộng là ai? Và Sát Cộng là gì
rồi? Tôi chỉ là một đứa con gái, nhưng tôi cảm thấy phục Ông, và lâu
lâu vẫn suy nghĩ: Ông đi đứng chống gậy rất khó khăn, vậy làm sao mà
Ông có thể đi hành quân phá hầm Việt Cộng hoài hoài như vậy được?

Có một bữa bán hàng, tôi thấy có một đám người lạ mặt mặc Quần Áo Đen,
đội Nón Rộng Vành, mang Ba Lô tới ăn ở quán của nhà tôi. Tôi thấy họ
mặc đồ Bà Ba Đen và Quấn Khăn Rằn thì sợ lắm, nhất là nhìn thấy cái
nón của họ, hơi giống cái Nón Tai Bèo của đám Du Kích. Nhưng khi thấy
họ mang Ba Lô thì tôi đỡ sợ, vì tuy không đi lính, nhưng tôi cũng biết
chỉ có Lính Cộng Hòa mới mang Ba Lô mà thôi. Khi một Chú ăn xong, kêu
tính tiền, tôi làm gan, hỏi Chú là Lính gì mà lại mặt Đồ Đen.

Chú này còn trẻ lắm, nhe răng cười trả lời tôi:

“Tụi tui là Lính “Xây Dựng Nông Thôn” mới từ Vũng Tàu về đây” (Xin gọi
tắt là XDNT)

Nghe anh trả lời thì tôi biết vậy thôi, và tôi cũng chỉ gặp họ một lần
đó thôi nên cũng quên đi, còn lo bán hàng, lo đi học. Chừng vài tháng
sau, tôi nghe dân chợ nói chuyện với nhau:

“Lính XDNT được lắm, họ hổng giống Lính Cộng Hòa, họ ở luôn trong ấp
của mình đó, mấy ảnh giúp mình đủ chuyện hết, có bữa còn phụ bà Tám
Cái (không phải là tên thật) cấy lúa đó!”

“Ban ngày, đám XDNT này đi vòng vòng giúp bà con, ban đêm họ xách súng
đi tìm Việt Cộng mà đánh đó. Tội nghiệp quá, họ làm việc sáng đêm. Tối
qua đám này ghé nhà tôi, tía thằng Tâm nói tôi nấu cháo cho mấy Chú đó
ăn cho no đặng làm việc đó!”

Từ đó tôi mới biết lý do tại sao họ không có mặt ở chợ nữa, vì họ ở
luôn ở trong làng, trong xã chung với dân. Theo suy nghĩ nông cạn của
tôi, tôi cho rằng: Việt Cộng nằm vùng sống cùng với dân, muốn diệt
trừ bọn này, chỉ có cách là cũng sống cùng với dân như những Người
Lính XDNT này thì mới tìm ra chúng mà đánh thôi. Từ đó, tôi lại có
thêm cảm tình với Lính XDNT và thêm cảm tình với Ông Quận Dĩ An.

Tới tuổi thi Tú Tài, tôi lo học nhưng cũng thích thơ TTK, Hữu Loan, Hồ
Zếnh, và cũng thích đọc “The Exodus” “Chiến Tranh và Hòa Bình”….

Một bữa, tôi đang đọc cuốn “Trại Đầm Đùn” thì một Ông khách lạ mặc
quần áo Cảnh Sát buớc vào quán kêu đồ ăn, Ông trạc tuổi 45 gì đó. Khi
tới quầy trả tiền, liếc mắt thấy tên cuốn sách, Ông nhìn tôi ngạc
nhiên:

“Con gái mà đọc mấy loại sách này làm chi!”

Tôi trả lời Ông:

“Cháu đọc cho biết Việt Cộng tàn ác như thế nào?”

Lâu lâu Ông lại ghé quán của má tôi mà ăn trưa, ăn tối. Tới khi quen
rồi, tôi mới biết Ông là Trưởng Chi Cảnh Sát Dĩ An. Có bữa, tôi cắc cớ
hỏi Ông:

Chú Ba, có khi nào Chú bắt được Việt Cộng, rồi cũng tra tấn người ta
giống như bọn Việt Cộng tra tấn dân, giống như trong ... Trại Đầm Đùn,
hay không?”

Ông đã cười lớn một lúc rồi mới trả lời tôi:

“Bạo tàn không phải là nghề của Cảnh Sát Quốc Gia! Mình làm gì cũng
phải có tình người ở trong đó. Hơn nữa, hỏi cung đám Việt Cộng là do
Cảnh Sát Đặc Biệt hoặc là An Ninh Quân Đội phụ trách, chứ không phải
là nhiệm vụ của Chú.”

Từ đó, tôi có cảm tình nhiều hơn đối với Ông. Ông kêu tôi là “Con Gái”
và xưng “Chú” với tôi. Nhà ông ở Sài Gòn, Ông đi làm bằng xe Vespa
(hay Lambretta gì đó, tôi không nhớ rõ), chứ không lái xe Jeep Cảnh
Sát. Người ta kêu Ông là Chú Ba, thì tôi cũng theo đó mà kêu, chứ
không hỏi và cũng không dám hỏi tên thật của Ông.

Tháng Tư 1975, Ngày Đen Tối của VNCH đã đến! Mấy ngày trước đó, thấy
tình hình nguy ngập, má tôi lo cho tính mạng của anh Hai tôi đang đóng
quân ở Bạc Liêu và anh rể tôi làm Cảnh Sát ở Xa Cảng, nhưng đâu có làm
gì được hơn. Má chỉ còn cách bảo tôi đi mua gạo trữ phòng khi có biến.

Gần cuối tháng, tôi nghe súng nổ thật gần, nhưng cũng chẳng biết làm
gì hơn.

Sáng 30, tôi nghe trên đài phát thanh, Tổng Thống Dương Văn Minh đầu
hàng Việt Cộng và kêu gọi binh sĩ các cấp Gác Súng chờ Bàn Giao.

Má tôi lo cho số mạng của người con trai và con rể. Còn tôi, tôi lo
cho số mạng của những bạn bè tôi đã đi lính. Dĩ An ở gần phi trường
Biên Hòa, gần cả căn cứ Sóng Thần, nên có rất nhiều thanh niên gia
nhập Không Quân và Thủy Quân Lục Chiến, bạn bè tôi ở trong đám này
đông lắm. Rồi còn những Người Lính XDNT nữa, họ còn đang ở chung với
bà con trong Xã, Ấp, còn Chú Ba Cảnh Sát, còn Ông Quận TQLC Sát Cộng
nữa, họ sẽ ra sao?

Mẹ tôi lính quýnh đi tới đi lui trong nhà. Tôi cũng lo sợ, lo sợ cho
mẹ tôi, cho chính tôi nữa, cuộc đời mình sẽ ra sao?

Ngay lúc đó, Chú Ba bước vào, mặt mày đăm chiêu. Điều ngạc nhiên hết
sức là Chú không mặc bộ quần áo Cảnh Sát thường ngày, mà Chú mặc bộ đồ
mầu trắng tươi, đeo lon và huy chương sáng ngời. Chú nói với mẹ tôi:

“Tôi chào chị lần cuối, rồi về nhà. Đầu Hàng rồi, nhưng tôi đâu có
thua trận đâu mà đầu hàng! Sáng nay, khi nghe tin Tổng Thống Minh Đầu
Hàng, tôi đã tập họp tất cả Cảnh Sát trong Chi lại dể làm Lễ Chào Quốc
Kỳ lần cuối cùng, rồi giải tán, ai về nhà nấy. Tôi cũng về đây, thôi,
chào chị và cháu gái, hai người ở lại mạnh giỏi.”

Mẹ tôi và tôi chưng hửng nhìn Chú. Một lúc sau, mẹ tôi mới nói:

“Đầu Hàng rồi, tôi thấy người ta mặc thường phục đi về, sao Chú không
thay quần áo thường mà lại mặc Đại Lễ như vầy, lỡ ... có chuyện gì thì
sao? Con trai tôi còn để mấy bộ quần áo ở nhà, tôi nói con Nhung lấy
cho Chú bận nhé!”

Chú Ba cười chua chát, trả lời:

“Lần cuối cùng của cuộc Đời Binh Nghiệp của tôi mà chị! Tôi phải mặc
Đại Lễ chứ!”

Tôi ái ngại nhìn Chú, hỏi thêm:

-“Chú Ba đi về cùng với anh em Cảnh Sát hay về chung với Ông Quận? Về
chung chắc là an toàn hơn đó.”

-“Anh em Cảnh Sát đa số là dân địa phương, họ tự đi về, còn Chú, Chú
đi bằng xe riêng từ đó tới giờ, nên hôm nay Chú cũng về bằng xe riêng.
Ông Quận vừa nói chuyện với Chú xong, ổng sẽ về sau cùng với những
người lính nào ở Sài Gòn.”

-“Chú Ba, còn Cây Cờ của mình, sao Chú không gỡ xuống, để ... người ta
xé đi thì tội nghiệp cho Lá Cờ lắm.”

-“Chú Ba chỉ có nhiệm vụ Thượng Kỳ Việt Nam Cộng Hòa mà thôi. Quân Đội
không dậy Chú cuốn cờ bỏ đi, và Chú cũng không thể làm chuyện đó được.
Trước khi về, Chú đã đứng nghiêm chào Lá Cờ lần chót rồi. Cứ để Lá Cờ
ở đó, trong đầu óc của Chú sẽ nhớ mãi hình ảnh Lá Cờ VNCH tung bay
trong gió. Sau này, Lá Cờ sẽ ra sao? Để tương lai trả lời.”

Rồi Chú quay ra, đạp máy xe rồ ga đi thẳng.

Ngoài đường, tôi thoáng thấy những Thanh Niên Mang Băng Tay Đỏ, cầm
súng chạy lăng xăng.

Chiều đến, má tôi hốt hoảng nhớ tới bầy cháu ngoại ở Sài Gòn, má nói
tôi ráng mang gạo cho chị tôi, để mấy đứa nhỏ đói tội nghiệp.

Tôi cảm thấy sợ hãi khi phải đi ra ngoài trong giờ phút này, nhưng
cũng chất gạo lên xe Honda chạy ra xa lộ đi về Sài Gòn.

Dọc đường, vẫn còn súng nổ, vẫn còn lính ta chạy tới chạy lui, quần áo
lính vứt rải rác khắp nơi, và rất nhiều đàn ông mặc thường phục đi bộ
về phía Sài Gòn. Những chiếc xe tăng cắm Cờ Xanh Dương và Đỏ chạy rầm
rộ trên đường, chạy qua mặt tôi một cách hung tợn, cũng huớng về Sài
Gòn. Tôi sợ lắm, bậm gan rồ ga chạy thục mạng.

Bất chợt, tôi nhìn thấy ở vệ đường, một người lính mặc Đại Lễ mầu
trắng với những huy chương đeo đầy trên ngực áo, nắm bất động, mặt đầy
máu, quay về phía đường lộ, bên cạnh chiếc xe Vespa lật nghiêng. Tôi
thảng thốt kêu lên:

“Chú Ba Cảnh Sát!”

Tôi muốn dừng lại, xem có phải thật sự là Chú Ba hay không?

Chú còn sống hay đã bị bắn chết?

Nhưng giòng người xô đẩy, tiếng súng hai bên nổ vang, rồi xe chở Lính
Việt Cộng chạy tới, xe tăng, thiết giáp bắn nhau qua lại, tôi không
thể nào ngừng lại.

Tôi bật khóc, nhìn Chú Ba một lần chót rồi rung rẩy chạy xe đi.

Tôi nhớ lại hồi sáng, sau khi Chú Ba đi được khoảng một tiếng đồng hồ
thì một đám những tên Đeo Băng Tay Đỏ, những tên Đội Nón Tai Bèo, đã
kéo Lá Cờ VNCH xuống, xé tan nát đi. Tôi vụt chạy ra muốn giựt lại Lá
Cờ, nhưng vừa mới ra tới cửa, đụng phải một đám Đá Cá Lăn Dưa cầm súng
chĩa tứ phía, làm tôi sợ quá, dội trở lại. Lúc đó, tôi đã giận Chú Ba
hết sức, tại sao không kéo Lá Cờ xuống mà cất đi, để nay bị cái đám
người này xé nát.

Bây giờ, nhìn Chú Ba nằm đó, tôi lại nhớ câu nói cuối cùng của Chú:

“Cứ để Lá Cờ ở đó, trong đầu óc của Chú sẽ nhớ mãi hình ảnh Lá Cờ VNCH
tung bay trong gió. Sau này, Lá Cờ sẽ ra sao? Để tương lai trả lời.”

Tôi không giận Chú Ba nữa, và nghĩ rằng, Chú Ba đã làm đúng!

Chú Ba ơi, trong đầu óc Chú bây giờ, Lá Cờ Việt Nam Cộng Hòa vẫn còn
tồn tại, vẫn còn tung bay trong gió, trong vĩnh cửu, phải không Chú?

Những ngày sau đó, rất nhiều khuôn mặt xuất hiện. Những khuôn mặt này
rất quen thuộc với Người Dân Dĩ An trước đây, nhưng bây giờ họ đã trở
thành khác hẳn:

Họ quấn Khăn Rằn, đội Nón Tai Bèo, hiện nguyên hình Việt Cộng.

Bà con đi chợ nói với nhau:

“Cái đám này, hồi đó đã bị Cảnh Sát chìm, bị lính của Ông Quận mình
bắt nhốt hết trơn rồi đó đa. Nhưng bị Báo Chí nói lung tung là bắt dân
vô tôi, nên mới phải thả tụi nó ra. Nay thì rõ ràng quá rồi, phải chỉ
hồi đó xử tử hết tụi nó đi, đỡ khổ ...”.

Một thời gian ngắn sau đó, những Người Bắc Kỳ lại xuất hiện, chúng tôi
kêu họ là “Bắc Kỳ 75”. Những Bắc Kỳ này Láu Cá và Hỗn Láo vô cùng,
khác xa với “Bắc Kỳ 54” xưa. Bắc Kỳ 54 ăn nói nhỏ nhẹ, cái gì cũng
cười, thì đám Bắc Kỳ 75 đội Nón Cối, đi Dép Râu, luôn Miệng Chửi Thề.
Khi nói chuyện, họ Xưng Ông Xưng Cha với chúng tôi và sẵn sàng đe dọa:

“Ông báo Công An, bắt bỏ cha chúng mày đi bây giờ!”

Mỗi lần Ngày 30 Tháng Tư trở lại, tôi lại nhớ tới quận Dĩ An, nhớ tới
Ông Quận TQLC Sát Cộng, nhớ tới Chú Ba Cảnh Sát. Tôi đã kể cho chồng
con tôi nghe về những người này, không biết họ còn sống hay đã chết?
Chồng tôi hỏi, tôi còn nhớ tên những Người Hùng này hay không? Lâu quá
rồi, hơn nữa, hồi đó, tôi còn quá nhỏ để mà nhớ.

Mỗi lần đi ngang những Đài Tưởng Niệm Chiến Sĩ VNCH, tôi đều cầu
nguyện cho họ.

Bất chợt, một hôm đọc Việt Luận, đọc bài “Cuộc Đời Đổi Thay” tôi mới
biết Ông Quận Trưởng Dĩ An, Ông Quận TQLC Sát Cộng, Trung Tá Nguyễn
Minh Châu, Ông còn sống, đang ở bên Mỹ. Tôi mừng qua, kêu chồng tôi:

“Anh ơi, Ông “Guậng ... Ông Guậng Dĩ Ang nè, ổng còn sống, ổng diếc
báo nè!

Anh coi hình ổng nè, ổng bận đồ rằng ri, oai hùng lắm nè! Thấy hông,
em nói mà!”

Chúc mừng Ông Quận được bình yên sau những đổi thay của cuộc đời.

Cám ơn Ông Quận, đã gìn giữ An Ninh trong Quận, đã Sát Cộng, để những
Người Dân Dĩ An như tôi có một cuộc sống yên ổn, cho tới Ngày 30 Tháng
Tư.

Người Việt của tôi, là thế đấy!

Nguyễn Khắp Nơi - Theo lời kể của Cư Dân Quận Dĩ An

Viet...@gmail.com

unread,
Apr 17, 2009, 11:59:11 PM4/17/09
to Kiến - Thiết

Người Lính Không Có Số Quân

Lời tác giả: Nhân 30/04, để nhớ lại những gương chiến đấu của Quân
và Dân Miền Nam trong công cuộc chống Cộng Sản xâm lược, xin có một
truyện ngắn nói về sự chiến đấu này, đây là chuyện có thực mà người
viết từng tham dự năm xưa. Trân trọng.

Tối đó, tôi dẫn Đại Đội tới điểm đóng quân đêm, đây là ngày đầu
tiên tôi nắm Đại Đội, sáng nay có cuộc bàn giao ở Tiểu Đoàn, người Đại
Đội Trưởng tiền nhiệm, cũng là khoá đàn anh của tôi, có sự vụ lệnh đi
học khoá quân chánh.
Ra trường được sáu tháng, từ anh Thiếu Uý mới tò te, giờ đã lên nắm
Đại Đội, quả là thời gian hơi nhanh so với những đứa bạn cùng khoá ở
các binh chủng khác như Nhẩy Dù, Thủy Quân Lục Chiến ... có lẽ họ vẫn
còn đang thực tập ở Trung Đội hay là Trung Đội Trưởng mà thôi. Tôi nắm
Đại Đội hơi nhanh không phải vì mình tài giỏi gì mà năm 67 khi ra
trường, như bao đứa bạn khác chọn đi Bộ Binh, các đơn vị rất thiếu Sĩ
Quan, như Tiểu Đoàn tôi về chẳng hạn, có Đại Đội xử lý là một Chuẩn
Uý, gọi là xử lý cũng không đúng vì trong cấp số coi Đại Đội thì tối
thiểu phải là Thiếu Uý, nhưng không hiểu sao vào những năm này, Sĩ
Quan quá thiếu, bởi vậy khi vừa tới Trung Đoàn, nghe tin có mấy Sĩ
Quan Đà Lạt mới ra trường là các đơn vị nhao nhao lên xin, tôi được
đưa về Tiểu Đoàn 4/46 thì một ông đàn anh khoá 16 đang làm Đại Đội
Trưởng xin ngay tôi về. Ông tên Hồ Trang, Khoá 16, ở miền Trung bị
thuyên chuyển vào Nam vì dính dáng tới vụ Phật Giáo, ngoài đó ông đã
là Tiểu Đoàn Phó nên vị Tiểu Đoàn Trưởng cũng có hơi nể, quay quắt vì
việc phải thuyên chuyển xa nhà, bị giam lon, giam chức nên ông gắt
gỏng như mắm tôm, ông nghiêm khắc với mọi người nhưng rất chí tình
trong việc chỉ bảo cho tôi từng ly, từng tí việc chỉ huy mà dầu sao
tôi cũng còn quá mới, quân trường dạy là một chuyện, ra đây đụng với
thực tế lại là một chuyện khác.
Cứ như vậy, những lần hành quân, ông cho tôi ở cạnh để học hỏi hoặc
cho xuống Trung Đội để thực tập, 6 tháng sau, khi thấy tôi đã tàm tàm
gọi là đủ lông, đủ cánh bay solo được, ông nói với Tiểu Đoàn Trưởng và
bàn giao Đại Đội lại cho tôi, trước đó, ông đã thu xếp người Đại Đội
phó đi học để tôi coi Đại Đội được danh chính ngôn thuận.
Nói về tối đầu tiên tôi dẫn Đại Đội đi đóng quân đêm, thường tọa độ
đóng quân đêm cùng các điểm phục kích do Tiểu Đoàn chấm, tối đó đang
di chuyển trên đường tôi thấy có một người đàn bà đi lẫn trong toán
đại liên, tôi hỏi Thượng Sĩ Hội, thường vụ Đại Đội, ông ta đi lính hồi
tôi còn học Tiểu học:
-Ai vậy ông Hội, sao có đàn bà lẫn lộn vào đây?
-Thưa Thiếu Uý, đó là vợ thằng Nở, xạ thủ đại liên, nó ở với Đại
Đội lâu rồi, hồi còn Trung Uý Trang, ông cũng cấm nhưng chỉ được vài
ngày là nó lại lẻn xuống sống với chồng nó.
-Tôi thấy không được rồi đó ông, lỡ đêm Việt Cộng tấn công thì làm
sao, thằng Nở chỉ lo cho vợ nó thì còn đánh đấm gì được.
-Thiếu Uý đừng lo, vợ nó phụ nó rất đắc lực, chị ta biết xử dụng
đại liên, biết tiếp đạn cho chồng, rồi Thiếu Uý coi, hễ rảnh là nó lại
lau chùi cây đại liên nữa.
-Nhưng lỡ có chuyện gì làm sao mình báo cáo.
Hôm sau tôi gọi Nở lên trình diện:
-Sao cậu không để cho vợ cậu ở nhà mà cho đi theo Đại Đội như vậy,
lỡ có chuyện gì thì sao?
-Thưa Thiếu Uý, con Ba nó mồ côi từ nhỏ, không có nhà, em đã đưa nó
về với má em rồi nhưng má em không ưng nó, cứ kiếm chuyện với nó hoài,
cho nó theo ĐĐ, thấy cũng bất tiện, em biết chứ.
Nở thực hiện lời "em biết chứ", vài ngày sau, tôi không thấy vợ Nở
đi chung trong toán đại liên nữa, tôi hỏi Thượng Sĩ Hội, ông ta cho
biết Nở đưa vợ ra bến xe về quê mấy bữa nay rồi, tôi có hơi băn khoăn
nhưng nghĩ vậy cũng phải, lỡ có chuyện gì thì làm sao, rồi má con sẽ
phải hoà thuận với nhau chứ.
Một hôm, Hạ Sĩ quan quân số cầm về xấp thư của ĐĐ đưa cho tôi,
trước đó tôi có dặn anh ta là thỉnh thoảng phải kiểm soát thư từ của
binh sĩ xem biết đâu có đứa bị móc nối. Tôi dở xấp thư ra coi thấy có
một lá đề tên Nở, khi tôi coi ĐĐ thì Nở không biết chữ, sẵn dịp, tôi
hỏi các Trung Đội xem còn ai không biết chữ gom tất cả lại, đâu cũng
được 5, 6 người, tôi nói Trung Sĩ Hiển, Hạ Sĩ quan CTCT mua tập vở về
dậy họ học, "ngày mãn khoá", tôi kêu từng người đưa tờ Chiến sĩ Cộng
Hoà cho đọc, ai đọc được, tôi thưởng cho bốn ngày phép, Hạ Sĩ Nở biết
chữ từ ngày đó.
Có bốn ngày phép, Nở không đi đâu cả, anh ta và vợ quanh quẩn chơi
ở mấy nhà quen trong xã, hết bốn ngày, Nở về lại Đại Đội.
Tôi mở lá thư của Nở ra đọc:
“Long Xuyên, ngày ...
Anh hai thương, em diết thơ nầy cho anh là lúc ba giờ phia, em chờ má
ngủ mới dám diết cho anh, anh hai ôi, em nhớ anh quá hà, sao số kiếp
cứ đài đọa tụi mình hoài, nhớ những lúc điêm tối cùng anh đi đóng
quân, dầu gì vợ chồng được gần nhau cũng hơn há anh, hôm anh tiễn em
ra bến xe em buồn quá, lúc xe chạy, em thấy như mất mác cái gì quí
báo, em khóc ước cả mắt, em cố chìu chuộng má mà má vẫn hổng thương
em, thôi để em lên quỳ xinh với ông Thiếu Uý để em được đi theo anh,
liệu được hôn anh, diết thơ nầy xông, mơi sẽ gởi cho anh, anh hai nhớ
trả lời em nghe.
Em, Ba.”
Một tuần lễ sau khi đọc lá thư của Hạ Sĩ Nở, buổi tối dẫn Đại Đội
đi đóng quân, tôi lại thấy cái dáng nhỏ bé ấy đi chung với toán đại
liên, lẫn vào hàng quân, không biết anh Hai có trả lời, trả vốn gì
không hay nhớ chồng lên đại, tôi thấy chị ta cố lẩn vào đám đông, chắc
sợ tôi nhìn thấy, hoặc có thể biết tôi đã thấy nhưng làm nước liều, có
điều hôm nay không mặc bộ bà ba đen thường lệ mà là bộ đồ trận rộng
thùng thình, đầu còn đội nón sắt, chị ta tính ngụy trang che mắt tôi,
tôi cười thầm trong bụng khi thấy vợ Nở cuốn nguyên một dây đại liên
quanh người, tôi mong chị ta đừng gặp tôi mà xin gì cả, chẳng thà để
tôi lờ đi như không biết còn hơn là hợp thức hoá cho khó xử.
Năm 67, các Tiểu Đoàn Bộ binh thường có ba Đại Đội tác chiến, chia
nhau vùng trách nhiệm họat động, hành quân lục soát từng ĐĐ chung
quanh bộ chỉ huy TĐ, đôi khi có cuộc hành quân cấp Tiểu Đoàn thường là
nhẩy trực thăng và xa hơn. Ba Đại Đội Trưởng tác chiến đều cùng Khoá
21 Đà Lạt gồm Thiếu Uý Vũ Đình Hà (ĐĐ1), Thiếu Uý Lê Xuân Sơn (ĐĐ2) và
tôi ĐĐ3.
Một tối, Đại Đội 1 bị tấn công, ĐĐ2 tối đó đóng xa, giữ con đường
từ Long Thượng về Cần Giuộc, tôi nằm cách Hà (ĐĐ2) khỏang 500 thước,
Tiểu Đoàn mất liên lạc với Hà, kêu tôi lên tiếp cứu, chỗ Hà nằm tôi
biết rõ vì đã từng đóng quân ở đây, chắc hắn là địch tấn công từ ngã
rạch tấn công ra, tôi dẫn Đại Đội chạy băng lên vì tình người bạn cùng
Khoá, tôi cho Đại Đội bắn chặn nơi đầu rạch, nhưng vì không liên lạc
được với Hà, tôi sợ quân ta bắn lầm quân bạn, tôi chạy lại cây đại
liên, cho chuyển hỏa lực về bên trái, dưới ánh sáng của pháo binh Cần
Giuộc, tôi thấy vợ Nở nằm cạnh chồng, tay nâng dây đạn, Nở đang nghiến
răng bóp cò, nhả từng loạt đạn về hướng địch.
Như tôi đã nói ở trên, dạo đó ở Long An Việt Cộng chưa nhiều, chắc
khoảng hai chục tên, đợi mình ơ hờ, liều lĩnh tấn công. Cũng tại nơi
con rạch này, ít lâu sau, ĐĐ tôi hành quân lục soát ở đây và đụng
nặng, sở dĩ đụng nặng vì địch tụ ở đâu về, ém quân trong đám dừa lá
dầy đặc như vùng bất khả xâm phạm, chắc chúng tập trung ở đây, đợi đêm
xuông có giao liên dẫn chúng xâm nhập Đức Hoà, Đức Huệ rồi qua
Campuchia, chúng không ngờ ta lùng sục, chúng buộc phải chống trả.
Đám dừa nước cao ngất che dọc theo con rạch, hướng ĐĐ tiến vào là
đồng trống, suốt vùng Long An này chỗ nào cũng vậy, bất ngờ ban đầu
làm ta có ba binh sĩ bị thương và một chết, tôi xin pháo binh và Cobra
lên vùng, hồi đó gọi máy bay ném bom còn là một điều mới mẻ, vũ khí xử
dụng là của thời Đệ Nhị Thế Chiến, toàn là Garant, Carbin, cả Thompson
nữa, ấy vậy mà cây Đại Liên 30 của Hạ Sĩ Nở cũng có tác dụng. Nở người
hơi thấp nhưng rất khỏe, một mình vác cây đại liên cả với chân ba
càng, mỗi lần pháo bắn hay trực thăng phóng rocket là anh ta chạy nhào
lên cho gần mục tiêu, lúc đó địch còn lo núp. Khi đã rất gần mục tiêu
và có gò đất làm điểm tựa chắc chắn, cây đại liên mới phát huy được
hiệu quả của nó, từng loạt đạn bắn ra làm bọn Việt Cộng không ngóc đầu
lên được, cộng thêm pháo và trực thăng bắn liên tục, ĐĐ chiếm được mục
tiêu lúc gần tối, địch bỏ lại 6 xác và một số vũ khí. Trận đánh như
thế này không đáng kể gì so với sau này khi SĐ 25 rời Long An di
chuyển về vùng trách nhiêm mới là Tây Ninh, cuộc hành quân vượt biên
năm 1970 cũng như ở Bình Long Mùa Hè Đỏ Lửa thì chiến trận lên tới cấp
Sư Đoàn, Quân Đoàn.
Sáng hôm sau, Tướng Phan Trọng Chinh, Tư Lệnh Sư Đoàn xuống quan
sát trận đánh và gắn huy chương, tôi đề nghị với Tiểu Đoàn Trưởng
thăng cho Nở lên Hạ Sĩ nhất nhưng Tướng Chinh là người rất ngặt nghèo
trong việc ban thưởng huy chương và thăng cấp, Nở chỉ được cái huy
chương đồng, ông bảo huy chương đồng của SĐ 25 bằng huy chương vàng
của các nơi khác (!).
Hai ngày sau ĐĐ còn được nghỉ dưỡng quân, tôi xuống tổ đại liên
chơi, cả toán đang ngồi ăn cơm, tôi thấy vợ Nở đang mân mê cái huy
chương của chồng, thấy tôi, chị có vẻ ngài ngại gật đầu chào rồi bỏ
vào trong nhà, tôi nghĩ giá tôi có quyền, tôi sẽ tặng cho chị ấy một
cái huy chương của buổi tối yểm trợ cho Vũ Đình Hà.
Đầu năm 1968, tôi được đề cử theo học khoá Tác chiến trong rừng ở
Mã Lai, tôi còn gắn bó với ĐĐ hơn một tháng nữa. Một buổi sáng, đang
đứng trước cửa ĐĐ thì vợ Nở bất chợt ngang qua, chắc đi chợ về, thấy
tôi, chị ta khựng lại muốn thối lui nhưng không kịp, chị ta làm bạo
bước tới và khi ngang qua tôi, vợ Nở mím môi lại và dơ tay chào theo
kiểu nhà binh, tôi ngạc nhiên, trong một phản xạ, tôi chào lại, chào
xong, tôi mới ngẩn người ra nghĩ: Sao mình lại chào nhỉ, hoá ra ĐĐ
này có một nữ quân nhân ư? Có lẽ chị ta thấy mọi người trong ĐĐ chào
tôi nên khi gặp, chị cũng chào để cho giống như những người kia chăng!
Tôi thấy hình như bụng vợ Nở có hơi to ra. Tôi đem điều này hỏi Thượng
Sĩ Hội thì ông ta bảo: Có vẻ như vậy Trung Uý.
Tôi gọi Nở lên:
-Vợ cậu có bầu phải không?
-Dạ, thưa Trung Uý.
-Vậy thì cậu phải đưa cô ta về với bà già đi chứ, bầu bì rồi đi
theo ĐĐ mãi sao được, phải lo sức khỏe cho cô ta.
-Dạ, em cũng tính tháng này lãnh lương xong, Trung Uý cho em cái
phép để em đưa nó về gởi bà già.
-Được rồi, lúc nào muốn cứ lên đây.
Hai ngày sau, Đại Đội được lệnh đóng quân đêm và tổ chức một cuộc
phục kích ở sau lưng quán Năm Ngói, một địa danh nổi tiếng về sự khuấy
rối của Việt Cộng nơi đây, tối đó, ĐĐ chạm địch, một tốp nhỏ bọn chúng
gặp toán phục kích, hai tên bị bắn hạ, số còn lại nhập qua toán kia
thì đụng phải ĐĐ, nhờ toán phục kích nổ súng trước nên ĐĐ không bị bất
ngờ, địch bắn rất rát nhưng không chủ ý tấn công nên sau một hồi,
chúng rút lui, hình như có chuyện gì xẩy ra ở cây đại liên vì tôi thấy
nó nổ được một chập thì im bặt, tôi đảo nhanh vòng quanh tuyến phòng
thủ, không có tổn thất nào, nhưng khi tới cây đại liên, tôi thấy có
mấy người lố nhố, linh tính cho tôi biết có chuyện không hay, tôi hỏi
giật giọng:
-Gì vậy Nở?
Không có tiếng trả lời, tôi bước vội tới, thấy Nở ôm vợ, y tá Thọ
đang loay hoay băng vết thương nơi ngực chị ta, thấy tôi, Nở nghẹn
ngào:
-Vợ em nó chết rồi Trung Uý ơi!
Tôi ngồi xuống, chị ấy bị trúng đạn ở ngực, máu ướt đẫm cả cái áo
trận, y tá Thọ đứng lên:
-Chết rồi Trung Uý.
Tiếng thằng Năm trong toán đại liên:
-Súng bị kẹt đạn, thằng Nở kéo mãi đạn không lên, con Ba nó chồm
dậy mở nắp cơ bẩm, em la nó nằm xuống nhưng không kịp Trung Uý.
Tôi thấy nghèn nghẹn ở cổ họng, từng chứng kiến nhiều cái chết
nhưng lần này tôi thật xúc động. Thôi, chị Nở, từ nay chị hết cần phải
tránh né tôi nữa rồi, sao tôi lại không cứng rắn hơn nữa với chị, giá
tôi đừng tình cờ đọc được lá thư chị viết cho chồng, ừ, đáng lẽ tôi
phải cứng rắn hơn, nhất định không cho chị đi theo ĐĐ như vậy.
Tôi báo với Thiếu tá Hải, Tiểu Đoàn Trưởng về sự việc xẩy ra, ông
có biết vợ chồng Nở, ông cho Sĩ Quan CTCT/TĐ mua cái hòm, cấp cho Nở
một cái xe Dodge để đưa vợ về quê mai táng. Tôi lấy hết tiền có thể có
được, cả tiền quỹ ĐĐ đưa cho Nở, buổi trưa cuối năm, trời hơi lành
lạnh, chiếc xe chở Nở và quan tài vợ đi ngang qua ĐĐ, tôi đứng nghiêm
chào như một lần chị đã chào tôi, chị chết đi mà cái hòm không có Phủ
Cờ, không được Mười Hai Tháng Lương, không cả được lên cấp chỉ vì chị
là NGƯỜI LÍNH KHÔNG CÓ SỐ QUÂN.
Mười ngày sau, Nở trở lại đơn vị, trước ít ngày tôi về Sài Gòn để
chuẩn bị đi học, Nở đào ngũ, có lẽ Nở không chịu được cái cảnh mỗi tối
vác cây đại liên tới chỗ đóng quân mà không có vợ bên cạnh.

= * =

Chị Nở thân mến, 40 năm sau ngày chị mất, hôm nay tôi ngồi viết lại
chuyện này về chị, chỉ là một sự tình cờ thôi, hôm nọ tôi đọc loáng
thoáng đâu đó người ta nói về những Gương Chiến Đấu của Quân và Dân
Miền Nam trong công cuộc chống Cộng Sản xâm lược trước đây, tôi chợt
nhớ tới chị, một người không phải là quân, cũng không hoàn toàn là
dân, gọi chị là gì nhỉ, chị lưng chừng ở giữa nhưng đã chiến đấu như
một người lính thực thụ và đã hy sinh.
Một lý do nữa để tôi viết về chị là vì mới đây, Cộng Sản Việt Nam
đã làm ầm ĩ lên câu chuyện về Đặng Thùy Trâm, một nữ Cán Binh Cộng Sản
xâm nhập vào Nam và đã chết ở chiến trường Quảng Ngãi, cô Trâm này
chết ở đây nhưng không ai biết nắm xương khô vùi chôn nơi đâu, một
người lính Mỹ hành quân qua nơi cô chết và nhặt được Cuốn Nhật Ký của
Đặng Thùy Trâm, Cuốn Nhật Ký này, như một Kỷ Niệm Chiến Tranh của
người lính, anh ta đem nó về Mỹ, mấy chục năm sau, nó mới được đưa ra
ánh sáng và trao cho mẹ của Đặng Thùy Trâm ở Hà Nội.
Nhà nước Cộng Sản Việt Nam chụp được cơ hội này cho xuất bản Cuốn
Nhật Ký, dĩ nhiên với nhiều thêm thắt để khơi động lòng yêu nước của
đám thanh niên càng ngày càng rời xa Chủ Nghĩa Cộng Sản. Đặng Thùy
Trâm là một Bác Sĩ, nhưng không hiểu có được học hành tử tế để thành
một Bác Sĩ không, tôi đã đọc được một truyện khi ở tù ngoài Bắc là có
một anh Công Nhân được tặng danh hiệu Anh Hùng Lao Động vì đã phục vụ
15 năm trong phòng bào chế thuốc, và vì phục vụ hăng say và lâu như
vậy, anh được thăng lên làm Dược Sĩ vì quen với công việc bào chế,
phong dược sĩ xong, anh ta mới đi học bổ túc văn hoá vì anh ta viết
chữ cũng chưa gọn ghẽ mấy. Bởi vậy, tôi không biết Bác Sĩ Thùy Trâm
này trình độ có khá hơn y tá Thọ của Đại Đội mình năm xưa không, hay
cũng như mấy bà mụ vườn ở nhà quê.
Thưa chị Nở, cả chị và cô Đặng Thùy Trâm này là hai người đàn bà ở
hai chiến tuyến chết trong cùng cuộc chiến, trong cùng thời gian và độ
tuổi cũng gần như nhau, nhưng hai cái chết mang hai ý nghĩa khác nhau,
Thùy Trâm bị bắt buộc và tự đi tìm cái chết, còn chị, chị bị chết vì
người ta ở mãi đâu vô đây tìm để giết chị, chị chỉ là tự vệ, chị không
hận thù ai, không ai dạy chị oán thù, không ai tuyên truyền với chị về
chủ nghĩa này, chủ nghĩa nọ và cũng không nhân danh chủ nghĩa để chém
giết người khác, chị rất đôn hậu, còn cái cô Thùy Trâm kia đã từ ngoài
đó vào đây, mang trong lòng sự thù hận bởi sự tuyên truyền nhồi nhét,
miền Nam này nào có cần ai phải giải phóng đâu, cho mãi nhiều năm sau
này, người miền Nam vẫn khẳng định rằng họ không cần ai giải phóng cả.
Chị Nở có thấy điều buồn cười này không là trong Cuốn Nhật Ký, Thùy
Trâm viết là sao quân Mỹ Ngụy tàn ác, thích chém giết, chị Nở có thích
chém giết ai không hay người ta vào đây tìm giết chị, từ ngoài đó lần
mò vào tận trong này để tìm giết người ta lại còn hô hoán là sao người
ta thích chém giết mình, thật kỳ lạ. Cũng trong Cuốn Nhật Ký, Thùy
Trâm than phiền là phấn đấu đã lâu nhưng chưa được kết nạp Đảng, đây
cũng là lý do vì sao Thùy Trâm đi B, cố gắng trong công tác để chỉ
mong được Đảng kết nạp, chị Nở có biết cô ta mong được kết nạp để làm
gì không, thưa là để có cơ hội được làm lớn, có Đảng mới được làm lớn,
có làm lớn thì mới có quyền và có tiền, bây giờ cả cái nước Việt Nam
này, Đảng Cộng Sản thi nhau vơ vét tiền bạc của người dân, chúng giàu
lắm rồi, hồi trước mỵ dân, chúng đem những người giàu có ra đấu tố,
gọi họ là địa chủ, giờ thì ai đấu tố chúng? Thùy Trâm này nếu mà không
chết và giả như có ô dù, giờ có thể là Bộ Trưởng Y Tế hay làm Giám Đốc
một bệnh viện nào đó thì cũng là những con giòi, con bọ đang tham gia
đục khoét thân thể Việt Nam.
Cũng là cái chết nhưng chị chết trong vòng tay người chồng, có mồ
yên mả đẹp, có nhang, có khói, tội cho cha mẹ cô Thùy Trâm, không biết
nắm xương khô con giờ ở chỗ nào, họa chăng là cái bàn thờ với tấm hình
cô ấy mà thôi.
Bốn mươi năm đã qua, bây giờ nhiều thay đổi lắm rồi chị Nở ạ, ông
Thiếu Uý trẻ năm xưa giờ là ông cụ già rồi, vẫn khó tính như trước và
đang phiêu bạt nơi xứ người, Thượng Sĩ Hội đã mất, Nở từ ngày đào ngũ
tôi không gặp lại, chắc đã có vợ khác, xin được tạ lỗi cùng chị là đã
không giữ được đất nước để rơi vào tay quân thù, thật không xứng đáng
với sự hy sinh của chị, chúng tôi làm mất nước không phải vì hèn kém,
không chiến đấu, mất nước vì bị phải mất nước.
Quên kể cho chị nghe, mấy tháng sau ngày chị mất, vũ khí được tối
tân hoá, những cây Garant cổ lỗ sĩ được thay bằng súng M16, còn cây
Đại Liên 30 nặng chình chịch chị biết đấy, thay thế bằng Đại Liên M60,
nhẹ hơn, bắn nhanh hơn và không hay bị kẹt đạn nữa chị Nở ạ. Thôi tất
cả đã qua, chúng tôi vẫn không bao giờ quên những người đã hy sinh vì
Mảnh Đất Miền Nam thân yêu, không bao giờ quên được những gương chiến
đấu dũng cảm của Quân và Dân trong việc chống lại quân Bắc Phương xâm
lược, hôm nay ngồi viết lại những hàng chữ này như được thắp nén hương
trang trọng cho chị, thưa chị Nở.
Trần Như Xuyên

Viet...@gmail.com

unread,
Apr 19, 2009, 7:11:27 PM4/19/09
to Kiến - Thiết

Tổ Quốc Ghi Ơn Tướng Trần Văn Hai Và Viên Đạn Cuối Cùng

Đất nước Việt Nam địa linh, anh hùng hào kiệt đời nào cũng có, đã
viết nên những trang sử chiến đấu chống xâm lược chói lọi nhất trong
lịch sử nhân loại. Lịch sử chiến đấu của Quân Dân Việt Nam Cộng Hòa và
muôn đời sau sẽ ghi công Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa cùng những vị Anh
Hùng Dân Tộc đã hiến dâng Xương Máu cho nền Tự Do của Tổ Quốc và cho
Hạnh Phúc Trường Tồn của Dân Tộc. Xin được Vinh Danh các Anh Hùng
Nguyễn Khoa Nam, Lê Văn Hưng, Phạm Văn Phú, Lê Nguyên Vỹ, Trần Văn
Hai, Hồ Ngọc Cẩn. Và tất cả những Chiến Sĩ Việt Nam Cộng Hòa Vị Quốc
Vong Thân.
Chuẩn Tướng Trần Văn Hai sinh năm 1926, nguyên quán Cần Thơ, tuổi
Bính Dần. Khi đến tuổi nhập ngũ, ông đã tình nguyện vào học Trường Võ
Bị Quốc Gia Đà Lạt, khóa 7. Tốt nghiệp với cấp bậc Thiếu Úy, vị Sĩ
Quan trẻ 26 tuổi trong năm 1952 đã lần nữa tình nguyện ra chiến đấu
ngoài Chiến Trường Miền Bắc.
Thiếu Úy Trần Văn Hai được điều động ra phục vụ trong Tiểu Đoàn 4
Việt Nam, lúc đó do Thiếu Tá Đặng Văn Sơn làm Tiểu Đoàn Trưởng. Khi
được vinh thăng, Đại Tá Đặng Văn Sơn được bổ nhiệm làm Tư Lệnh Sư Đoàn
2 Bộ Binh, rồi sau đó Chỉ Huy Trưởng Trung Tâm Huấn Luyện Biệt Động
Quân. Thiếu Úy Trần Văn Hai chỉ chiến đấu vỏn vẹn ngoài Bắc có hai
năm, năm 1954 Hiệp Định Đình Chiến Geneva được ký kết, đất nước chia
đôi, các lực lượng thuộc Quân Đội Quốc Gia Việt Nam rút về phía Nam Vĩ
Tuyến 17 và làm nỗ lực chính chống đỡ cho nước Việt Nam Cộng Hòa non
trẻ, dưới quyền lãnh đạo của Quốc Trưởng Bảo Đại và Thủ Tướng Ngô Đình
Diệm. Trong thời gian phôi thai này, Trung Úy tân thăng Trần Văn Hai
được điều lên Quân Khu 4 Cao Nguyên.
Về trình diện Quân Khu 4, Trung Úy Hai có dịp công tác chung với
Đại Úy Đặng Hữu Hồng, một chuyên viên tình báo cũng vừa mới được bổ
nhiệm lên Cao Nguyên giữ chức Trưởng Phòng 2 Quân Khu 4. Đại Úy Hồng
nhận xét thấy vị Trung Úy trẻ rất tích cực trong nhiệm vụ được giao
phó và có nhiều khả năng về tình báo nên đã đề nghị xin cho rút ông về
làm việc trong Ban Binh Địa thuộc Phòng 2, QK 4 -- Điều đó chứng minh
về sau, Đại Tá Hai đã được cụ Trần Văn Hương, lúc ấy đang làm Thủ
Tướng, tín nhiệm đề cử lên Tổng Thống Nguyễn Vãn Thiệu về làm Tổng
Giám Đốc Cảnh Sát Quốc Gia sau Tết Mậu Thân 1968 -- Một thời gian sau,
sự làm việc mẫn cán cùng khả năng chỉ huy của Trung Úy Hai đã chứng
minh là ông xứng đáng được vinh thăng Đại Úy và được điều về làm Tiểu
Đoàn Trưởng Tiểu Đoàn 81 Địa Phương Quân (Bảo An) đồn trú tại Phan
Thiết. Tuy nhiên con đường thăng tiến binh nghiệp của ông đã bị giật
lùi trong thời gian này, khi Đại Úy Hai được thuyên chuyển về làm Đại
Đội Trưởng Đại Đội Chỉ Huy và Công Vụ của Trung Đoàn 44 thuộc Sư Đoàn
23 Bộ Binh. Những tưởng số mệnh đã để cho Đại Úy Hai chìm vào quên
lãng với những công việc hành chánh và hậu cứ nhàm chán không xứng với
tầm vóc và tài năng, thì ông lại nhận được giấy cho đi học khóa Chỉ
Huy và Tham Mưu Cao Cấp tại Hoa Kỳ trong năm 1961. Khi tốt nghiệp trở
về, Đại Úy Hai nhận được lệnh về trình diện Trung Tâm Huấn Luyện Biệt
Động Quân Dục Mỹ thuộc tỉnh Khánh Hòa. Cuộc đời binh nghiệp của người
từ đây gắn bó với binh chủng trẻ trung Mũ Nâu vừa mới được thành lập
và có nhiều hứa hẹn. Định mệnh đã chỉ định một vị tướng tài của Quân
Lực Việt Nam Cộng Hòa về phụ giúp phát triển trung tâm huấn luyện này
thành một trong những trung tâm mà đã cống hiến cho quân đội những Sĩ
Quan và Chiến Sĩ ưu tú nhất.
Lịch sử thành lập binh chủng Mũ Nâu và Trung Tâm Huấn Luyện Biệt
Động Quân gắn liền với tên tuổi của Đại Úy Trần Văn Hai. Ông là một
trong những vị Sĩ Quan có nhiều đóng góp lớn lao trong tiến trình
thành lập Trung Tâm Huấn Luyện BĐQ vào ngày 1/8/1961. Chính Đại Úy Hai
đã nghiền ngẫm, sáng tạo, đề nghị lên Chỉ Huy Trưởng và được chấp
thuận cho ông được phụ trách lớp Hành Quân Biệt Động Rừng Núi Sình
Lầy. Chính khóa học độc đáo này đã cung hiến cho đất nước không biết
bao nhiêu là chiến binh thiện chiến và Sĩ Quan chỉ huy tài năng trên
chiến trường, đóng góp những chiến thắng lừng lẫy trong quân sử
QLVNCH.
Đại Úy Trần Văn Hai không những cống hiến trí não xuất chúng của
người cho Trung Tâm Dục Mỹ, mà người còn tận tụy đóng góp sức lực lao
động cho bộ mặt của trung tâm. Lúc ấy trung tâm còn trong thời kỳ phôi
thai, cơ sở trường ốc, đường sá, bãi tập ngổn ngang trăm mối. Đại Úy
Hai đã góp công lớn lao dựng nên khuôn mặt khang trang của trung tâm.
Không biết bao nhiêu là mồ hôi và tâm sức của người đã đổ vào công
việc xây dựng trung tâm huấn luyện lừng danh của Quân Lực Việt Nam
Cộng Hòa. Người làm việc cật lực ngày đêm, trên những bãi đất ngổn
ngang cây gỗ, tôn thiếc, trong tiếng ầm ì của những chiếc xe ủi đất,
mà trên đó Đại Úy Hai mặc độc một chiếc áo thun quân đội màu ô liu,
lúc nào cũng đẫm ướt mồ hôi. Giữa cái nắng cháy da và gió rát của vùng
rừng đang khai phá, giữa những đám bụi mù bốc cuồn cuộn trên những nẻo
đường ngang lối dọc trần trụi đất đá, Đại Úy Hai làm việc hùng hục đến
nỗi cả những người cố vấn Hoa Kỳ phụ giúp xây dựng trung tâm cũng phải
chào thua và tặng cho ông mỹ danh “Hai Highway” để tỏ lòng kính phục
tấm lòng tận tụy và khả năng hiếm có của người. Mặc dù chỉ với những
phương tiện kém cỏi và thô sơ, chỉ trong một thời gian kỷ lục, Đại Úy
Hai đã cùng với Chiến Sĩ Công Binh Việt Nam Cộng Hòa dựng xây lên được
một trung tâm huấn luyện khang trang hoàn hảo, xứng đáng với tầm vóc
quốc gia và cả vùng Đông Nam Á.
Trung Tâm Huấn Luyện đã được hoàn thành, giờ đây Đại Úy Hai có thể
an tâm theo các toán huấn luyện viên và khóa sinh Rừng Núi Sình Lầy ra
tận các bãi tập, cùng ăn cùng ngủ cùng chịu gian khổ trên những cánh
đồng lầy hay trong những khu rừng Trường Sơn âm u. Không thể nào có
thể diễn tả hết được những nỗi cực nhọc thân xác của những người chiến
binh trải qua 42 ngày Rừng Núi Sình Lầy, nhưng đồng thời cũng là niềm
tự hào lớn. Phải là một con người thép, có ý chí thép mới có thể làm
được nhiều chuyện lớn lao cho đất nước như vậy. Cái cá tính cao cả của
Chuẩn Tướng Hai là một khi nhận nhiệm vụ nào, dù có khó khăn gian khổ
đến mấy, người cũng quyết tâm hoàn thành cho đến thật hoàn hảo mới
thôi. Vẫn thấy còn thiếu kém nhiều mặt, trên tay Đại Úy Hai lúc nào
đồng đội và khóa sinh cũng thấy có nhiều loại sách tự học khác nhau.
Người tâm sự với các chiến hữu và thuộc cấp: “Con đường binh nghiệp
của chúng ta hãy còn dài, cấp bậc chúng ta hiện giữ tuy còn nhỏ, nhưng
lần lần sẽ được nâng cao hơn. Nếu bây giờ chúng ta tự mãn với hiện
tại, không biết cầu tiến, không lo học hỏi trau dồi thêm sinh ngữ, đọc
nhiều binh thư binh thuyết, một mai cấp trên giao vào tay ta cả đại
đơn vị, thì làm sao chu toàn được nhiệm vụ”.
Tài năng của Đại Úy Hai đã được xác định bằng chiếc lon Thiếu Tá và
ông được bổ nhiệm làm Tỉnh Trưởng tỉnh Phú Yên. Một kỷ niệm mà Quân
Dân Phú Yên không bao giờ quên được, là sự ra đi đột ngột trong sự
luyến tiếc bàng hoàng của tất cả giới Quân-Cán-Chính và quần chúng
trong tỉnh. Một Sĩ Quan cấp Tá như Trung Tá Hai đã dám cưỡng lệnh cấp
chỉ huy hàng Tướng vì một câu chuyện nhỏ không nằm trong phạm trù quân
sự. Ông Tướng bay tới khiển trách Trung Tá Hai nặng nề từ việc Cộng
Sản gia tăng hoạt động, công cuộc bình định phát triển trì trệ, báo
cáo chậm trễ, không làm tròn trách nhiệm, ông buộc phải cách chức Tỉnh
Trưởng của Trung Tá Hai và sẽ cho người ra thay.
Trung Tá Hai đứng nghiêm chào khiêm tốn nói: “Xin tuân lệnh. Nếu
ai cũng có lòng lo cho dân như Thiếu Tướng thì đất nước ta rồi đây sẽ
khá”. Từ khi người ra đi rồi, các bô lão và Quân Dân Phú Yên vẫn
thường kể cho nhau nghe câu chuyện chính khí “đất nước ta rồi đây sẽ
khá”, như là một trong những huyền thoại còn lưu truyền cho mãi đến
ngày nay. Khi được đông đảo giới chức Quân Cán Chính tiễn ra trực
thăng từ giã Phú Yên, Trung Tá Hai với chiếc túi vải hành trang nhỏ
đơn sơ đã cảm xúc nhắn nhủ: “Tôi cảm ơn các ông đã tận tình làm việc
với tôi trong mấy tháng vừa qua. Có thể người ta cho rằng tụi mình là
những đứa dại, chỉ biết làm việc mà không biết đục khoét. Nhưng tôi
tin là mình đã làm đúng”.
Rời Phú Yên về trình diện Bộ Tổng Tham Mưu Quân Lực Việt Nam Cộng
Hòa, vừa đúng lúc chiếc ghế Chỉ Huy Trưởng Biệt Động Quân đang cần một
khuôn mặt tài năng. Các giới chức quân sự BTTM từng nghe biết tiếng
tốt của Trung Tá Biệt Động Quân Trần Văn Hai ngoài Trung nên đã nhanh
chóng bổ nhiệm ông vào chức vụ này và được vinh thăng Đại Tá. Trong
thời gian hai năm làm Tư Lệnh Binh Chủng Mũ Nâu 1967-1968, Đại Tá Hai
đã tỏ rõ tư cách, năng lực và sự dũng cảm của một người chỉ huy một
đại đơn vị khét tiếng của QLVNCH. Trên thực tế, trách nhiệm của Chỉ
Huy Trưởng Biệt Động Quân rất khác biệt với các vị tư lệnh sư đoàn bộ
binh. Người Chỉ Huy Trưởng BĐQ chỉ làm công tác gần như thuần túy hành
chánh, quản trị quân số, đào tạo và tuyển mộ, vị Tư Lệnh Mũ Nâu không
có thực quyền điều động và trực tiếp chỉ huy hành quân. Câu chuyện cảm
động về một vị Tư Lệnh Mũ Nâu có mặt trên chiến hào tiền tuyến ở Khe
Sanh lại là một huyền thoại khác nữa của người.
Cuối năm 1967, Liên Đoàn 1 Biệt Động Quân được lệnh gởi Tiểu Đoàn
37 Biệt Động Quân và một Đại Đội của Tiểu Đoàn 21 Biệt Động Quân ra
Khe Sanh phối hợp chiến đấu với hai Lữ Đoàn Thủy Quân Lục Chiến Hoa
Kỳ. Thiếu Tá Hoàng Phổ dẫn quân ra Khe Sanh và nhận thiết lập chiến
tuyến phía Đông dài một cây số của căn cứ. Đặc biệt, tuy với vũ khí cũ
kỹ và trang bị thiếu kém so với đối phương, nhưng Mũ Nâu của ta đã
được cho trấn đóng một khu vực quan trọng nằm bao ngoài cùng căn cứ,
phía bên trong là chiến hào của TQLC Mỹ và Bộ Chỉ Huy Căn Cứ. Báo chí
thế giới đã gọi chiến tuyến trấn giữ của BĐQ là “tiền đồn của tiền
đồn”. Với một vị trí khó khăn và hung hiểm như vậy, vũ khí lạc hậu yếu
kém, Chiến Sĩ Mũ Nâu của đã chứng tỏ tinh thần quyết chiến của Quân
Lực Việt Nam Cộng Hòa và nhận được sự nể trọng của lính Mỹ. Tuy nhiên
vị Tư Lệnh Mũ Nâu đã hết sức băn khoăn ăn ngủ không yên, lo lắng cho
những đứa con cô đơn của mình, ông quyết định phải ra Khe Sanh nhìn
tận mắt cảnh ăn ở, sinh hoạt và chiến đấu của lính, ông mới an lòng.
Đại Tá Hai cùng với hai Sĩ Quan Tham Mưu là Đại Úy Trần Đình Đàng,
thuộc Phòng 1 và Thiếu Tá Ngô Minh Hồng, thuộc Phòng 3 tháp tùng theo
một chiếc vận tải cơ C123 ra Khe Sanh. Thiếu Tá Ngô Minh Hồng sau vinh
thăng Trung Tá và về làm Liên Đoàn Trưởng Liên Đoàn 5 Biệt Động Quân.
Chiếc phi cơ đáp xuống chạy trên phi đạo dã chiến, bụi đất cuốn mù
mịt. Khi chiếc C123 vừa chạm đất thì pháo địch đủ loại từ bốn phía đã
dồn dập dội xuống, tiếng nổ ùng oàng buốt óc. Chiếc C123 không dám
ngừng bánh, nó vẫn tiếp tục chạy chầm chậm trên phi đạo cho đến cuối
đường. Trong thời gian đó, mọi người trên tàu đều phải nhảy xuống lăn
mình vào những cái rãnh hai bên phi đạo để tránh đạn pháo, những kiện
tiếp liệu được hối hả tuôn xuống. Khi đến cuối phi đạo, vận tốc phi cơ
có chậm lại vì phải quày đầu chuẩn bị tăng tốc độ để cất cánh, những
giây phút cực ngắn ngủi nhưng quí giá đó dành cho các thương bệnh
binh. Các Chiến Sĩ Quân Y và những người lính Mũ Nâu phải thật nhanh
chóng đẩy thương binh lên càng nhiều càng tốt, trước khi con tàu gầm
rú chuyển bánh và tăng tốc độ. Báo chí thế giới đã ví von hoạt cảnh ấy
như là những cuộc chạy đua 100 mét với thần chết. Có nhiều chiếc C123
hay C130 vừa cất cánh lên đã trúng pháo địch vào đuôi và nổ vỡ rơi
xuống tan tành.
Trong bối cảnh hỗn loạn, căng thẳng và chết chóc ấy, nhóm ba người
của Đại Tá Hai không biết làm cách nào mà đã nhảy xuống được phi cơ và
một vài giây phút sau, họ đã có mặt trong những dãy chiến hào tiền
tuyến của Tiểu Đoàn 37 và 21 Biệt Động Quân. Những Chiến Sĩ Liên Đoàn
1 Mũ Nâu chỉ có thể rưng rưng nước mắt xúc động không nói nên lời,
nhận những lời khích lệ và thăm hỏi chân tình của người Anh Cả Binh
Chủng. Người hỏi han tỉ mỉ từng Chiến Sĩ một, xem những thằng em của
ông ăn làm sao, ngủ làm sao. Ông cảm xúc nhìn những chiến binh mặt mũi
đen nhẻm vì nắng gió biên giới, những bộ quân phục nhàu rách và hỏi
thăm họ có được cấp phát thay thế hay chưa. Và nhiều điều thăm hỏi
chứa chan tình chiến hữu khác nữa. Không ít những Sĩ Quan và Chiến Sĩ
Mũ Nâu của Liên Đoàn 1 BĐQ đã từng một thời cùng Đại Úy Hai mài miệt
học tập trên những căn cứ rừng núi sình lầy của Trung Tâm Dục Mỹ ngày
xưa. Sự hiện diện của vị Tư Lệnh Binh Chủng và là Người Thầy xưa trong
vòng hai ngày đêm, cùng ăn cùng ngủ cùng chia xẻ gian nguy chết chóc ở
chiến hào tiền tuyến của các Sĩ Quan Bộ Chỉ Huy Biệt Động Quân đã thổi
bùng lên hùng khí chiến đấu của quân ta lên đến mức cao nhất. Vì vậy
khi nổ ra cuộc tấn công lớn nhất của cộng quân trong toàn chiến dịch
Khe Sanh, với một Trung Đoàn của Sư Đoàn Thiện Chiến 304 Điện Biên Phủ
CSBV lúc 9 giờ tối ngày 29/2/1968, thì Tiểu Đoàn 37 và 21 BĐQ tuy với
vũ khí yếu kém hơn của đối phương, đã đánh một trận long trời lở đất
tiêu diệt hai Tiểu Đoàn địch. Từ sau cơn thảm bại đó, binh đội BV đang
bao vây uy hiếp Khe Sanh lần lượt nhận lệnh rút khỏi khu vực, đánh dấu
chấm hết cơn mộng đẹp chiến thắng một “Điện Biên Phủ Thứ Hai” của Võ
Nguyên Giáp.
Trước đó chừng một tháng, tức ngày 31/1/1968 Việt Cộng tấn công 44
tỉnh thành Việt Nam Cộng Hòa, đặc biệt chiến sự nổ lớn và kéo dài ở
Huế và khu vực Sài Gòn - Chợ Lớn - Gia Định. Đại Tá Hai đã có dịp tỏ
rõ tài năng quân sự, khi ông chỉ huy Biệt Động Quân giải tỏa áp lực
địch trong khu vực trách nhiệm. Quân ta thắng lớn trên khắp mặt trận.
Trong đợt Tổng Tấn Công Mậu Thân 2 khởi diễn ngày 22/5/1968, Liên Đoàn
5 Biệt Động Quân của Trung Tá Đào Bá Phước chịu trách nhiệm mặt trận
Chợ Lớn. Bộ chỉ huy Liên Đoàn đóng trong Trường Tiểu Học Phước Đức nằm
trên đường Khổng Tử. Chiều ngày 2/6/1968, Trung Tá Phước cùng những Sĩ
Quan Cao Cấp của Cảnh Sát Đô Thành và Biệt Khu Thủ Đô đang họp hành
quân trong trường, thì đột nhiên có một chiếc trực thăng võ trang của
Quân Đội Hoa Kỳ xuất hiện từ phía trái đường Khổng Tử bay đến. Quân ta
chưa kịp nắm vững tình hình về chiếc phi cơ lạ thì chiếc trực thăng đã
chúi mũi xuống phụt một trái hỏa tiễn bắn thủng bức tường lầu nhì
xuyên xuống tầng dưới. Chiến Sĩ Biệt Động Quân vội tung khói màu ra
hiệu quân bạn, nhưng chiếc trực thăng đã quay trở lại quạt đại liên
xuống dữ dội. Quả rocket và tràng đại liên oan nghiệt đã phụt trúng bộ
chỉ huy hành quân hỗn hợp và gây tử thương cho sáu vị Sĩ Quan Cao cấp
Việt Nam Cộng Hòa. Những vị hy sinh gồm có:
1. Trung Tá Đào Bá Phước, Liên Đoàn Trưởng LĐ5BĐQ.
2. Trung Tá Nguyễn Văn Luận, Giám Đốc Cảnh Sát Quốc Gia Đô Thành.
3. Thiếu Tá Nguyễn Ngọc Sinh, Phụ Tá Trung Tá Luận.
4. Trung Tá Lê Ngọc Trụ, Trưởng Ty CSQG Quận 5.
5. Trung Tá Phó Quốc Trụ, Giám Đốc Nha Thương Cảng Sài Gòn.
6. Thiếu Tá Nguyễn Bảo Thùy, Chánh Sở An Ninh Đô Thành, ông là bào
đệ của Trung Tướng Nguyễn Bảo Trị.
Ngoài ra còn có những vị Sĩ Quan sau bị thương nặng nhẹ:
1. Đại Tá Văn Văn Của, Đô Trưởng Sài Gòn, bị thương nặng.
2. Đại Tá Nguyễn Văn Giám, Tư Lệnh Biệt Khu Thủ Đô, bị thương nhẹ.
3. Trung Tá Trần Văn Phấn, Phụ Tá Tổng Giám Đốc CSQG, bị cưa chân.
Trong lúc xảy ra tai nạn, Đại Tá Trần Văn Hai đang ngồi trên xe
Jeep trực chỉ về hướng Chợ Lớn để dự buổi họp hành quân với Trung Tá
Phước. Xe của ông bị kẹt giữa khối đám đông dân chúng đang ùn ùn đổ ra
Sài Gòn, cho nên khi ông đến được Trường Phước Đức thì thảm kịch đã
xảy ra và kết thúc từ lâu. Có lẽ định mệnh đã dành cho người một cái
chết khác bảy năm sau. Cao cả hơn và bi tráng hơn. Đó là cái ngày
30/4/1975.
Thủ Tướng lúc đó là cụ Trần Văn Hương chú ý đến cung cách chỉ huy
và lòng trung trực thẳng thắn của Đại Tá Hai trong hai kỳ Mậu Thân.
Đại Tá Hai đã cùng lên chiến tuyến với các Tiểu Đoàn Mũ Nâu để khích
lệ tinh thần Binh Sĩ. Đặc biệt, để bảo toàn danh dự quân đội, ông
nghiêm cấm Binh Sĩ không được phá quấy và cướp giật tài sản người dân.
Thậm chí ông còn hạ lệnh sau mỗi lần diệt xong một ổ kháng cự của Việt
Cộng, ba lô của Sĩ Quan và Binh Sĩ đều phải được lục soát kỹ, không
cho phép Chiến Sĩ lợi dụng cảnh hỗn loạn và nhà vắng chủ để lấy của
cải dân chúng. Hành động đạo đức này đã được thuộc cấp nể trọng, đến
quỉ thần cũng phải cúi đầu.
Thủ Tướng Hương đề nghị Tổng Thống Nguyễn Văn Thiệu cho Đại Tá Hai
về làm Tổng Giám Đốc Cảnh Sát Quốc Gia, thay thế Thiếu Tướng Nguyễn
Ngọc Loan bị thương chân giải ngũ. Lực lượng Cảnh Sát Quốc Gia sau
thời điểm Mậu Thân điêu tàn, lòng người rúng động, cần hình ảnh một vị
chỉ huy cảnh sát có thành tích chiến đấu vì dân, có đạo đức, thanh
liêm trong sạch và lòng mẫn cán để thu hút lòng dân, đưa dân đến gần
hơn với những đường lối của chính phủ Việt Nam Cộng Hòa. Đại Tá Hai
chính là con người hội đủ điều kiện đó. Trong lĩnh vực quân sự, cụ
Hương cũng đã đề cử Trung Tướng Đỗ Cao Trí về nắm Tư Lệnh Quân Đoàn
III. Hai nhân vật được đề cử đã tạo nên nhiều chiến công lớn, giúp cải
thiện tình hình trị an và quân sự được ổn định một thời gian dài.
Nhận một chức vụ cực quan trọng, là cánh tay mặt đắc lực của chính
quyền, Đại Tá Hai đã hết lòng chu toàn nhiệm vụ. Cũng vì tính trong
sạch thẳng thắn quá mà ông lại làm phiền lòng ông Bộ Trưởng Nội Vụ
thời đó, vì ông không chịu sa thải một luật sư phụ tá mẫn cán để thay
thế đàn em của ông Bộ Trưởng vào. Vì vậy mật phí dành cho Cảnh Sát
Quốc Gia bị thẳng tay cắt giảm quá nửa, gây khó khăn rất nhiều cho
ông, nhưng người vẫn quyết làm những gì theo lương tâm và ông nghĩ đó
là lẽ phải. Với chức vụ cao tột bậc như vậy mà trong thời gian hơn một
năm, ông cũng không xun xoe vào gặp cấp lãnh đạo cao nhất để cầu cạnh
lợi lộc, vì điều đó trái với tính cách con người ông. Đại Tá Hai chỉ
đến gặp Tổng Thống Thiệu, Thủ Tướng Hương rồi Thủ Tướng Trần Thiện
Khiêm, sau khi Thủ Tướng Hương rời khỏi chức vụ, khi có lệnh hoặc vì
công vụ phải đích thân trình bày. Chưa bao giờ người ta thấy ông dùng
công xa lộng lẫy với còi hụ dẫn đường để khoe khoang, mỗi lần di
chuyển công tác, người vẫn sử dụng chiếc Jeep BĐQ cùng với mấy người
cận vệ ngồi phía sau. Đại Tá Hai chỉ huy CSQG rất tốt và không cho
phép nó đi lệch hướng, nhưng những thế lực muốn chi phối Lực Lượng
Cảnh Sát vào những mục tiêu riêng lại không thích ông, vì ông không
thuộc phe phái nào cả. Người chỉ có một phe phái lớn nhất, đó là Tổ
Quốc. Khi được nghe phàn nàn về những bê bối trong Ngành Cảnh Sát,
người đã trầm ngâm trả lời: “Tôi biết, nhưng vấn đề không thể giải
quyết một sớm một chiều, mà phải kiên nhẫn tìm ra những đầu mối, những
tương quan thế lực chằng chịt thì mới ngăn chận được. Từ ngày về đây
tôi đã gặp khá nhiều khó khăn. Mình như người vác chiếc thang dài đi
trong căn nhà hẹp, bốn bề đều đụng chạm. Không ai muốn mình làm những
điều mình thấy cần phải làm”.
Công việc sửa chữa làm Sạch Ngành Cảnh Sát còn đang dang dở thì Thủ
Tướng Trần Văn Hương rời khỏi chức vụ, Đại Tá Hai liền nhận sự vụ lệnh
trở ra Vùng II Chiến Thuật làm Tư Lệnh Phó Quân Đoàn II dưới quyền
Thiếu Tướng Nguyễn Văn Toàn. Từ vị trí Tư Lệnh Phó, một lần nữa người
Sĩ Quan mẫn cán ấy lại vướng phải một ông Tướng vùng nóng nảy và đầy
tai tiếng tham nhũng, ăn chơi xa hoa trụy lạc, ông bằng lòng trở về
làm Chỉ Huy Trưởng Trung Tâm Huấn Luyện Lam Sơn kiêm Huấn Khu Dục Mỹ,
coi như một sự đi xuống trong cuộc đời binh nghiệp của mình. Thời gian
này người thường tịnh khẩu, hướng về thiền định, ông ăn uống rất đơn
giản, trong bữa cơm thường có nhiều rau trái.
Cuộc đời lên xuống thăng trầm vì những thế lực đè nén của người
thật giống với cuộc đời của người anh hùng Nguyễn Công Trứ. Cũng giống
như cụ Nguyễn Công Trứ, trong bất kỳ tình cảnh nào, vị trí nào, Đại Tá
Hai đều chu toàn hoàn hảo và hãnh diện với nhiệm vụ phục vụ đất nước
của mình. Cụ Trứ đã chẳng từng nói: “Lúc làm Đại Tướng tôi chẳng lấy
làm vinh, thì lúc làm Lính Thú tôi cũng chẳng lấy làm nhục”. Có lần
trong năm 1974, một vị Sĩ Quan Tiểu Đoàn Trưởng là Thiếu Tá Nguyễn
Thanh Vân dẫn Tiểu Đoàn 95 Biệt Động Quân từ căn cứ Ben Het về Dục Mỹ
tái trang bị và huấn luyện đã đến thăm người anh cả, người thầy cũ
đáng kính của mình. Chuẩn Tướng Hai đã chân tình tâm sự với người
chiến hữu cũ, mãi về sau này nghiệm ra, Thiếu Tá Vân mới nghĩ đó chính
là lời nhắn nhủ và là trăn trối cuối cùng mà người để lại cho hậu
thế: “Bây giờ “Toi” cũng là Tá, cũng là Tiểu Đoàn Trưởng rồi, và
“Moi” bây giờ cũng mang sao. Nhưng mình hãy xét mình và làm sao cho
xứng đáng với cái lon của mình. “Moi” đã già rồi, tóc cũng đã bạc
nhiều, rồi mai kia cũng phải ra đi. “Toi” hãy còn trẻ, tre tàn măng
mọc mà “Toi”, thời gian là như vậy. “Moi” mong “Toi” sống cho đáng
sống, đừng để Binh Sĩ dưới tay mình khổ sở vì sự kém tài bất đức của
mình. Cũng như “Moi” đây, bây giờ được về đây dưỡng già, nhưng nhà
binh mà “Toi”, lúc Lên Voi Xuống Chó là chuyện thường tình, chỉ cần ta
sống không thẹn với mình là đủ …”.
Đất nước trong cơn nghiêng ngửa rất cần những vị chỉ huy tài năng
đứng ra chống đỡ. Một lần nữa, Chuẩn Tướng Trần Văn Hai được Tổng
Thống Thiệu tín nhiệm trong chức vụ cực kỳ quan trọng ở Miền Tây, ông
được vời về làm Tư Lệnh Sư Đoàn 7 Bộ Binh thay thế Thiếu Tướng Nguyễn
Khoa Nam lên làm Tư Lệnh Quân Đoàn IV & Quân Khu IV kể từ tháng
11/1974. Chuẩn Tướng Hai về nắm Sư Đoàn 7 Bộ Binh trong thời điểm đã
khá muộn màng, ông không còn có được bao nhiêu thời gian để cùng Chiến
Binh Miền Tây làm tròn trách nhiệm bảo quốc an dân. Từ phía Bắc, binh
đội Cộng Sản đã ùn ùn tràn xuống như thác lũ, lần lượt đánh bứt các
tỉnh Phước Long, Ban Mê Thuột, rồi toàn Quân Khu II, đến Quân Khu I,
và sau cùng, trong những ngày tháng 4/1975 hầu như Quân Khu III cũng
rơi vào tay giặc.
Chuẩn Tướng Trần Văn Hai trong ngày cuối cùng 30/4/1975 vẫn tươm
tất uy nghi trong bộ quân phục quân đội Việt Nam Cộng Hòa ngồi trong
văn phòng tư lệnh bình tĩnh chờ quân địch đến. Trước đó, sau khi nghe
Tướng Dương Văn Minh đọc hàng lệnh trên đài phát thanh, người đã ôn
tồn khuyên bảo Sĩ Quan và Chiến Sĩ thuộc cấp, cho phép họ được buông
súng trở về gia đình, nhưng có một số vẫn nhất quyết ở lại căn cứ Đồng
Tâm, Mỹ Tho và bố trí chiến đấu. Vì họ biết Chuẩn Tướng Hai sẽ không
bàn giao Đồng Tâm cho giặc, hoặc nếu người có bàn giao thì cái phương
thức ông làm sẽ không phải là phương thức kiểu đầu hàng. Một con người
đã từng chiến đấu bảo vệ những mảnh đất của tổ quốc hơn hai mươi năm,
không lý do gì người giao lại cho giặc một cách dễ dàng. Chúng muốn
lấy thì chúng phải trả một cái giá nào đó. Chuẩn Tướng Hai cảm xúc
nhìn những đôi mắt u sầu của thuộc cấp đang cố giương súng để bảo vệ
ông. Người trao lại cho một Sĩ Quan thuộc cấp một gói nhỏ, trong đó
đựng một vài vật dụng cá nhân và tiền hai tháng lương Chuẩn Tướng là
70.000 đồng nhờ trao lại cho bà mẹ già ở Gò Vấp, Sài Gòn. Người Sĩ
Quan rùng mình, mặc dù không biết những vật gì chứa trong gói vải đó,
nhưng ông biết giờ phút chia tay với Chuẩn Tướng Hai sắp điểm.
Khoảng xế trưa, một lực lượng của Việt Cộng thận trọng tiến vào
Đồng Tâm và cho người đến yêu cầu Chuẩn Tướng Hai bàn giao căn cứ.
Chuẩn Tướng Hai ngồi ngay ngắn sau chiếc bàn bên trên có hai cái đế
gắn lá Cờ Vàng Việt Nam và lá Cờ Tướng một sao, bình tĩnh và nghiêm
nghị ra điều kiện. Ông chỉ bàn giao căn cứ khi nào có một người chỉ
Huy Trưởng Sư Đoàn của đối phương đến văn phòng Tư Lệnh Sư Đoàn 7 Bộ
Binh. Ngoài điều kiện đó, ông không muốn bàn chuyện nào khác. Tình
hình rất căng thẳng và làm những người lính cộng bối rối, chúng rút
trở ra bàn tính. Mãi một lúc sau khá lâu, bọn chúng gọi đâu được một
người tự xưng là Sư Đoàn Trưởng xin vào gặp Tư Lệnh Sư Đoàn 7 Bộ Binh
Việt Nam Cộng Hòa để làm thủ tục bàn giao. Người Thủ Trưởng Sư Đoàn
rụt rè tiến vào văn phòng Tư Lệnh SĐ7BB, Chuẩn Tướng Hai bất thần rút
súng lục ra nổ mấy phát vào tên Sư Trưởng địch. Với khoảng cách rất
gần đó, người có thể giết chết gã dễ dàng, nhưng người chỉ bắn gã bị
thương nhẹ. Người Sư Trưởng địch cùng mấy cận vệ lần nữa rút chạy ra
ngoài. Lính Sư Đoàn 7 Bộ Binh giương súng lên sẵn sàng tử chiến và bảo
vệ Tư Lệnh của mình.
Viên đạn cuối cùng của vị Tướng Việt Nam Cộng Hòa và lòng vị tha
dành cho người Sư Trưởng địch đã nói lên được hai điều. Thứ nhất, Quân
Lực Việt Nam Cộng Hòa không phải là một quân đội khiếp nhược. Thứ hai,
người Lính Việt Nam Cộng Hòa không bao giờ căm thù những người đồng
bào cùng sinh ra trên mảnh đất Việt Nam, khi cuộc chiến tàn, tất cả
chỉ còn lại thuần túy là người Việt Nam.
Tối ngày 30/4/1975, Chuẩn Tướng Hai ngồi trong văn phòng đóng kín
cửa và đã uống thuốc độc tử tiết. Sáng hôm sau người Trung Úy thuộc
cấp đã tìm được bà cụ thân sinh của Chuẩn Tướng Hai trao lại di vật và
hướng dẫn bà trở xuống Mỹ Tho. Bản thân vị Trung Úy cũng chưa trở về
gặp lại vợ con của ông ở Sài Gòn. Người mẹ già tấm lưng đã còm cõi với
thời gian đã mưu trí gạt được người lính Việt Cộng gác cổng và đưa
được thi hài Chuẩn Tướng Hai về Gò Vấp an táng. Hiện nay bà phu nhân
Thiếu Tướng Hai vẫn còn ở Việt Nam, các chiến hữu Biệt Động Quân nhớ
về người tướng quân tư lệnh binh chủng và người thầy cũ, đã có gửi
tiền về cho bà ít nhiều để gọi là trân trọng tưởng nhớ đến ông.
Người Anh Hùng Dân Tộc, Vị Thần Tướng Nước Nam Trần Văn Hai đã đi
vào cõi thiên thu, nhưng tấm gương chiến đấu anh dũng, tấm lòng tận
tụy phục vụ tổ quốc đến giây phút cuối cùng của người sẽ mãi mãi được
những người còn sống và người đời sau truyền tụng và vinh danh.
Phạm Phong Dinh

> dụng là của ...
>
> read more »

Viet...@gmail.com

unread,
Apr 21, 2009, 9:44:44 PM4/21/09
to Kiến - Thiết

Cảm Nhận 30 Tháng 4

Sinh năm 1960 nên ngày 30/4/1975 tôi tròn 15 tuổi, đang còn ngồi
trên ghế nhà trường phổ thông trung học. Tin miền Nam hoàn toàn giải
phóng dội tới từng công sở, xí nghiệp, trường học làm nức lòng toàn
dân, nét mặt ai cũng hân hoan khúc khải hoàn ca. Lây tâm tâm trạng
chung của mọi người, tôi cũng cảm thấy nhẹ bỗng như người không trọng
lượng. Cảm giác của người chiến thắng, nở hoa trong hồn, vui mừng
không sao kể xiết. Khắp góc chợ, vỉa hè, đâu đâu người dân cũng đưa
tin nước nhà giải phóng, chế độ nguỵ quyền sụp đổ. Các quầy báo đông
nghịt người xếp hàng mua báo quân đội, nhân dân, Hà Nội mới, để xem
tin chiến thắng. Một cuộc cách mạng long trời, lở đất, một chiến thắng
vĩ đại của quân và dân Việt Nam, cũng là một cuộc cách mạng mùa thu
tháng 8/1945 lần thứ hai của người Việt Nam, thời kỳ khổ ải trường kỳ
kháng chiến, thắt lưng buộc bụng qua rồi, giờ chỉ còn xây dựng đất
nước to đẹp đàng hoàng gấp 10 lần xưa thôi ....
Mẹ tôi mừng gấp đôi vì đã hơn 20 năm trời xa cách, nay mới gặp được
chị cả, di cư vào Nam từ 1954 theo chồng. Người chị mà vì có họ hàng
dây mơ, rễ má, máu mủ ruột thịt mà cả nhà phải ngậm đắng, nuốt cay,
tám anh chị em trong nhà, kể cả mẹ tôi không ai được kết nạp đảng dù
thoát ly, làm đường, thanh niên xung phong từ năm 16 tuổi, phải sống,
cống hiến, lao động và chịu đựng hơn gương Bác Hồ vĩ đại cả ngàn vạn
lần, vẫn ra rìa, vì trong gia đình có người đầu hàng, theo địch ...
một vết nhơ trong gia đình, dòng tộc mà ngay cả khi thống nhất đất
nước vẫn không thể nào gột rửa được.
Loay hay vất vả mãi, tận năm 1976 mẹ tôi mới xin được cán bộ tổ
chức cơ quan một tờ giấy phép vào Nam (thời gian đầu, nhà nước chỉ xét
các đối tượng trong diện vợ chồng, con cái, bố mẹ ...) khỏi phải nói
đến sự mừng tủi của hai chị em sau 21 năm xa cách. Bác ôm lấy mẹ tôi
khóc khi hay tin cả bố và mẹ đẻ đã mất ngay sau khi tiến hành cải cách
ruộng đất, nhà bị đưa vào diện địa chủ, bóc lột. Ông tôi khi ấy đang
làm hiệu trưởng trường cấp I, vì uất ức mà phải giằng kính khỏi mắt
đập mạnh xuống nền nhà cho mắt kính vỡ tan để lấy một mảnh nhọn và sắc
nhất rạch ruột tự tử ngay trước mặt cán bộ cải cách .... Khi cả đoạn
ruột lòi ra ngoài ổ bụng, một viên bác sĩ người Pháp vội vàng chạy đến
băng bó, cấp cứu, nhưng ông tôi đưa tay ra hiệu không cần thiết, kèm
câu nói chứng tỏ sự lựa chọn đúng đắn của mình: "Một xã hội mà kẻ vô
văn hoá lên cầm đầu, trừng trị người lương thiện, cũng là người đã góp
phần nuôi cả đại đội chiến sĩ trong nhà ăn no đánh thắng, giết giặc,
lập công ... thì xã hội ấy chỉ còn là sự đồi bại, tha hoá, cướp bóc,
trừng trị, không những không đưa đất nước ra khỏi quỹ đạo luẩn quẩn
của nghìn năm Bắc thuộc, mà còn không bằng xã hội trong thời kỳ phong
kiến thối nát" .... Một xã hội bất công, vô lý như thế thì tôi còn
sống làm gì? Làm sao cam tâm nhìn cảnh đất nước bị tàn phá, lương dân
bị giày xéo .... Đời người chỉ chết có một lần, sống mà phải mang vết
nhơ gia đình mình là địa chủ, chuyên áp bức, bóc lột dân lành thì sống
sao nổi?
Nói lại những lời hùng hồn trăng trối cho viên bác sĩ người Pháp
nghe xong, ông tôi nhắm mắt trút hơi thở cuối cùng. Bà tôi không chịu
đựng nổi cái chết phi lý, đường đột của ông, lại chứng kiến cảnh mất
nhà, cướp đất của lũ cán bộ cốt cán, từng ăn mòn bát, ngồi mòn chiếu
nhà mình, một điều u, hai điều con, nay giở mặt gọi bà là địa chủ bóc
lột, đòi đưa ra đấu tố, trong khi con cái ly tán khắp các phương trời
góc bể, Từ Hải Phòng, Lạng Sơn, Hà Tây, Hà Nội v.v. nên cũng ốm đau,
mòn mỏi, đành nhắm mắt, xuôi tay khi tuổi đời chưa tròn một vòng hoa
giáp ....
Khóc cho bố mẹ chán, bác tôi quay ra khóc cho mình, cho cả đại gia
đình 9 đứa con, gần 30 chục cháu nội ngoại cùng 9 cặp dâu rể đang
trong cảnh bấn loạn tinh thần. Chỉ vì tin ông bà còn sống mà nấn ná ở
lại, cấm con cái không được "lầm đường lạc bước theo giặc, bỏ quê cha
đất tổ mà đi" .... Giờ cơ hội đã lỡ, tất cả đều trong cảnh sống giở
chết giở, 6 anh con trai là sĩ quan cộng hoà đều phải đi học tập cải
tạo mút mùa, vợ con không ai nuôi nấng, chăm sóc .... Đang từ xã hội
tiêu thụ, gi gỉ gì gi, cái gì cũng có, thành xã hội bao nhiều, cấp ít,
gi gỉ gì gi, cái gì cũng thiếu ... ai cũng hoang mang chán nản, bởi
cuộc sống đã bị cướp đi những gì quý giá, căn bản nhất, không còn là
sống mà chỉ là sự tồn tại, vạ vật cho qua ngày đoạn tháng, đau khổ đến
chết và đói nghèo đến chết, thậm chí có người không chịu đựng nổi cảnh
địa ngục trần gian do bọn phát xít mới đưa lại đã lặng lẽ tìm đến cái
chết, hòng làm đứt tung mọi sự ràng buộc, gian díu với đời.
Khi tôi vào, điều cảm nhận đầu tiên của tôi là sự hụt hẫng, suốt
dọc đường trên chuyến tàu xuyệt Việt, tầm mắt chỉ được nuôi dưỡng bằng
cảnh nghèo, cái đói. Không phải "Đường vô xứ nghệ quanh quanh, non
xanh, nước biếc như tranh hoạ đồ" như thơ Tố Hữu miêu tả mà là:
Đất nước mình đâu cũng mái nhà gianh,
Gương mặt người ai cũng xám xanh,
Đơn giản vì đồng đất bạc màu, hoang hoá, hết tím hoa mua lại trắng
mùa hoa sở. Thứ hoa dại vốn chỉ mọc ở ven đồi, sườn núi, đẹp thì có
đẹp nhưng không nuôi sống nổi con người.
Vào đến Sài gòn, nếu nhà văn Dương Thu Hương đã phải ngồi thụp
xuống vỉa hè vì đau xót, hẫng hụt trước một sự thực trần trụi: Nền
văn minh mọi rợ chiến tháng nền văn minh hiện đại thì tôi cũng có
những nỗi buồn tương tự. Đất nước liền một dải, non sông thu về một
mối, nhưng lòng người đầy cách ngăn. Một con sông bến Hải, một vĩ
tuyến 17 ngày và đêm, một nhịp cầu Hiền Lương vẫn tồn tại trong lòng
mỗi con người. Dù là tình máu mủ, ruột thịt, anh em, họ hàng, bà con,
cô bác vẫn không sao xoá nhoà được ranh giới của kẻ thua, người thắng,
kẻ bắc, người Nam, kẻ lấn chiếm, người bị động .... Khắp thành phố, sự
phân biệt kị thì vẫn hằn lên trong từng ánh mắt, giọng nói, điệu cười.
Các anh chị tôi tiếp đón một cách vừa phải, qua quýt, không thân cũng
chẳng sơ. Nếu không có bác tôi làm cầu nối hẳn cuộc đón tiếp còn gượng
gạo, buồn tủi hơn nữa. Đơn giản vì tôi là người miền Bắc, người của
phe đối địch, bị đầu độc từ tấm bé, nên mọi lời ăn tiếng nói đều do
"cha mẹ sinh con, đảng đoàn xã hội chủ nghĩa sinh tính" .... Động mở
miệng là nhắc đến bác Hồ, gọi tên thành phố cũng là thành phố Hồ Chí
Minh chứ không phải Sài Gòn, càng không dám nói "Sài Gòn hoa lệ" hay
"hòn ngọc Viễn Đông". Đã thế còn luôn bảo vệ ý kiến mình theo đúng
đường lối, chủ trương, chính sách, quan điểm của đảng và chính phủ.
Ngay cả khi bác hỏi: "Ngoài Bắc, mỗi tháng được phát mấy lon sữa, hả
con?" Cũng phải lên gân, lên cốt trả lời theo đúng những lời dạy dỗ
khuyên bảo của thầy cô trên lớp học của mình: "Cần gì đâu bác, không
một gram sữa, không một ký thịt nào mà vẫn đánh thắng bè lũ đế quốc và
tay sai đấy thôi".
Biết bao ông bố bỏ lại vợ con ra căn cứ địa cách mạng rồi tập kết
ra Bắc, trở về dắt theo cả vợ lẽ, con thêm. Biết con trai đi học tập
cải tạo, con dâu một nách 4, 5 con nhỏ, vẫn không một lần lên trại
thăm nuôi, còn dài giọng trách: - "Ai biểu nó vô Việt Nam cộng hoà,
quay súng bắn lại cách mạng, Giờ tao vô trại cũng có bảo lãnh cho nó
ra được đâu" ... khiến con dâu vì nghèo, đói, uất ức mà phải tự tử, bỏ
lại bốn, năm đứa con côi cút, găm thêm vào lòng người chồng đang ngồi
tù cải tạo một vết thương sâu hoắm.
Trong khi người miền Bắc thích ăn món cua bể (bê của) hàng hoá rùng
rùng chuyển động ra phía bắc, thì trong nam cứ dần dần nghèo đi, câu
hát của người dân miền Nam như lưỡi dao đâm vào tim người miền Bắc đau
nhói: "Đi ta đi giải phóng miền Nam, đi đến khi nào người dân không
còn cái quần, thì ta còn chiến đấu, quét sạch chúng sinh, lời bác sui
dại bên tai, chiến đấu cho đến ngày Nam, Bắc nghèo bằng nhau".
Một dân tộc bị qúa khứ lịch sử chia đôi thành hai vùng địa lý,
chính trị, thuộc về hai chiến tuyến. Một vết cắt xuyên thấu mỗi gia
đình, số phận, tưởng chừng giải phóng được rồi là tình người, no ấm về
theo. Ai ngờ, vì những chính sách cai trị man dợ kéo dài mà kéo theo
bao cảnh ba đào loạn ly, trước tiên là cảnh chia đàn xẻ nghé của tất
cả các gia đình "nguỵ quân, nguỵ quyền" chồng, con, anh em vào trại
cải tạo, vợ con ở lại nheo nhóc đói khổ, phải đương đầu với cuộc sống
vô cùng khắc nghiệt cùng bao quyết sách man rợ, sai lầm chết người của
đảng cộng sản: Tài sản bị cướp trắng sau cải tạo công thương nghiệp,
giết chết cái gọi là mầm mống tư sản mại bản để đề cao lý tưởng xoá bỏ
chế độ người áp bức bóc lột người. Đổi tiền "Nguỵ" ra tiền đảng với
gía trị gần như không, đến mức người dân phải thốt lên đầy cay đắng
khi cầm một nhúm tiền của đảng, bác trên tay:
Bố cạn tiền rồi cán bộ ơi,
Đổi tiền mà sao đến nỗi này
Chưa tiêu đã hoá tiêu đi hết
Chú phỉnh tôi rồi, chính phủ ơi"
Trong khi đại bộ phận người dân thành phố nghèo đi trông thấy, thì
những anh bộ đội cụ Hồ, ba lô con cóc lép kẹp trên lưng với chiếc
khung xe đạp, con búp bê nhựa xấu xí hôm nào, bỗng giàu lên một cách
đáng ngờ. Từ vô sản thành hữu sản, còn người dân chịu cảnh đấu tranh
giai cấp, cải tạo công thương nghiệp, nên đi từ hữu sản thành vô sản.
Không những khốn khổ vì đời sống thấp kém, còn khốn khổ vì bị cán bộ
cách mạng đè đầu cưỡi cổ, sách nhiễu lung tung.
Biết bao cán bộ lãnh đạo với khẩu hiệu -- tưởng chừng bất di bất
dịch như một chân lý sống: "Một cái kim, sợi chỉ của dân không lấy",
bỗng vụt hiện lên thành các quan cách mạng, quan đồng chí. Vừa ngủ
quên trên ngai vàng quyền lực, chia nhau quả thực, vừa quay lưng lại
nỗi khổ của dân, hà hiếp cai trị dân, dù đó là những người từng nuôi
dưỡng bao bọc che chở cho mình trong suốt những ngày cách mạng còn
gian khổ cam go nhất. Bao nhiêu tàn dư đế, quốc, phong kiến, tưởng đào
tận gốc, trốc tận rễ bỗng rùng rùng trở lại, gấp cả trăm, nghìn lần
những tiêu cực yếu kém của thời kỳ tồi tệ, hà khắc, phong kiến trước
kia- tàn dư của chế độ mới xã hội chủ nghĩa. Càng giành được chính
quyền, giành được quyền tự chủ, tự quyết thì càng lòi sự dốt nát, bất
lực trong phương pháp quản lý của đảng cộng sản. Đất nước liền một dải
nhưng lại thực hiện chính sách, ngăn sông, cấm chợ, khiến 400 quận,
huyện trong cả nước biến thành 400 lô cốt, pháo đài riêng biệt .... Từ
Lạng Sơn tới mũi Cà Mau, đất nước bị băm nát thành trăm nghìn mảnh vụn
bởi các trạm gác, chốt canh, nhân viên thuế vụ v.v. Chỉ đem cân gaọ,
lạng thịt từ tỉnh này sang tỉnh khác, huyện này sang huyện khác đã bị
coi là buôn lậu và bị phạt, bị bắt, bị nhốt vô tội vạ, khiến lòng dân
tứ tán .... Làn sóng di tản ồ ạt, di tản bằng mọi giá, gần 90% các sĩ
quan ra khỏi trại cải tạo trở về là cùng vợ con bỏ đất nước ra đi, tạo
thành một làn sóng lưu vong nhiều không kể xiết, nạn thuyền nhân khủng
khiếp nhất thế giới .... Chưa kể các trại tù mọc lên như nấm suốt dọc
bờ biển Đông để nhốt người vượt biển. Hiếm có người nào đi một lần đã
trót lọt. Người bỏ mình trên biển thẳm, người bị bắt hết lần này lần
khác, người trở thành nạn nhân của bọn hải tặc Thái Lan v.v. Đau
thương nhiều không kể xiết .... Đất nước không phải của toàn dân tộc
Việt Nam như lời cha già dân tộc nói mà chỉ là của một phe nhóm những
kẻ lãnh đạo cộng sản, còn những người dân thấp cổ bé học thì thuộc
tầng lớp bị trị, bị cai quản, đầy áp đặt thô bạo và phân biệt đối xử
không khác gì bài học lịch sử đau xót của cả nghìn năm trước đó:
"Được làm vua, thua làm giặc". Hễ là người miền Bắc dù không có chứng
chỉ văn bằng, năng lực lãnh đạo, quản lý, nhưng đều được cất nhắc lên
thành cán bộ. Con em " Nguỵ quân, nguỵ quyền" bị phân biệt đối xử, bị
xem xét về lý lịch, thành phần. Bao nhiêu khẩu hiệu dùng để tập hợp
lực lượng, thu hút quần chúng sớm đến ngày chiến thắng, giờ trở thành
đầu môi, chót lưỡi, thành sự bội ước với số đông đồng bào, đồng chí,
anh em, cô bác. Xã hội bị tha hoá, tuột dốc từng ngày. Thời điểm trước
"giải phóng", miền Nam Việt Nam dưới sự chỉ đạo của chính thể cộng
hoà, 21 triệu người đã ra khỏi sự đói nghèo luẩn quẩn của nghìn năm
lịch sử, nay nhờ được đảng cộng sản "giải phóng" mà cả nước húp chung
một niêu cháo loãng, cả nước lặn ngụp trong những ô tem phiếu, nhá bo
bo, mì hạt sái hàm, ăn khoai và củ mì đớ họng. Từ chỗ vượt xa Nam Hàn
và Thái Lan trong thập kỷ 70, thì ngay sau "giải phóng" một năm, đã
kém xa Nam Hàn và Thái Lan về mọi mặt. Mượn lý tưởng "xoá bỏ chế độ
người bóc lột người" để liên tục đánh vào tầng lớp hữu sản, để dần dần
thay thế vai trò, từ vô sản thành hữu sản và ngược lại. Ngọn cờ của
giai cấp vô sản càng giương cao thì tầng lớp cán bộ, lãnh đạo đảng
càng giàu lên một cách bất ngờ, trong một thời gian vô cùng ngắn ngủi,
trong khi bao nhiêu căn cứ cách mạng, bao nhiêu vùng nông thôn rộng
lớn phải sống cảnh giật gấu vá vai, ăn bữa nay, lo bữa mai thì cán bộ
cộng sản ăn chơi phè phỡn, ăn luôn cả thành tựu cách mạng bao năm gây
dựng trong lòng dân. Khắp thành phố khi đó là một bức tranh hiện thực
trơ trụi, xám mgoét, hậu quả tất yếu của sự lãnh đạo dốt nát, cộng với
chủ nghĩa cơ hội, ăn xổi ở thì, cũng như kiêu ngạo, ảo tưởng của kẻ
chiến thắng. Vừa công kênh cái dốt, đề cao cái ác, lại vừa giày xéo
lên lương tâm của những người lương thiện, chưa kể còn cố tình bám vào
những lý thuyết sách vở lỗi thời là chủ nghĩa Mác, Lê để níu kéo sự
phát triển hài hoà của cuộc sống. Càng giương cao ngọn cờ "bách chiến
bách thắng" trong mọi lĩnh vực thì càng khủng hoảng, thua lỗ. Càng nêu
cao khẩu hiệu "nói thẳng, nói thật, đổi mới tư duy, nhìn thẳng vào sự
thật" thì càng dối lừa, gian trá, khiến cho bài toán kinh tế mỗi ngày
lại mang thêm nghiệm âm.
Hàng nghìn gia đình bị dồn lên khu kinh tế mới, mới chẳng thấy đâu,
chỉ thấy mênh mông mịt mùng là rừng, núi, vách đá dựng đứng. Ngày nắng
rát da, đêm lạnh thấu xương. Một ngày trải đủ 4 mùa xuân, hạ, thu,
đông, chẳng biết làm gì để ăn, để sống đành ôm nhau mà khóc, ôm nhau
mà sợ, rồi không thể ôm nhau mà chết, đành dắt díu lếch thếch kéo nhau
về lại nơi ở cũ, vạ vật nơi xó chợ, lề đường, vì nhà cũ đã được quan
cách mạng chiếm cứ, trưng dụng vô điều kiện ....
Ba mươi ngày ở lại Miền Nam thâm nhập thực tế, trở ra lòng tôi trĩu
nặng. Cũng như tất cả những người dân miền Nam khác trong thời kỳ đó,
tôi không nhận được gì từ chế độ mới xã hội chủ nghĩa mà chỉ cảm được
nỗi đau, nỗi khổ, nỗi bàng hoàng, hẫng hụt, bất bình của người dân với
chính quyền cộng sản 33 năm qua rồi, nỗi đau còn đọng lại, vẹn nguyên,
làm tổ, kết kén trong hồn tôi, càng ngày càng mưng mủ, và bây giờ vỡ
toác trên trang giấy ....
Trần Khải Thanh Thuỷ - Bệnh viện Châm Cứu 28/4/2008

> khá”, như là một trong ...
>
> read more »

Viet...@gmail.com

unread,
Apr 22, 2009, 11:59:03 PM4/22/09
to Kiến - Thiết

Nhân Ngày Quốc Nạn
[34 năm (1975-2009) chúng ta nghĩ gì, làm gì cho quê hương]

Mỗi năm khi đến Tháng 4 lòng người ai cũng như trĩu xuống vì ngày
ấy không phải đánh dấu ngày vui của một Dân Tộc được sum họp một nhà,
không phải vì được “Thống Nhất” giang san về một mối, cũng có hàng vạn
người vui vì chiến thắng, nhưng cũng có hàng triệu người buồn vì chiến
bại bên cạnh hàng chục những thi thể đồng đội tuẫn tiết vì tự cho rằng
mình không làm tròn bổn phận bão vệ biên cương do toàn dân giao phó.
Những người vui, thì “vui sao nước mắt lại trào” như lời 1 bản nhạc
là vì họ có linh cảm rồi đây Dân Tộc không phải được an hưởng Hoà
Bình, để mà cùng nhau tay trong tay tái thiết lại quê hương mà là một
cuộc “Gió tanh mưa máu mới”. Vì họ sống bao nhiêu năm trong chế độ
Cộng Sản Chủ Nghiã họ đã hiểu rồi cái gì sẽ xảy ra mà họ không bao giờ
dám thổ lộ cùng ai.
Như Dương Thu Hương một cán binh CS sau ngày 30/4/75 mấy hôm đã
ngồi bệt xuống đất mà khóc thầm, thương cho số phận dân tộc vì cô biết
mình đã bị lừa!
Như có một bà cụ miền Bắc áo vá vai đi từng bước theo đoàn tù binh
trong Nam đi tù cải tạo, bà đã khóc và trách anh lính Cộng Hoà: “Đánh
đấm gì dở thế con, ai cũng mong các con ra giải phóng, giờ này các con
lại thân tù tội thế nầy!”
Như có một cán bộ “Cách Mạng” lảo thành đã tâm sự: ”Phải chi chính
quyền nầy đừng trả thù, đừng mù quáng vì hào quang chiến thắng, đoàn
kết thật sự thì đất nước ta đâu có tan hoang thế nầy, đâu có hàng
triệu người bỏ nước ra đi, phân nửa đã làm mồi cho cá.”
Còn tâm trạng những người chiến bại lúc đó thì sao? Thôi thì chấm
dứt cuộc chiến đau thương, số phận ra sao phó mặc cho trời. Tự an ủi
rằng bây giờ không phải còn cầm súng chiến đấu nửa, không phải đánh
nhau nửa, góp một bàn tay xây dựng lại quê hương! Họ đã lầm, cũng như
bao người khác đã lầm trước đó 20 năm. Năm 1954 ngoại trừ gần một
triệu người di cư vào Nam tránh hoạ Cộng sản, đại đa số chọn ở lại
trong đó có một số không nhỏ chiến binh Quân Đội Quốc Gia và Công Chức
Quốc Gia, họ đã bị trả thù tàn nhẩn, có những người chỉ là hạ sĩ quan
thôi cũng đã bị tù mấy chục năm cho đến năm 1975 và còn đang thọ án
tiếp chưa biết ngày về!!!
Gặp nhau trong trại tù cải cạo, trao đổi vài câu, người chiến binh
Cộng Hoà cũng đã hiểu số phận nào dành cho họ. Không có chuyện đoàn
kết, hoà hợp gì cả, tất cả chỉ là tuyên truyền. Ai chống lại đảng, có
tội với đảng CSVN tức là có tội với “Nhân Dân” tức là chỉ có tù đày,
trả thù, sĩ nhục, cướp đoạt toàn bộ tài sản v.v…. Những ai chưa đọc
hoặc chưa tin cuộc sống điạ ngục trần gian trong “Trại Đầm Đùn”, chưa
tin “Nhân Văn Giai Phẫm” là có thật thì số phận nghiệt ngã đã dành cho
họ. Nhưng biết rồi, hiểu rồi thì cũng đã muộn màng rồi. Con chim trong
lồng biết thuở nào ra! Vậy mà ngày nay cũng còn có những “nhà trí
thức” hay “trí ngủ” vẫn còn mơ Hoà Hợp, Hoà Giải!!!
Người biết rồi (dân Bắc di cư 1954) thì tìm đường tháo chạy, mạnh
ai đi được bằng cách nào thì đi, tránh xa “Thiên Đường XHCN” là tốt
hơn cả! Ngay cả những người suốt mấy mươi năm sống trong chế độ “ưu
việt” XHCN sau 1975 họ cũng âm thầm tìm cách vượt biên!
Bây giờ 34 năm rồi, nhà nước đã cho “tự do kinh doanh” theo kinh tế
thị trường, tự do làm giàu, tự do cúng kiến, tự do đi nhà thờ thì hà
cớ gì lại chống nhà nước? Tại sao phong trào chống đối trong nước ngày
càng mạnh mẻ, chống đối tràn lan trong nhiều lãnh vực? À, thì ra “nói
vậy mà không phải vậy”.
Có một điều “trước sau như một” mà nhà nước nầy luôn luôn trung
thành, đó là “nói một đàng làm một nẻo”. Sự dối trá trở nên phổ thông,
sự lừa dối thành thói quen như trong phim thần thoại “Vương Quốc lừa
dối”.
Chủ tịch nước nói dối dân: Nói không đổi tiền thì hôm sau đổi
tiền, nói đoàn kết thì lại trả thù, nói dân làm chủ thì lại bóc lột
dân.
Thầy nói dối trò: Dạy chính trị là môn học mà học trò không muốn
học mà thầy thì cũng không muốn dạy, thế mà cứ phải dạy để có miếng
cơm.
Có những ông “tiến sĩ giấy” cố gắng chứng minh khoai mì bổ hơn thịt
bò. Báo chí thì luôn nêu khẩu hiệu “mất mùa là tại thiên tai, được mùa
là bởi thiên tài đảng ta”. Nhà văn thì ra rả ca “lao động là vinh
quang”, mọi người quyết tâm đạt chỉ tiêu ”làm ngày không đủ, tranh thủ
làm đêm”. Hợp tác xã nông nghiệp hô hào đạt chỉ tiêu 7 tấn một hécta,
mà dân thì đói nhăn răng!
Nói tóm lại từ dưới lên trên, từ trên xuống dưới thảy đều nói dối,
nghành nghành nói dối, người người nói dối. Bởi vậy sau 11 năm từ
1975-1986 thì đói dài dài cả nước, bệnh gì cũng trị bằng “xuyên tâm
liên”. Cây căm xe đạp cũng phải nhập, mà ngoại tệ thì lại không có vì
Liên Xô cũng đang điêu đứng vì kinh tế suy sụp. Trung Cộng thì cắt
viện trợ từ lâu kể từ 1975.
Thử tìm hiểu một chút lịch sử về ngày 30 tháng 4 1975: Có hai giáo
sư được coi là sáng giá nhất của Hải Ngoại bình luận về Ngày 30 Tháng
Tư 1975:

-GS Trần Gia Phụng.
http://phanchautrinhdanang.com/30thang4/30thangtuquacachnhinlichsu.htm
30-4 Qua Cách Nhìn Lịch Sử Bài viết của sử gia Trần Gia Phụng.

Một sử gia có khuynh hướng độc lập không theo đảng phái nào. Là một
giáo sư sử cuả Đại Học Sư Phạm Huế, giảng viên đại học về môn sử trước
1975. Tác phẫm bao gồm bộ “Việt Sử Đại Cương” và hàng chục quyển sách
khảo cứu về sử. Trong đó có hàng trăm bài bình luận về thời sự và lịch
sử VN cận đại. GS Trần Gia Phụng quan niệm giải thể CSVN mới mong đem
lại Tự Do, Dân Chủ thật sự cho VN.

-GS Lê Xuân Khoa là cựu Chủ tịch Trung Tâm Tác Vụ Ðông Nam Á
(SEARAC) và là giáo sư thỉnh giảng tại trường Cao học Nghiên cứu Quốc
tế thuộc Ðại học Johns Hopkins, Washington, D.C.
http://www.bbc.co.uk/vietnamese/regionalnews/story/2005/02/050215_lexuankhoa.shtml
Ba mươi năm gọi tên gì cho cuộc chiến.
Theo G/S Lê Xuân Khoa: “Cuộc chiến 1955-1975 ở Việt Nam được gọi
là nội chiến vì sau khi đất nước bị chia đôi, chính quyền miền Bắc đã
để lại cán bộ, chôn dấu vũ khí và hoạt động bí mật đàng sau các phong
trào tranh đấu ở miền Nam; trong khi đó, chính quyền Ngô Đình Diệm
cũng phát động chiến dịch tố cộng sâu rộng và mãnh liệt.” Ba mươi năm
sau chiến tranh, đã đến lúc chính quyền trong nước và cộng đồng hải
ngoại cần phải nhận ra thực chất của cuộc chiến, ôn lại những bài học
quá khứ và nhìn nhận nhau với những trao đổi bình đẳng hai chiều để có
thể cùng góp công xây dựng một nước Việt Nam giàu, mạnh và dân chủ,
hội nhập thành công vào cộng đồng thế giới và có đủ khả năng đối phó
với những đe dọa mới từ phương Bắc.
Giữa hai bên, những bước đầu tiên cần phải được thực hiện bởi chính
quyền trong nước một cách thật tình và cụ thể. Một khi thiện chí ấy đã
được chứng tỏ, cộng đồng hải ngoại cũng cần phải đáp ứng tích cực.
Theo GS Lê Xuân Khoa cuộc chiến Việt Nam đã trên 30 năm rồi nên
khép lại quá khứ, Cộng Đồng Việt Nam Hải Ngoại và Quốc Nội phải “Hoà
Hợp Hoà Giải” với cường quyền CSVN thì mới đủ lực chống ngoại xâm. Bài
viết đăng lên mạng internet GS Lê Xuân Khoa đã nhận được rất nhiều ý
kiến tranh luận khác nhau về tên gọi, nguyên nhân xảy ra cuộc chiến và
nhiều ý kiến phản bác về cái đề nghị gọi là “Hoà Hợp Hoà Giải” vì cho
rằng CSVN từ trước đến giờ trong lịch sử có biết bao cơ hội để thể
hiện Hoà Hợp Hoà Giải mà chúng bỏ lơ hoặc lợi dụng những người nhẹ dạ
và sau cùng chúng ra tay sát hại những ai khác chính kiến mà muốn hợp
tác với chúng!
-Những điểm chính yếu cần phải được minh định:
Sau khi xem xét các tài liệu lịch sử, tập hợp và phân tích các nhận
định của các sử gia, bình luận gia trong và ngoài nước chúng ta có
những minh định về cuộc chiến Việt Nam 1945-1975 như sau:
1- Cuộc chiến 1945-1975 không có ai chiến thắng, thiệt hại đôi bên
(Quốc + Cộng) rất to lớn, mà thiệt hại nhân mạng về phía người dân VN,
về tài sản, nhà cửa của dân Việt rất thê thãm, ảnh hưởng đến bước tiến
của Việt Nam so với các nước Đông Nam Á. Có lợi cho phiá Hoa Kỳ, Liên
Xô và Trung Cộng họ thực hiện được những ý đồ chiến lược của họ mà
thôi. Với Dân Tộc Việt Nam sự hy sinh đó quá lớn (trên 5 triệu nhân
mạng kể cả thường dân và lính đôi bên) và không cần thiết, vì trong
cùng hoàn cảnh như vậy các nước Á Châu thoát khỏi ách dô hộ của thực
dân Anh, Pháp, Tây Ban Nha không hao tốn xương máu đến như vậy.
2- Nếu phe Cộng Sản bao gồm HCM và các đảng viên biết nghĩ đến
quyền lợi dân tộc thì không có cuộc chiến nầy suốt 30 năm và cũng
không đẩy phe Quốc Gia nhận chi viện của Mỹ và Đồng Minh để chống lại
phe CS Quốc Tế.
3- Cuộc chiến Việt Nam giai đoạn 1954-1975 hoàn toàn không phải là
cuộc chiến tranh Giải Phóng vì Mỹ không chiếm đóng, cai trị VN. Miền
Nam chỉ tự vệ và chỉ có Miền Bắc xâm lăng Miền Nam bằng vũ lực do khối
CSQT yểm trợ.
4- Trên thế giới có nhiều quốc gia bị chiến tranh chia đôi như Đông
và Tây Đức 1945, Cộng Hoà Nhân dân Trung Hoa và Trung Hoa dân
Quốc1949, Nam và Bắc Triều Tiên 1953, nhưng sau khi chia đôi họ không
có sát hại thường dân đôi bên, chỉ duy nhất ở Việt Nam, chế độ Miền
Bắc tấn công Miền Nam và giết hại thường dân Miền Nam một các tập thể.
5- CSVN đã bỏ lở nhiều cơ hội Hoà Giải DânTộc trước và e thang sau
cuộc chiến 1945-1975 (năm 1945 phe Quốc Gia đồng ý Liên Hiệp với Việt
Minh nhưng đã bị sát hại vô cớ, Hiệp Định Genève năm 1954 phân chia 2
miền Nam Bắc có chính phủ riêng và biên giới riêng biệt, nếu Miền Bắc
không chủ trương che dấu 30 ngàn cán bộ ở lại trong Nam và không chủ
trương tấn công Miền Nam bằng võ lực thì đâu xảy ra việc đàn áp CS và
gây ra chiến tranh cao độ 1964 để Đồng Minh vào can thiệp. Năm 1975
sau khi đất nước được thống nhất nếu CSVN không trả thù, không tù đày
quân dân Miền Nam thì không bị cả triệu người phản đối bỏ nước ra đi.
Hậu quả lâu dài là sau nầy không còn ai tin vào chuyện Hoà Hợp Hoà
Giải nửa mà cứ tiếp tục chia rẻ như trước 1975.
-Tháng Tư lại về, theo tôi nhắc lại 30 Tháng Tư không phải là để đổ
lổi cho ông nọ, bà kia. Cũng không phải là để oán trách người bạn đồng
minh, vì trước nhất là phải tự trách mình. Cũng không phải để căm thù,
vì căm thù không cứu được Đất Nước ra khỏi cảnh tủi nhục. Căm thù
không làm cho chế độ độc tài sụp đổ. Mà phải ngồi nghĩ lại những việc
làm nào đã dẩn đến mất nước, tan hàng, để rút ưu khuyết điểm, để thấy
trách nhiệm chưa chu toàn với tấm lòng ưu ái của đồng bào tin tưởng
nơi người lính bão vệ biên cương và quan trọng nhất là phải tìm ra
hướng đi nào để dành lại được quê hương trong tay kẻ nội thù suốt mấy
chục năm qua. Trách nhiệm của người lính, một công dân khi nhìn đồng
bào mình đang rên siết dưới gông cùm Cộng Sản, phải thấy là chỉ có
thực hiện được hoài bảo giải thể chế độ Cộng Sản độc tài kia, dành lại
chủ quyền cho dân, cho nước là cách để chuộc lại những lổi lầm xưa,
mới xứng đáng là đứa con yêu của Tổ Quốc.
Chuyện củ đã qua, thời Cộng Sản dép râu, nón cối qua rồi. Bây giờ
mà chửi CSVN hối lộ, tham nhũng thì chúng nó cười vào mũi mình ngay.
Vì chúng nó đâu còn cần đòi đút lót như xưa nửa, mà chúng nó cũng
không còn rao hàng ế ẩm Xã Hội Chủ Nghiã (thứ không ai thèm nghe),
chúng nó chỉ lo vơ vét dollar thôi. Bây giờ chỉ cần chính phủ ban phát
cho con cháu trong Bộ Chính Trị độc quyền gởi công nhân lao động đi
nước ngoài là thu vào vài ba trăm triệu USD ngon xơi ngay. Thành ra
đánh Cộng Sản thời đại ngày nay khác với 10, 20 năm trước nhiều lắm.
Bây giờ CSVN cũng giả vờ kêu gọi Lòng Ái Quốc, Bão Vệ Biên Cương,
nhưng anh nào biểu tình chống Trung Cộng là vào tù ngay. Là một thành
viên không thường trực của Hội Đồng Bảo An Liên Hiệp Quốc nếu muốn đòi
đất, đòi biển sao chúng không đưa ra LHQ, tất cả chỉ là hoả mù, ai tố
cáo Trung Cộng là sẽ bị hại ngay. Phải thấy ngay đấy là ngụy tạo, cái
bẩy cuả chúng nó cho những ai nhẹ dạ, đồng thời để che chắn khi bị
quần chúng công kích về tội bán nước.
Chúng nó ngày càng điêu ngoa, đểu giả thì đòn đánh chúng cũng phải
“Độc Chiêu” thì mới thắng được bọn ma đầu nầy. Con, cháu chúng nó tốt
nghiệp Harvard, Oxford, Cambridge hẳn hòi, vậy phải đánh bọn chúng
bằng sự thông thái, bác học như chị Dương Nguyệt Ánh đã dùng tấm lòng
nhân ái để đánh Cộng Sản chứ không cần dập bom áp nhiệt mà vẫn chiến
thắng bằng chính nghiã. Cũng không thể ngồi chờ cường quốc “bật đèn
xanh” vì chính mấy tên bật đèn nầy cũng đang đi với ma bùn theo lời tố
cáo của Hoà Thượng Thích Quảng Độ vừa qua trước lời nói cuả Bộ Trưởng
Ngoại Giao Mỹ!
Bây giờ đánh Cộng Sản thì phải linh động, bởi vì nó sẽ nói: Tôi có
còn Cộng Sản nưả đâu mà đánh, phải đánh bằng luật pháp Quốc Tế, bằng
những cam kết của chúng khi vào WTO, bằng chính hiến pháp của chúng vì
nhiều điều của chúng làm là vi hiến. Việc khai thác khoán sãn bauxite
ở Tây Nguyên gây phá hoại môi sinh, môi trường là những điểm cần phải
đánh. vạch ra luật đất đai cuả chúng là luật ăn cướp quyền tư hữu đất
đai của dân bị tước đoạt biến thành quyền sữ dụng ruộng đất mà thôi.
Phải đánh tổng hợp: Từ giáo dục, kinh tế, môi trường, đời sống
công nhân, đời sống nông dân, luật pháp, công pháp Quốc Tế, xã hội
v.v….
Bây giờ không phải ngồi đây để mà thù hận, để mà kết tội bên nầy
bên kia. Bây giờ không phải là lúc để tranh luận danh từ ai thắng ai
thua, ai vui ai buồn, trách nhiệm nầy thưộc về ai. Điều cần nhất cho
dân tộc VN hôm nay là: Trước hiện tình đất nước lâm nguy chúng ta
phải nghĩ gì và làm những gì? Phải hành động! Với bổn phận và trách
nhiệm của một người lính, mộtcông dân, một người có tấm lòng với Dân
Tộc thì chúng ta phài làm gì để báo đáp cho Tổ Quốc trước hoàn cảnh
dầu sôi lửa bỏng hiện nay?
1- Tại sao lại nói không nên thù hận: Vì bao nhiêu năm rồi, tội
bán nước buôn dân cuả người CSVN thì ai cũng rỏ, trong đấu tranh để
giải thể chế độ thì đâu phải do lòng căm thù, mà là đạt mục tiêu làm
sao cho đất nước thoát cảnh lầm than, nếu chỉ có căm thù thì đâu còn
sáng suốt mà đấu tranh cho đúng Chính Nghĩa. Lòng căm thù không làm
sụp đổ chế độ mà chỉ có đấu tranh, tận lực đối đầu với bạo quyền thì
mới làm cho chúng tiêu vong. CSVN đang ra sức tuyên truyền là người
Việt Hải Ngoại sở dỉ đấu tranh là vì căm thù để cho người dân quốc nội
xa lánh chúng ta. Chúng ta không bao giờ căm thù, nhưng không bao giờ
bỏ sót hay bỏ quên tội ác của CSVN đối với Dân Tộc.
2- Tại sao hoà bình rồi lại phải đấu tranh: Từ sau 1975 đến nay,
nếu chính quyền CSVN đem lại sự ấm no, hạnh phúc cho toàn dân, bão vệ
bờ cỏi, giử vửng giang sơn, bão tồn độc lập thì đấu tranh làm gì,
chống CS làm chi và nên chung tay góp sức xây dựng lại cơ đồ là điều
ai cũng mong ước. Chống đối chính quyền là vì chuyện chẳng đặng đừng,
vì đảng CSVN đã không cho dân tôi sống ra như một con người!
Bởi vì đất nước ngày càng tụt hậu, từ vị trí hàng đầu Đông Nam Á
sau 34 năm tụt xuống hàng thấp kém cả thế giới. Phân biệt giàu nghèo
ngày càng tăng, tệ nạn xã hội tràn ngập từ thành thị cho đến thôn quê,
tệ nạn bán vợ, đợ con, các cô gái thì bị đem bán làm vật mua vui cho
khắp thiên hạ, tệ nạn ăn cướp ngay cả ban ngày của cán bộ từ xả đến
tỉnh mỗi ngày một gia tăng, tôn giáo thì bị chèn ép, hù doạ, chiếm
chùa, công nhân lương không đủ cho miệng ăn, bị đối xử tồi tệ, bị chủ
nhân đánh đập, nông dân bị cướp đất khắp mọi nơi. Vì thế mà phải đấu
tranh.
3- Ai có bổn phận chống bạo quyền thối nát, xây đời Tự Do: Đây là
việc chung, ai sinh ra trên đất nước Việt Nam, ai có dòng máu Lạc
Hồng, ai có ưu tư vì Dân Tộc thì người đó có quyền tranh đấu đòi quyền
Tự Quyết cho toàn dân. Đất đai nầy ông do bà tổ tiên để lại, không của
riêng ai, người người đều có trách nhiệm bão vệ Tổ Quốc. Tập đoàn CSVN
tự áp đặt quyền lãnh đạo đất nước độc tôn là sai quấy, ai làm sai, gây
thiệt hại cho Đất Nước thì phải bị đào thải, không có chuyện “con vua
thì được làm vua” như thời phong kiến trong thế kỷ 21 nầy.
Phải có bầu cử tự do thật sự, phải có hiến pháp mới cho thời đại
mới, nhân tài thì phải đi kèm đạo đức và kiến thức lãnh đạo chứ không
phải “hồng hơn chuyên” xưa lắm rồi. Đừng cầu mong chữa bệnh một cách
vá víu, con bệnh Cộng Sản đã đến thời kỳ ung thư hết thuốc chữa rồi,
phải dẹp nó đi.
Tiếng nói toàn dân đã gióng lên rồi, từ Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam
Thống Nhất đến Toà Khâm Sứ Hà Nội, Toà Giám Mục Huế, Toà Giám Mục Saì
Gòn đến những cuộc xuống đường của Đạo Hoà Hảo, Cao Đài, Tin Lành và
hàng trăm cuộc đình công kháp cả 3 miền Nam, Trung Bắc từ đầu năm đến
nay, của hàng trăm dân oan lũ luợt khắp nơi, của nông dân đúng lên đòi
đất, họ đã lật xe công an, đốt trụ sở xả, quận.
Trí thức cũng ra tay, luật sư, giáo sư phản đối, học sinh, sinh
viên biểu tình chống Trung Cộng, chê bạo quyền khiếp nhược trước ngoại
bang. Báo chí bị bịt miệng cũng đã bắt đầu kêu gào.
Ngày 30/4 năm nay là ngày tổng phản công của thể đồng bào Hải Ngoại
để hỗ trợ cho đồng bào Quốc Nội vùng lên lật đổ bạo quyền. Không còn
tranh luận lý thuyết suông, mà chỉ có hành động cụ thể là cần thiết
hơn cả vì hiễm hoạ mất nước đã gần kề.
4- Tại sao lại gọi là cần phải hành động cứu nước: 34 năm rồi,
lịch sử đã phơi bày, tài liệu giải mật đã công bố, không còn phải lý
luận tìm tòi, không còn phải định ai công ai tội, có một chân lý không
bao giờ thay đổi: “Đó là Chính nghĩa phải thắng gian tà”. Bao lâu nay
từ khi Hồ Chí Minh nhận nhiệm vụ của Quốc Tế Cộng sản, cố tình gây nội
chiến tại Việt Nam, chỉ cốt sát hại các đảng phái Quốc Gia, “ăn cướp”
chính quyền, lợi dụng lòng yêu nước của toàn dân, xão quyệt trong
tuyên truyền lừa gạt nhân dân thực chất chỉ nhằm phục vụ cho ngoại
bang và vơ vét tài nguyên quốc gia, tham ô, bóc lột làm giàu phi pháp.
Chúng vì quyền lợi đảng, sẳn sàng bán rẻ Dân Tộc, bán đất, nhượng
biển, làm tay sai cho Tàu Cộng, làm Thái Thú bản xứ cai trị chính nhân
dân mình. Không chận ngay bàn tay Việt Cộng độc tài thì Đất Nước của
cha ông sẽ rơi vào tay Trung Cộng. Thì lúc đó mọi sự tranh luận cũng
đã quá muộn màng.
5- Hành động thực tế thì phải làm những gì? Người dân trong nước
thì phải đoàn kết để tạo sức mạnh chống bạo lực, tôn giáo thì phải kết
hợp thành mặt trận liên tôn, đánh nơi nào, đánh ra sao để xé lẻ lực
lượng của bạo quyền và để làm nhẹ áp lực của đối phương. Một giáo xứ
Thái Hà, hay một chục giáo xứ như Thái Hà không làm lung lay chế độ.
Nhưng nếu các tôn giáo chính yếu ngồi lại với nhau đặt kế hoạch luân
lưu xuống đường thì CS rất sợ.
Hải ngoại sau khi dẹp xong bọn nằm vùng, đồng loạt kết hợp các cộng
đồng vốn đã từ lâu hoạt động hợp pháp, hợp hiến tại điạ phương để loại
trừ đặc công CS ngay trong giới truyền thông, tạo tiếng nói uy tín cho
chính trường Quốc Tế, vận động các nghị sĩ, dân biểu và các tổ chức
phi lợi nhuận ủng hộ cho giải pháp Dân Chủ, Nhân Quyền cho Việt Nam.
Ngày nào Hải Ngoại có tiếng nói thống nhất, hoà đồng ý chí thì Cộng
Đồng Việt Nam Hải Ngoại trên toàn thế giới sẽ có uy tín quốc tế, kể cả
nghị trường tại Liên Hiệp Quốc thì sẽ giúp ích rất nhiều cho quốc nội
trong tiến trình giải trừ Cộng Sản.
Ngày nào đủ lực, thời thế chín mùi thì đồng loạt đình công bải thị,
sinh viên học sinh chiếm trường, công nhân đình công dây chuyền, từng
nghành hỗ trợ nhau các mặt giáp công, Nông dân tay cuốc tay liềm từ
mọi vùng nông thôn vùng lên đòi quyền sở hữu ruộng đất, hội đồng Liên
Tôn cùng nổi dậy và kết thúc bằng chiến dịch toàn dân hỏi tội Việt
Gian bán nước, dâng biển cho Trung Cộng thì ngày ấy chế độ mới ra tro.
Trước tình thế biến chuyển nhanh chóng trong nước, Đại lão Hoà Thượng
Thích Quảng Độ, đương kim Tăng thống của Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam
Thống Nhất, cho rằng hành vi của nhà cầm quyền mà ông gọi là “một
chính quyền ly khai dân, lệ thuộc nước ngoài, từ ý thức hệ đến cơ cấu
tổ chức”, đã đặt Việt Nam vào một “nguy cơ mất nước” và “lần này không
chỉ Bắc thuộc Một Nghìn Năm, mà là Ba Nghìn Năm hay lâu hơn nữa”, và
ngài đã gửi thông điệp đến đồng bào các giới trong nước, khẩn thiết
kêu gọi họ hãy “Bất tuân dân sự - Biểu tình tại gia” trong suốt tháng
5. (http://www.rfa.org/vietnamese/in_depth/The-most-venerable-Thich-
Quang-Do-called-for-Civil-Disobedience-in-Vietnam-04022009150723.html?
searchterm=None)
Là một quân nhân trong QLVNCH nhân ngày quốc nạn, tôi chỉ xin chia
sẻ những cảm nghĩ bộc bạch của mình bằng những lời chân thành mà vụng
về đến các bậc huynh trưởng, các đồng đội ở khắp mọi nơi. Đồng thời
xin đạo đạt nguyện vọng nhỏ nhoi của mình cho các Cộng Đồng Tiểu Bang,
Liên Bang tại Mỹ, Úc, Âu Châu để mong vạch ra phương án hữu hiệu đóng
góp cho quê hương Việt Nam mến yêu, cho 86 triệu đồng bào thân yêu và
cũng để tưởng nhớ các vong linh chiến sĩ trong QLVNCH đã anh dũng hy
sinh cho đại nghĩa và các anh chị thương binh còn đang đau khổ tại quê
nhà.
Long Điền 1/4/2009

> còn cái quần, thì ta còn chiến đấu, ...
>
> read more »

Viet...@gmail.com

unread,
Apr 29, 2009, 8:49:54 PM4/29/09
to Kiến - Thiết

Blue Ridge (LCC19) Thiên Thần Áo Xanh

Thay cho lời giới thiệu:
Một số lớn những người Việt Tha Hương (Tỵ Nạn) và những người đang
lê lết một cuộc đời cùng khổ, đầy bất công, áp bức dưới chế độ Cộng
Sản tại quê nhà đều có những quảng đời -- là những cuốn phim mà không
một cuốn phim nào dầu chiếm được hàng bao giải thưởng cũng không sao
sánh bằng; là những tập truyện mà không một tập truyện nào dầu thuộc
loại bán chạy nhất cũng không làm sao qua mặt được.
Những quãng đời đó dầu có thực sự được quay thành phim, viết thành
truyện cũng không bao giờ có thể lột tả, nói lên được tất cả những gì
đã xảy ra chung quanh họ, và những gì đã diễn ra trong lòng họ. Do đó
chỉ có chính họ, là những người trong cuộc, là những chứng nhân, là
những nhân vật trong cuốn phim, trong tập truyện của đời mình mới cảm
nhận được tất cả những sự âu lo, phiền muộn, những nổi buồn xót xa,
câm nín, những niềm hy vọng mong manh, thoáng chốc, những nỗi tuyệt
vọng não nề, buông xuôi cho số kiếp, những sự sợ hãi, kinh hoàng đến
chết ngất, những cơn đói khát vật vã, rã rời, những nỡi uất nghẹn đắng
cay đến tột cùng, những nỗi tủi nhục tối tăm sâu thẳm, những nỡi mừng
vui nghẹn ngào đầy nước mắt, những nỡi đớn đau quằn quại có lúc chất
ngất trong lòng có lúc ray rức kéo dài như vô tận .... Quãng đời họ là
những cuốn phim không cần đạo diễn dàn dựng, là những tập truyện không
cần hư cấu bởi nhà văn, là những câu chuyện sống thực cùng với nhịp
tim, hơi thở và những cảm xúc của một đời người.
= * =
Câu chuyện xảy ra cách đây hơn 28 năm, tuy vậy ký ức tôi vẫn còn
ghi rõ, vì đó là một kinh nghiệm đau thương, hãi hùng nhất trong cuộc
đời tôi.
Trưa hôm đó (10/9/1980) một buổi trưa gần cuối Thu, trời Đà Nẵng
bổng dưng mây kéo về đen kịt, và mưa đổ không ngớt, tôi đang khe khẽ
hát những câu ca dao ru con ngủ, nhìn con ngủ mà lòng xót xa, nghĩ
rằng tương lai nó sẽ mù mịt như bầu trời ngoài kia, vì nó không may
sanh ra trong một đất nước không có Tự Do. Nhà nội nó thì bị nhà nước
trưng dụng, cả gia đình nội phải dồn vào một nhà kho chật hẹp tối tăm
ẩm thấp để sinh sống. Không chỗ nương thân ba mẹ nó phải bồng nó chạy
về nhà ngoại để tá túc .... Thình lình tiếng chuông trước cổng nhà
vang lên cắt đứt dòng tư tưởng, tôi nhẹ nhàng xỏ vội đôi dẹp nhựt đi
xuống lầu thì đã thấy má tôi mở cửa đón khách vào nhà. Đó là một chàng
thanh niên, anh ta là người bà con với ông chủ tàu mà gia đình tôi có
dịp bàn tính chuyện Vượt Biên. Sau khi được trấn an là không có ai
khác ngoài má tôi, ông ngoại và tôi, thì người thanh niên này vô đề
liền: "Bây giờ mưa to gió lớn và biển đang động, Công An Biên Phòng
không nghĩ rằng có ai to gan dám Vượt Biên trong thời tiết này, nên
mình phải nắm lấy cơ hội". Rồi người thanh niên này bắt đầu cho biết
giờ giấc, điểm hẹn và cách gặp người dẫn đường, xong anh ta vội vã đội
mưa ra về.
Không khí trong nhà trở nên căng thẳng vì lòng mỗi người đầy những
nỗi lo âu: Chồng tôi đi làm chưa về, 2 em trai cũng không có mặt tại
nhà, không có cách nào liên lạc được, còn ngoài kia trời mưa như thác
lủ, Vượt Biên trong lúc này có nghĩa là đem mạng đi nạp cho Thần Biển.
Trong lúc má tôi và tôi đang rối lên không biết toan tính như thế nào,
thì ông ngoại tôi bảo quỳ xuống để ông cầu nguyện. Khi ông ngoại tôi
vừa dứt lời cầu nguyện thì hai em trai của tôi về tới, lúc đó gần ba
giờ chiều. Và chúng tôi lại thêm một phen sốt ruột chờ chồng tôi nữa,
rất may hôm đó chồng tôi về nhà sớm hơn mọi khi vì trời mưa nên bạn bè
không rũ đi nhậu, cuối cùng rồi mọi người cũng về đầy đủ, Cuộc Hành
Trình của chúng tôi bắt đầu từ đó.
Theo như lời người thanh niên lúc trưa căn dặn, tôi và hai em trai
tôi đi phà qua sông Hàn, lúc đó khoảng gần 5:30 giờ chiều, sau khi phà
cập vào bến quận Ba, An Hải, chúng tôi phải đảo mắt kiếm người thanh
niên nào có mang dây chuyền hình cái neo, trời lúc đó nhá nhem tối và
mưa rất lớn nên rất khó cho chúng tôi tìm người mà mình chưa bao giờ
biết mặt. Người dẫn đường nhận ra được dáng điệu dáo dác của chúng
tôi, nên anh ta tiến tới trước mặt chúng tôi không nói gì hết rồi lặng
lẽ bước đi (đó là mật hiệu), chúng tôi thấy nơi cổ của anh có sợi dây
chuyền hình cái neo, do đó người này đi đâu chúng tôi cũng phải bám
sát theo để không bị lạc. Vì nhằm giờ cao điểm kẻ tan trường, người
tan sở nên việc bám sát theo người này cũng rất khó, nhiều lần bị lạc,
chúng tôi ngẫn ngơ quýnh quáng không biết mình đang ở đâu, tim chúng
tôi đập thình thịch vì sợ Công An nghi ngờ đến bắt, nhưng rồi người
dẫn đường quay trở lại kiếm được chúng tôi. Sau đó anh đi vào quán Bún
Bò Huế ven đường, chúng tôi cũng vào theo, sau này tôi mới hiểu, thì
ra phải chờ thêm một nhóm năm người con của bạn ba tôi nữa. Sợ chủ
quán nghi ngờ tôi gọi ba tô bún bò Huế cho ba chị em tôi, nhưng bún
đem lên chưa kịp ăn thì người thanh niên dẫn đường đứng dậy rời quán
vì đã thấy nhóm năm người kia sắp bước vào, chúng tôi vội vã trả tiền
và rời theo làm chủ quán cũng ngơ ngác. Rời quán bún, người dẫn đường
đưa chúng tôi đến một khu nghĩa địa, anh bảo chúng tôi phải ở đó chờ
người khác dẫn đường tiếp. Ba chị em chúng tôi núp ở một ngôi mộ có
tấm bia thật lớn, thình lình người trong xóm cầm đuốc đi kiếm gà của
họ bị lạc. Một lần nữa ba chị em chúng tôi lại một phen sợ hãi, tay
chân run rẫy, tim hầu như ngưng đập vì thấy người đàn bà đó càng lúc
càng tiến về nơi chúng tôi đang núp, ba chị em chúng tôi nhắm nghiền
mắt và ôm chặt lấy nhau, hình ảnh Nhà Tù Cộng Sản hiện lên trong trí
tôi thật kinh khiếp, nước mắt chúng tôi tuôn trào, không ai bảo ai
chúng tôi cắn chặt môi cố nén tiếng khóc. Nhưng lạ lùng thay, Chúa đã
ngăn trở bước đi của người đàn bà đó, khi tiếng chân của người đàn bà
đến gần nơi chúng tôi ẩn núp trong gang tấc thì bà bắt được con gà của
bà. Tiếng kêu oang oác của con gà làm chúng tôi bừng tỉnh lại, chúng
tôi chỉ biết cúi đầu thầm tạ ơn Chúa.
Bây giờ thì trời đã tối hẳn, có một người thanh niên khác tìm đến
nơi chúng tôi ẩn núp, anh ta không nói gì ngoài ba tiếng “đi theo
tôi”. Anh dẫn chúng tôi đi qua những con đường đất ngoằn nghèo rồi
cuối cùng dẫn chúng tôi vào một căn nhà nào đó mà bây giờ tôi không
tài nào nhớ được, vì lúc đó trời tối đen như mực, ngay cả chị em chúng
tôi cũng không nhìn thấy mặt nhau. Họ để ba chị em chúng tôi tại đây
cho đến khoảng 12 giờ khuya (sau này tìm hiểu tôi mới biết khoảng giờ
đó) thì họ dẫn ba chị em tôi ra bờ biển thuộc vùng Thọ Quan, nơi đó có
sẵn một cái thúng lớn, người này lật thúng lên thì đã có một người nằm
chờ dưới thúng ngồi dậy, và họ đưa chúng tôi ra tàu cá đang chờ sẵn
ngoài khơi. Nhưng ra đến nơi thì chúng tôi không thấy bóng dáng chiếc
tàu cá đâu hết, chung quanh chúng tôi là vùng biển rộng mênh mông với
một màu đen tối rợn người. Chúng tôi ngồi trên thúng chồng chềnh theo
làn sóng mà lòng bồn chồn lo lắng, rồi lần lượt những thúng khác chở
ăm ắp người cũng chèo đến, gần hai tiếng đồng hồ sau thì tàu mới xuất
hiện. Khi lên tàu rồi thì việc đầu tiên là tôi kiếm chồng và con tôi,
vì hai người được dẫn đi đường khác. Thấy tôi, chồng tôi lên tiếng để
trấn an, chồng tôi khen con tôi rất ngoan, tuy mới hơn ba tuổi nhưng
dặn nó không được hỏi, không được nói, không được khóc nếu sợ bóng
tối, thì nó rất ngoan ngoãn không lên tiếng trong suốt cuộc hành trình
trong bóng đêm, có lẽ nó cũng cảm nhận được sự nguy hiểm vây quanh cha
con nó.
Hai giờ sáng tàu bắt đầu chạy ra cửa biển, ra đến cửa biển sóng có
phần êm hơn. Tàu chạy một lúc xa thì trời hừng sáng, mọi người thấy an
tâm vì thoát được sự kiểm soát của Công An Biên Phòng. Bắt đầu từ đó
tàu chúng tôi lênh đênh không định hướng, vì tài công là một thanh
niên trẻ chỉ biết lái tàu đi đánh cá chứ không biết nhắm hướng cũng
không biết xem la bàn. Trên tàu ngoài gia đình tôi năm người, năm
người con của bạn ba tôi, chín người của gia đình ông chèo thúng đưa
khách, ba người anh bà con của tôi và hai con trai của họ, còn có một
số thanh niên nam nữ bạn của người tài công trẻ chạy theo. Do đó số
người trên tàu lên đến bốn mươi lăm người kể cả mười đứa con nít dưới
mười tuổi. Trong khi đó thực phẩm chỉ tính đủ cho hai mươi lăm người
chính thức có trong kế hoạch Vượt Biên này mà thôi. Đã vậy, sau này
mới vỡ lẽ ra là trước đó, gần ngày Vượt Biên một số lương thực bị mất
cắp.
Qua đến ngày thứ ba, một cơn bão biển suýt nhận chìm chiếc tàu mỏng
manh của chúng tôi giữa lòng biển cả. Tôi không thể nào quên được cơn
hãi hùng này, chiều hôm đó mây đen phủ kín cả vòm trời, gió mạnh như
cơn lốc, và sóng biển cuồn cuộn trổi lên, vợ chồng tôi và cháu nhỏ
cùng hai em trai tôi và vài người nữa đang còn ngoài khoang tàu trong
khi hầu hết mọi người khác được ở trong cabin. Cửa cabin lúc ấy bị
đóng chặt, chúng tôi đập cửa khóc lóc kêu gào thảm thiết. Có lẽ những
người bên trong không dám mở cửa cabin trong lúc này vì sợ nước biển
tràn vào, một phần có lẽ tiếng gió và tiếng gầm thét của những đợt
sóng khổng lồ át đi tiếng kêu gào của chúng tôi. Mãi đến 10 phút sau,
gió càng mãnh liệt và sóng càng dữ dội hơn thì họ mở cửa cho chúng tôi
vào ẩn mình. Trong những giờ phút ngoài khoang tàu, tôi vô cùng kinh
khiếp khi nhìn thấy từng đợt sóng khổng lồ nâng bổng chiếc tàu nhỏ bé
của chúng tôi lên thật cao, rồi ném chiếc tàu nhỏ bé của chúng tôi
xuống vực sâu tối ngòm, nhìn lên tôi thấy đợt sóng khác tới nó vươn
lên như một bức tường thật cao và đổ ập xuống như muốn nhận chìm chiếc
tàu của chúng tôi, nước văng tung toé, tay tôi ôm chặt thanh gỗ nơi
cửa vào cabin vừa khóc vừa kêu gào thảm thiết. Nhiều khi nghĩ lại, tôi
tự hỏi làm sao chồng tôi có thể vừa giữ chặt con vừa bám chặt vào mạng
thuyền, và tất cả chúng tôi ngoài khoang tàu không bị sóng biển ném
tung ra khỏi tàu, làm sao chiếc tàu nhỏ bé của chúng tôi có thể sống
còn qua cơn bão đó, chắc chắn phải có bàn tay vô hình nào đó che chở
chúng tôi, bàn tay vô hình đó chính là bàn tay của Thượng Đế.
Trong những ngày đầu còn dầu, thì tài công không biết định hướng đi
đến Hong Kong, anh ta cứ nhắm hướng mặt trời mọc mà chạy cho đến khi
cạn không còn dầu để chạy nữa thì lúc đó chúng tôi thấy dãy núi mờ mờ
từ đàng xa. Thì ra tàu chúng tôi trôi giạt đến Nha Trang mà tưởng rằng
đang ở gần đảo Hải Nam, lương thực và dầu đã cạn, có ba người thanh
niên đưa ý kiến, ai có vàng hoặc tiền bạc, đồng hồ đeo tay thi giao
cho họ, họ sẽ đi thúng vào dãy núi đó mua dầu và lương thực đem ra để
đi tiếp. Đó là niềm hy vọng cuối cùng nên mọi người có vàng đưa vàng,
có đồng hồ đưa đồng hồ, tôi cũng cởi chiếc nhẩn cưới đưa cho ba người
này (sau này đến được bến bờ Tự Do, chúng tôi mới hay rằng ba người
này đi thúng vào bờ và bị Công An bắt tại Nha Trang).
Ngày lại ngày trôi qua, nhưng bóng dáng 3 người đi mua dầu và lương
thực vẫn biệt tăm. Chúng tôi chi biết cầu nguyện và phó thác đời sống
mình cho Chúa. Không thức ăn, nước uống, chúng tôi phải uống nước tiểu
và nước biển có bỏ đường hóa học để sống qua ngày, nhờ năm người con
của bạn ba tôi có mang theo đường hóa học. Nói chung, gia đình tôi và
năm người con của bạn ba tôi vì tin tưởng chủ tàu chuẩn bị lương thực
chu đáo nên chúng tôi không mang theo bất cứ một lương thực nào, ngoài
trừ chồng tôi trước khi đi anh có giấu được một lon sữa đặc trong túi
quần cho con tôi và năm người kia có giấu theo một gói nhỏ đường hóa
học. Hơn nữa, cũng để tránh cặp mắt nghi nghờ của mọi người, chúng tôi
không mang theo bất cứ quần áo hay vật dụng cá nhân nào, trên người
chúng tôi vỏn vẹn mỗi người chỉ có một bộ áo quần mình đang bận.
Hơn mười ngày trôi qua không thức ăn, nước uống, trẻ con khóc lóc
kêu gào thảm thiết, con tôi chỉ nước trên biển mà trách chúng tôi tại
sao nước trên biển nhiều như vậy mà không cho nó uống, lòng tôi đau
như đứt từng đoạn ruột khi nhìn thấy con tôi và những trẻ con khác rã
rời, quằn quại, rên xiết vì đói và khát. Rồi 1, 2, 3, 4, đứa con nít
dần dần ra đi. Đêm hôm đó là đêm thứ mười sáu trên biển, tôi ôm con
tôi vào lòng tuyệt vọng, thình lình một cơn mưa thật lớn đổ xuống, mọi
người đều mừng rỡ, chồng tôi mau mắn hứng được một bình nước nhỏ, gắng
sức trườn người vào cabin đưa cho tôi để tôi cho con uống, vì quá mừng
nên tôi hút một hơi thật mạnh để nước chảy vào một ống nhỏ, xong tôi
chuyền ống nhỏ đó vào miệng con tôi với hy vọng con mình sẽ được nuôi
sống, nước vào miệng quá nhanh con tôi không kịp nuốt thì tắt thở ngay
trên tay của tôi vì sức lực nó không còn nữa. Quá đau khổ, tôi ôm con
chặt vào lòng và khóc, khóc thật nhiều nhưng hầu như không có một giọt
nước mắt nào tuôn ra. “Khi con người quá đau khổ thì không còn nước
mắt để khóc", tôi nghe câu nói này nhiều lần nhưng cứ nghĩ rằng đó chỉ
là một câu trong văn chương thôi, bây giờ thì tôi thật sự kinh nghiệm
về điều đó. Sáng hôm sau, một tay ẳm xác con, một tay chống đỡ lê lết
tấm thân kiệt sức của mình để đem xác con ra ngoài khoang tàu cho
chồng và hai người cậu nó thấy mặt lần chót. Vì chồng tôi và hai cậu
nó ở cuối mõm thuyền, do đó con tôi được chuyền qua một vài người
trước khi đến tay chồng tôi. Khi ở trên tay những kẻ xa lạ tôi không
thấy điều gì lạ xảy ra, tuy nhiên khi chồng tôi vừa đưa tay ẳm lấy con
tôi, thì tự nhiên môi con tôi sùi bọt nước miếng, và máu thật tươi
tuôn ra từ lỗ mũi và hai lỗ tai của nó. Con tôi biết giờ đây nó được
nằm trong vòng tay yêu thương của ba nó, một mối liên hệ phụ tử thiêng
liêng được bày tỏ qua một thân xác không còn sự sống.
Dầu yêu thương con đến mức nào đi nữa cũng không thể nào giữ được
xác con trong vòng tay của mình, chúng tôi đành lòng phải bỏ xác nó
xuống lòng biển cả. Đặc biệt cái chết của con tôi được nhiều người
thương và lo chu đáo, vài người trên tàu gỡ hai tấm ván nhỏ từ chiếc
tàu của chúng tôi, họ đóng lại như hình chữ thập, đặt xác con tôi nằm
trên đó, rồi dùng lưới cá quấn quanh thân hình nhỏ bé của con tôi. Họ
nói rằng phải đóng ván theo hình chữ thập thì mới thăng bằng không bị
sóng đánh lật úp mặt nó xuống biển cá sẽ đến rĩa ăn, họ cho rằng nếu
con tôi may mắn gặp một tàu cá nào đó, họ sẽ làm phước vớt đem vào bờ
để chôn vì lúc đó chúng tôi vẫn còn thấy dãy núi mờ mờ từ đàng xa, nên
chúng tôi chỉ biết hy vọng như vậy, (trong một bản tóm tắt chuyến Vượt
Biên của chúng tôi bằng tiếng Anh có một sơ sót nhỏ là con tôi được
cột vào cục đá để bỏ xuống biển thay vì cột vào 2 tấm ván thuyền). Sau
đó một người anh bà con của tôi có mang theo quyển Kinh Thánh, anh mở
ra đọc vài câu trong Kinh Thánh rồi cầu nguyện trước khi thả xác con
tôi xuống biển, lúc đó tôi ngoảnh mặt đi nơi khác vì không muốn chứng
kiến cảnh đau lòng này.
Nước mưa hứng được đêm đó đã tạm nuôi sống chúng tôi trong một thời
gian ngắn. Rồi một hôm (06/10/1980/) tôi nằm chờ chết trong cabin vì
sức tôi đã quá kiệt quệ, 26 ngày không một chút gì trong bao tử ngoại
trừ nước tiểu vì nước mưa hứng được hôm trước đã không còn một giọt.
Thình lình có tiếng chồng tôi và vài người nữa ngoài cabin “có máy
bay, có máy bay”, tôi nhìn ra thấy chồng tôi đang dùng cái áo thun
trắng đã cũ mèm để vẩy ra hiệu, nhưng tôi vẫn không một chút hy vọng
nào, vì đã bao lần chúng tôi thấy máy bay bay xa thật xa trên bầu trời
nhưng họ nào có thấy chúng tôi đâu. Nhưng rồi tiếng máy bay trực thăng
dần dần nghe rõ dần, và tiếng mọi người mừng rỡ, hình như có một lực
nào thật mạnh trong tôi vực tôi dậy và tự nhiên tôi có sức để bò ra
ngoài khoang tàu. Tôi thấy chiếc máy bay trực thăng từ từ hạ thấp
xuống, lúc đó một người trên tàu chúng tôi viết hàng chữ bằng tiếng
Anh “Don't drop any food, Please rescue us”, thì ngay lập tức một quân
nhân Mỹ trên máy bay trực thăng viết hàng chữ bằng tiếng Việt “chờ năm
phút sẽ có tàu đến”. Rồi họ bắt đầu bắn những trái khói màu quanh tàu
của chúng tôi để định vị trí cho tàu lớn đến cứu. Vài phút sau qua làn
khói màu tản mác, từ đàng xa chúng tôi nhìn thấy một vật nhỏ di động
rồi từ từ lớn dần, chẳng mấy chốc trước mặt chúng tôi sừng sững một
chiếc tàu chiến khổng lồ cách tàu chúng tôi ở một khoảng cách an toàn.
Đó là chiếc Soái Hạm (Command Ship) của Đệ Thất Hạm Đội có tên là
“Blue Ridge LCC19”. Chúng tôi vô cùng mừng rỡ như được sinh lại lần
thứ nhì. Đoàn thuỷ thủ bắt đầu bỏ thang dây xuống và đi ca-nô qua tàu
chúng tôi. Trên ca-nô có 4 người lính Hải Quân mang phao cá nhân, và
nổi bật hơn hết là lá cờ Hiệp Chủng Quốc Hoa Kỳ tung bay trước gió,
nhìn lá cờ mà lòng tôi bồi hồi xúc động vì nó biểu tượng cho Tự Do và
Tình Nhân Loại. Họ dùng loa yêu cầu chúng tôi giữ bình tỉnh, anh Hải
Quân cầm tay lái cố gắng điều khiển chiếc ca-nô cặp sát vào tàu chúng
tôi, trẻ em và phụ nữ được ưu tiên di chuyển qua tàu chiến trước, sau
cùng là nam giới. Các thuỷ thủ, một tay kẹp chúng tôi và một tay chụp
lấy thang dây để leo, hàng chục cánh tay thòng xuống kéo chúng tôi
lên. Đối với tôi, đó là giờ phút vô cùng thiêng liêng và vô cùng xúc
động, nó cho tôi thấy chỉ có những người của chủ nghĩa Tự Do mới thể
hiện được tình yêu thương nhân loại và cảm thông được những đau thương
mất mát của những người vì 2 chữ Tự Do mà liều mình vượt biển.
Khi tất cả chúng tôi được an toàn đưa lên chiếc Soái Hạm này rồi,
thì điều đầu tiên là họ cho chúng tôi mỗi người 1 ly súp lỏng (clear
soup) đang còn nóng hổi và sau đó họ bắt đầu khám tim mạch từng người.
Tôi và em tôi cùng một vài phụ nữ khác vì quá yếu nên được chuyển lên
Medical Clinic. Tại đây chúng tôi được chăm sóc sức khoẻ thật chu đáo,
họ bồng chúng tôi đi tắm, dĩ nhiên là họ rất tôn trọng phụ nữ chúng
tôi, nên họ chỉ mở nước điều chỉnh ở độ ấm vừa phải và dạy chúng tôi
cách dùng thuốc gội đầu đặc biệt để giết chí, rồi họ đứng canh ngay
cửa phòng tắm để đề phòng trường hợp chúng tôi bị té hay bất cẩn gì
đó. Chúng tôi vô cùng cảm kích trước tấm lòng nhân ái bao la của những
người lính Mỹ khác màu da, họ không màng đến thân hình xơ xác bẩn thỉu
hôi hám của chúng tôi, trong khi chí trên đầu rơi rớt đồm độp, nhưng
họ ôm chúng tôi vào lòng, bồng ẳm chúng tôi khi chúng tôi cần những
phương tiện vệ sinh cá nhân. Sau đó họ phát cho chúng tôi mỗi người 1
áo thun trắng và đồ lót để bỏ đi những áo quần hôi hám mà suốt 26 ngày
đêm dầm với mồ hôi, dầu nhớt, nước tiểu và nước biển mặn.
Tôi còn nhớ rõ một kỷ niệm rất buồn cười mà tôi đã làm những người
trong đội y tế một phen cười nứt bụng, đó là ngay sau khi uống cạn ly
súp đầu tiên khi vừa mới được chuyển lên tàu, một anh y tá hỏi tôi
rằng “How do you feel”?, tôi trả lời ngay không chút suy nghĩ “I feel
healthy” (ý tôi muốn nói là “tôi cảm thấy Khỏe”) tức thì cả đội y tế
ôm bụng cười ngặc nghẻo trong khi đó thân hình tôi không khác nào bộ
xương người chết. Thật ra, từ lúc bắt đầu được tàu Mỹ vớt thì bao
nhiêu vốn liếng từ ngữ Anh Văn mà tôi học ở những năm trung học chưa
có cơ hội thực hành thì giờ đây nó lần lượt kéo đến trong tâm trí tôi,
chỉ có điều chữ nào thoáng đến trong đầu là tôi vụt nói liền không cần
để ý đến văn phạm. Nhưng rồi sau đó tôi rất ngại nói, nên tôi luôn
dùng bút viết xuống những gì tôi cần nói, vì khi viết tôi có thì giờ
sắp xếp câu kéo cho đúng văn phạm hơn. Nhờ có chút vốn liếng Anh Ngữ
nên tôi có cơ hội gần gũi với vị thuyền trưởng, các bác sĩ trong đó có
1 bác sĩ người Nhật, và các y tá, đặc biệt là anh Hải Quân đầu bếp
(Mr. Clinton A. Eastwood), anh thường xuyên trò chuyện với tôi, hỏi
thăm những món ăn anh nấu có ngon không, tôi có thích không (và anh
cũng là người sau này thường xuyên liên lạc thư từ với gia đình tôi
khi chúng tôi được đưa vào tạm cư ở Trại Tỵ Nạn Palawan Philippines,
nhờ đó mà tôi có được những bài báo và hình ảnh chụp được trong lúc
được tàu vớt, và năm 1982 khi chiếc Soái Hạm Blue Rigde LCC19 đến cảng
Sydney cách nơi tôi cư ngụ khoảng gần 1 tiếng lái xe, thì anh cũng tìm
đến thăm gia đình chúng tôi, khi đó tôi vừa mới sanh được cháu thứ nhì
khoảng mười lăm ngày (đứa thứ nhất đã mất trên biển)).
Trở về câu chuyện trên chiếc Soái Hạm, thì một hôm có phái đoàn báo
chí bay trực thăng đến thăm Người Tỵ Nạn trên tàu và để phỏng vấn.
Trước khi phái đoàn đến, tôi được khuyến khích để được quay một đoạn
phim ngắn trong buổi phóng vấn nhỏ này vì tôi cứ lắc đầu từ chối, tôi
cứ lấy tay che mặt và nói rằng “Tôi xấu lắm, tôi không muốn người khác
thấy tôi trên truyền hình và tôi cũng không biết nói tiếng Anh nhiều”,
nhưng anh y tá Hải Quân người luôn kề cận chăm sóc tôi (anh Robin) đưa
cho tôi một cái gương và một cái lược, anh chãi đầu cho tôi và bảo tôi
nhìn trong gương rồi anh nói “Look! You're beautiful!” (tôi chưa bao
giờ thấy Chung Vô Diệm nhưng tôi tự nghỉ rằng mình cũng xấu như vậy)
rồi anh nói tiếp “We're going to ask you a very very simple question,
so don't worry, OK”. Thế rồi trong phút chốc phái đoàn báo chí đến có
luôn vị Tham Mưu Trưởng của Đệ Thất Hạm Đội nữa, và rồi hàng loạt đèn
sáng choang chiếu thẳng đến cái giường tôi đang được đỡ ngồi, một anh
phóng viên cầm máy nói gì nhiều lắm nhưng tôi không để ý vì tâm trí
bận suy nghĩ không biết họ sẽ hỏi tôi điều gì. Thế rồi người phóng
viên đó chậm rãi hỏi tôi từng chữ một “Why did you escape from
Vietnam”? Tôi chỉ trả lời vỏn vẹn “About freedom” và câu thứ hai là
“How do you feel now?” lần này tôi đang tìm chữ nào khác với chữ
“healthy” của hôm nọ thì anh y tá Hải Quân này mau mắn cất giọng hỏi
khéo “Better”? nên tôi liền nói “Yes, I feel better”.
Năm ngày tạm trú trên chiếc Soái Hạm này rồi cũng phải đến ngày chia
tay, ngày cuối trước khi chúng tôi chia tay với vị Hạm Trưởng cùng
toàn thể các thuỷ thủ, tôi được vinh dự đi cùng vị Tham Mưu Trưởng đến
từng giường bệnh để phát cho họ mỗi người một bản danh dự “Anh Hùng
Vượt Biển” và một số tiền là 32 Mỹ Kim cho mỗi đầu người, số tiền này
là do sự đóng góp của vị Hạm Trưởng và của toàn thể các thuỷ thủ trên
chiếc Soái Hạm này. Tôi cũng được vinh dự đại diện cho nhóm người ty
nạn trên phòng y tế này để ngỏ lời tri ân và bày tỏ lòng cảm kích của
chúng tôi trước sự chăm sóc không hề mệt mỏi của toàn thể các thuỷ thủ
trong các ngành. Chúng tôi luôn nhớ ơn nhân dân Mỹ nói chung và toàn
thể mọi người trên chiếc Soái Hạm này nói riêng, lòng nhân đạo của họ
là ngọn đuốc, là ánh sáng của thế giới Tự Do, nó sẽ chiếu sáng mãi mãi
trong lòng chúng tôi, lòng của những Người Dân Việt Tỵ Nạn.
Qua những kinh nghiệm đau thương trong suốt cuộc hành trình vượt
biển này, chúng tôi nhận biết rằng mạng sống con người thật quý báu,
nhưng Tự Do là điều quý báu hơn hết. Lòng nhân đạo của nhân dân Mỹ đã
để lại trong chúng tôi niềm cảm kích và sự tri ân sâu xa, tấm gương
sáng này đã chứng minh được chỉ có con người của chủ nghĩa Tự Do mới
có được những đức tính đó, chúng tôi đã học được từ quý vị lòng nhân
ái, vị tha, và tình thương yêu nhân loại và những hình ảnh cao đẹp này
sẽ không bao giờ phai nhạt trong lòng người Dân Việt Tỵ Nạn yêu Tự Do
của chúng tôi. Chúng tôi xin bày tỏ tấm lòng biết ơn sâu xa đến vị
Tham Mưu Trưởng của Đệ Thất Hạm Đội (Chief of Staff for Commander
SEVENTH Fleet) ông Lewis W Chatham, vị Hạm Trưởng (Commanding Officer)
ông John D Chamberlain, cùng toàn thể thuỷ thủ đoàn của chiếc Soái Hạm
Blue Ridge LCC19 (dĩ nhiên trong đó có cả anh Hải Quân đầu bếp Clinton
A. Eastwood và anh Robin). Hình ảnh của những vị đó sẽ không bao giờ
nhạt nhòa trong ký ức chúng tôi. Chúng tôi luôn ao ước có cơ hội gặp
lại những vị ân nhân này bằng xương bằng thịt để một lần nữa ngỏ lời
tri ân đến họ và cũng để họ nhìn thấy gia đình chúng tôi -- kết quả
của việc làm nhân đạo quý báu mà họ đã thực hiện cách đây hơn 28 năm.
Tóm lại, vì quen sống trong một đất nước Tự Do Dân Chủ, vốn thừa
hưởng được tất cả những quyền cơ bản của một con người, nên kể từ khi
Miền Nam Việt Nam rơi vào tay Cộng Sản thì tâm trí chúng tôi không
ngừng nghỉ đến việc trốn thoát khỏi chế độ này. Vượt biên là con đường
duy nhất và cái giá chúng tôi phải trả có thể là sự chia lìa (kẻ ở
người đi, vợ xa chồng, con xa cha, ...), sự tù đày (chính bản thân
mình và người thân cũng bị liên luỵ), cái chết (chính mạng sống mình
và ngay cả mạng sống của những người thân yêu). Bằng nhiều cách, chồng
tôi trước đây đã Vượt Biên 2 lần, anh đi một mình vì chủ tàu không
nhận con nít, tôi đành để chồng ra đi và ở lại với con. Tôi nghĩ thoát
được người nào hay người đó, để chồng ra đi một mình là tôi chấp nhận
sẽ vĩnh viễn mất chồng vì thời gian đó chính quyền Việt Nam chưa có sự
bang giao với các nước ngoài về vấn đề “Đoàn Tụ Nhân Đạo”. Nhưng hai
lần Vượt Biên đó không thành công, lần thứ nhất bị lộ anh chạy thoát
được nên không bị tù, còn lần thứ nhì thì đi với người em nhưng khi ra
đến bến tàu, người chủ tàu thay đổi ý kiến chỉ nhận một người thôi nên
chồng tôi nhường cho người em và người này đã đến được bến bờ Tự Do.
Lần này là lần thứ ba chồng tôi được đi với vợ con vì người chủ tàu
này nhận con nít, tưởng rằng lần ra đi này trọn vẹn không bỏ lại sau
lưng người thân yêu của mình, nhưng cuối cùng chúng tôi vĩnh viễn mất
đứa con yêu quí đầu lòng của mình, nỗi đau xót đó mãi theo chúng tôi
đến cuối cuộc đời và đó chính là cái giá cho sự Tự Do mà chúng tôi đã
chọn.
Hiện nay chúng tôi đang định cư tại Úc Đại Lơi, một quốc gia đầy
lòng nhân ái, người dân ở đây đã mở rộng vòng tay yêu thương đón nhận
và cưu mang gia đình chúng tôi trong suốt 28 năm qua và còn tiếp tục
cho đến đời các con cháu của chúng tôi nữa. Không một lời nào đủ để
diễn tả tấm lòng biết ơn sâu xa của gia đình chúng tôi đến với chính
phủ và toàn thể nhân dân của đất nước này. Chúng tôi nguyện ghi khắc
ơn sâu nghĩa nặng cho đến muôn đời.
Lý Tuyết Lê - Sydney 09/3/2009
= * =
Người kể chuyện (tác giả của bài viết này) rất mong mỏi tìm kiếm,
liên lạc được với các vị ân nhân đã từng cứu sống cô và gia đình cùng
với rất nhiều người vượt biển khác. Vậy kính xin quý vị nào làm việc
hoặc quen biết với những ai làm việc trong Bộ Quốc Phòng hoặc Hải Quân
Hoa Kỳ có được chi tiết của vị Tham Mưu Trưởng của Đệ Thất Hạm Đội
(Chief of Staff for Commander SEVENTH Fleet) ông W. Lewis Chatham, vị
Hạm Trưởng (Commanding Officer) ông John D. Chamberlain, và các thuỷ
thủ đoàn trên chiếc Soái Hạm (Command Ship) USS Blue Ridge LCC19 đặc
biệt là anh đầu bếp Clinton A. Eastwood và anh Robin (tất cả những
người này đã làm việc trên tàu này trong khoảng thời gian 1980-1982)
xin vui lòng gởi về đia chỉ email: tlblu...@gmail.com This e-mail
address is being protected from spambots. You need JavaScript enabled
to view it. Xin đa tạ!
(The rescuee wishes to make contact with those who were the saviors
of many Vietnamese boat people, including herself and her family. So
she kindly asks those with information or contact details leading to
the Chief of Staff for Commander of the SEVENTH Fleet, Captain W.
Lewis Chatham, the Commanding Officer John D. Chamberlain, and any of
the crew on board the Command Ship USS Blue Ridge LCC19, particularly
the chief cook Mr. Clinton A. Eastwood and Robin (on duty during
1980-1982). Please kindly send them to the email address:
tlblu...@gmail.com This e-mail address is being protected from
spambots. You need JavaScript enabled to view it. Very much
appreciated!)
Dưới đây là bản tóm tắt cuộc hải trình lên đênh trên biển 26 ngày
phong ba, bão táp, đói khát, chết chóc, ... do chính những người sống
sót được chiếc Soái Hạm Blue Ridge LCC19 cứu vớt kể lại bằng Anh ngữ.
Chắc hẳn quý vị cũng phải hiểu rằng họ mới được cứu sống, chưa hoàn
hồn và vẫn còn đang sống trong nỗi kinh hoàng, trong nỗi đớn đau, mất
mát người thân, ... và tuy được sự giúp đỡ của thủy thủ đoàn về một số
từ ngữ nhưng vốn liếng tiếng Anh của họ rất là it ỏi, hơn nữa lại được
viết theo lối nói và cách suy nghĩ của người Việt Nam chúng ta (nghĩ
sao nói vậy), do đó lỗi chính tả, văn phạm rất nhiều (nhưng viết được
như vậy là khá lắm rồi). Cho nên khi đọc bài này, những người mà Anh
văn là ngôn ngữ chính thì sẽ “điên đầu”, nhưng những người lớn (thuộc
thế hệ thứ nhất) thì hiểu ngay.
Câu chuyện vượt biến (bằng Anh ngữ) của những người này đã được
đánh máy và sao ra để phát cho mỗi người trong chuyến tàu vượt biển đó
một bản, và cũng được lưu giữ làm tài liệu cho chiếc Soái Hạm Blue
Ridge LCC19. Vì bản sao không được rõ cho nên xin phép được đánh máy
lại (nguyên văn) cho dễ đọc.
“The following was written by the Vietnamese refugees from the
second boat and is quoted in full:
Vietnamese refugees story of terror about 26 days on the sea (10/9
- 6/10)
After the departure of the Americans on 30/4/75, millions of
Vietnamese, having given up their properties and heritages have left
their country to get freedom. The freedom, they knew, that they must
pay by their life or their whole family life. Even with rudimental
means, many people, found their way to leave this unfortunate
miserable country. During the past 5 years the communism (has given)
to the VN people uncountable griefs and sorrows. All liberties were
cancelled even the freedom of the press and the freedom of the
religions and the economic conditions was at the worst. There we can
see anywhere, guns and jails. Used to live in freedom, never we forget
to go away. But the importance is to go away safely. We loved the
freedom and the peace but we must get assurance for the remaining
relatives in VN. We must not be caught by the communists, so the
remaining could not get any consequences. At least, we left VN in the
night 10/9. It rained but we must wait for the boat during 2 hours. We
got numbed. At 2h35 the boat went to the sea without any difficulties
with control stations Thanks to God. The wind was against us and our
captains was not experienced. Instead of reaching Hai Nam, Hong Kong,
we lost the position after 2 days. Our condition became worse because
of the lack of fuel, foof and drinking water. On the 3rd day we
conducted the boat by the sun. The 3rd night, a cyclone throwed us to
the eastern. Our life were placed in the hands of God, we could do
nothing. Each person had 1 tea-spoon of rice per day. The children
cried because of the lack of food and drinking water. We left sorrow
but could do nothing. The provisions were finished on the 6th day and
the boat went anywhere God has decided. When the last drop of water
vanished, and as it did not rain, the children began to die: one,
two, … at the fith child-death it rained. Their corpses were tied to
rock and thrown into the sea to avoid deseases. The others drank
urinate or sea-water. It was a great pain but we know that, comparing
with the freedom, the salty tatste of sea-water and the bad smell of
the urinate were nothing. We accepted these griefs without any
lamentation because we have wanted to obtain the freedom. After 7 days
of sunshine, a rain has helped us to live for one more period. Now, we
hoped our boat to be far in the south, so it increased chances of
meeting foreign ships of fishing ships. During 26 days we have met
many great ships. But they didn’t rescue us or we didn’t have any
means to make signals. We were only dry and emaciated bodies because
of the lack of nutrition.
On 6/10 in the afternoon, suddenly, a navy helicopter saw us. We
have tried to ask help and immediately LCC19 of 7th fleet rescued us
at 6 o’clock. We were very happy.
The test between life and death was passed. We know that life was
precious but the freedom was much more. The humanitarian spirit of the
Americans gave us deep emotions. They have rescued us and made we knew
that only Man of freedom would respect the dignity and the liberty of
their brothers.
In our hearts, the precious and uninterrupted take care and
services given by the Americans on LCC19, did not vanished forever. We
thank the Amrican people and we have learned from you the generosity
and the altruism and the humanitarian lesson.
The present for 33 rescued refugees, express our sincere thanks to
the whole Americans in LCC19 and we wish the other loving freedom
Vietnamese who have or are leaving VN could get luckyness and chances
like us.
Your exemplary altruism and humanitarism will certainly adjoin the
Freedom doctrine in the world; we must know that life is precious but
the freedom is much more precious.”
Trong cuốn sổ hải trình của chiếc Soái Hạm Blue Ridge LCC19 cũng có
đề cập chuyện cứu vớt chuyến tàu vượt biển kể trên -- Blue Ridge
LCC-19 Naval Cruise Book.
http://www.e-yearbook.com/yearbooks/Blue_Ridge_LCC_19_Cruise_Book/1986/Page_69.html
Dưới đây là một số hình ảnh cảnh các thuyền nhân khi được cứu vớt
lên chiếc Soái Hạm Blue Ridge LCC19 -- Vui lòng vào nối kết dưới đây
để xem hình ảnh kỷ niệm tình người của Thế Giới Tự Do.
http://picasaweb.google.com/n.9oo9le/BlueRidgeLCC19#
Ghi chú:
Các hình ảnh này là gồm những người trong 2 chiếc tàu vượt biển
được cứu vớt trong cùng một ngày (06/10/1980) -- tất cả là 92 người.
Chiếc đầu tiên phát xuất từ Vũng Tàu (55 người), khi được tàu cứu thì
còn khoẻ mạnh, nhưng những người trên chiếc thứ 2 phát xuất từ Đà Nẵng
(là chiếc tàu trong câu chuyện này -- 37 người) thì đa số đều phải nằm
ở Medical Clinic vì 26 ngày đói khát lênh đên trên biển. Chiếc tàu đi
từ Vũng Tàu được vớt trước, khi lên tàu họ báo là còn chiếc thứ 2 cùng
đi một lần với họ nhưng bây giờ không biết ở đâu. Vì vậy trực thăng đi
kiếm chiếc kia thì lại gặp được chiếc đi từ Đà Nẵng. May mắn thay!

>    http://www.bbc.co.uk/vietnamese/regionalnews/story/2005/02/050215_lex...

> ...
>
> read more »

Viet...@gmail.com

unread,
Apr 30, 2009, 4:52:27 PM4/30/09
to Kiến - Thiết

Ngày Quốc Hận

Ngày Quốc Hận 30/4 -- Kinh Hoàng - Tự Do Hay Là Chết
http://www.youtube.com/watch?v=lq9zaGGXVT8&feature=related

Ngày Quốc Hận 30/4 -- Làn Sóng Tỵ Nạn Bằng Thuyền
http://www.youtube.com/watch?v=XAK7opwww7s&feature=related

Ngày Quốc Hận 30/4 -- Tỵ Nạn Bằng Thuyền - CBS - 60 Minutes Ed Bradley
- 6/24/1979
http://www.cbsnews.com/video/watch/?id=4462053

Ngày Quốc Hận 30/4 -- 34 Năm Nhìn Lại
http://www.youtube.com/watch?v=TOgI4J-xsE4&feature=related

Ngày Quốc Hận 30/4 -- Nghĩa Trang Quân Đội Biên Hoà
http://www.youtube.com/watch?v=lcM5Zy8W3co


Anh Hùng Vô Danh

Họ là những anh hùng không tên tuổi,
Sống âm thầm trong bóng tối mênh mông.
Không bao giờ được hưởng ánh vinh quang,
Nhưng can đảm và tận tình giúp nước.

Họ là kẻ từ nghìn muôn thuở trước,
Đã phá rừng, xẻ núi, lấp đồng sâu,
Và làm cho những đất cát hoang vu,
Biến thành một giải sơn hà gấm vóc.

Họ là những anh hùng không tên tuổi,
Trong loạn ly, như giữa lúc thanh bình.
Bền một lòng dũng cảm chí hy sinh,
Dâng đất nước cả cuộc đời trong sạch.

Tuy công nghiệp không ghi trong sử sách,
Tuy bảng vàng, bia đá chẳng đề tên,
Tuy mồ hoang xiêu lạc dưới trời quên,
Không ai đến khấn nguyền dâng lễ vật.

Nhưng máu họ len vào mạch đất,
Thịt cùng xương trộn lẫn với non sông,
Và anh hồn chung với tâm tinh trung,
Đã hòa hợp làm linh hồn giống Việt.

(GS Nguyễn Ngọc Huy đã sáng tác khi ông mới 15 tuổi,
bài thơ này đã được đưa vào sách Quốc Văn Giáo Khoa Thư.)

> niên trẻ chỉ biết lái ...
>
> read more »

Message has been deleted
Message has been deleted
Message has been deleted
Message has been deleted

Viet...@gmail.com

unread,
May 2, 2009, 6:14:02 PM5/2/09
to Kiến - Thiết

Hàng Tướng Dương Văn Minh

Trong các tướng lãnh tham gia chính trường tại miền Nam Việt Nam, có
lẽ tướng có thân phận bi thảm nhất là Tướng Dương Văn Minh. Biết Dương
Văn Minh không hiểu biết gì về chính và thủ đoạn chính trị, thường suy
nghĩ và hành động theo cảm tính, lại mắc bệnh tham lam, nên Hoa Kỳ đã
biến ông thành một một công cụ đầy oan nghiệt để thực hiện chính sách
của Hoa Kỳ trong từng giai đoạn rồi loại bỏ.
Có thể coi cuộc đời và vai trò của Tướng Dương Văn Minh như là một
chương bi thảm trong lịch sử VNCH và cũng là một chương bi thảm trong
tương quan giữa VNCH và Hoa Kỳ.
Người Việt ai cũng thuộc câu “Tri bỉ tri kỷ bách chiến bách thắng”,
nhưng mặc đầu đã chiến đấu với Mỹ trong 20 năm và đã ở trên đất Mỹ 34
năm, đa số người Việt Chống Cộng không biết Mỹ và Địch đang làm gì, cứ
suy nghĩ và hành động theo cảm tính, nên đấu tranh đã 34 năm mà vẫn
chưa thấy Ánh Sáng ở Cuối Đường Hầm. Vì thế, hôm nay nhân kỷ niệm ngày
mất nước, chúng tôi xin trình bày tóm lược về một số bí ẩn và tai
tiếng chung quanh cuộc đời và vai trò của Tướng Dương Văn Minh với ước
mong mọi người có thể nhìn vào đó tìm ra bài học lịch sử khi tiếp tục
đấu tranh.

Vụ Biễn Thủ Một Thùng Phuy Vàng.
Trong cuốn “Việt Nam Một Trời Tâm Sự”, Tướng Nguyễn Chánh Thi có kể
lại:
Sáng ngày thứ 4, một toán thuyền và độ vài trăm người có súng đi ra
với nhiều lá cờ trắng xin đầu hàng. Tiếp theo là một chiếc tàu chở ông
Hồ Hữu Tường và ông Trần Văn Ân, cố vấn của Lê Văn Viễn ra điều đình.
Tướng Thi kể tiếp:
“Trong toán này có Thiếu Tá Tư Nhỏ trước kia ở Quân Đội Việt Nam Cộng
Hòa đào ngũ theo Bình Xuyên vì y là con rễ của Bảy Viễn.
“Tư Nhỏ ra đầu hàng và tình nguyện đi chỉ chỗ vàng bạc chôn giấu của
Bảy Viễn. Hắn ta nói:
“Trước đây một toán Bình Xuyên 8 người cùng chiếc du thuyền của Bảy
Viễn chở 6 thùng 200 lít đựng bạc và một thùng đựng vàng, hột xoàn đem
đi chôn giấu. Khi chôn xong rồi thì 8 người ấy đều bị giết ngay và lấp
xuống ở gần đó.
“Khi tình hình ở đây được hoàn toàn yên ổn, tôi được quan sát tận mắt
sự đào hầm giấu tiền và các bộ mặt căng thẳng của Bộ Tư Lệnh của Đại
Tá Dương Văn Minh và Trung Tá Nguyễn Khánh mà đâm ra hoài nghi.
“Trung Tá Nguyễn Khánh lúc đó chơi trò “cao bồi”, hai tay cầm hai khẩu
súng lục, miệng nói: Cấm không ai được đến gần đây cả!
“Tiền!” Thật là khó coi? Chán mắt!
“Tôi lạnh lùng cho chiếc tàu của tôi trở về vị trí đóng quân, trong
lòng tôi suy nghĩ miên man về thái độ cử chỉ của bọn họ. Tin ít mà ngờ
nhiều.” [1]
Câu chuyện về tài sản của Bình Xuyên được Tướng Thi kể lại có nhiều
điểm khác với câu chuyện do Đại Tá Nguyễn Văn Y, cựu Tổng Giám Đốc
Công An Cảnh Sát Quốc Gia, tường thuật lại dưới đây. Vì thế, một câu
hỏi đã được đặt ra: Phải chăng đây là hai số tiền và vàng khác nhau?
Chúng tôi tin rằng hai số tiền và vàng này chỉ là một, nhưng Tướng Thi
chỉ được nghe nói hay nhìn thoáng qua nên không biết chính xác, còn
Đại Tá Y là người đứng ra chỉ huy việc truy tìm số tài sản này nên câu
chuyện được ông kể lại đầy đủ và chính xác hơn. Về sau, ông Diệm cũng
chỉ ra lệnh điều tra về số tiền và vàng mà Đại Tá Y đã tìm được, chứ
không nói gì đến số tiền và vàng mà Tướng Thi đã kể.
Đại Tá Nguyễn Văn Y, cựu Tổng Giám Đốc Cảnh Sát Quốc Gia kiêm Đặc Ủy
Trưởng Phủ Đặc Ủy Trưởng Trung Ương Tình Báo của VNCH đã tường thuật
như sau:
Lúc đó ông là Tỉnh Trưởng kiêm Tiểu Khu Trưởng Chợ Lớn, chỉ huy Tiểu
Đoàn 184. Vào khoảng tháng 5 năm 1955, sau khi đánh đuổi quân Bình
Xuyên chạy vào Rừng Sát, ông đã thả các nhân viên Phòng 2 đi thăm dò
ven rừng. Các nhân viên này thấy một người đang ngồi câu cá trên một
chiếc xuồng ở một khu vắng, dáng điệu rất khả nghi, nên bắt về thẩm
vấn. Sau nhiều cuộc tra hỏi, người này thú nhận anh ta là một cận vệ
của Bảy Viễn, được phái ở lại giữ hai thùng phuy vàng và bạc đã phải
nhận chìm xuống nước trước khi chạy trốn. Ông đã cho thợ lặn xuống tìm
nhưng không thấy. Nhân viên Phòng 2 tiếp tục phỏng vấn, người này quả
quyết nơi anh ta làm dấu đúng là nơi đã nhận 2 thùng phuy xuống. Thấy
thái độ quả quyết của anh này, ông cho thợ lặn xuống mò một lần nữa,
nhưng trong một phạm vi rộng hơn. Quả nhiên, thợ lặn đã vớt được hai
thùng này cách xa nơi đánh dấu khoảng 100 thước, vì bị nước cuốn trôi
đi. Đây là thứ thùng phuy đựng dầu xăng loại 200 lít.
Công cuộc kiểm tra cho thấy một thùng đựng bạc giấy, còn một thùng
đựng vàng. Bạc giấy toàn là loại 500$, được gói trong những bao nilon
nhỏ, có nhiều bao bị nước thấm nước. Ông bảo nhân viên đem số bạc ướt
phơi khô rồi đưa tất cả đi nạp vào ngân khố. Còn thùng vàng được chở
đến giao cho Đại Tá Dương Văn Minh, Quân Trấn Trưởng Sài Gòn. Tướng
Nguyễn Khánh, lúc đó là Trung Tá Chỉ Huy Phó của Đại Tá Minh, cho biết
số vàng này khi giao nạp đã được bỏ vào trong hai cái rương, nhưng rồi
sau đó không còn nghe Dương Văn Minh nói gì về số vàng này.
Ông Diệm đã ra lệnh cho Thẩm Phán Lâm Lễ Trinh, Biện Lý Tòa Sơ Thẩm
Sài Gòn, và Thiếu Tá Mai Hữu Xuân, Giám Đốc An Ninh Quân Đội, mở cuộc
điều tra vụ này.
Ông Huỳnh Văn Lang, lúc đó là Bí Thư Liên Kỳ của Đảng Cần Lao và Tổng
Giám Đốc Viện Hối Đoái, cho biết ông Lâm Lễ Trinh đã tiết lộ rằng khi
được hỏi về số vàng này, Tướng Minh đã sừng sộ và giận dữ, nói rằng
ông Diệm là người bội bạc, ông đã giúp ông Diệm đánh dẹp Bình Xuyên mà
còn hỏi cái gì.
Ông Lang cũng cho biết ông có được đọc bản báo cáo hai trang của Đại
Tá Mai Hữu Xuân. Đại Tá Xuân chỉ xác nhận số vàng Tiểu Khu Chợ Lớn
tịch thu được đã giao cho Đại Tá Dương Văn Minh cất giữ và đề nghị nên
đem ra chia nhau! [2]
Ông Cao Xuân Vỹ cho biết khi ông Nguyễn Ngọc Thơ đề nghị cho Tướng
Dương Văn Minh chỉ huy Chiến Địch Đinh Tiên Hoàng để bắt Ba Cụt, ông
Diệm đã nói với ông Nhu: “Thôi, cho nó số vàng đó đi cho yên!”

Chứa Chấp Gián Điệp Việt Cộng.
Anh Nguyễn Tư Thái, tự là Thái Đen, Phụ Tá Trưởng Đoàn Công Tác Đặc
Biệt, cho biết vào đầu năm 1960, nhân viên của Đoàn thấy một người
thường lui tới nhà Dương Văn Minh, ở Số 3 Đường Trần Quý Cáp, Sài Gòn,
nhưng mỗi lần đi ra, anh ta thường nhìn trước nhìn sau rất kỹ, thấy
không có gì khả nghi mới bước ra. Những người bình thường không ai làm
như vậy. Một hôm, đợi anh ta ra khỏi nhà Dương Văn Minh một khoảng xa,
nhân viên tình báo liền bắt đẩy anh ta lên xe và đem về thẩm vấn. Lúc
đầu anh ta nói anh ta chỉ là người đến dạy học cho các con của Tướng
Minh. Tuy nhiên, sau nhiều cuộc thẩm vấn khéo léo, anh ta nhìn nhận
anh ta là một Ủy Viên của Huyện Ủy Thủ Đức, được phái đến gặp Dương
Văn Minh để lấy tin tức. Anh này đã bị giam giữ luôn, nhưng Dương Văn
Minh không hay biết gì cả.
Sau vụ này, Đoàn Công Tác Đặc Biệt và Tổng Nha Cảnh Sát đã bố trí
thường trực chung quanh nhà Dương Văn Minh, theo dõi từng bước đi của
những người ra vào nhà ông, quay phim và chụp hình. Điện thoại của nhà
ông cũng bị nghe lén.
Khoảng tháng 3 năm 1960, có một người có mặt mày và hình dáng rất
giống Dương Văn Minh, đã đến ở luôn trong nhà Dương Văn Minh và mỗi
lần đi đâu thường được chính Dương Văn Minh chở đi. Sưu tra hồ sơ,
nhân viên tình báo biết ngay đó là Dương Văn Nhựt, em của Dương Văn
Minh, có bí danh là Mười Tỵ, hiện đang là Thiếu Tá trong bộ đội miền
Bắc. Vợ của Dương Văn Nhựt hiện đang sống tại Sài Gòn. Theo dõi sát,
nhân viên tình báo biết được Dương Văn Nhựt đang đi vận động Phật Giáo
và Sinh Viên chống ông Diệm.
Trong cuộc phỏng vấn ngày 16/10/2004, Đại Tá Nguyễn Văn Y cho biết khi
vợ Dương Văn Nhựt có bầu gần sinh, Dương Văn Nhựt đã đưa vợ tới ở nhà
của Trung Tá Dương Văn Sơn, em của Dương Văn Minh. Lúc đó Dương Văn
Sơn đang làm Trưởng Phòng Truyền Tin của Biệt Khu Thủ Đô. Tướng Minh
thường đến nhà Dương Văn Sơn nói chuyện với Dương Văn Nhựt. Vì thế,
nhà Dương Văn Sơn cũng bị theo dõi như nhà Dương Văn Minh.
Một hôm, Tổng Thống Diệm gọi ông và bảo đem tất cả hồ sơ vụ Dương Văn
Minh vào gặp ông. Có lẽ trước đó Đoàn Công Tác Đặc Biệt đã trình nội
vụ cho Tổng Thống biết rồi.
Khi ông đem hồ sơ vào, Tổng Thống Diệm hỏi: “Dương Văn Minh có theo
Cộng Sản không?” Rồi ông nói tiếp: “Võ Nguyên Giáp nhiều công trạng
như rứa mà nay Cộng Sản chỉ mới cho lên Trung Tướng. Dương Văn Minh
công trạng có bao nhiêu đâu mà nay đã lên Trung Tướng rồi, còn muốn gì
nữa?”
Đại Tá Y nói ông vốn là đàn em và là người quen biết với Tướng Minh
nên chưa biết phải trả lời như thế nào. Tổng Thống liền đưa cho ông
cái hộp quẹt và bảo đem tất cả hồ sơ ra đốt đi. Tổng Thống nói: “Mỹ
mà nó biết được Trung Tướng của mình theo Việt Cộng thì xầu hổ lắm.
Đốt hết đi! Từ rày tôi không muốn nhắc tới cái vụ này nữa.”
Nhưng đốt hồ sơ rồi cũng chưa xong, nhân viên tình báo còn phải bắt
Dương Văn Nhựt và dẫn ông ta ra Chiến Khu để ông ta đi qua Cambodia và
trở về lại miền Bắc, với lời cảnh cáo: “Nếu trở lại sẽ bị thanh
toán”. Câu chuyện này có lẽ Tổng Cục Phản Gián của Hà Nội không hề hay
biết.
Sau đó, ông Diệm đã bảo Đại Tướng Lê Văn Tỵ, Tổng Tham Mưu Trưởng,
thông báo cho Tướng Minh biết từ nay ông ta chỉ có thể xử dụng các đơn
vị cấp đại đội trở xuống mà thôi. Tướng Minh biết lý do tại sao, nhưng
các Cố Vấn Mỹ không biết chuyện gì đã xẩy ra, nên rất thắc mắc. Họ
nghĩ rằng ông Diệm sợ Tướng Minh làm Đảo Chánh nên mới hạn chế như
vậy. Ngày 18/7/1962, ông Diệm thông báo cho Tướng Harkins biết ông
Quyết Định hủy bỏ chức Tư Lệnh Bộ Tư Lệnh Hành Quân của Tướng Minh vì
ông ta “Thiếu Khả Năng.” Ngày 8/12/1962 Trung Tướng Dương Văn Minh
được cử làm Cố Vấn Quân Sự Phủ Tổng Thống, một chức vụ được coi như
“Ngồi Chơi Xơi Nước”.
Sau này, báo Tuổi Trẻ Chúa Nhật của Việt Cộng trong số ra ngày
1/9/1996, dưới đầu đề “Tướng Dương Văn Minh dưới mắt các nhà binh địch
vận”, đã tường thuật lại mối quan hệ giữa Tướng Dương Văn Minh và
người em là Dương Văn Nhựt như sau:
“Năm 1960, Mười Tỵ, thiếu tá thuộc Bộ Tổng Tham Mưu Quân Đội Nhân Dân
Việt Nam - được lệnh về Nam nhận công tác đặc biệt. Nhiệm vụ của ông
là quan hệ, tranh thủ người anh ở bên kia chiến tuyến, Đại Tướng Dương
Văn Minh. Sau khi vượt Trường Sơn vào Nam, Thiếu Tá Dương Văn Nhựt,
tức Mười Tỵ, đã được Ban Binh Vận Trung Ương Cục tìm mọi cách đưa vào
Sài Gòn. Thông qua một người em gái, ông Mười Tỵ đã đến được và ở lại
nhà của Dương Văn Minh suốt một tuần lễ. Hai anh em ở hai phía chiến
trận gặp gỡ hàn huyên. Bằng tình cảm gia đình, ông Mười Tỵ thuyết phục
Tướng Minh. Từ đó, ông Mười Tỵ cứ phải đi về trong “vùng địch” hoặc ra
nước ngoài để tiếp xúc và gặp gỡ anh mình. Khi Dương Văn Minh lưu vong
ở Thái Lan, ông Mười Tỵ cũng được bố trí sang Thái Lan qua ngã
Campuchia. Ông đến Nam Vang, sống trong nhà một Hoa kiều. Tại đó,
trong vòng một tháng, ông vừa học bằng sách vở, vừa thực tập giao tiếp
để nói tiếng Hoa hòng để nhập vai người đi buôn. Có khi từ Nam Vang
ông phải bay lòng vòng sang Ý, rồi từ Ý được cơ sở Việt Kiều đón về
Pháp để móc nối chị dâu (vợ của Tướng Minh) từ Thái Lan qua liên lạc”.
Bài báo viết thêm:
“Kể từ 1972, bộ đội bắt đầu mở nhiều trận đánh lớn, nên Mười Tỵ được
lệnh không ra vùng địch và ra nước ngoài nữa vì “sợ rủi ro làm hỏng ý
đồ chiến lược”, nên việc móc nối với Dương Văn Minh được giao cho
Nguyễn Hữu Hạnh.”

Bị Biến Thành Tên Đao Phủ Của Mỹ.
Vì không hiểu gì về thủ đoạn chính trị, Dương Văn Minh đã bị Hoa Kỳ
biến thành tên Đao Phủ thanh toán Tổng Thống Ngô Đình Diệm, ông Cố Vấn
Ngô Đình Nhu và ông Ngô Đình Cẩn rồi sau đó loại bỏ.
1.- Giết Tổng Thống Ngô Đình Diệm và ông Cố Vấn Ngô Đình Nhu.
Biết Tướng Dương Văn Minh đang bất mãn với ông Diệm nên CIA thuyết
phục ông ta làm Đảo Chánh lật đổ ông Diệm. Dương Văn Minh đồng ý ngay.
Trên danh nghĩa, ông ta là Người Chỉ Huy Cuộc Đảo Chánh, nhưng bên
trong CIA chỉ giao cho ông ta một nhiệm vụ duy nhất là thanh toán Nhà
Ngô. Còn việc lập kế hoạch và Chỉ Huy Cuộc Đảo Chánh được trao cho
Tướng Trần Thiện Khiêm.
Khi tiến hành Cuộc Đảo Chánh, Tướng Dương Văn Minh đã ra lệnh hạ sát
Đại Tá Hồ Tấn Quyền, Tư Lệnh Hải Quân; Đại Tá Lê Quang Tung, Tư Lệnh
Lực Lượng Đặc Biệt, và Thiếu Tá Lê Quang Triệu, Tham Mưu Trưởng Lực
Lượng Đặc Biệt.
Khi được ông Diệm báo tin đang ở nhà thờ cha Tam, Dương Văn Minh đã
cho lập “Toán Hành Quyết” đi đón và giết ông Diệm và ông Nhu. Toán này
do Đại Tá Mai Hữu Xuân cầm đầu. Tướng Minh cho Đại Úy Nguyễn Văn
Nhung, cận vệ của mình, đi theo làm sát thủ.
Khi xác ông Diệm đưa về Tổng Tham Mưu, một quân cảnh cho biết chính
mắt ông ta thấy Tướng Dương Văn Minh đã xuống lột quần ông Diệm ra xem
có “chim” hay không.
Tướng Trần Văn Đôn cho biết khi hay tin hai ông đã chết, ông rất xúc
động và đến hỏi Dương Văn Minh:
-Tại sao hai ông ấy chết?
Ông Minh có vẽ khó chịu, trả lời bằng tiếng Pháp: Ils sont morts! Ils
sont morts! (Mấy ông ấy chết rồi, thì chết rồi) [3]
2.- Giết ông Ngô Đình Cẩn.
Chính Tướng Nguyễn Khánh đã cho soạn thảo và ban hành Sắc Luật Số 4/64
ngày 28/2/1964 thiết lập Toà Án Quân Sự đưa ra những quy định trái với
nguyên tắc bất hồi tố của hình luật, và cử nhóm tay chân bộ hạ vào làm
“Phán Quan” để tuyên án tử hình ông Cẩn. Sắc Luật lại quy định rằng
các bị cáo không có quyền kháng cáo hay thượng tố. Bị cáo bị án tử
hình có thể đệ đơn xin ân xá lên Quốc Trưởng trong thời hạn 24 tiếng
đồng hồ. Trong trường hợp phạm nhân bị xử tử hình đã đệ đơn ân xá, án
tử hình sẽ thi hành trong hạn 5 ngày kể từ khi tuyên án, nếu trong hạn
đó, đơn xin ân xá không được chấp thuận. Những sự Quy Định này nhắm
gài Tướng Dương Văn Minh, lúc đó đang là Quốc Trưởng bù nhìn, vào cái
thế phải chịu trách nhiệm giết ông Cẩn.
Mặc dầu đứng đàng sau Tướng Khánh trong vụ làm luật giết ông Cẩn và
biết chắc ông Cẩn phải bị giết, Đại Sứ Cabot Lodge giả vờ đứng ra làm
con thoi, đề nghị Tướng Minh ân xá cho ông Cẩn. Tướng Minh biết mình
bị gài nên nói với Đại Sứ Lodge: “Khánh luôn luôn tìm cách đặt tôi
vào tình trạng khó khăn (He always tries to put me in the difficult
position). Tôi sẽ bị cả nước thù ghét và tố cáo nếu tôi ân xá Cẩn.”
Đại Sứ Lodge nhận xét: “Rõ ràng là Khánh đang sắp xếp các sự việc để
cho Minh gánh lấy tất cả trách nhiệm nếu không hành quyết Cẩn.”
Hôm 5/5/1964 Tướng Dương Văn Minh đã ký Quyết Định bác đơn xin ân xá
của ông Cẩn và trở thành tên Sát Thủ ông Cẩn!

Bị Đưa Ra Làm Hàng Tướng.
Vào tháng 4 năm 1975, Hoa Kỳ thấy tình hình miền Nam Việt Nam không
còn cứu vãn được, nên đã sắp xếp cho miền Nam đầu hàng Bắc Việt để
tránh sự đổ máu quá nhiều. Biết Tướng Dương Văn Minh có liên lạc với
Việt Cộng, Đại Sứ Martin của Mỹ đã phối hợp với Đại Sứ Merillon của
Pháp thuyết phục Tướng Thiệu từ chức và lừa Tướng Dương Văn Minh ra
làm Hàng Tướng bằng cách tạo cho ông một ảo vọng rằng chỉ có ông mới
có thể nói chuyện với “Phía Bên Kia” để hình thành một “Chính Phủ Liên
Hiệp Quốc - Cộng!”
Trong cuốn Decent Interval, Frank Snepp, một phân tích viên của CIA ở
Sài Gòn lúc đó, nói rằng tại miền Nam lúc đó, không ai tin Hà Nội có
thể chấp nhận một giải pháp khi họ đang trên đà chiến thắng. Ông Vũ
Văn Mẫu cũng đã nhận ra được điều đó nên khi gặp Đại Sứ Merillon, ông
đã nói với ông Đại Sứ bằng tiếng Latin rằng nếu giải pháp một Chính
Phủ Liên Hiệp không thành thì xin giúp ông được ra đi.
Frank Snepp cho biết thêm:
“Khi tôi đang bận đánh máy bản báo cáo thì Polgar ở trong phòng riêng
với các viên chức khác của Trạm Tình Báo (Toà Đại Sứ) thảo luận về
việc chuyển giao nhanh quyền hành. Một khi Thiệu từ chức, Phó Tổng
Thống Trần Văn Hương phải trao quyền hành ngay lập tức cho Minh “Lớn”,
và Quốc Hội phải sẵn sàng chấp thuận sự chuyển giao, để sự chuyển giao
đó có thể được thực hiện “Một Cách Hợp Hiến” (nhấn mạnh của Đại Sứ
Martin) và “Nhanh Chóng”. [4]
Sau khi ép buộc Tướng Nguyễn Văn Thiệu từ chức Tổng Thống, Mỹ thúc đẩy
Phó Tổng Thống Trần Văn Hương trao quyền lại cho Tướng Dương Văn Minh
để Đầu Hàng Việt Cộng, nhưng ông Trần Văn Hương không hiểu gì về tình
hình lúc đó nên tìm cách cù cưa. Ông bí mật đến gặp Tướng Minh và yêu
cầu Tướng Minh làm Thủ Tướng, nhưng Tướng Minh từ chối. Tuy nhiên, do
sự thúc đẩy của CIA và một số nhân vật chính trị, cuối cùng ông cũng
đồng ý trao quyền cho Tướng Minh với điều kiện phải có sự Quyết Định
của Quốc Hội.
Ngày 26/4/1975 lưỡng viện Quốc Hội đã họp tại Thượng Viện dưới quyền
chủ toạ của ông Trần Văn Lắm, Chủ Tịch Thượng Viện, để đưa Tướng Dương
Văn Minh lên làm Tổng Thống. Có 136 trong số 219 Nghị Sĩ và Dân Biểu
đến họp. Sau khi Đại Tướng Cao Văn Viên, Tổng Tham Mưu Trưởng Quân Lực
VNCH, và Tướng Nguyễn Khắc Bình, Tổng Giám Đốc CSQG trình bày về tình
hình, Quốc Hội bắt đầu thảo luận về việc trao quyền cho Tướng Dương
Văn Minh. Có rất nhiều sự bất đồng về việc trao quyền, nhiều người cho
rằng sự trao quyền này là Bất Hợp Hiến. Nhưng các nhóm vận động hậu
trường đã hoạt động rất ráo riết nên cuối cùng, lúc 20 giờ 54 phút,
Quốc Hội đã Biểu Quyết chấp thuận trao quyền cho Tướng Dương Văn Minh
với số phiếu 147 / 151.
Chiều 28/4/1975, Tướng Dương Văn Minh đã nhận chức Tổng Thống. Lễ bàn
giao được diễn ra tại Phòng Khánh Tiết của Dinh Độc Lập.
Cũng trong chiều 28/4/1975, Đô Đốc Chung Tấn Cang, Tư Lệnh Hải Quân,
vào Dinh Hoa Lan gặp Tướng Minh cho biết tình hình và hỏi Tướng Minh
có định ra đi không. Tướng Minh cho con gái là Dương Mai, con rễ là
Đại Tá Nguyễn Hồng Đài và hai cháu ngoại lên tàu Di Tản với Đô Đốc
Cang, còn ông và bà Minh ở lại.
Đêm 29/4/1975, Tướng Minh vào Ngũ trong Dinh Độc Lập để tránh pháo
kích. Lúc đó, ông chỉ còn hy vọng Thượng Tọa Thích Trí Quang, người
hứa sẽ đưa người “Phía Bên Kia” đến Thương Lượng để thành lập Chính
Phủ Liên Hiệp. Tướng Nguyễn Hữu Có kể lại, lúc 4 giờ 35 sáng ngày
30/4/1975, Thích Trí Quang đã nói với Dương Văn Minh qua điện thoại:
“Thưa Tổng Thống, cũng như Tổng Thống là tôi vẫn chờ đến giờ nầy và
theo tôi nghĩ có lẽ với tình thề hiện tại, trong sứ mạng của tôi,
người đứng trung gian bắc nhịp cầu của thế cờ Chính Trị, có thể nói là
chấm dứt. Với trọng trách là Tổng Thống, hơn nữa là một Đại Tướng, tôi
nghĩ công việc phải nhờ vào tài Quân Sự của Đại Tướng, chứ giải pháp
Chính Trị của tôi coi như chấm dứt, và từ giờ phút này nếu có chuyện
gì xẩy đến thì mọi trách nhiệm đều do Tổng Thống, à quên Đại Tướng
quyết định với Giải Pháp Quân Sự, mà trong lãnh vực này Đại Tướng rất
rành và giỏi hơn tôi. Xin chào Tổng Thống ...”.
Dương Văn Minh chỉ trả lời gọn một câu: “Thầy giết tôi rồi!” và cúp
máy điện thoại.
Lúc đó là 4 giờ 45 phút sáng.
Frank Snepp kể lại, sau đó Tướng Minh đi đi lại lại một cách bực dọc
(nervously) trong Dinh Độc Lập trống vắng. Đoàn Sứ Giả đi thương lượng
ở Tân Sơn Nhứt không thấy về. Có người khuyên ông nên tuyên bố đầu
hàng vô điều kiện, nhưng ông không đồng ý. Ông nói rất nhiều đồng bào
của ông sẽ khinh ông. (Too many of his countrymen would think ill of
him). Ông muốn hoản lại chuyện này cho đến khi Nội Các được thành lập.
Khi đó ít ra những người khác phải chia xẻ sự sỉ nhục. [5]
Lúc 8 giờ 30, ông đến Phủ Thủ Tướng thảo luận lại thành phần Chính Phủ
của Vũ Văn Mẫu rồi quay về Dinh Độc Lập làm lễ ra mắt.
Lúc 10 giờ 15 sáng ngày 30/4/1975, khi thấy không còn gì để hy vọng
nữa, Dương Văn Minh lên tiếng trên Đài Phát Thanh Sài Gòn kêu gọi Quân
Nhân, Cảnh Sát và các Lực Lượng Bán Quân Sự “Giữ vị trí, buông súng để
bàn giao chính quyền trong vòng trật tự”. Lúc 11 giờ 30, chiếc xe tăng
Cộng Sản đầu tiên loại T-54 tiến trên Đại Lộ Thống Nhứt về phía Dinh
Độc Lập, ủi sập cổng, sau khi bắn hai phát đại bác long trời lở đất.
Tiếng chân chạy ồn ào trong Đại Sảnh, có tiếng đạn lên nòng, một khẩu
lệnh vang lên: “Mọi người đi ra khỏi phòng ngay!” Dương Văn Minh là
người bước ra đầu tiên, Thiếu Tá tùy viên Hoa Hải Đường đi bên cạnh,
phía sau là Vũ Văn Mẫu, Nguyễn Văn Huyền .... Nhiều Bộ Đội ở đầu kia
Đại Sảnh hét to: “Mọi người giơ hai tay lên!”. Dương Văn Minh, Vũ Văn
Mẫu và Đoàn Tùy Tùng nhất loạt tuân lệnh.
Hai ông Minh và ông Mẫu được đưa đến Đài Phát Thanh Sài Gòn để đọc Lời
Đầu Hàng. Nhưng khi hai ông vào bên trong Đài Phát Thanh thì không còn
nhân viên Kỹ Thuật nào ở đó để làm công việc thu băng. Sinh Viên
Nguyễn Hữu Thái phải mất hai tiếng mới tìm ra nhân viên Kỹ Thuật. Bản
Tuyên Bố Đầu Hàng do Chính Trị Viên Bùi Văn Tùng thảo, ông Minh đọc và
Đài Phát Thanh phát đi vào lúc 13 giờ 30.
Tính lại, Dương Văn Minh đã làm Tổng Thống không tới 40 tiếng đồng
hồ: Nhận chức vào chiều 28 tại Dinh Độc Lập đến trưa 30/4/1975 đã
tuyên bố đầu hàng!

Nhìn Lại Con Người Của Dương Văn Minh.
Tướng Nguyễn Chánh Thi tiết lộ rằng khi còn ở Pháp, Tướng Dương Văn
Minh có gởi cho ông một lá thư đề ngày 15/4/1987, trong đó có đoạn như
sau:
"Thi,
“Được tin Thi tôi rất mừng. Lúc nào tôi cũng nhớ anh em thuở xưa, mà
tôi còn lưu lại rất nhiều kỷ niệm.
“Từ khi tôi đến nước Pháp tới nay, lật bật đã gần sáu năm rồi, sống
với một cuộc đời réfugié tuy có thong thả nhưng lúc nào cũng bận tâm.
Thoát được chế độ Cộng sản với hai bàn tay không -- Pháp chẳng giúp đỡ
gì -- mình sống ẩn thân trong một đô thị thật nhỏ, kể ra cũng tạm yên.
“Nghe Thi kể chuyện các anh em quân nhân, tôi rất khổ tâm. Lúc đó tôi
bị đày ở Bangkok cho nên có nhiều việc tôi không được rõ hết.
“Anh em có đọc sách của anh Đỗ Mậu kể chuyện lại cho tôi nghe; tôi
phải công nhận anh Đỗ Mậu kể chuyện như vậy là rất can đảm. Lên án Cần-
lao và Công-giáo đến mức đó là cùng. Ngoài ra, anh Đỗ Mậu có trách tôi
không biết tự tử như các bực tiền bối, cũng có phần đúng. Nhưng đây
chỉ là một vấn đề quan niệm mà thôi.
“Theo tôi, tự tử không phải lúc nào cũng là đúng. Đôi khi mình phải
dám sống để hứng nhận những hậu quả cho sự quyết định của mình gây
ra ...”.
Thân phận của Tướng Minh đã bị Hoa Kỳ biến thành một cái mền rách,
nhưng vì quá yếu kém về chính trị, nên cho đến khi gần tới giờ về cỏi
âm, ông vẫn chưa nhận ra được! Lãnh đạo mà như thế, mất miền Nam là
chuyện không có gì đáng ngạc nhiên.
Nhìn lại con người của Dương Văn Minh, chúng ta thấy có 3 đặc điểm sau
đây:
Thứ Nhất là tham nhũng và thiếu trách nhiệm:
(1) Biển thủ một thùng phuy vàng lấy được của Bình Xuyên và một số
tiền bạc thu được sau Cuộc Đảo Chánh 1/11/1963. Cho một tay chân bộ hạ
nổi tiếng tham những là Tướng Mai Hữu Xuân kiêm ba chức quan trọng
cùng một lúc để truy lùng tài sản và khảo của các viên chức chế độ cũ,
đó là Tổng Giám Đốc Cảnh Sát Quốc Gia, Đặc Ủy Trưởng Phủ Đặc Ủy Trung
Ương Tình Báo và Đô Trưởng Sài Gòn. Tướng Xuân đã nhận cả tiền của
Việt Cộng để thả các Cán Bộ Cao Cấp của Việt Cộng ra.
(2) Không quan tâm đến tình hình miền Nam sau Cuộc Đảo Chánh và có
quyết định sai lầm: Ra lệnh phá hủy các ấp chiến lược đã được thiết
lập để đối phó với Cộng Sản, đưa miền Nam tới bờ vực thẳm khiến Hoa Kỳ
phải thực hiện “Pentagon’s coup” để lật đổ và đưa quân vào miền Nam
cứu vãn tình thế.
Thứ Hai là ngố:
Mặc dầu làm việc với Hoa Kỳ và hành động theo sự xúi biểu của Hoa Kỳ,
ông không hiểu gì về Chính Sách và Thủ Đoạn của Hoa Kỳ trong từng giai
đoạn, nên đã bị Hoa Kỳ biến thành công cụ:
(1) Ông bị biến thành một tên Sát Thủ giết Tổng Thống Ngô Đình Diệm,
ông Cố Vấn Ngô Đình Nhu và ông Ngô Đình Cẩn thay cho người Mỹ khi Hoa
Kỳ muốn thay đổi chính sách. Nhưng chỉ một thời gian ngắn sau đó ông
bị Hoa Kỳ loại và đưa những tay chân bộ hạ của CIA lên cầm quyền.
(2) Khi Miền Nam sắp sụp đổ, ông bị Hoa Kỳ lường gạt bằng chiêu bài
“Hoà Giải Hoà Hợp” để đưa ông ra làm Hàng Tướng!
Thứ Ba là hèn:
(1) Thiếu Tá Nguyễn Văn Nhung, cận vệ thân tín của ông, được ông phái
đi giết Đại Tá Lê Quang Tung và Thiếu Tá Lê Quang Triệu, sau đó hạ sát
ông Diệm và ông Nhu. Ấy thế mà sáng 30/1/1964, khi Lính Nhảy Dù bắt
Thiếu Tá Nhung trước mặt ông và dẫn đi, rồi tối hôm đó hạ sát, ông
chẳng có một lời nào!
(2) Sáng ngày 30/4/1975, Bộ Chỉ Huy III Chiến Thuật của Liên Đoàn 81
Biệt Cách Nhảy Dù đang quần thảo với Việt Cộng trước cổng Bộ Tổng Tham
Mưu ở Lăng Cha Cả thì Tổng Thống Dương Văn Minh ra lệnh đầu hàng.
Thiếu Tá Phạm Châu Tài, Chỉ Huy Trưởng Bộ Chỉ Huy III Chiến Thuật, đã
nói chuyện với Tổng Thống Dương Văn Minh qua điện thoại:
-Tôi là Chỉ Huy Trưởng cánh quân đang tử chiến với Việt Cộng ở Bộ Tổng
Tham Mưu, tôi đang cố liên lạc với Bộ Tổng Tham Mưu thì lệnh ngưng
chiến đã ban ra và quân của Việt Cộng vẫn còn đang tiến về thủ đô. Tôi
vào trong Bộ Tổng Tham Mưu thì không còn một Tướng Lãnh nào ở đây, họ
đã bỏ chạy hết, do đó tôi muốn nói chuyện với Tổng Thống để xin quyết
định.
Tổng Thống Minh trả lời:
-Các em chuẩn bị Bàn Giao đi.
Thiếu Tá Tài hỏi lại:
-Có phải là Đầu Hàng không?
Tổng Thống Minh trả lời:
-Đúng vậy, ngay bây giờ xe tăng của Việt Cộng đang tiến vào Dinh Độc
Lập.
Thiếu Tá Tài nói:
-Nếu xe tăng của Việt Cộng tiến về Dinh Độc Lập thì chúng tôi sẽ đến
cứu Tổng Thống. Nếu Tổng Thống ra lệnh Đầu Hàng thì Tổng Thống có chịu
trách nhiệm với hơn 1000 quân đang tử chiến ở Bộ Tổng Tham Mưu hay
không?"
Tổng Thống Minh trả lời:
-Tùy ý các anh em.
Nói xong cúp máy!
(3) Ký giả Borries Gallasch, phóng viên tờ Der Spiegel của Đức, người
Ký Giả ngoại quốc duy nhất có mặt trong Dinh Độc Lập vào sáng
30/4/1975, đã kể lại thái độ của Tướng Dương Văn Minh khi đối diện với
các Bộ Đội Cộng Sản đến bắt ông đầu hàng như sau: Đại Tướng Dương Văn
Minh im lặng. Dưới chiếc mũ cối, những người Lính Bộ Đội nhìn ông Minh
với vẻ tò mò .... Cuối cùng ông Minh đã lên tiếng, hỏi một người
lính: “Em trai của tôi hiện nay ra sao? Khi nào tôi có thể gặp chú
ấy?”.
Làm Tướng mà phải Đầu Hàng là nhục rồi, nhưng lại còn hèn hơn nữa khi
Nói Mé cho những tên Bộ Đội nhỏ bé của Cộng Quân biết rằng ông có
người em theo Việt Cộng là Dương Văn Nhựt để chứng tỏ ta đây cũng
thuộc “Gia Đình Cách Mạng”!

Những Ngày Cuối Cùng.
Ngày 8/8/1983, Dương Văn Minh, được cầm quyền Hà Nội cho phép Di Cư
sang Pháp và sống với hai người con trai là Dương Minh Đức và Dương
Minh Tâm. Khoảng năm 1988, ông Âm Thầm qua Pasadena, Nam California,
Hoa Kỳ, và sống với con gái là Dương Mai đang định cư ở đó. Trong
những ngày còn lại của cuộc đời, Tướng Dương Văn Minh phải sống trong
bóng tối, không dám gặp Cộng Đồng Người Việt tại đây.
Ngày 5/8/2001, ông bị té từ xe lăn, được đưa vào bệnh viện Huntington
Memorial Hospital và qua đời ngày hôm sau, hưởng thọ 86 tuổi. Linh cữu
ông cũng được phủ Cờ Vàng Ba Sọc Đỏ, được di chuyển lên xe bởi 6 người
thân gồm các ông Hoa Hải Đường, Nguyễn Hồng Đài, Trịnh Bá Lộc, Hoa Hải
Thọ, Ngô Long và Nguyễn Trí Dũng. Sau đó, linh cửu ông đã được hoả
thiêu trưa thứ bảy 18/8/2001 vào lúc 12 giờ tại Vãng Sanh Đường
Skyrose thuộc Nghĩa Trang Rose Hill, Nam California.
Lữ Giang - 29/4/2009

Ghi chú:
[1] Nguyễn Chánh Thi, Việt Nam: Một trời tâm sự, Xuân Thu, Hoa Kỳ
1987, tr. 27 và 28.
[2] Huỳnh Văn Lang, Nhân chứng một chế độ, Tập II, California, Hoa Kỳ,
tr. 66 - 70.
[3] Trần Văn Đôn, Việt Nam nhân chứng, Xuân Thu, California, Hoa Kỳ
1989, tr. 231.
[4] Frank Snepp, Decent Intreval, Random House, New York, 1977, tr.
382 - 383.
[5] Frank Snepp, Decent Intreval, Random House, New York, 1977, tr.
540.

On Apr 30, 1:52 pm, VietPJ...@gmail.com wrote:
>          Ngày  Quốc  Hận
>

> Ngày Quốc Hận 30/4 -- Kinh Hoàng - Tự Do Hay Là Chếthttp://www.youtube.com/watch?v=lq9zaGGXVT8&feature=related
>
> Ngày Quốc Hận 30/4 -- Làn Sóng Tỵ Nạn Bằng Thuyềnhttp://www.youtube.com/watch?v=XAK7opwww7s&feature=related


>
> Ngày Quốc Hận 30/4 -- Tỵ Nạn Bằng Thuyền - CBS - 60 Minutes Ed Bradley

> - 6/24/1979http://www.cbsnews.com/video/watch/?id=4462053
>
> Ngày Quốc Hận 30/4 -- 34 Năm Nhìn Lạihttp://www.youtube.com/watch?v=TOgI4J-xsE4&feature=related
>
> Ngày Quốc Hận 30/4 -- Nghĩa Trang Quân Đội Biên Hoàhttp://www.youtube.com/watch?v=lcM5Zy8W3co

> ...
>
> read more »

Viet...@gmail.com

unread,
May 4, 2009, 2:16:43 PM5/4/09
to Kiến - Thiết

Khi Người Cộng Sản Tự Thấy Ngây, Thơ, Ngu, Dại

30 Tháng 4 lại đến.
Đã 19 năm, tôi là nhà báo tự do trên đất Pháp, đất của Tự do-Bình
đẳng-Bác ái, những lẽ đời đẹp đã được vận khá rõ vào cuộc sống, tuy
còn phải hoàn thiện mãi.
Dịp này, nhiều người hỏi vui buồn, được mất, tôi trả lời: Có vui
có buồn, có được có mất. Vui sướng nhất là có tự do nghĩ, viết, nói;
mừng nhất là có rất nhiều bạn tốt mới, ở khắp nơi; may nhất là được xã
hội chăm sóc, chữa bệnh, nằm bệnh viện, thuốc men, đi lại không mất xu
nào (mỗi tháng trung bình tôi dùng 200 Euro = 5 triệu đồng VN thuốc
trợ tim; đi métro, bus, xe lửa trong Paris rộng lớn được xã hội bao
hết, tính ra chừng 60 Euro = 1 triệu rưỡi đồng / tháng), lại được xã
hội trả tiền nhà do chính sách giúp người tỵ nạn chính trị (mỗi tháng
240 Euro = 6 triệu đồng VN nữa).
Bạn bè tôi thường nói: Ở đây mới thật là "xã hội chủ nghĩa". Bình
đẳng hầu như tuyệt đối. Vào bệnh viện, không ai hỏi cán bộ cấp gì,
lương loại nào, anh clochard (kẻ không nhà) với chủ tư bản, thị
trưởng, nghị sỹ đều nằm buồng như nhau, thuốc tốt nhất như nhau.
Cho nên thương bà con ta trong nước bị đánh lừa về tính ưu việt của
CNXH, thương 15 nghìn anh chị em đồng nghiệp bị mất tự do, thông cảm
với những nhà báo XHCN (!) Tuổi Trẻ, Đại đoàn kết, Thanh niên, Du
lịch, Pháp luật, Du lịch ... không được tự do nói và viết, còn bị mất
việc, đi tù; xót xa cùng các nhà văn, tác phẩm in ra bị thu hồi, bị
cấm đoán, treo bút một cách phi lý và phi pháp.
Tôi đặc biệt thương cảm hơn 2 triệu đảng viên CS là đồng chí cũ của
tôi, đang sống cảnh "cá chậu chim lồng", ở lại trong đảng không yên
vui, thoát ra không dễ, nhạt nhẽo về lý tưởng, không còn quãng đời
lãng mạn cách mạng khi xưa, phơi phới niềm tin, mê say lý tưởng, tự
hào về danh nghĩa đảng viên. May cho tôi là quãng đường ảo tưởng ấy đã
sớm kết thúc từ gần 20 năm, sớm hơn các bạn, đang còn nặng nợ hôm nay.
Cuộc sống luôn đổi thay, theo lẽ thường tình của muôn loài. Huống
gì là những sự vật đã rữa nát từ bên trong do bất công và tội ác. Phe
XHCN xưa kia tưởng như sắp bao trùm toàn thế giới, thì bỗng nhiên đổ
sập, với bức tường Berlin vỡ nát ngày 9/11/1989, được Liên Minh Châu
Âu đánh dấu là Ngày lịch sử của Thế kỷ, ngày mở đầu cuộc Giải phóng
Đông Âu khỏi hiểm họa Công sản, ngày lịch sử kết thúc cuộc Chiến tranh
Lạnh, ngày mở đầu kỷ nguyên trên trái đất quét sạch chủ nghĩa công sản
hiện thực như một lầm lỡ, một quái thai của lịch sử.
Từ ngày lịch sử ấy, đã có bao nhiêu cuộc nghiên cứu khoa học mới
mẻ, nhìn lại và đánh giá thấu đáo cuộc Cách mạng tháng Mười Nga, đánh
giá thấu đáo các nhân vật Marx, Lénine, Staline, Mao Trạch Đông, Hồ
Chí Minh, uốn nắn những lệch lạc, đính chính những ngộ nhận, xác minh
các sự kiện, định vị các nhân vật lịch sử, xác lập hồ sơ công - tội
phân minh của mỗi nhân vật.
Bộ chính trị Hà Nội chúa sợ những ánh sáng chứa sự thật trên đây,
ngăn cản lọt vào Việt Nam, nhưng thời đại của thông tin quốc tế nhanh
nhậy đã chọc thủng màn che cổ lỗ. Cả một mảng trí thức, tuổi trẻ Việt
Nam biết rõ rằng CNXH hiện thực đang sống những giờ phút hấp hối, dù
là CNXH ở Cuba, Bắc Hàn hay là CNXH ở Trung quốc, Việt Nam.
Ở trong nước, những đánh giá lại các nhân vật Phan Thanh Giản (yêu
nước, không bán nước), Vũ Trọng Phụng (phê phán xã hội chứ không sa
đoạ đồi truỵ), Phạm Quỳnh (tiến bộ, dân tộc, hoàn toàn không Việt
gian), Nguyễn Văn Vĩnh (canh tân văn hoá chứ không tay sai thực dân
Pháp), Phan Chu Trinh (cách mạng dân chủ tiền phong, không phải là kẻ
cải lương lạc hậu) ... là những bước đi vững chãi trên con đường trong
sáng, minh bạch, công khai và công bằng. Các uỷ viên bộ chính trị cứ
việc lườm nguýt, nhưng không ngăn chặn được trào lưu do các trí thức
dân tộc (có cả đảng viên vượt rào) dẫn đầu với tinh thần dân tộc và
yêu nước, những người đã tỏ ra vượt xa tất cả 15 nhân vật lãnh đạo
chóp bu.
Ngay cả ông Hồ Chí Minh cùng những "đồng chí cộng sản" trước và sau
ông cũng đang và sẽ được trí thức dân tộc cùng toàn dân thời này đánh
giá lại một cách minh bạch, công bằng, chuẩn xác, sau một thời gian
lắng đọng, chiêm nghiệm.
Chính những ánh sáng thời đại rọi chiếu vào đảng CS chuyên sống nhờ
cậy vào bóng tối mà nhiều đảng viên thức tỉnh, nhận ra mình đã từng
ngu tối, dại khờ, sai đường lạc lối, phí cả tuôi thanh xuân. Họ cay
đắng nhưng thanh thản phản tỉnh, hoặc công khai, hoặc âm thầm. Không
ít người tên tuy còn trong đảng mà tâm trí đã ở ngoài xa, làm cho cả
ban tổ chức và ban tuyên huấn trung ương đảng phải kêu trời lên rằng
ngày càng có nhiều đảng viên "nhạt đảng", "nhạt lý tưởng cộng sản",
"từ bỏ sinh hoạt đảng", "nhiều đảng viên vô kỷ luật, phát ngôn bừa
bãi, tự do quá trớn trong lập trường chính trị"!
Họ tìm hiểu tấm gương Trần Độ, trung tướng một thời, tự nhận mù
quáng mụ mị hằng mấy chục năm, không nhận ra sự lừa dối có hệ thống
của đảng, không sớm thấy chế độ này về tự do báo chí còn kém xa thời
thuộc địa Pháp, mụ mị lâu nên sùng bái Staline khi ông ta tàn ác hơn
cả Hit-le, mụ mị lâu nên sùng bái Mao khi Mao thật ra còn ác hơn Tần
Thuỷ hoàng.
Họ biết tấm gương trong sáng của đảng viên CS kỳ cựu Nguyễn Khắc
Viện, con cả Cụ Hoàng Giáp Nguyễn Khắc Niêm [tôi từng nghe dân Hà Tĩnh
kể trong Cải cách ruộng đất cụ tuy từng được ông Hồ Chí Minh phong làm
bộ trưởng không bộ của Chính phủ kháng chiến, vẫn bị đội cải cách coi
là địa chủ đầu sỏ, giam vào chuồng nuôi hươu, Cụ mất khi phải nằm trên
nền đất ẩm không chiếu không chăn] - anh Viện từng là Chủ tịch Hội
Việt kiều ở Pháp, về nước năm 1963, đến năm 1992, vào cuối đời nghĩ kỹ
lại mới ngộ ra là mình đã một thời ngây thơ, "thơ" là đã nhẹ dạ non
nớt như trẻ thơ, đặt niềm tin vào đảng CS, "ngây" là đã ngây ngô dớ
dẩn đi tin vào CNXH hiện thực!
Nhân ngày 30/4 năm nay, bản kiến nghị về hiểm hoạ bôxít yêu cầu
ngưng ngay dự án nguy hiểm này, do 3 trí thức trong nước đề xướng,
được sự hưởng ứng tức thời đông đảo của anh chị em trí thức trong,
ngoài nước, của cả mọi tầng lớp nhân dân khác nữa, con số người hưởng
ứng mỗi ngày một tăng nhanh; 163 chỉ trong 2 ngày, 1.100 sau 5 ngày,
nay đã lên 27 ngàn sau nửa tháng. Số lượng đi cùng chất lượng, gồm
những trí thức tiêu biểu, có trí tuệ, tâm huyết, những văn nghệ sỹ tài
năng, những nhà văn hoá được mến mộ, những đại biểu quốc hội, không ít
là đảng viên CS (đều ít nhiều nhận ra mình đã một thời mê muội, ngu
dại, ngây thơ).
Con số còn tăng, đến mức phải mở "Website Bauxite" để dung nạp cho
kịp. Thật là một sự kiện lớn của năm 2009. Sức công phá của nó đối với
cường quyền quay lưng lại với nhân dân thật không nhỏ.
Đúng dịp này, một cuộc trao đổi lý thú giữa các nhà dân chủ trong
nước, tôi theo dõi mà bật cười thú vị. Một bạn làm thơ rằng: "Tôi
tuyệt vọng là tôi tồn tại", "biết tuyệt vọng là có cơ sống lại"; bạn
kia cãi lại: "Sao lại tuyệt vọng, trí thức chân chính phải giữ vững
niềm tin chứ". Tôi hiểu và quý mến cả 2 bạn. Một cuộc cãi nhau theo lô-
gích hoàn toàn hình thức! Hai bạn thật ra chung một chí hướng, chỉ có
cách thể hiện khác nhau. Một bạn nghĩ rằng con người đôi lúc cần biết
bi quan, tuyệt vọng ở giới trí thức Việt Nam ngủ mê quá lâu để mà biết
quất roi, thét vào tai cho mà bừng tỉnh. Để mà lòng tin trở lại, vững
vàng gấp bội. Thì có gì đâu mà trách bạn ấy. Đừng bao giờ vì thế mà
nặng lời, mà "quân ta đánh quân mình", anh em nhà ta cả, hiểu nhau quá
mà! Hôm nay, tôi thật lòng tin yêu trí thức nước ta.
Từ Đà Lạt sát Lâm Đồng sặc sụa bụi bôxít nhuy hiểm, bạn Hà Sỹ Phu
chào mừng các hào kiệt vẫy gọi nhau dấn thân chống bôxít, thật ra là
chống bá quyền nước lớn và chống nhóm "lãnh đạo Bắc thuộc" cô đơn,
bằng vần thơ hào sảng:
Nhìn đoàn dân Việt ký đông vui
Đã thấy Hồn thiêng gọi giống nòi
Thấp thoáng Diên Hồng loe đỉnh núi
Thước sông, tấc đất giục lòng tôi.
Đúng vào dịp 30/4 năm nay, nhóm 15 kẻ gây Quốc Nạn cũng bị lâm nạn
lớn. Họ bị vạch mặt chỉ tên, vuốt mặt không kịp. Họ bị lâm vào thế
trên đe dưới búa, trong tình trạng hóc xương bôxít khạc chẳng ra cho,
nuốt chẳng vào.
Họ buộc phải mở cuộc họp bộ chính trị. Họ buộc phải giở trò xoa
dịu, giả vờ như tiếp thu ý kiến các nhà khoa học, leo lẻo: "Mới là
thí nghiệm, làm thử từ nhỏ đến lớn", "sẽ chú ý đến môi trường, đến an
ninh-quốc phòng", "sẽ đưa ra cuộc họp Trung ương đảng, ra Quốc
hội" .... Nhưng về cơ bản họ cứ lao tới, vì họ đã tự biến thành những
con tin, những kẻ thừa hành lệnh của nước lớn, họ đã chui vào bẫy bành
trướng, vừa được thưởng, có lợi riêng lớn, vừa bị đe không vâng lời
thì nguy khốn đấy! Họ giả lùi, cần truy kích cho đến khi các dự án
phải ngừng cả lại!
Nhân dịp 30/4 năm nay, tôi chỉ có đôi lời nhắn nhủ tâm huyết với
các đồng chí cộng sản cũ của tôi, hãy còn lâm vào cảnh "chim lồng cá
chậu" ở quê nhà. Hãy tập suy xét bằng đầu óc tỉnh táo, bằng tư duy độc
lập của chính mình.
Hãy đọc nhiều, suy nghĩ cho chín, và trung thành với chính mình
trên cơ sở thương thật lòng dân mình, yêu thật lòng đất nước mình.
Đừng lười biếng theo số đông, theo gậy chỉ huy của ai đó, theo lợi ích
tạm thời, riêng tư.
Điều này đòi hỏi những người công sản cũ một tinh thần dũng cảm cần
thiết không kém khi xông pha lửa đạn, một khí phách vượt qua ảo tưởng
cũ để tiếp cận sự thật thường là phũ phàng, một nghị lực từ bỏ thần
tượng ảo cũ, tìm ra lẽ sống và lý tưởng mới chuẩn xác xứng đáng để dấn
thân, vì dân tộc mình, vì nhân dân mình, vì một thế giới mới có tự do,
dân chủ, tình thương, có môi trường trong lành cho toàn nhân loại.
Thoát mọi ràng buộc tệ hại, bạn sẽ có cảm giác sung sướng vô hạn của
con người tự do, như được mọc cánh bay cao trong bầu trời tự do bát
ngát xanh trong.
Hiện nay, vẫn còn không ít thanh niên, cán bộ, trí thức tự đặt ra
yêu cầu gia nhập đảng CS Việt Nam, vì mục tiêu lý tưởng thì ít, mà
nặng về mục đích lập nghiệp, sinh kế, bởi vì đảng CS vẫn chà đạp hiến
pháp không cho phép tự do lập hội, để độc quyền cai trị, một mình một
chiếu. Các bạn ấy bị tước quyền chọn lựa.
Nhưng vẫn có nhiều bạn tìm hướng khác. Ngày càng nhiều trí thức,
văn nghệ sỹ, nhà báo, nhà giáo, luật sư có lòng tự trọng, không xin
vào đảng vì thấy đảng CS ngày nay xuống cấp một cách tệ hại, cả một
tầng lớp "cường hào đỏ", "tham nhũng đỏ", "địa tặc đỏ", "địa chủ đỏ",
"tư bản đỏ" lộng hành trong sự "bao dung" tội lỗi của Bộ chính trị 15
người không hề được nhân dân bàu ra. Họ cũng chán ngán khi thấy Bộ
chính trị độc quyền vẫn cứ vô cảm trước những thảm hoạ dân tộc như
hiểm họa bị nước lớn hiếp đáp, lấn lướt, doạ nạt, như thảm hoạ bôxít
hiển nhiên, như tệ nạn xã hội ngày thêm nặng nề: Tham nhũng, cướp
bóc, giết người, cờ bạc, rượu chè, xì ke ma tuý, mãi dâm, bệnh siđa,
tất cả đều "thăng tiến" trong bảng thành tích lãnh đạo ngày càng tối
đen của đảng CS.
Những nhân cách nói trên đang mong chờ sự xuất hiện tổ chức mới,
đảng mới, có tầm cao về chất chính trị, có tự do dân chủ thật sự để
tham gia xứng đáng.
Xin kể các bạn vài chuyện nho nhỏ mà ý nghĩa rất to. Hội đồng châu
Âu đã tuyên bố Chủ nghĩa cộng sản và chủ nghĩa xã hội hiện thực do các
đảng CS ở Đông âu và Liên Xô chủ trương từ 1945 đến 1991 là phi nhân
tính, là thảm hoạ dân tộc và tội ác chống nhân loại. Quốc hội Balan đã
thông qua luật đặt chủ nghĩa CS ra ngoài vòng pháp luật, và coi việc
tuyên truyền cộng sản là phạm pháp.
Tại các nước Đông Âu, nơi chủ nghĩa CS từng ngư trị, ngày nay,
không gì xấu, nhục bằng bị mắng nhiếc: "Nói dối như CS, lừa gạt như
CS!", cũng giống như ở Hoa kỳ, Canađa, Úc ... ai bị vu cáo, chụp mũ là
"tay sai Việt Cộng", "Việt Cộng nằm vùng" có thể phát đơn kiện kẻ vu
khống, và đã có phiên toà xét xử tuyên án phạt kẻ vu cáo gần 100 ngàn
đôla, vì quan toà cùng với xã hội đều coi Cộng sản như là một điều gì
xấu xa, bẩn thỉu, tệ hại. Thật đáng ngẫm nghĩ cho những ai còn mang
danh nghĩa Cộng sản trên thế gian này.
Dịp 30 tháng 4 năm nay, tôi gửi lời thăm hỏi chân thành đến các
đảng viên CS bạn bè cũ thân thiết và quen biết, các sỹ quan các cấp
từng là đồng đội của tôi, hàng nghìn nhà báo lão thành và trẻ tuổi
từng là bạn đồng nghiệp của tôi, các bạn học cũ từ hồi trẻ, tha thiết
mong các bạn dấn thân ký vào Kiến nghị do 3 trí thức trong nước Nguyễn
Huệ Chi, Phạm Toàn, Nguyễn Thế Hùng đề xướng bằng cách mở Website
Bauxite Việt Nam, trong đó ngoài phần ký kiến nghị còn có Diễn đàn,
tin tức, tư liệu, ảnh liên quan.
Mong rằng các bạn quý mến của tôi cũng đã hoặc rồi sẽ trải qua
những bàng hoàng, bẽ bàng, cay đắng khi cảm thấy mình bị lừa dối,
lường gạt ra sao, khi nhận ra những ngu si, dại dột, ngây thơ một thời
của chính mình, để mà lột xác, từ bỏ mọi ảo tưởng hão huyền tai hại,
thanh thoát sung sướng được là một chiến sỹ tự do dấn thân dứt khoát
cho quyền sống có nhân phẩm của đồng bào yêu quý.
Bùi Tín Paris 28/4/2009

> thường đến nhà Dương Văn Sơn nói chuyện với Dương Văn ...
>
> read more »

Viet...@gmail.com

unread,
May 4, 2009, 3:26:39 PM5/4/09
to Kiến - Thiết

Trung-Tá Nguyễn Văn Long

Cộng-Sản chiếm được Miền Nam đã mười năm rồi mà tôi vẫn còn tiếp-tục
bị chúng kêu lên, kêu xuống hỏi cung. Tuy thế, nhờ những thời-gian đợi
đi "làm việc" như thế tại các trại giam như Thanh-Liệt ở Hà-Nội; Kho-
Ðạn, Hội-An, và Hòa-Sơn ở Quảng-Nam; mà tôi có dịp gặp nhiều Cán-Bộ
Việt-Cộng cấp cao bị bắt về tội "kinh-tế" hoặc "tham-ô" và cả "bạo-
loạn" nữa, cũng như đồng-bào nhiều giới phạm tội "phản-động hiện-
hành", vượt biên, vượt biển, đưa hối-lộ, xâm-phạm hoặc phá-hoại tài-
sản xã-hội chủ-nghĩa, vân vân, nên tôi biết nhiều và biết sớm những
biến-cố xảy ra bên ngoài thế-giới "cải-tạo" hơn đa-số anh+chị+em khác
trong tù.
Tôi đã nghe tin Trung-Tá Nguyễn Văn Long tự-tử từ lâu. Nhưng vì có
những trường-hợp sự thật khác với tin đồn; vả lại, biết đâu đó không
là một người khác mà lại trùng tên với người mà tôi thân+thương; hơn
nữa, anh Nguyễn Văn Long của tôi là một tín-đồ Ky-Tô-Giáo, lẽ nào lại
tự hủy mình; do đó, tôi vừa âm-thầm đau-khổ về hoàn-cảnh chung, vừa
bán-tín bán-nghi về phần anh Long. Ðến khi tôi được nghe thêm hai viên
"thủ-trưởng" -- một thuộc Cục Xuất-Nhập-Khẩu 2 tại "Thành Phố Hồ Chí
Minh", một thuộc Ban Hậu-Cần Quân-Khu 5 -- khẳng-định là họ có nghe đề-
cập trong nội-bộ cơ-quan rằng, ngoài một số Tướng-Lĩnh Miền Nam đã tự-
sát chứ không chịu đầu-hàng hay trốn chạy ra nước ngoài, có một Trung-
Tá Cảnh-Sát tên Nguyễn Văn Long, từ Ðà-Nẵng di-tản vào, đã tự-tử chết
phía trước trụ-sở Quốc-Hội Việt-Nam Cộng-Hòa, tôi mới tin chắc đó
chính là anh Nguyễn Văn Long.
Anh Long vĩnh-biệt cõi đời giữa cảnh lửa-bỏng dầu-sôi, bạn-bè nói
riêng và đồng-bào nói chung thì còn bận lo tự cứu lấy mình, trong khi
kẻ thù thì càng thù hận anh thêm, lấy đâu có những vòng hoa và những
nén nhang cùng những dòng lệ thương tiếc tiễn anh về nơi an nghỉ cuối
cùng.
Năm 1982, tại Trại bí-mật Thanh-Liệt, thuộc Huyện Thanh-Trì, Hà-Nội,
là nơi giam-cứu các phần-tử quan-trọng nhất, mà đa-số là Cán-Bộ Ðảng,
Nhà-Nước và Bộ-Ðội ở cấp Trung-Ương, do Bộ Nội-Vụ trực-tiếp quản-lý,
tôi mới được một "bạn tù" cho biết thêm một chi-tiết quý-báu về cái
chết hùng-vinh của Trung-Tá Nguyễn Văn Long. Ðó là Phạm Trung Linh,
một Trung-Tá Bộ-Đội Bắc-Việt, nguyên Trưởng Tiểu Ban Thanh Tra và Xét
Khiếu Tố thuộc Trung Ương Cục Miền Nam -- tổng-thư-ký của một tổ-chức
đảo-chính quân-sự dự-định hành-động vào đêm 24 rạng ngày Nô-En năm
1979 nhưng bất-thành nên bị bắt cùng với một số Tướng+Tá và Cán-Bộ cao-
cấp khác -- xác-nhận rằng gã đã có trông thấy bức ảnh chụp cảnh Trung-
Tá Nguyễn Văn Long mặc cảnh-phục chỉnh-tề nằm chết trước một Tượng-Đài
Chiến-Sĩ Quốc-Gia phía trước trụ-sở Quốc-Hội Việt-Nam Cộng-Hòa, in
trên bìa trước của một tạp-chí Hoa-Kỳ, trong kho sách+báo ngoại-quốc
mà Việt-Cộng ở một số cấp cao đã sưu-tầm để nghiên-cứu những gì có
liên-quan đến Việt-Nam.
Thế là từ đó không những tôi nguôi tủi sầu mà trái lại còn cảm thấy
lòng mình vui thỏa cho anh Long. Báo Mỹ mà đã đăng lên thì khắp thế-
giới đều biết. Anh, cùng với những vị Anh-Hùng Tuẫn-Quốc khác trong
biến-cố lịch-sử 30/4/1975, đã nói lên được hùng-hồn và cụ-thể tinh-
thần bất-khuất của dân-tộc Việt-Nam yêu chuộng Tự-Do trước quyền-lực
của Cộng-Sản bạo-tàn.
= * =
Thuở ấy, vào khoảng 1950, ở Miền Trung có hai hệ-thống an-ninh: Một
bên là Pháp với cơ-quan Su^reté Fédérale (Liêm-Phóng Liên-Bang) và
Police Francaise (Cảnh-Sát Pháp), một bên là Việt-Nam với cơ-quan Công-
An và Cảnh-Sát Quốc-Gia. Anh Nguyễn Văn Long tùng-sự bên Su^reté
Fédérale (Chính-Trị) của Pháp, trong số vài người phụ-trách nội-ô Thần-
Kinh; còn tôi thì bên Cảnh-Sát (Hình-Sự) của Việt-Nam. Tôi kiêm cả
việc sáng-tác, ra báo, và dựng kịch cho sở-làm, và cho riêng mình.
Chúng tôi thường uống cà-phê ở quán Lạc-Sơn, nhà hàng lộ-thiên trên lề
đại-lộ Trần Hưng-Ðạo, quay lưng vào chợ Ðông-Ba. Nhân-viên hai bên
không ưa gì nhau, nhưng gặp mặt mãi cũng thành quen nhau.
Dạo ấy, tôi viết cuốn truyện "Trai Thời Loạn" chống Pháp xâm-lược và
Bảo-Ðại bù-nhìn, nên bị bắt giam; sau nhờ phái-đoàn của các nhân-sĩ
Cao Văn Tường, Cao Văn Chiểu, cùng với nhà-báo Phạm Bá Nguyên và cả
Giám-Ðốc Thông-Tin Lê Tảo can-thiệp với Thủ-Hiến Phan Văn Giáo, tôi
mới được trả tự-do. Ra tù, tự-nhiên tôi được thiện-cảm của nhiều người
hơn.
Một hôm, anh Long tâm-sự với tôi: "Tôi chống Việt-Minh nên lỡ vào làm
với Tây; nay tôi đã quyết sẽ thôi để qua làm với người mình".
Anh ít nói, không văn-hoa, lại lớn tuổi hơn tôi nhiều, mà đã nói thẳng
với tôi như thế thì tôi hiểu rằng anh đã đau-lòng khổ-trí đến ngần nào
trước thời-cuộc bấp-bênh của nước nhà. Trong thời-gian chờ-đợi, anh
Long đã nghe theo lời thuyết-phục của tôi, bỏ qua cho nhiều bạn thơ
của tôi, thí-dụ Nhất-Hiên, Vân-Sơn PMT, Như-Trị, v.v... mà Su^reté
Fédérale đã định bắt giam. Liêm-Phóng Liên-Bang của Pháp mà đã bắt ai
thì người ấy khó về được vẹn toàn.
Sau đó, anh đã chuyển qua Công-An Việt-Nam; và Vân-Sơn Phan Mỹ Trúc
cũng như Như-Trị Bùi Chánh Thời thì vào Sài-Gòn; kẻ thành ký-giả tên
tuổi, người nên luật-sư tài-danh.
Sau khi gia-nhập vào đúng hàng-ngũ thích-hợp để phụng thờ Chính-Nghĩa
Quốc-Gia, trải qua mấy chục năm trời gắn bó với Lực-Lượng Cảnh-Sát và
Công-An Việt-Nam Cộng-Hòa, anh Nguyễn Văn Long tận-tụy phục-vụ, và đã
nổi tiếng là một trong số những cấp chỉ-huy tích-cực, cương-trực và
liêm-khiết nhất trong Ngành.
= * =
Tôi về lại Miền Trung đảm-trách Giám-Ðốc Ngành Ðặc-Cảnh tại Bộ Tư-Lệnh
Cảnh-Lực Vùng I vào ngày 26 tháng 9 năm 1973. Tìm gặp lại các bạn cũ,
thuộc lứa tuổi trên tứ-tuần, đã từng giữ các chức-vụ Trưởng Ty Công-
An, Cảnh-Sát-Trưởng, Trưởng Ty CSQG trở lên, từ thời Bảo-Ðại qua thời
Ðệ-Nhất Cộng-Hòa đến nay, mà hiện còn lại tại Vùng này, tôi thấy chỉ
có 6 người, trong đó có anh Nguyễn Văn Long.
Một số chưa có chức-vụ tương-xứng thì tôi nâng lên hoặc hợp-thức-hóa
cho làm Phó Giám-Ðốc, Chánh-Sở. Anh Long thì đã là một Chánh-Sở nắm Sở
Tư-Pháp rồi, nên tôi không giúp gì về chức-vụ mà chỉ giúp về công-vụ
mà thôi; những tin-tức về hình-sự mà tôi có được, thay vì xếp bỏ thì
tôi chuyển qua cho anh. Tuy nhiên, đáp lại, chính anh giúp tôi nhiều
hơn, rất nhiều, cả trong công-tác cụ-thể hằng ngày lẫn về phương-diện
tinh-thần.
Anh Long tự-nguyện làm thêm nhiệm-vụ chính-trị -- diệt-Cộng -- ngoài
phần-vụ chính của anh là truy lùng kẻ phạm-pháp về mặt hình. Là một
tay cừ trong giới tình-báo cũ, anh đã nhân làm công-tác sưu-tầm về
hình-phạm mà thu-thập thêm tin-tức về quốc-phạm, và đã cung-cấp cho
Ngành Ðặc-Cảnh của tôi nhiều manh-mối về Cộng-Sản nằm vùng. Theo anh
quan-niệm, đã là Cảnh-Sát Quốc-Gia, với chức-năng an-ninh trật-tự, thì
phải góp phần trực-tiếp hoặc gián-tiếp vào lãnh-vực tình-báo, để phát-
hiện và loại-trừ Cộng-Sản -- mà trong giai-đoạn hiện-tại thì đối-tượng
Việt-Cộng phải là ưu-tiên hàng đầu -- để bảo-vệ và duy-trì an-ninh và
trật-tự chung. Anh không thể chỉ tự bằng lòng với phận-sự tiễu-trừ tội-
phạm xã-hội, mà phải tham-gia phần nào, trong khả-năng mình, vào trách-
nhiệm thanh-trừng giặc loạn để giữ nước và cứu dân.
Qua thái-độ và hành-động chính-đáng của mình, Trung-Tá Nguyễn Văn Long
đã mặc-nhiên gửi một thông-điệp, một lời nhắn-nhe tâm-huyết, đến những
anh+chị+em đồng-nghiệp nào mà vì lý-do nào đó đã tự cho mình là Cảnh-
Sát Sắc-Phục thì không dính-dấp gì về tình-báo, nhất là Cộng-Tặc Miền
Nam và Cộng-Sản Bắc-Việt Xâm-Lăng.
Trung-Tâm Huấn-Luyện Tình-Báo của tôi nằm trên bãi biển Sơn-Chà, tuốt
bên kia bờ Hàn-Giang. Lần nào khai-giảng hoặc bế-giảng Khóa nào Nhà-
Trường cũng đều có mời các cấp chỉ-huy cả Ðặc-Cảnh lẫn Sắc-Phục đến
dự. Về sau, tôi bỏ bớt tiệc mãn-khóa, chấm dứt tình-trạng bắt các học-
viên góp tiền. Không còn tiệc-tùng, thì phần lớn quan-khách ngớt vãng-
lai, viện cớ bận việc và đường quá xa; nhưng anh Long vẫn tiếp-tục đến
dự -- anh nói -- để yểm-trợ tinh-thần chung.
Về mặt tư-pháp, Trung-Tá Nguyễn Văn Long đã thực-hiện đúng khẩu-hiệu
"Pháp Bất Vị Thân". Ngay đối với chính đồng-nghiệp, bất-cứ nhân-viên
Cảnh-Sát nào mà phạm tội hình-sự là anh truy-tố ra Tòa thẳng tay --
anh nói -- để lành-mạnh-hóa nội-bộ, và nêu gương thượng-tôn luật-pháp
cho người dân. Bởi thế, anh bị nhiều người gọi bằng cái tên "Long Lý",
ý nói anh chỉ biết chiếu-lý chứ không vị-tình.
Sau Hiệp-Ðịnh Paris 1973, tình-hình xã-hội Miền Nam thật là rối-ren.
Bên ngoài thì Cộng-Sản Bắc-Việt công-khai ồ-ạt đổ thêm quân và chiến-
cụ, vũ-khí vào tấn-công ta; bên trong thì các tổ-chức xưng-danh đối-
lập và lợi-dụng tự-do quá-khích, tiếp tay với các phần-tử nằm vùng,
ngày càng gia-tăng mức-độ và cường-độ gây hỗn-loạn trật-tự và làm suy-
thoái tinh-thần các Lực-Lượng Quốc-Gia. Về mặt chính-trị, CSQG vừa
phải đối-phó với các bộ-phận Ðảng, Mặt-Trận, Nhà-Nước và Nhân-Dân của
CSXL và "Việt-Cộng", vừa phải chống-đỡ các phần-tử, phe nhóm chủ-bại
và nội-ứng cho kẻ thù.
Về mặt tệ-đoan xã-hội, ung nhọt tràn lan khắp nơi. Riêng về nạn dịch
nhũng-nhiễu tham-lam, công-tác đương-đầu đã gặp quá nhiều khó-khăn.
Hầu như kẻ nào làm bậy cũng đều nấp dưới danh-nghĩa của một chính-
đảng, tìm sự che-chở của một đoàn-thể hay một số cấp lãnh-đạo nào đó
trong Chính-Quyền. Ðụng vào họ, dù họ là kẻ phạm-pháp, có thể là tự
rước lấy tai-họa vào mình. Thế mà anh Long đã dám xúc-tiến điều-tra,
lập hồ-sơ truy-tố nhiều nhân-vật đáng sợ. Nhiều vụ lắm. Và vụ mà tôi
thích nhất là vụ "Tiền trợ-cấp dân Quảng-Trị tị-nạn". Ðại-khái như
sau:
Ðầu năm 1975, đồng-bào từ Tỉnh Quảng-Trị bắt đầu di-tản. Chính-Quyền
Trung-Ương tổ-chức đón tiếp và cứu-trợ họ tại Trại Tạm-Cư Ðà-Nẵng.
Trên thực-tế, có người đã vào, có người vẫn còn ở lại ngoài kia. Do
đó, có một tổ-chức quy-mô đứng ra lập hồ-sơ ma để lãnh các món cứu-trợ
di-tản nhiều hơn bội-phần: Tiền mặt, thực-phẩm, thuốc-men, áo+quần,
giường+mùng chăn+chiếu, xi-măng, tôn, v.v..., cấp cho cả đồng-bào ở
Trại lẫn đồng-bào vẫn còn ở Tỉnh cũ mà được chứng-nhận là đã nhập Trại
Tạm-Cư, do ngân-sách của Bộ Xã-Hội đài-thọ. Thậm chí, họ còn lập thêm
hồ-sơ theo diện tị-nạn, dành cho đồng-bào dời-cư từ các xã bất-an và
"xôi-đậu" đến định-cư tại các xã an-ninh, để lãnh thêm loại trợ-cấp
này vốn áp-dụng chung cho bất-cứ vùng quê nào. Chưa thỏa, họ còn chứng-
nhận cho cũng những đồng-bào ấy là nguyên cơ-sở của Việt-Cộng ở vùng
địch kiểm-soát, nay bỏ kẻ thù về với Quốc-Gia, để hưởng các khoản trợ-
cấp loại này do Bộ Chiêu-Hồi cung-cấp định-kỳ, v.v…. Ngoài ra, người
dân di-tản cũng bị lôi-cuốn vào tình-trạng hỗn-tạp chung bên ngoài
Trại, lẫn-lộn giữa hợp-pháp và bất-hợp-pháp. Một số trở thành nhân-
viên Chương-Trình Áo Xanh, do một tổ-chức xã-hội Hoa-Kỳ tài-trợ, cung-
cấp việc làm cho người lao-động thất-nghiệp. Một số cũng là hội-viên
Hội Cựu-Chiến-Binh và Dân-Phế, quy-tụ lính cũ đâu từ thời Pháp-thuộc,
thời Nhật chiếm, thời kháng-Pháp, thời Bảo-Ðại, và nạn-nhân các vụ tai-
nạn lưu-thông, ẩu-đả, hủy-hoại thân-thể, tàn-tật bẩm-sinh, vân vân,
nhưng cũng được lập hồ-sơ và lãnh đều đều từ một tổ-chức nhân-đạo Hoa-
Kỳ những món viện-trợ tiền mặt, thực-phẩm, thuốc-men, đồ dùng, v.v....
Hơn nữa, một số giả-danh là Thương-Phế-Binh, cưỡng-thu "hụi chết" tại
các hàng quán, bến xe. Phanh-phui vụ này lòi ra vụ kia. Tóm lại, một
người lãnh nhiều trợ-cấp với nhiều tư-cách trong nhiều hoàn-cảnh khác
nhau; nhưng chỉ lãnh được một ít, còn thì nạp vào túi riêng của bọn
gian+tham.
Vụ án đã làm chấn-động dư-luận, vì dính đến nhiều cấp+chức thuộc nhiều
giới, ngành, từ cấp Tổ, Toán, Khóm, Thôn, Xã, Phường, lên đến Quận,
Tỉnh, vào thấu Sài-Gòn, là những phần-tử chứng-nhận láo, chấp-thuận
bừa, do đó, đã phí-phạm công-quỹ và phá-hoại chính-sách của Trung-
Ương.
Trong việc móc-nối đầu mối, nuôi-dưỡng đường dây, lắm lúc nhân-viên
Ðặc-Cảnh phải giao-tiếp với những kẻ bất-lương. Bởi thế, đã có một số
Trưởng Mối bị trừng-phạt oan, vì phía Hình-Cảnh nghi là đồng-lõa hay
đỡ đầu. Sau khi có thêm bộ-phận An-Ninh Cảnh-Lực, Ðặc-Cảnh càng gặp
nhiều khó-khăn hơn, đến nỗi Tư-Lệnh Ðặc-Cảnh Trung-Ương hồi đó là Đại-
Tá Nguyễn Mâu đã phải lên tiếng phản-đối công-khai trước một đại-hội
toàn-quốc, do Tổng Giám-Ðốc chủ-tọa, nhưng chưa ngã-ngũ ra sao.
Với tôi, anh Long đã chịu nhượng-bộ: Nếu gặp nhân-viên Ðặc-Cảnh liên-
can đến các vụ hình, anh để tùy tôi xét trước, để tránh oan-ức, trở-
ngại cho công-tác chìm. Ấy là nhờ anh hiểu rõ phương-thức tình-báo và
đặt nhu-cầu chống Cộng lên hàng ưu-tiên. Ðó là quyết-định linh-động
duy-nhất trong cương-vị Chánh Sở Pháp-Cảnh của anh Long.
= * =
Kỷ-Niệm đậm nét nhất trong đời tôi về anh Long là vụ rút lui ra khỏi
Ðà-Nẵng, thành-lũy cuối cùng của Quân-Khu I Việt-Nam Cộng-Hòa.
Lúc ấy vào khoảng 10 giờ tối ngày 28/3/1975. Trên máy vô-tuyến truyền-
tin thuộc hệ Cảnh-Sát Sắc-Phục nội-thành Ðà-Nẵng, tôi nghe một đài gọi
đài trung-ương, nhưng không có ai trả lời. Lát sau, có một đài khác
cất tiếng: "Ðừng gọi vô-ích, bọn chúng chạy hết cả rồi!" Tôi bèn hỏi
đài hồi nãy, thì được báo-cáo là có nhiều người ăn mặc lộn-xộn, vũ-khí
cầm tay, đang nép hai bên lề đường từ hướng Hòa-Cường tiến vào.
Tôi dùng làn sóng của hệ Ðặc-Cảnh ra lệnh cho Sở Tác-Vụ Vùng và Sở Ðặc-
Cảnh sở-tại đối-phó, đồng-thời gọi máy điện-thoại cho Đại-Tá Nguyễn
Xuân Lộc, Tư-Lệnh Cảnh-Lực Vùng I, lúc ấy đang cùng có mặt với các
Chánh-Sở Vùng và một số Chỉ-Huy Cảnh-Lực Tỉnh tập-trung tại đây.
Lát sau, anh Long đến ngồi tại phòng truyền-tin của Ngành Ðặc-Cảnh
Vùng -- nơi đây có máy âm-thoại của cả 2 hệ nổi+chìm địa-phương lẫn hệ
toàn-quốc, và máy điện-thoại bưu-điện, điện-thoại quân-sự -- cách dăm
mười phút lại gọi hỏi tôi tình-hình thế nào.
Vì máy quá bận, tôi khuyên anh vào phòng-giấy của Đại-Tá Lộc để cùng
theo-dõi diễn-biến tình-hình chung.
Khoảng sau 11 giờ đêm, từ đài Ðặc-Cảnh Vùng I Trung-Tá Long gọi tôi.
Lần nầy tôi nghe giọng anh run lên, lời-lẽ trịnh-trọng khác thường:
"Tôi xin mời ông Phụ-Tá đến ngay để tổ-chức phòng-tuyến và chỉ-huy đội-
ngũ tử-thủ cùng với anh+em chúng tôi!" (Tử-thủ là lời cam-kết của
Trung-Tướng Ngô Quang Trưởng đọc trên Ðài Phát-Thanh Ðà-Nẵng suốt
chiều hôm nay).
Tôi hỏi về Đại-Tá Lộc thì anh đáp gọn với giọng bực-tức và chán-
chường: "Các ngài đào-ngũ hết rồi!"
Anh Long kể lại với tôi là anh được lệnh, cùng với mọi người có mặt
tại trụ-sở Vùng -- Chánh-Sở các Sở, Chỉ-Huy của một số Tỉnh, có cả mấy
viên Đại-Tá Quân-Đội -- theo Đại-Tá Lộc xuống bến Giang-Cảnh, lên tàu
Giang-Cảnh, rời bến hướng ra biển Ðông.
Anh hỏi đi đâu thì Đại-Tá Lộc trả lời: "Chúng ta di-tản vào Nam!" Anh
thấy máu uất xông lên đỉnh đầu, la lên: "Giặc chưa tấn-công, thuộc-
viên vẫn còn ở lại, mà cấp chỉ-huy đã lén-lút bỏ đi như thế này là
hèn!" Lộc cố giải-thích: "Bộ Tư-Lệnh Quân-Ðoàn đã rút đi rồi. Trong
tình-huống này chúng ta đành phải phụ lòng anh+em mà thôi!" Long bèn
rút súng, nhìn thẳng vào mặt từng người với vẻ khinh thường, và bảo
tàu ghé vào bờ cho anh trở lui.
Và anh đã về trụ-sở, để cùng chiến-đấu, sống chết có nhau với anh+em.
Tôi tin-tưởng và kính-phục anh Long vô cùng; nhưng tôi thấy rõ là nếu
đến sở thì sẽ dính kẹt ở đó, khó lòng điều-động hoạt-động bên ngoài,
nên nói là tôi bận họp. Anh xin mượn tôi một máy vô-tuyến cầm tay, và
đòi đến họp với tôi.
Tôi kéo Thiếu-Tá Ngô Phi Ðạm, Chánh Sở Tác-Vụ, ra xe. Ðến bến Bạch-
Ðằng quả thấy xe Jeep xanh+trắng và ô-liu bỏ đậu nghênh-ngang; gọi máy
vô-tuyến trên hệ Sắc-Phục đến Đại-Tá Lộc ở sở, ở nhà, không ai trả
lời; tôi bèn chỉ-thị Trung-Tâm Hành-Quân Ðặc-Cảnh báo-cáo sự-việc lên
Trung-Ương.
Anh Long đã đến nhà tôi, hỏi tôi ở đâu, tôi đáp là đến Ðặc-Khu, nhưng
tôi đến Bộ Tư-Lệnh Quân-Ðoàn; nơi đây vắng hoe. Anh hỏi, tôi đáp là
vào phi-trường, nhưng tôi đến Sở An-Ninh Quân-Ðội; nơi đây cũng chẳng
còn ai. Anh không gặp tôi, lại hỏi; và tôi lại dối, tránh anh. Cứ thế
mà tôi đến khắp các nơi vốn là chỗ dựa cho niềm tin của dân-nhân.
Ðến sau nửa đêm thì cả thành-phố đổ dồn qua cầu Trịnh Minh Thế để qua
bến cảng, bãi biển Quận III, để mong chạy vào Sài-Gòn. Tôi cùng Tác-
Vụ, Thám-Sát Ðặc-Biệt, quan-sát xong tình-hình bên đó, len lách trở về
thì thoáng dưới ánh đèn pha thấy rõ hình-dáng của anh, mặc cảnh-chiến-
phục, gác khẩu M-16 ngang đùi, mặt-mày đỏ gay, tức uất nhưng đầy cương-
nghị, lái xe vụt qua.
Ðó là hình-ảnh cuối cùng của Trung-Tá Nguyễn Văn Long, mãi mãi hằn sâu
trong ký-ức tôi.
= * =
Gần sáng, ngày 29/3/1975, Việt-Cộng pháo-kích hải-cảng, phi-trường. Mờ
sáng, đặc-công từ hướng Núi Non-Nước bắt đầu tấn-công vào. Ðến trưa,
tôi gọi máy về cho đại-úy Nguyễn Văn Tuyên, Chánh Sở Nghiên+Kế, lúc đó
còn ngồi tại chỗ, ra lệnh giải-tán Trung-Tâm Hành-Quân của Ðặc-Cảnh
Vùng I, là bộ-phận sau rốt của Chính- Quyền VNCH còn hoạt-động đến
phút cuối cùng, và cho phép thuộc-viên tự tìm phương-tiện thoát thân.
Xế chiều, tôi mới kiếm được chiếc thúng, rời bờ, liều-lĩnh trước các
làn đạn pháo-kích của địch và trực-xạ của chính bạn mình.
Và tôi không còn gặp lại anh Long.
= * =
Cái chết của Trung-Tá Cảnh-Sát Nguyễn Văn Long làm tôi suy-nghĩ rất
nhiều.
Anh đã phục-vụ dưới nhiều chế-độ khác nhau, đảm-trách công-tác ở nhiều
lĩnh-vực khác nhau, nhưng vẫn giữ mình trung-chính khiết-liêm. Anh tuy
lớn tuổi nhưng vẫn trẻ-trung trong lối sống và trong công việc, không
bị lứa trẻ sau này vượt qua.
Trong lúc nước nhà đang bị Cộng-Sản xâm-lăng, anh ý-thức được chúng là
kẻ thù số một của toàn-dân, sự-nghiệp chống Cộng phải là ưu-tiên số
một của mọi người yêu quý Tự-Do, nên anh phải góp phần vào. Thành-quả
chống Cộng của CSQG nói chung, là đã có lúc hạ được nhiều tên Cộng-Tặc
hơn cả con số chúng bị thiệt-hại trên chiến-trường, do đó, anh tự nhận
lãnh vào bản-thân mình một phần trách-nhiệm đối với đối-phương về
những tổn-thất mà chúng hứng chịu nặng-nề; nhưng trên tất cả là sự sụp
đổ thảm-khốc của Việt-Nam Cộng-Hòa, mà đối với Tổ-Quốc, Dân-Tộc, Lịch-
Sử, và Thế-Giới, thì cái trách-nhiệm vô cùng lớn-lao ấy nhất-định là
của mọi người, trong đó có anh; nên anh tự xử -- cũng như các Anh-Hùng
Nguyễn Khoa Nam, Phạm Văn Phú, Lê Văn Hưng, Lê Nguyên Vỹ, Trần Văn
Hai, Hồ Ngọc Cẩn, vân vân -- để tạ tội với Tiền-Nhân và Quốc-Dân, và
để nói lên tinh-thần bất-khuất của người chiến-sĩ Tự-Do, không chịu hạ
mình đầu-hàng kẻ thù.
Cái chết của anh Long làm tôi hãnh-diện vô cùng. Tuy người chết không
mong được đời nhắc đến, nhưng bổn-phận của người sống là phải phát-huy
những tấm gương trí-dũng ngời sáng ấy, để nhờ đó mà mình tin-tưởng và
phấn-khởi tiếp-tục lo toan sự-nghiệp chung.
Bây giờ, đối với toàn-dân, Nguyễn Văn Long không còn là một Trung-Tá,
là một Chánh-Sở Tư-Pháp, là một viên-chức An-Ninh, là những gì gì khác
nữa ... mà anh đã là và vẫn còn là đại-diện cho bất-cứ chiến-hữu ưu-tú
nào, không phân-biệt cấp/bậc, chức-vụ, ngành/nghề, hình-sự hay phản-
gián, phái mạnh hay phái đẹp; mà anh đã vinh-quang đi vào Lịch-Sử với
tư-cách một anh-hùng của Dân-Tộc Việt-Nam nói chung và Lực-Lượng Cảnh-
Sát Quốc-Gia nói riêng.
Lê Xuân Nhuận

On Apr 19, 4:11 pm, VietMJ...@gmail.com wrote:

> khá”, như là một trong ...
>
> read more »

Viet...@gmail.com

unread,
May 5, 2009, 9:19:06 PM5/5/09
to Kiến - Thiết

Chết Mà Vẫn Sống

Năm 1975, VNCH bị bức tử. Ít lâu sau đó MTGPMN cũng tiêu vong,
không kèn không trống, không Cáo Phó, Thiệp Tang gì cả. Rồi cái gọi là
Lực Lượng Thứ Ba "Thờ Ma Cộng Sản" cũng thành phế thải.
Lịch sử đã sang trang chăng? Không, lịch sử vẫn còn tiếp tục, và
cuộc chiến của chúng ta vẫn chưa tàn. Bởi vì, ba mươi năm sau đó, VNCH
vẫn "tồn tại" như một phép lạ, tồn tại mạnh mẽ trong lòng mỗi người
lính, người dân, cả trong và ngoài nước. Chúng ta có ảo tưởng chăng?
Không đâu. Đó là thực tế, một thực tế mà ngay chính những Người Cộng
Sản (CS) cũng không thể nào phủ nhận. Chẳng những không thể phủ nhận
mà còn sợ hãi là đàng khác.

Bạn thử nhìn cho kỷ xem. Những Người “Dân Oan” đã và đang ngày nầy
qua ngày khác đội đơn đi khiếu kiện khắp nơi, từ Sai Gòn ra Hà nội,
chịu đói, chịu khổ, dầm mưa dãi nắng, đó là những ai? Tôi cam đoan là
chẳng có một "Phó Thường Dân Nam Bộ" nào trong số đó cả. Họ, nếu không
là cựu "Bộ Đội Lão Hồ", Cán Bộ Hưu Trí, thì ít ra cũng là những Bà Mẹ
Chiến Sĩ, Bà Mẹ Anh Hùng, Thương Binh, Gia Đình Tử Sĩ. Đi khiếu kiện,
họ mang theo Cờ Đỏ, Cờ Búa Liềm, và cả ảnh "Bác" nữa. Nhiều người
trong số họ ngực mang đầy huân chương kháng chiến, huân chương "Chống
Mỹ Cứu Nước". Họ đều là ân nhân của Đảng CS cả đó. Vây mà khi bị Đảng
CS đàn áp dã man thì họ kêu cứu với chúng ta, những Người Việt Hải
Ngoại, những Người Tị Nạn CS, những người lính, người dân trung thành
của chế độ VNCH, những người không chấp nhận chế độ CS.

Xin hãy nghe một lời phát biểu của một Bà Mẹ, một Dân Oan: "Chúng
nó (Công An CS) còn tàn ác, dã man hơn cả Cảnh Sát của TT Nguyễn Văn
Thiệu thời VNCH nữa". Câu hỏi đặt ra là: Nếu những Người Dân Oan đó
vẫn coi chúng ta là "Mỹ-Ngụy", như họ đã từng gọi trước đây, liệu họ
có cần tới chúng ta không? Xin đừng nói rằng họ nghĩ đến chúng ta chỉ
vì chúng ta có hơi đồng ... đô. Nói như vậy e rằng hơi có chỗ chưa
biết Bụng Dạ Dân Miền Nam. Tôi chỉ muốn các bạn hiểu rằng người dân
trong nước đã so sánh, và đã nhận ra sự khác biệt rõ ràng giữa hai chế
độ. Cho nên họ đã kêu cứu với chúng ta, những người mà họ dư biết là
đang đối đầu với cái Đảng Mafia CS đang cai trị họ. Thêm một điểm nữa,
họ biết chúng ta có cái miệng không bị bịt (như họ), có thể thay họ
kêu to lên cho cả Năm Châu Bốn Biển đều nghe. Đó mới là nguyên nhân
chính. Và chúng ta đã dang rộng vòng tay cứu giúp họ trong khả năng có
thể của mình. Tại sao chúng ta làm vậy? Đơn giản là vì chúng ta không
phải CS. Chúng ta biết Quý Trọng Tình Dân Tộc, Nghĩa Đồng Bào. Chúng
ta không cần biết trước kia họ theo ai, giúp ai. Máu Chảy Ruột Mềm là
vậy. Sự thực chúng ta đâu có xúi họ đi biểu tình. Mà làm sao xúi nỗi
nếu như họ không bị cướp đất, cướp nhà, cướp của, oan khuất thấu trời
xanh. Chúng ta cũng chưa bao giờ dám nói chế độ VNCH là "ưu việt", như
CS vẫn huênh hoang về chế độ ác ôn của chúng. Nếu như họ thấy chế độ
của chúng ta năm xưa còn tệ hại hơn cái chế độ "dân chủ gấp ngàn lần
chế độ tư bản" thì họ dại gì cầu cứu chúng ta.
Còn Người CS, chúng thừa biết chúng ta không bao giờ, và cũng không
thể xúi dục được ai, vậy tại sao chúng vẫn vu khống chúng ta? Lý do là
vì chúng muốn trốn tránh trách nhiệm, tưởng như cứ đổ vấy cho "Thế Lực
Thù Địch" bên ngoài là mọi chuyện đều xong, vừa phủi tay, vừa hù dọa
cho người ta sợ, không dám chống đối nữa. Nhưng dân chúng bây giờ
chẳng những không tin mà cũng không sợ nữa. Ngược lại, càng vu khống
bao nhiêu, càng bộc lộ nỗi sợ hãi của chính chúng bấy nhiêu. Người CS
sợ cái gì? Sợ VNCH sống lại trong lòng dân. Nhưng sợ cũng vô ích. Bởi
vì gió đã đổi chiều.
Một bạn đồng nghiệp cũ của tôi, nhờ có "Lý Lịch Trong Sạch", được
cho tiếp tục dạy học sau năm 1975. Sau nhiều năm tận tụy, anh lên được
chức Hiệu Phó chuyên môn. Làm Hiệu Phó hơn 10 năm trời không lên nổi
Hiệu Trưởng. Bạn bè gọi đùa anh là Hiệu phó ... muôn năm. Năm ngoái
tôi có dịp tới thăm anh. Trong một lúc trà dư tửu hậu, anh ghé tai tôi
nói nhỏ: "VNCH tuy đã chết mà vẫn sống''. Còn cái quái thai CHXHCN
nầy tuy đang sống mà thực sự đã chết mất tiêu rồi. Hỏi tại sao nói
vậy? Anh cười cười: "Bây giờ đi đâu cũng nghe người ta nói: "đừng
nghe những gì CS nói, hãy nhìn kỹ những gì CS làm." Không phải ông
Thiệu chết rồi mà vẫn sống đó sao. Với người dân thì ông Thiệu với
VNCH đâu có khác gì," Tôi không có dịp lê la các quán cà phê, quán
nhậu ... để kiểm chứng những lời anh nói. Nhưng có điều tôi biết chắc
cái câu nói bất hủ trên đây có đầy dẫy trên các báo điện tử, các diễn
đàn internet. Bạn cứ để ý mà xem.

Khi nói VNCH vẫn sống, cả bạn tôi và tôi không ai mơ mộng viễn vong
rằng một ngày nào đó chế độ VNCH sẽ lập lại trên đất nước VN. Không.
Không ai có ảo tưởng như vậy. Nhưng, nói theo cụ Nguyễn Du, "thác là
thể phách, còn là tinh anh". Vâng, cái "tinh anh" của VNCH cho tới nay
vần còn nguyên vẹn. Cái tinh anh ấy chưa bao giờ chết trong lòng dân
tộc chúng ta. Tôi chắc Người CS cũng tin như vậy. Cho nên chúng đã cố
gắng triền miên, không ngừng nghỉ từ hơn 30 năm nay để mong dìm cho
chết cái tinh anh ấy. Chúng ra tay quét sạch tất cả mọi dấu vết liên
quan đến chế độ VNCH: Kéo sập tượng đài "Thương Tiếc", cào bằng Nghĩa
Trang Mạc Dĩnh Chi (nơi có mồ mả các nhân vật danh tiếng chế độ cũ),
xóa sạch các Nghĩa Trang Quân Đội VNCH .... Chúng còn thò tay qua tới
tận Indonesia, Malaysia đục bỏ các Bia Tưởng Niệm Thuyền Nhân. Ngay cả
cái di sản cuối cùng của VNCH là Nghĩa Trang Quân Đội Biên Hòa vừa qua
cũng bị Nguyễn Tấn Dũng giao cho tỉnh Bình Dương, trong một mưu toan
rất Ma Quái gọi là "Dân Sự Hóa".
Chúng muốn viết lại lịch sử theo ý chúng để cho nhân dân trong nước
bây giờ và "muôn đời con cháu mai sau" không ai còn biết rằng đã từng
có một Quốc Gia Tự Do mang tên VNCH tồn tại hơn 20 năm trên Lãnh Thổ
VN từ Vĩ Tuyến 17 đến Mũi Cà Mau. Chúng muốn người dân nhìn nhận rằng
ngoài cái chế độ XHCN "ưu việt" của chúng ra, không còn cái gì khác
cả. Không VNCH, không Cờ Vàng Ba Sọc Đỏ, không Chiến Tranh Ý Thức Hệ,
không Tết "Mậu Thân" Huế, không Mùa Hè Đỏ Lửa Quảng Trị, không Thuyền
Nhân, không Tị Nạn ..., không gì hết. Tất cả chỉ có duy nhất Đảng CS
Quang Vinh, chỉ có Chống Mỹ Cứu Nước, chỉ có CNXH bách chiến bách
thắng muôn năm ....

Chúng muốn nhiều quá, tham lam quá, nên Trời không dung, Đất không
tha, Người không thuận. Và chúng đã thất bại.

Năm 1975, lá Cờ Vàng Ba Sọc Đỏ đã bị hạ xuống, bị lăng nhục. Ở trại
tù Trảng Lớn, Tây Ninh, chính mắt tôi đã từng đau lòng trông thấy bọn
Cán Binh VC dùng Lá Cờ của chúng ta để may quần lót. Chúng muốn hạ
nhục chúng ta đến tận cùng.

Ngày nay, Cờ Vàng đã đứng dậy, ngạo nghễ tung bay khắp Năm Châu. Ở
đâu có Người Việt Tị Nạn, ở đó có Cờ Vàng. Bia thuyền nhân bị đục ở Mã
Lai, Nam Dương, lập tức lại mọc lên ở Úc Châu, Âu Châu, Bắc Mỹ. Còn
phải kể thêm các Viện Bảo Tàng Thuyền Nhân ở Melbourne, Bảo Tàng Văn
Hóa VN ở San Jose, California .... Những người lính VNCH năm xưa thua
trận bị tù đày, bị hành hạ, bị sỉ nhục, nay đã đứng lên, đã lại là
người trên ngựa, tiếp tục cuộc chiến dỡ dang, trên mặt trận mới: Mặt
Trân Dân Chủ, Nhân Quyền.

NGƯỜI VIỆT TỊ NẠN CỘNG SẢN, đó là vị trí đứng hiện tại của chúng
ta. CỜ VÀNG là biểu tượng của chúng ta. Nhờ đứng vững ở vị trí nầy mà
Người CS không còn dám xem thường chúng ta. Chúng ta đã từ vị trí
những Người Dưới Ngựa, những Công Dân Hạng Hai, Hạng Ba, Hạng Bét; từ
chổ bị coi như "Ma Cô Dĩ Điếm" ... nay trở thành "Khúc Ruột Xa Ngàn
Dặm", trở thành "Máu Của Máu VN", "Thịt Của Thịt VN", và những Người
CS rồi đây sẽ còn phải tốn hao nhiều công sức, sáng tạo thêm bao nhiêu
lời hay ý đẹp nữa để chiêu dụ chúng ta. Họ sẽ còn phải đẻ ra bao nhiêu
Nghị Quyết 36, 360, hay 3600 nữa, bao nhiêu "Duyên Dáng Việt Nam" nữa
để hòng ... ỏng ẹo với chúng ta. Rời bỏ VỊ TRÍ ĐỨNG nầy để "Bó Thân Về
Với Triều Đình", chúng ta sẽ không còn gì cả, sẽ mất trắng.
Hơn ba mươi năm từ Ngày VNCH bị bức tử, Tinh Thần Tự Do, Nhân Bản
của VNCH vẫn sáng chói trong lòng Người Việt Nam, cả trong và ngoài
nước. Nó đã, đang và sẽ là nguồn cảm hứng tuyệt vời cho công cuộc đấu
tranh vì Tự Do, Dân Chủ, Nhân Quyền của hơn 80 triệu đồng bào ruột
thịt của chúng ta ... cho đến Ngày Thắng Lợi Cuối Cùng. Không còn xa
nữa!
Chiêu Dương

> lai, viện cớ bận việc và đường quá xa; nhưng anh Long vẫn ...
>
> read more »

Viet MJCer

unread,
Jun 3, 2009, 5:09:07 PM6/3/09
to Kiến - Thiết
Tướng Tá Việt Nam Cộng Hoà

Những Vị Tự Sát:
-Thiếu Tướng Phạm Văn Phú, Tư Lệnh Quân Ðoàn 2 (1928-1975), Thiếu
Tướng Phú là người trách nhiệm trong cuộc hành quân triệt thoái quân
dân khỏi ba tỉnh Cao Nguyên, đã bị thất bại nặng nề và đau đớn nhất
trong quân sử cận đại. Tướng Phú tự tử tại nhà vào ngày 30/4/1975.
-Thiếu Tướng Nguyễn Khoa Nam, Tư Lệnh Quân Ðoàn 4 (1927-1975), vào lúc
11 Giờ 30, ngày 30/4/1975, Thiếu Tướng Nam sau khi từ giã các binh sỉ
đã tự kết liễu đời mình.
-Chuẩn Tướng Lê Văn Hưng, Tư Lệnh Phó Quân Ðoàn 4 (19??-1975), Tướng
Hưng đã được vinh danh “Anh Hùng An Lộc” trong mùa hè đỏ lửa 1972 ở
Chiến Trường An Lộc Bình Long. Tướng Hưng đã tự sát vào tối ngày ngày
30/4/1975 tại văn phòng riêng ở bộ chỉ huy phụ của Quân Đoàn 4 (đồng
thời là nơi gia đình Tướng Hưng tạm cư trú), sau khi nói lời từ giã
với gia đình và bắt tay từ biệt tất cả quân sĩ bảo vệ bộ chỉ huy. Sau
đó, ông đã quay vào văn phòng, khóa chặt cửa và tự sát bằng súng lục
vào lúc 8 giờ 45 phút tối.
-Chuẩn Tướng Lê Nguyên Vỹ, Tư Lệnh Sư Ðoàn 5 Bộ Binh (1933-1975), sau
khi nhận được lệnh phải đầu hàng, Tướng Vỹ đã tự sát bằng súng lục vào
lúc 11 giờ, ngày 30/4/1975 tại Tổng Hành Dinh ở Lai Khê.
-Chuẩn Tướng Trần Văn Hai, Tư Lệnh Sư Ðoàn 7 Bộ Binh (1925-1975), vào
đêm ngày ngày 30/4/1975, Thiếu Tướng Hai đã tự sát tại Trung Tâm Ðồng
Tâm.
-Ðại Tá Hồ Ngọc Cẩn (1940-1975), Ðại Tá Hồ Ngọc Cẩn đã anh dũng chiến
đấu tới cùng và không chịu đầu hàng. Ðại Tá Cẩn đã bị quân Cộng Sản
đem ra xử trước công cộng và sau đó bị xử bắn tại chỗ.
-Ðại Tá Ðặng Sĩ Vinh, vào lúc 2 giờ ngày 30/4/1975, hai tiếng đồng hồ
sau khi Dương Văn Minh ra lịnh đầu hàng, Ðại Tá Vinh, cùng gia đình
gồm vợ và bảy người con đã tự tử bằng súng lục.
-Trung Tá Cảnh Sát Nguyễn Văn Long, tuẩn tiết sáng 30/4/1975 dưới chân
Tượng Đài Thủy Quân Lục Chiến.

Những Vị Đã Rời Việt Nam Trước Ngày Mất Nước.
-Trung Tướng Nguyễn Văn Thiệu, Tồng Thống kiêm Tư Lệnh Quân Đội Việt
Nam Cộng Hoà. Lúc từ chức (21/4/1975), ông tuyên bố là ông trở về quân
đội để tiếp tục chiến đấu. Ngày 25/4/1975 TT Thiệu cùng Ðại Tướng Trần
Thiện Khiêm rời Việt Nam trên một chuyến bay do Toà Ðại Sứ Hoa Kỳ tổ
chức.
-Ðại Tướng Trần Thiện Khiêm, Thủ Tướng Kiêm Tồng Trưởng Quốc Phòng, từ
chức thượng tuần tháng tư 1975 và rời Việt Nam cùng lúc với Nguyễn Văn
Thiệu.
-Ðại Tướng Cao Văn Viên, Tồng Tham Mưu Trưởng, Quân Lực Việt Nam Cọng
Hoà.
-Trung Tướng Ðặng Văn Quang, Phụ Tá An Ninh Quốc Gia, Phủ Tổng Thống.
-Trung Tướng Lê Nguyên Khang, Phụ Tá Tồng Tham Mưu Trưởng, Quân Lực
Việt Nam Cọng Hoà.
-Trung Tướng Ðồng Văn Khuyên, Tham Mưu Trưởng, Tổng Tham Mưu, Kiêm
Tổng Cục Trưởng Tổng Cục Tiếp Vận.
-Trung Tướng Trần Văn Trung, Tổng Cục Trưởng, Tổng Cục Chiến Tranh
Chính Trị.
-Trung Tướng Phan Trọng Chinh, Tổng Cục Trưởng, Tổng Cục Quân Huấn.
-Trung Tướng Ngô Quang Trưởng, Tư Lệnh Quân Ðoàn 1, Quân Khu 1. Người
hùng của chiến trường Thành Nội Huế hồi Tết Mậu Thân 1968 và chiến
trường Huế - Quảng Trị trong trận chiến Mùa Hè đỏ lửa 1972.
-Trung Tướng Nguyễn Văn Toàn, Tư Lệnh Quân Ðoàn 3, Quân Khu 3.
-Trung Tướng Nguyễn Văn Minh, Tư Lệnh Biệt Khu Thủ Ðô.
-Trung Tướng Lâm Quang Thi, Tư Lệnh Phó Quân Ðoàn 1.
-Trung Tướng Trần Văn Minh, Tư Lệnh Không Quân.
-Phó Ðề Ðốc (Trung Tướng) Chung Tấn Cang, Tư Lệnh Hải Quân.
-Thiếu Tướng Hoàng Lạc, Tư Lệnh Phó Quân Khu 1.
-Thiếu Tướng Nguyễn Duy Hinh, Tư Lệnh Sư Ðoàn 3 Bộ Binh.
-Thiếu Tướng Võ Xuân Lành, Tư Lệnh Phó Không Quân.
-Thiếu Tướng Nguyễn Khắc Bình, Tư Lệnh Cảnh Sát kiêm Ðặc Uỷ Trưởng
Tình Báo Trung Ương, cùng các vị Tướng nắm giữ các ngành của Lực Lượng
Cảnh Sát.
-Chuẩn Tướng Trần Văn Nhựt, Tư Lệnh Sư Ðoàn 2 Bộ Binh.
-Chuẩn Tướng Phan Ðình Niệm, Tư Lệnh Sư Ðoàn 22 Bộ Binh.
-Chuẩn Tướng Lê Quang Lưỡng, Tư Lệnh Sư Ðoàn Nhảy Dù.
-Chuẩn Tướng Bùi Thế Lân, Tư Lệnh Sư Ðoàn Thủy Quân Lục Chiến.
-Chuẩn Tướng Ðổ Kiến Nhiễu, Ðô Trưởng Sài Gòn.

Những Vị Đã Rời Việt Nam Trong Ngày Mất Nước.
-Trung Tướng Vĩnh Lộc, nhận chức Tồng Tham Mưu Trưởng, Quân Lực Việt
Nam Cọng Hoà lúc 3 giờ chiều 29/4/1975.
-Thiếu Tướng Nguyễn Cao Kỳ, cựu Tư Lệnh Không, cựu Phó Tổng Thống.
Những ngày cuối cùng, ông tuyên bố là sẽ rút về đồng bằng sông Cửu
Long tổ chức tử thủ.
-Chuẩn Tướng Nguyễn Hữu Tần, Tư Lệnh Sư Ðoàn 4 Không Quân, kiêm Tư
Lệnh Không Quân từ ngày 29/4/1975.
-Chuẩn Tướng Nguyễn Văn Chức, nhận chức Tổng Cục Trưởng Tổng Cục Tiếp
Vận lúc 5 giờ chiếu 29/4/1975. Khi nhận chức ông nói rằng: Nếu không
xong thì ông xuống Cần Thơ đem Liên Ðoàn 7 Công Binh Kiến Tạo lên Thất
Sơn (tỉnh Châu Ðốc) tổ chức chiến đấu.

Những Vị Đã Bị Kẹt Lại - Bị Tù Tập Trung Từ 12 Năm Đến 17 Năm.
-Trung Tướng Nguyễn Vĩnh Nghi, Tư Lệnh Tiền Phương của Sư Ðoàn 3 tại
chiến trường Phan Rang, bị bắt khi thất thủ.
-Thiếu Tướng Lê Minh Ðảo, Tư Lệnh Sư Ðoàn 18 Bộ Binh.
-Thiếu Tướng Lý Tòng Bá, Tư Lệnh Sư Ðoàn 25 Bộ Binh.
-Thiếu Tướng Ðỗ Kế Giai, Chỉ Huy Trưởng binh chủng Biệt Ðộng Quân.
-Thiếu Tưóng Trần Bá Di, Chỉ Huy Trưởng Trung Tâm Huấn Luyện Quang
Trung.
-Thiếu Tướng Văn Thành Cao, Tổng Cục Phó Tổng Cục Chiến Tranh Chính
Trị.
-Thiếu Tướng Ðoàn Văn Quảng, cựu Tư Lệnh Lực Lượng Ðặc Biệt. Chết tại
trại tù cải tạo Nam Hà, tỉnh Hà Nam Ninh.
-Thiếu Tướng Cảnh Sát Bùi Văn Nhu, Tư Lệnh Phó Cảnh Sát. Chết tại trại
tù cải tạo Nam Hà, tỉnh Hà Nam Ninh.
-Chuần Tướng Hồ Trung Hậu, Binh Chủng Nhảy Dù, Chánh Thanh Tra Quân
Ðoàn 3Ðại Tá Nguyễn Thành Trí, Tư Lệnh Phó Sư Ðoàn Thủy Quân Lục
Chiến.
-Chuẩn Tướng Phạm Duy Chất, Chỉ Huy Trưởng Biệt Ðộng Quân Quân Khu 2,
chỉ huy cuộc hành quân rút bỏ tỉnh Cao Nguyên hồi tháng 3/1975.Chuẩn
Tướng Phạm Ngọc Sang, Tư Lệnh Sư Ðoàn 6 Không Quân, bị bắt cùng Trung
Tướng Nguyễn Vĩnh Nghi khi chiến trường Phan Rang thất thủ.
-Chuẩn Tướng Trần Văn Cẩm, Tư Lệnh Phó, Quân Ðoàn 2.
-Chuẩn Tướng Lê Trung Tường, Tham Mưu Trưởng Quân Ðoàn 3.
-Chuẩn Tướng Huỳnh Văn Lạc, Tư Lệnh Sư Ðoàn 9 Bộ Binh.
-Chuẩn Tướng Mạch Văn Trường, Tư Lệnh Sư Ðoàn 21 Bộ Binh.
-Chuẩn Tướng Lê Văn Thân, Tư Lệnh Phó Biệt Khu Thủ Ðộ. Nhận chức chiều
29/4/1975.
-Chuẩn Tướng Lê Trung Trực, Trường Cao Ðẳng Quốc Phòng.
-Chuần Tướng Vũ Văn Giai, cựu Tư Lệnh Sư Ðoàn 3 Bộ Binh.
-Chuẩn Tướng Trần Quang Khôi, Tư Lệnn Lữ Ðoàn 3 Kỵ Binh.
-Chuần Tướng Lê Văn Tư, cựu Tư Lệnh Sư Ðoàn 25 Bộ Binh.Ðại Tá Nguyễn
Ðình Vinh, Tư Lệnh Phó Quân Khu 4.
-Cựu Thiếu Tướng Huỳnh Văn Cao, Nghị Sĩ.
-Ðại Tá Lê Hữu Ðức, Quyền Tư Lệnh Phó Sư Ðoàn Thủy Quân Lục Chiến.
-Ðại Tá Nguyễn Xuân Hường, Tư Lệnh Lữ Ðoàn 1 Kỵ Binh.
-Ðại Tá Nguyễn Đức Dung, Tư Lệnh Lữ Ðoàn 2 Kỵ Binh.
-Ðại Tá Trần Ngọc Trúc, Tư Lệnh Lữ Ðoàn 4 Kỵ Binh.
-Ðại Tá Nguyễn Khắc Tuân nhận chức Tham Mưu Trưởng Tổng Tham Mưu chiều
29/4/1975. Chết tại trại tù cải tạo Nam Hà, tỉnh Hà Nam Ninh.
-Ðại Tá Lại Ðức Chuẩn, Trưởng Phòng Nhất Tổng Tham Mưu.
-Ðại Tá Phạm Bá Hoa, Tham Mưu Trưởng Tổng Cục Tiếp Vận.
-Ðại Tá Ngô Văn Minh, Tham Mưu Trưởng Biệt Khu Thủ Ðô.
-Ðại Tá Vũ Ðức Nghiêm.
-Hải Quân Ðại Tá Nguyễn Văn May, Tư Lệnh Vùng 5 Duyên Hải.
-Hải Quân Ðại Tá Nguyễn Bá Trang, Tư Lệnh Lực Lượng Ðặc Nhiệm Thủy Bộ
211.
-Hải Quân Ðại Tá Nguyễn Văn Tấn, Quyền Tư Lệnh Hải Quân vào những giờ
cuối cùng.
-Trung Tá Bùi Thế Dung, Thứ Trưởng Quốc Phòng trong thành phần chánh
phủ chưa kịp trình diện.

Những Vị Đã Bị Kẹt Lại - Bị Tù Tập Trung Trên 10 Năm.
-Cựu Ðề Ðốc Trần Văn Chơn.
-Cựu Trung Tướng Nguyễn Hữu Có.
-Cựu Thiếu Tướng Nguyễn Chấn Á.
-Cựu Thiếu Tướng Phan Ðình Thứ, Tự Lam Sơn.
-Ðại Tá Cảnh Sát Ðàm Trung Mộc cưụ Viện Trưởng Học Viện Cảnh Sát Quốc
Gia. Sau 30/4/1975, ông bị giam tại Chí Hòa để rồi tháng 2/1976, ông
bị đưa ra Vĩnh Phú rồi về Hà Tây, và ông mất tại đó vào ngày
14/11/1982, thọ 65 tuổi.

Những Vị Đã Bị Kẹt Lại - Bị Tù Tập Trung Chưa Đến 3 Năm.
-Thiếu Tướng Quân Y Vũ Ngọc Hoàn, cựu Cục Trưởng Cục Quân Y.
-Chuẩn Tướng Quân Y Phạm Bá Thanh, Cục Trưởng Cục Quân Y.
-Ðại Tá Nguyễn Văn Lộc, Tư Lệnh Sư Ðoàn 106 Biệt Ðộng Quân. Sư Ðoàn
này thành lập vào những ngày cuối tháng 4/1975 và bảo vệ vùng Phú Lâm,
cửa ngõ phía Tây Sài Gòn. Thời gian trong tù chưa đến một năm.
-Ðại Tá Dương Thanh Sơn, em ruột Tổng Thống Dương văn Minh.

Danh sách còn thiếu sót có thể không chính xác, xin quý thân hữu bổ
túc.

> để hòng ... ỏng ...
>
> read more »

Reply all
Reply to author
Forward
0 new messages