Chào cả nhà,
Trước hết mời các anh chị cả nhà xem đoạn clip sau về những gì đã diễn ra tại Gạc Ma vào ngày 14/3/1988 (một phần clip do Hải quân Trung Quốc cung cấp) :
First News trong thời gian qua (từ ngày Trung Quốc đặt giàn khoan 981, dàn khoan chỉ là cách nghi binh thu hút quan tâm của VN và thế giới, và mục tiêu chính nhất của Trung Quốc là tằng cường tiến độ xây dựng căn cứ quân sự và sân bay ở Gạc ma) đã tổ chức cùng những anh em tâm huyết ngày đêm thực
hiện cuốn sách đầu tiên về vụ thảm sát ở Gạc Ma – Trường Sa năm 1988 với mong muốn tưởng niệm 64 chiến sĩ Hải Quân và Công Binh Việt Nam (bị Trung Quốc xả súng bắn chết hết vào ngày 14/3/1988) nhân ngày THương Binh Liệt Sĩ 27 – 7 -2014 này, Sau thời gian chuẩn bị tư liệu và chứng cứ, nhân chứng rất kỹ cho cuốn sách nhưng do giấy phép qua quá nhiều khâu nên không kịp xuất bản vào ngày 27/7 này. Cuốn sách sẽ dời ngày chắc chắn xuất bản đến 2/9/2014 và dự định sẽ dịch ra tiếng Anh xuất bản ở Mỹ, và phát hành trên Amazon.
Nhân ngày Thương Binh Liệt Sĩ, tôi xin phép được trích đăng chương đầu của cuốn sách GẠC MA – VÒNG TRÒN BẤT TỬ để chia sẻ cùng gia đình AITA trước.
Về bản tiếng Anh của cuốn sách này, First News đang trong giai đoạn chuyển ngữ và nếu anh em nào yêu thích và quan tâm có thể dịch ra tiếng Anh thì vui lòng liên hệ để cùng thực hiện.
Chúc cả nhà khỏe mạnh và nhiều niềm vui.
Nguyễn Văn Phước
Sau đầy là phần đầu cuốn sách:
Tiếp theo Lời mở đầu của Anh Đào Văn Lừng – Vụ Trưởng Ban Tuyên Giáo Trung Ương (file đính kèm)
là Lời Giới Thiệu cuốn sách do James Zumwalt viết, và bài viết nay sẽ đăng trên một tờ báo lớn và uy tín ở New York vào tuần sau ở Mỹ:
THE MASSACRE “NOT HEARD ‘ROUND THE WORLD”
By James Zumwalt
Con trai của Đô Đốc Hải Quân Mỹ Zumwalt
It is one of the most flagrant atrocities in modern times.
Unsurprisingly, the perpetrator did not report it but, surprisingly, neither did the victim. Perhaps the latter, lacking evidence to show the world it had occurred, chose to do so.
In June 2012, a
video of the incident was released. Normally, a country committing such an atrocity would remain silent about it. Yet, this video was released by the perpetrator, raising the question as to why.
It was March 1988; the countries involved were China and Vietnam. The incident took place in the South China Sea where a dispute between the two over ownership of the Spratly Islands was ongoing then and still exists today.
As a result of Vietnam’s silence at the time, not even the Vietnamese people were aware the incident had taken place until China released the video—generating anger that it happened and at their government’s silence.
The Spratlys are an archipelago of approximately 750 reefs, islets, atolls, and islands.
The incident involved three reefs/atolls in very close proximity to
each other. Each had such low elevation, the seas sometimes partially submerged them.
In anticipation the Chinese would attempt to occupy the reefs, two Vietnamese transport ships, HQ-604 and HQ-605, carrying 73 Vietnamese soldiers were ordered to land workers there to begin construction of fortifications.
Vietnamese soldiers landed on Gac Ma reef, known on Western maps as the Johnson South Reef, on the evening of March 13, 1988.
The two Vietnamese transport ships presented only a cursory military threat. They were commercial vessels pressed into service to carry troops and construction materials and, as such, were very lightly armed. They had to close within 500 meters of a target for their guns to be effective.
It was on the Johnson South Reef that the incident took place.
With Vietnamese forces dropped there, the two transport ships headed for the other two atolls.
As dawn came on March 14, 1988, Chinese warships approached the reefs. Not only did they have their own landing force aboard transport ships but their accompanying destroyers provided ample fire power to support them ashore.
It was clear, should a confrontation between the Chinese and Vietnamese naval forces occur, the advantage was China’s due to the much greater range of their guns.
Vietnamese flags had been raised on Johnson South reef and, by this time, on one other atoll, Co Lin.
On Johnson South Reef, lightly armed military construction workers—a unit comparable to our own U.S. Navy Seabees—fell under the command of 2nd Lieutenant Tran Van Phuong. Despite
the presence of the Chinese flotilla lurking nearby, the Vietnamese focused on their construction work.
Around 6 am, several small assault boats, each loaded with well-armed marines, were launched from the Chinese transport and headed for Johnson South Reef.
The Vietnamese immediately formed a 360 degree defensive perimeter with their flag in the center—in a configuration dubbed “the immortal circle”—demonstrating their resolve to defend the reef at all costs.
With few infantry soldiers on the atoll, the Vietnamese Seabees were ordered to help complete the perimeter. The assault boats landed and, in what was primarily close-in combat due to the shortage of real estate, the Chinese unsuccessfully attempted to penetrate the perimeter.
As Lieutenant Phuong grabbed the
Vietnamese flag to prevent its capture, he was shot in the head. It was immediately picked up by Nguyen Van Lanh, who held on to it until he was repeatedly stabbed and shot. Miraculously surviving his attack, and as the Chinese withdrew, Lanh then found he and other survivors subjected to an intense naval bombardment and withering machine gun fire from the Chinese ships.
Simultaneously, the bombardment was directed at the Vietnamese transport HQ-604 which, as expected, proved incapable of returning return fire as the Chinese ships remained well out of range. Taking on water, the ship was maneuvered for beaching on Johnson South Reef when a direct hit on the engine room caused it to quickly sink with many still onboard.
The Chinese next attacked HQ-605. It soon burst into flames, forcing its captain to order abandon ship.
What is
most disturbing about the video is what happened next. At this point, the Vietnamese survivors on the reef posed absolutely no threat to the Chinese. But the video shows Chinese naval gunfire being concentrated on Johnson South Reef where Vietnamese survivors had no cover. Gunfire rakes the reef as defenseless defenders stoically stand, awaiting the final onslaught—their fate sealed as one-by-one they fall into the water in defense of Vietnamese soil. For Chinese attackers, the challenge was the proverbial “shooting fish in a barrel.”
The video leaves one in disbelief. The Vietnamese were sitting ducks. One can only sense the helplessness they felt as the Chinese mercilessly began to cut them down. Nine Vietnamese survivors were held for three years.
Today, China occupies the reef on which it has built a base and is constructing an airfield.
The Vietnamese lost 64 courageous soldiers that day. Among the survivors was the badly wounded Lanh.
But why would China, after 24 years of silence, release the video?
The answer lies with China’s Haiyang Shiyou 981, a semi-submersible oil rig deployed on May 2, 2012 in the South China Sea near the Paracel islands—another island chain, ownership of which is also disputed by the two countries. The move by China triggered a number of confrontations at sea between the two.
A month later, China unabashedly released the video as a veiled threat to Vietnam that what happened in 1988 could happen again.
Clearly China intends to use the threat of its military might—unchallenged by any of its regional neighbors—rather than diplomacy to “negotiate” the
ownership issue.
While the 1988 atrocity by China at Johnson South Reef was the massacre “not heard ‘round the world,” Beijing’s subsequent brazen release of a video documenting it provides another chance to ensure this time it is.
- James Zumwalt
Gac Ma - Vòng Tròn Bất Tử
Máu nhuộm bãi đá san hô
Trong suốt chiều dài lịch sử của dân tộc Việt Nam, gần như giai đoạn nào cũng có sự việc Trung Quốc đã dùng vũ lực để xâm lấn, cưỡng chiếm cương thổ của Việt Nam.
Gần đây nhất, Trung Quốc đưa quân cưỡng chiếm quần đảo Hoàng Sa của Việt Nam. Trận hải chiến bi tráng ngày 19.1.1974 vẫn
chưa phai mờ trong ký ức bao người con đất Việt. 74 thuỷ thủ quân lực Việt Nam Cộng hoà đã chiến đấu và nằm lại vĩnh viễn nơi vùng biển đảo thiêng liêng của Tổ quốc. Kế tiếp là cuộc chiến tranh biên giới 1979, Trung Quốc đã đưa quân xâm lược, gây đẫm máu đồng bào Tây Bắc. Nỗi đau chưa nguôi ngoai trong lòng dân tộc, thì ngay tiếp những năm sau đấy, Trung Quốc lại tiếp tục dùng vũ lực đánh chiếm đảo đá chìm Gạc Ma, thuộc quần đảo Trường Sa của Việt Nam - ngày 14.3.1988. Trong một cuộc chiến không cân sức để bảo vệ đảo đá Gạc Ma, 64 chiến sỹ Hải quân Nhân dân Việt Nam đã kiên cường chiến đấu và anh dũng hy sinh, họ đã nằm lại mãi mãi nơi đáy biển sâu.
Dù trong bất kỳ hoàn cảnh lịch sử nào, hình ảnh những người con nước Việt đã ngã xuống để bảo vệ sự toàn vẹn lãnh thổ cho Tổ quốc đều đi vào bất tử trong lịch sử dân tộc. Song bên cạnh những vinh dự to lớn về sự hy sinh quả cảm vì Tổ quốc, dân tộc, vì sự toàn vẹn lãnh thổ của các anh, thì vẫn còn đó nhiều quân nhân khó khăn vất vả trong cuộc mưu sinh sau ngày trở về, nhiều gia đình thân nhân họ còn cơ cực trong cuộc sống cho đến ngày hôm nay...
Ký ức người lính và cuộc đời hậu chiến
Thuyền trưởng Vũ Huy Lễ: Chúng tôi đã chiến đấu anh dũng
Vừa trở về sau chuyến ra Trường Sa cùng với Bộ Ngoại giao và phái đoàn Việt kiều cách đây khoảng một tháng, nguyên thuyền trưởng tàu HQ 505 nổi tiếng vui vẻ tiếp chuyện phóng viên. Hiện
đang nghỉ hưu ở khu Lũng Bắc, phường Đằng Hải, quận Hải An, thành phố Hải Phòng, ở tuổi 70, ông Vũ Huy Lễ vẫn hằng ngày theo dõi các thông tin liên quan đến việc Trung Quốc cho giàn khoan Hải Dương 981 vào vùng biển nước ta. Sau 15 năm mới trở lại Trường Sa, chứng kiến sự lớn mạnh của hải quân nhân dân Việt Nam, ông tin tưởng rằng mình đủ sức mạnh để giữ vững được đảo của mình.
Đại tá Anh hùng Vũ Huy Lễ
Đại tá Vũ Huy Lễ kể lại:
Sau thời gian đi học Trường Sỹ quan Chỉ huy Kỹ thuật Hải quân ở trong nước và Học viện Hải quân Liên Xô (Học viện Leningrat), năm 1982, tôi về nước mang quân hàm thiếu tá và được
cử làm thuyền trưởng tàu HQ 505 (loại tàu vận tải đổ bộ hạng lớn của Mỹ ta thu được năm 1975) có sức chở trên 1.000 tấn, chiều dài gần 100m, rộng 30 m.
Nhiệm vụ của tàu HQ 505 là đổ bộ chiến đấu và vận tải quân sự cho quần đảo Trường Sa và các đảo khác theo yêu cầu, phục vụ nhiệm vụ sẵn sàng chiến đấu và xây dựng của Quân chủng Hải quân. Đầu năm 1988, tàu chúng tôi nhận lệnh chở vật liệu xây dựng công trình và hàng quân sự vào cảng Cam Ranh (Khánh Hòa). Theo kế hoạch, trả hàng xong chúng tôi sẽ tiếp tục nhận hàng ra Bắc ăn tết.
Tuy nhiên, tình hình lúc đó, Trung Quốc ngang nhiên chiếm đóng đảo Chữ Thập (thuộc quần đảo Trường Sa), nên Chi bộ và Chi ủy tàu cùng lãnh đạo, cán bộ chiến sĩ được quán triệt sâu sắc tình hình nên anh em sẵn sàng nhận bất cứ nhiệm vụ gì được giao: sẵn sàng trực chốt, giữ đảo, ăn tết trên tàu, trên biển. Lúc đó, một số đồng chí được cho nghỉ phép về quê ăn tết, trên tàu còn 9 sỹ quan và trên 40 quân nhân chuyên nghiệp. 23 tết Mậu Thìn (ngày 13.2.1988), chúng tôi nhận lệnh chở vật tư công trình và kéo LCU 556 (loại tàu há mồm, đổ bộ của Mỹ) ra chốt giữ đảo Đá Lớn.
Chặng đường 460 hải lý từ Cam Ranh đến đảo Đá Lớn trong điều kiện bị ngược sóng, ngược gió, phương tiện chỉ dẫn chỉ có một chiếc la bàn, chúng tôi đi bằng kinh nghiệm, cứ đè lái gối sóng, gối gió mà đi. Do phải kéo theo LCU nên tốc độ tàu đi rất chậm. 5 ngày sau tàu mới đến được Đá Lớn (bình thường chỉ mất khoảng 2 ngày). Tại đây, chúng tôi trực chốt hơn 1 tháng. Suốt thời gian đó, đối phương liên tục cho máy bay bay thấp trinh sát, hoặc cho tàu đến gần đảo uy hiếp, khiêu khích, cản trở quân ta. Có hôm, quân Trung Quốc còn dùng loa công suất lớn đe
dọa, yêu cầu chúng tôi rời khỏi khu vực, nếu không họ sẽ bắn chìm tàu. Nhưng chúng tôi không hề sợ và vẫn thực hiện đúng đối sách trên biển theo chủ trương của chỉ huy - chốt đảo giữ đảo.
Ngày 13.3.1988, chúng tôi đang làm nhiệm vụ tại Đá Lớn trong tình trạng tàu đã gần hết nước ngọt, lương thực thực phẩm chỉ còn 3 ngày thì tàu HQ 604 cập mạn. Đồng chí Trần Văn Thông, Lữ đoàn phó Lữ đoàn 146 và đồng chí Vũ Phi Trừ, thuyền trưởng tàu HQ 604 sang tàu tôi giao mật lệnh chỉ huy “Khẩn trương đưa tàu HQ 505 đến chốt giữ đảo Cô Lin thuộc cụm đảo Sinh Tồn
trước 18h cùng ngày, đi trong đội hình có tàu 604 đến chốt giữ Gạc Ma. Yêu cầu hành trình phải bí mật, bất ngờ, đúng thời hạn, vị trí, xử lý tình huống chính xác khi địch ngăn chặn, cản đường, không để mắc mưu đối phương”. Nhận nhiệm vụ xong, 12 giờ 30 tôi nhổ neo cho tàu xuất phát đến Cô Lin.
Trên đường hành trình, tàu chiến của Trung Quốc (tàu biển hiện 502) liên tục ngăn chặn, có lúc địch còn thả trôi đúng hướng đi của tàu chúng tôi, nhưng tàu HQ 505 vẫn vững hướng đi và giữ đúng tốc độ, kéo còi tránh va yêu cầu nhường đường. Khi tàu mình đến
gần, họ mới nổ máy tránh đường. Rất nhiều lần ngăn cản tàu chúng tôi không được, tàu Trung Quốc quay sang ngăn cản tàu HQ 604, nhưng cũng không làm chùn bước anh em.
Đảo Cô Lin
Chiều tối ngày 13.3.1988, tàu HQ 505 chúng tôi neo cách ở phía nam cách đảo Cô Lin 200 mét, hoạt động bình thường. Đảo Cô Lin thực chất chỉ là một bãi san hô hình tròn có diện tích gần 1 km2. Thủy triều lên, bãi ngập chìm trong nước, triều rút xuống chỉ thấy đá mồ côi và những mỏm san hô nhô lên, còn lại hầu hết là san hô bằng phẳng, nước xâm xấp, có thể đi lại được. Đảo không có đất, không có cát.
Lúc cả tàu
đang ăn cơm tối thì Trung Quốc cho 2 tàu chiến tiến lại sát tàu mình, rồi lại vòng sang tàu HQ 604 bên đảo Gạc Ma để trinh sát, do thám. Chúng tôi lập tức hội ý Ban chỉ huy tàu và nhận định: “Đêm nay hoặc sáng mai Trung Quốc sẽ lên chiếm đảo của ta. Vì vậy, đến khi thủy triều rút xuống thấp nhất, ta sẽ hạ xuồng lên đảo, dùng cuốc chim và xà beng đào lỗ cắm cờ trên bãi san hô ở vị trí cao nhất”. Tôi cử một tổ gồm 7 người do đồng chí Võ Tá Du - chính trị viên và đồng chí trung úy Phạm Xuân Điệp – ngành trưởng hàng hải lái tàu – chỉ huy công tác chuẩn bị và sẵn sàng hạ xuồng cứu sính lên đảo cắm cờ.
Tôi cũng đã điện về Sở chỉ huy báo cáo tình hình hoạt động của đối phương và nhận định của tôi, đồng thời báo cáo phương án hoạt động của mình nhưng không bắt được liên lạc do bị địch gây nhiễu sóng. Tôi lệnh đồng chí báo vụ mở máy trực liên tục theo phương án đã định. Cứ một tiếng lại mở ra-đa một lần để theo dõi các mục tiêu trên biển. Đêm ấy, anh em chỉ huy chúng tôi không ai ngủ được nên đã rủ nhau ngồi câu cá chờ thông tin liên lạc ở nhà chỉ đạo và chờ nước xuống.
Khoảng 1 giờ đêm 14.3, chúng tôi bắt được liên lạc với sở chỉ huy “Sở nhất trí như nhận định và phương án của đồng chí Lễ, hãy cảnh giác, sẵn sàng chiến đấu, chủ động xử lý các tình huống phức tạp có thể xảy ra”. Tôi thông báo điện cho các đồng chí cán bộ tàu và cho tổ cắm cờ hạ xuồng lên đảo.
Khoảng 4 – 5 giờ sáng, tổ cắm cờ về đến tàu, mọi người thức dậy chuẩn bị ăn sáng. Lúc này, đồng chí Trắc thủ ra-đa và đồng chí Văn tổ quan sát báo cáo phía Gạc Ma có nhiều mục tiêu tiến lên đảo. Tôi lên đài
chỉ huy quan sát và hô báo động chiến đấu, đồng thời hạ lệnh nhổ neo khẩn cấp.
Lúc này trên tàu có tôi, đồng chí Tư - thuyền phó, đồng chí Du - chính trị viên, đồng chí Thắng – máy trưởng tàu. Chúng tôi nhìn sang đảo Gạc Ma (cách chỗ tàu HQ 505 gần 2 hải lý), tôi thấy hai tàu chiến Trung Quốc đang ở phía sau bắn đạn, pháo vào tàu HQ 604. Trên đảo lố nhố người. Chỉ một lát sau khi bị bắn, tàu HQ 604 bắt đầu chìm.
Sau khi tàu HQ 604 chìm, hai tàu chiến Trung Quốc liền quay súng sang tấn công tàu HQ 505 bằng hỏa lực 75 - 85 - 100 li. Đạn pháo đã làm toàn bộ mạn phải tàu bị cháy, thủng, phòng truyền thông tin, phía boong bốc cháy dữ dội, đồng chí báo vụ bị thương, phòng thuyền trưởng trúng đạn phía dưới, đài chỉ huy trúng đạn, dưới vạch mớn nước. Hầm dầu trúng đạn bốc cháy dữ dội. Toàn tàu mất điện.
Do phòng truyền tin bị vô hiệu hóa nên chúng tôi không thể báo cho sở chỉ huy biết để ứng cứu. Lúc này
nước đã tràn vào hầm tàu và các khoang, hệ thống điện đã bị hỏng nên không lái được tàu, cộng thêm gió mùa đông bắc cứ đẩy tàu mỗi lúc một xa đảo hơn. Tôi đã yêu cầu anh em phải xuống hầm để chuyển sang chế độ lái cơ (bằng tay). Nhưng vì tàu bị mất điện, hầm máy tối nên anh em không nhìn thấy đường để thực hiện lệnh. Cùng lúc đó, một quả đạn pháo của đối phương bắn trúng hầm tàu, làm rách một mảng hầm, ánh sáng tràn vào nên thợ máy mới thực hiện được việc chuyển chế độ sang lái cơ.
Thuyền trưởng Vũ Huy Lễ và cán bộ chiến sĩ tàu HQ 505 (ảnh tư liệu)
Do hai máy chính đều bị sự cố không hoạt động được, nước tràn vào làm nghiêng tàu, khả năng tàu bị chìm như tàu HQ 604 là hoàn toàn có thể xảy ra. Lúc đó, tôi nhận định, tính mạng 50 cán bộ chiến sĩ sẽ nguy hiểm, mất tàu mà đảo cũng không giữ được. Trước tình thế hiểm nghèo, tôi đã bàn bạc với anh em, quyết định
phải nhanh chóng khắc phục sự cố máy tàu, đồng thời thực hiện việc bịt rò, chống đắm. Ít lâu sau, anh em báo lên máy đã được sửa chữa, tôi đang ở đài chỉ huy đã ra lệnh sử dụng một máy tiến một máy lùi để quay mũi tàu theo hướng chính diện với đảo, rồi dùng cả hai máy chạy hết công suất, lao vút lên. Kết quả, 2/3 tàu đã lên được đảo, biến tàu thành một pháo đài để chống lại tàu chiến Trung Quốc.
Lao được tàu lên bãi cạn tại đảo rồi, vũ khí chỉ còn súng bộ binh nhưng anh em quyết tâm giữ đảo đến cùng, chống lại sự tấn công của địch. Biết
tàu tôi lên bãi cạn, không thể chìm được nữa, đối phương còn bắn một đợt nữa mới thôi và lùi ra xa. Tôi tổ chức cho anh em chữa cháy, cứu thương.
Lúc này, phía đảo Gạc Ma là cảnh tượng tan hoang ghê gớm. Nhiều mảnh vỡ, đồ đạc của tàu trôi dạt khắp nơi. Tôi đã lệnh cho hạ xuồng cứu sinh để cứu đồng đội. Trong đó, xuồng phía mạn phải tàu bị trúng đạn của địch nên bị hư hỏng, không sử dụng được. Chỉ còn xuồng phía mạn trái bị trúng đạn ít, được anh em khắc phục rồi hạ xuống biển. Hai đồng chí Nguyễn Xuân Đỉnh (trung úy chuyên nghiệp) và
Dương Hải Nam (bí thư Đoàn) cùng với 3 cán bộ, chiến sỹ hạ xuồng cứu sinh (loại lớn) sang Gạc Ma tìm kiếm. Đến 12 giờ cùng ngày, xuồng quay về với 44 người, cả chiến sĩ, thương binh và tử sĩ. Trong số này, 5 người đã hi sinh, nhiều người bị thương.
Cùng lúc với tàu HQ 604, tàu HQ 605 của ta cũng bị tàu chiến Trung Quốc bắn ở đảo Len Đao (cách Cô Lin 10 hải lý). Mặc dù tàu 605 cũng tìm cách lao lên đảo, nhưng do đảo không thoải như Cô Lin nên tàu chỉ ghé được mũi lên đảo, khi nước rút, tàu bị tụt xuống biển rồi chìm vào lúc 6 giờ ngày 15.3. Anh em trên tàu này đã
bơi được về đảo Sinh Tồn.
Đến tầm 11 – 12 giờ trưa ngày 14.3, tàu HQ 671 ra cập mạn phía sau lái, chúng tôi chuyển số anh em, tử sĩ tàu HQ 604 lên tàu và đưa về đảo Sinh Tồn. Tôi cũng viết báo cáo cho sở chỉ huy toàn bộ diễn biến của trận đánh, hiện trạng của ta và địch. Tàu ứng cứu cũng giúp chúng tôi dập các đám cháy trên tàu, sửa chữa một số hư hỏng tạm thời.
Tầm 4 – 5 giờ
chiều, nhìn hai lá cờ tung bay trên đảo và trên tàu, tôi đặc biệt xúc động. Đảo mình đã giữ được, nhưng nghĩ đến anh em hi sinh lại ngậm ngùi, căm phẫn. Tuy nhiên, thấy rằng cần phải có lực lượng ở lại để chiến đấu, giữ đảo, nên ngay sau đó, tôi xin cấp trên chuyển toàn bộ anh em trên tàu HQ 505 về đảo Sinh Tồn, chỉ để lại 9 cán bộ chiến sỹ ở lại chiến đấu. 5 thi thể chiến sĩ được đưa về chôn cất tại đảo Sinh Tồn, 4 năm sau được chuyển về đất liền. Sau này tôi được biết, tất cả có 64 người hi sinh, 9 người bị bắt làm tù binh trong trận chiến 14.3.
Những ngày ở lại là những ngày cực kỳ căng thăng. Chúng tôi thường xuyên phải đối phó với sự đe dọa của tàu chiến Trung Quốc. Mỗi ngày hai lần vào buổi sáng và tối, Trung Quốc cho tàu chiến đấu đến gần tàu tôi để uy hiếp, đe dọa, chĩa nòng pháo thẳng vào tàu, rồi dùng loa yêu cầu chúng tôi rời khỏi tàu. Có ngày, chúng đến rất gần. Nghĩ đến anh em trên tàu HQ 604 đã hi sinh, chúng tôi rất căm phẫn, muốn sử dụng DKZ, B40, B41 bắn sẽ chìm tàu của chúng. Nhưng khi báo cáo về sở chỉ huy việc quyết tâm bắn, để báo thù cho tàu HQ 604, sở chỉ huy đã trả lời: “Nắm vững đối sách trên biển, chỉ nổ súng khi đối phương đổ quân lên tàu, lên đảo. Bình tĩnh, sáng suốt, kiên cường bám đảo, không mắc mưu đối
phương”.
Theo đại tá Vũ Huy Lễ, 64 cán bộ, chiến sỹ Gạc Ma hi sinh trong khi đang làm nhiệm vụ xây dựng nhà và công trình trên đảo Gạc Ma. Lúc hi sinh, anh em chỉ có vũ khí là tiểu liên, AK, không có súng lớn.
Sau ngày 14.3, ông Lễ cùng với 9 đồng đội khác đã kiên trì bám trụ lại trên "bệ pháo HQ 505" ở Cô Lin suốt 2 tháng sau đó. Ngày nào quân Trung Quốc cũng cho tàu chiến đến đe dọa. “Có ngày chúng quấy nhiễu ba đến bốn lần, dùng loa réo tên tôi ra hàng. Nhưng điều đó khiến tôi
và anh em càng quyết tâm bảo vệ đảo”, ông kể. Không chỉ căng thẳng về tinh thần, do thực phẩm cạn, tiếp tế khó khăn, cứ đêm đến vài chiến sĩ phải đốt đuốc xuống bãi san hô bắt cá. Có hôm ăn bị ngộ độc, nhiều người đau buốt xương khớp, cả tuần mới khỏi. Dù có thể rút về đảo Sinh Tồn nghỉ ngơi, phục hồi sức khỏe nhưng thuyền trưởng Lễ đã bám trụ lại đảo Cô Lin cùng các chiến sĩ đến tháng 6.1988, chính vì thế mà chủ quyền trên đảo Cô Lin được giữ vững cho đến ngày hôm nay.
Sau khi giữ vững được chủ quyền tại đảo
Cô Lin trở về, với chiến công oanh liệt, tàu HQ 505 được nhà nước tuyên dương Anh hùng Lực lượng Vũ trang Nhân dân; Các ông Vũ Phi Trừ, Vũ Huy Lễ, Nguyễn Văn Lanh, Trần Văn Phương được phong tặng danh hiệu Anh hùng Lực lượng Vũ trang Nhân dân; hàng chục tập thể và cá nhân được tặng thưởng Huân chương Quân công, Huân chương Chiến công các loại.
Cuộc đời binh nghiệp của ông Vũ Huy Lễ còn tiếp diễn. Sau khi rời tàu HQ 505 và đảo Cô Lin, ông được phong làm Lữ đoàn trưởng Lữ đoàn 955 của Hải quân Vùng 4. Ông kể lại: “Khi tôi làm thuyền
trưởng, tôi luôn được quán triệt phải giữ mối hòa khí giữa ta với đối phương, không để xảy ra xung đột vũ trang mà nguyên nhân là do ta gây ra. Ở trận chiến Gạc Ma, chúng tôi không phải là bên gây ra sự việc này, mà chính là họ đã ngăn chặn, đe dọa và tấn công chúng tôi”.
Trả lời về câu hỏi quần đảo Hoàng Sa bị Trung Quốc chiếm năm 1974, những chiến sĩ của quân đội Việt Nam Cộng hòa đã hi sinh để giữ đảo, ông Lễ nói: “Đã là người Việt Nam, bất kì ai, bất kì phía nào có lòng chiến đấu, hi sinh vì Tổ quốc, chúng tôi đều trân
trọng. Họ đều là người Việt Nam giữ đảo”.
Hiện tại, đại tá Vũ Huy Lễ đã nghỉ hưu, sống cùng con cháu tại khu Lũng Bắc, quận Hải An, thành phố Hải Phòng. Con trai ông cũng nối tiếp truyền thống của cha mình – anh đang công tác tại Bộ tư lệnh Hải quân. Hàng năm, ông Lễ vẫn tổ chức gặp gỡ các anh em trên tàu HQ 505 xưa để ôn lại truyền thống. Gặp nhau khi mái đầu đã bạc nhưng niềm vui và sự tự hào về việc đã chiến đấu anh dũng, giữ được đảo Cô Lin không phai mờ trong tâm trí những người lính năm xưa. Tuy nhiên, nỗi nghẹn ngào khi
nhớ đến những đồng đội đã hi sinh trong khi giữ đảo Gạc Ma cũng vẹn nguyên trong lòng họ.
Thuyền trưởng Vũ Huy Lễ giờ đã trở thành một ông già trồng cây ở Hải An, Hải Phòng
Đại tá Trịnh Xuân Trường: Máu đồng đội tôi nhuộm đỏ biển Đông
Đã bao mùa biển động nhưng ký ức ngày 14.3.1988 vẫn như nguyên vẹn trong tâm trí đại tá Trịnh Xuân Trường. Trong trận chiến đấu bảo vệ chủ quyền thiêng liêng của Tổ quốc, 64 đồng đội của ông đã ngã xuống, máu của họ nhuộm đỏ nước biển Đông.
Khi chiến dịch Hồ Chí Minh toàn thắng, đơn vị C1, D1, 126 đặc công Hải quân của ông tham gia giải phóng bán đảo Sơn Trà (quân cảng Đà Nẵng) và quần đảo Trường Sa, gồm các đảo Song Tử, Sơn Ca, Nam Yết, Sinh Tồn, Trường Sa lớn. Ngày 7.5.1975 các đảo này được bàn giao cho Sư 2, Quân khu 5 chốt giữ, đơn vị của ông Trường trở về Cát Lái. Đến tháng 2.1976 do đặc thù nhiệm vụ bảo vệ chủ quyền biển đảo, các đảo thuộc quần đảo Hoàng Sa lại được giao
cho Bộ tư lệnh Hải quân quản lý, xây dựng, mà trực tiếp là lữ đoàn 126. Một lần nữa ông lại được trực tiếp ra làm nhiệm vụ xây dựng và bảo vệ trên đảo Sơn Ca với cương vị tiểu đội trưởng, trung đội phó.
Do tình hình biên giới phía Tây Nam, lữ đoàn 126 được điều động lực lượng cơ quan và các đơn vị huấn luyện tại bán đảo Cam Ranh tham gia chiến dịch Tây Nam. Lực lượng ở các đảo và một số cơ quan được thành lập lữ đoàn 146 làm nhiệm vụ xây dựng và bảo vệ chủ quyền quần đảo Trường Sa (tháng 10/1977), gọi tắt là đoàn
Trường Sa.
Năm 1978, Trịnh Xuân Trường cùng đoàn cán bộ lữ đoàn và quân chủng hải quân khảo sát và triển khai lực lượng chốt giữ các đảo: Phan Vinh, An Bang, Trường Sa Đông, Sinh Tồn Đông. Hoàn thành nhiệm vụ triển khai chốt giữ 4 đảo trên, ông được cấp trên cho về trường văn hóa quân chủng ôn thi và học tại Trường Sĩ quan Hải quân (nay là Học viện Hải quân). Sau 3 năm, ông được điều trở lại lữ đoàn 146 công tác và ở trên các đảo Nam Yết, Thuyền Chài. Sau đó, ông được đi học Trường Đảng quân chủng Hải quân và trở lại cơ quan làm
công tác tổ chức. Tình hình biển Đông căng thẳng, đại úy Trịnh Xuân Trường được điều trở lại Trường Sa.
Đại tá Trịnh Xuân Trường nhớ lại:
“Từ Tết năm 1987, 1988 tình hình biển Đông trở nên phức tạp. Trung Quốc đưa quân chốt giữ một số bãi đá ngầm thuộc chủ quyền Việt Nam
như Châu Viên, Chữ Thập… Xuất phát từ tình hình đó quân chủng Hải quân chỉ thị lữ đoàn 146 vùng 4 Hải quân (lữ đoàn Trường Sa), trung đoàn Công binh 83 (E83 Công binh Hải quân), đoàn 125 và lữ đoàn tàu 171 cùng một số lực lượng khác trong quân chủng Hải quân tập trung xây dựng và chốt giữ các bãi đá ngầm thuộc chủ quyền của Việt Nam trên quần đảo Trường Sa, trong đó có cụm đảo Sinh Tồn với 3 tàu HQ 604, HQ 605 và HQ 505.
Tôi lúc đó
đang là trưởng ban tổ chức lữ đoàn 146 Trường Sa được chỉ định làm phó chính trị lực lượng xây dựng, chốt giữ đảo, đi theo tàu HQ605. Đồng chí trung tá Trần Đức Thông - Phó lữ đoàn trưởng quân sự làm chỉ huy trưởng lực lượng chốt giữ cụm đảo Sinh Tồn”.
Sau 2 ngày lênh đênh trên biển, đến chiều ngày 13/4/1988, các tàu tập kết đúng vị trí quân chủng giao. Tàu HQ 604 chốt giữ đảo Gạc Ma, tàu HQ 605 chốt giữ đảo Cô Lin và tàu HQ 505 nhận nhiệm vụ tại đảo Len Đa. Các chiến sỹ bắt tay vào nhiệm vụ
bốc vác vật tư thiết bị xây dựng đảo và dựng bia chủ quyền trên các đảo ngầm nói trên. Đại tá Trịnh Xuân Trường nhớ lại:
“4 giờ sáng ngày 14.3.1988, anh em tiếp tục bắt tay vào công việc vận chuyển vật liệu xây đảo. 2 tàu hộ vệ pháo Trung Quốc đậu ngoài khơi thả xuồng con vào các đảo của ta để gây sự. Mỗi xuồng 3-4 tên đổ bộ lên đảo. Thiếu úy Trần Văn Phương cầm lá cờ Tổ quốc cắm lên bia chủ quyền. Một tên lính Trung Quốc trèo lên giật xuống. Phương lại leo lên cắm
lại lá cờ xác định chủ quyền của ta trên đảo Gạc Ma, tên địch lao theo kéo chân. Chúng bắn Phương ngã xuống, hạ sỹ Nguyễn Văn Lanh bị thương.
Sau khi phía Trung Quốc nổ súng, xung đột xảy ra. Hai tàu hộ vệ của hải quân Trung Quốc xả đạn vào 3 tàu của ta đang neo ở các đảo. Tàu HQ 604 chìm ngay tại chỗ. Trước tình thế đó, thuyền trưởng Vũ Huy Lễ hạ lệnh cho máy ủi tàu HQ 505 lên đảo. Khi tàu mới trườn được 1/3 thân tàu lên bãi
cạn thì bị tàu Trung Quốc bắn cháy. Tàu HQ 605 trúng đạn và bốc cháy ngay sau đó. Sau khi bắn vào các tàu của Hải quân Việt Nam, bỏ qua các quy tắc nhân đạo chiến tranh, các tàu Trung Quốc thu quân và bỏ chạy ra khỏi khu vực. Tôi cùng các cán bộ, chiến sỹ trên tàu HQ 605 bị thương nhưng may mắn bám được vào vật liệu nổi và được các đồng đội cứu sau đó”.
Sau khi được đưa vào đảo sơ cứu, đại tá Trịnh Xuân Trường được đưa vào đất liền để cứu chữa với tỷ lệ thương tật 53%. Các chiến sỹ hi sinh được đưa về an táng ở đảo Sinh
Tồn. Năm 1992, đại tá Trịnh Xuân Trường là phó chỉ huy về chính trị đảo Sinh Tồn. Chính ông và các đồng đội trên đảo Sinh Tồn đã cất bốc hài cốt các liệt sỹ hy sinh trong trận Gạc Ma ngày 14/3/1988 và đưa các anh về với đất mẹ.
26 năm đã trôi qua nhưng trong tâm trí người lính đã có 20 năm bám biển và gần 16 năm công tác trên một số đảo thuộc quần đảo Trường Sa vẫn đau đáu một nỗi niềm. 64 đồng đội của ông đã ngã xuống nơi tuyến đầu của Tổ quốc và hài cốt nhiều người trong số họ vẫn chưa được trở về với gia đình.
Xương thịt của đồng đội ông đã hòa tan vào với biển, vào từng con sóng hát mãi bài ca về chiến công quả cảm để bảo vệ toàn vẹn chủ quyền biển đảo Tổ quốc.
Đôi mắt người đại tá bỗng ngấn lệ khi nhớ tới Thiếu úy Trần Văn Phương - người đã ngã xuống khi cắm lá cờ xác định chủ quyền Việt Nam trên đảo Gạc Ma sáng ngày 14.3.1988:
"Tối hôm trước khi xuất phát ra Trường Sa, sau khi họp xong, Phương xin phép ra ngoài mua một số đồ dùng thiết yếu. Khuya muộn, vẫn chưa thấy Phương về. Sốt ruột, lo lắng và hơn cả là sợ chuyến ra đảo sẽ bị ảnh hưởng nên khi Phương về, tôi đã giận quá mà mắng cậu ấy. Thì ra do không bắt được xe nên Phương mới về đơn vị muộn hơn quy định. Rồi ra đảo, chỉ được một hôm là Phương hi sinh. Đó là điều khiến tôi ân hận và day dứt nhất, dẫu biết rằng kỷ luật quân đội nhiều khi buộc con người ta phải nghiêm khắc như thế".
Trở về sau cuộc chiến với thương tật hơn 50%, năm 1994, vì hoàn cảnh gia đình, đại tá Trịnh Xuân Trường được chuyển công tác về Quân khu 4. Công việc cuốn ông đi nhưng mỗi khi có thời gian để nghĩ ngợi ông chỉ có thể giấu nỗi buồn vào tận sâu trong tim mình. Người con trai của ông không may bị tai nạn, mất khả năng lao động, mọi sinh hoạt đều do một tay vợ ông lo liệu. Rồi 2 người con gái tốt nghiệp các trường chuyên nghiệp nhưng chưa có công việc ổn định. Dẫu buồn nhưng ông thấy mình may mắn hơn rất nhiều đồng đội khác đã nằm lại nơi biển xa.
Năm 2013, một cuộc gặp mặt giữa những người lính Trường Sa trong trận chiến bảo vệ cụm đảo Sinh Tồn được tổ chức ở Đà Nẵng. Đồng đội ông, người còn, người mất, người hoàn cảnh khó khăn rồi đường xa cách trở thành ra cuộc trùng phùng ấy không phải ai cũng tới dự được. "Bao giờ anh em gặp nhau được một lần, thật đông đủ, để ngồi hàn huyên tâm sự thì tốt biết mấy. Không biết đến bao giờ những người vợ, người mẹ liệt sỹ Trường Sa mới được đón người chồng, người con thân yêu của mình trở về...", gỡ mục kỉnh khỏi đôi mắt đã ngấn nước, giọng ông như lạc đi.
Cựu binh Trần Thiên Phụng: Ở nước tôi, không ai dạy phải đầu hàng
“Ngoái nhìn về phía đảo Gạc Ma, các chiến sĩ của ta đang giáp lá cà với quân Trung Quốc vừa đổ bộ lên đảo. Lúc đó trên tàu, ai cũng sôi sục. Vì là tàu vận tải, không được trang bị vũ khí như hai tàu quân sự của Trung Quốc đang chờ chực, vây ráp tàu ta trên biển – nên chúng tôi yên vị trí trên tàu, chờ hiệu lệnh.
Bất ngờ tiếng súng trên đảo vang lên, tàu Trung Quốc đồng loạt khai hỏa. Tàu HQ 604 bị trúng đạn vào cabin, chìm dần. Tiếng la hét thất thanh vang lên, nhưng tôi vẫn nghe rõ lời của các đồng đội: Bảo vệ Tổ quốc đến hơi thở cuối cùng! Anh em trên tàu lập tức ôm súng nhảy xuống biển, bơi vào đảo bảo vệ lá cờ Tổ quốc. Nhưng tàu Trung Quốc lao đến ngăn cản, không để bất cứ ai tiếp cận đảo. Chúng tôi lênh đênh trên biển, bấu víu vào những mảnh vỡ của còn tàu cho đến khi bị lính Trung Quốc dí súng vào đầu bắt đầu hàng – tôi và những anh em còn lại ánh mắt rực lửa căm thù.”
Anh Phụng (thứ 3 từ phải sang, hàng trên) cùng vợ và các đồng đội từng bị Trung Quốc bắt làm tù binh
Những dòng ký ức hơn 25 năm
trước, khi chiến đấu bảo vệ Tổ quốc tại vùng biển Gạc Ma của Trần Thiện Phụng lại trở về. Anh kể lại rành mạch kỹ lưỡng đến từng chi tiết nhỏ bởi cho đến bây giờ, hàng đêm anh vẫn day dứt mơ về tiếng sóng rì rào lúc thủy triều xuống bên hòn đảo chìm Gạc Ma. Nơi rất nhiều đồng đội của anh đã anh dũng chiến đấu và nằm lại…
Trong những giấc mơ anh thường gặp, mà đặc biệt là thời gian gần đây, những tiếng rì rào của sóng ở hòn đảo chìm Gạc Ma cứ dồn dập trở về khiến anh không thể nào ngon giấc. Anh nhớ lại
hơn 25 năm về trước, từ phút đầu khi cùng đồng đội bước chân lên tàu đi xây dựng, bảo vệ chủ quyền lãnh thổ. Anh là Trần Thiên Phụng. sinh năm 1965, trú tại khu phố 6, phường 2, thành phố Đông Hà, tỉnh Quảng Trị – người may mắn sống sót trong trận chiến năm 1988 ở đảo Gạc Ma, nơi 64 chiến sĩ Hải quân nhân dân Việt Nam đã anh dũng hy sinh.
Nhớ lại khoảng thời gian vào tháng 3 năm 1988, khi anh cùng đồng đội được lệnh của Trung đoàn E83 chuyển từ Đà Nẵng vào Cam Ranh rồi làm nhiệm vụ xây dựng các đảo chìm thuộc cụm đảo Sinh Tồn, quần đảo Trường Sa vào ngày 12.3, anh kể lại:
Chiều hôm đó, anh em ở E83 và E131 gặp mặt rồi cùng nâng chén chúc mừng, động viên nhau cùng lên đường ra Trường Sa. Buổi gặp ngắn ngủi kết thúc lúc trời tối khi tiểu đoàn trưởng đọc lệnh triệu tập khoảng 30 người ở E83 cùng lính ở Lữ 146 lên tàu HQ 604.
Đến chiều ngày hôm sau, lúc 17 giờ ngày 13.3 tàu ra đến đảo Gạc Ma thì gặp tàu Trung Quốc. Lúc này, biên đội của
ta ngoài tàu HQ 604, còn có HQ 505 và HQ 605 – đều là tàu vận tải, trong lúc đó tàu Trung Quốc đang vờn xung quanh có số hiệu 502 là tàu chiến. Đến 24 giờ đêm, 5 chiến sĩ của ta được lệnh lên đảo cắm cờ, mọi người thức trắng đêm hôm đó để theo dõi động thái của tàu Trung Quốc.
5 giờ 30 sáng 14.3, anh Phụng cùng mọi người trên tàu vui mừng hò reo khi nhìn thấy từ phía đất liền có hai chiếc tàu lớn đang tiến lại. Cứ ngỡ là tàu của ta ra chi viện, nhưng khi đến gần mới biết là hai chiếc tàu chiến của Trung Quốc. Sau khi tàu Trung Quốc dùng
xuồng cao su cho quân đổ bộ lên đảo Gạc Ma, thì bất ngờ tiếng súng nổ rền vang. Liền sau đó, họng súng trên 3 tàu chiến của Trung Quốc phun lửa, nhắm trực tiếp vào tàu vận tải của quân ta bắn phá ác liệt. 7giờ 30 sáng 14.3, tàu HQ 604 bắt đầu chìm, hai chiếc HQ 605 và HQ 505 thương tích đầy mình lao về phía đảo Gạc Ma.
Tiếng của anh em trên tàu HQ604 lạc hẳn đi, nhưng khẩu hiệu “Bảo vệ Tổ quốc đến hơi thở cuối cùng!” vẫn vang lên. Lúc này, anh Phụng cùng một số anh em không bị trúng đạn bị rơi xuống biển. Mọi người gắng gượng
bám vào bất kỳ thứ gì để có thể nổi lên mặt nước rồi ôm súng bơi vào đảo để bảo vệ lá cờ Tổ quốc. Nhưng bị tàu Trung Quốc ngăn cản, các chiến sĩ của ta không tiếp cận được đảo. Mãi cho đến 17 giờ chiều cùng ngày, Trung Quốc bỏ xuồng cao su xuống rồi dí súng vào đầu những người còn sống – bắt đầu hàng.
“Tôi bị thương nặng ở cánh tay, mất nhiều máu. Lính Trung Quốc vớt lên tàu, bắt làm tù binh. Khi về đến Trung Quốc, thông dịch viên cùng tướng Trung Quốc đến hỏi
chúng tôi rằng: Súng đã dí vào đầu, tại sao không chịu đầu hàng. Chúng tôi lại nhìn họ với anh mắt căm thù và trả lời rằng: Ở đất nước tôi, không ai dạy phải đầu hàng.
Thực ra lúc đó tôi bị thương nặng, lại chẳng còn tí sức lực nào. Đồng đội phần lớn đã hy sinh hết. Trong người sôi sục lắm nhưng không làm gì được. Như trung úy Phương đến chết vẫn ôm chặt cây cờ của Tổ quốc, thì có lý do gì để mình đầu hàng đâu. Vì đất nước, phải chấp nhận mất mát chứ.”
Bỗng nhiên hai hàng nước mắt của anh Phụng ngân ngấn. Anh nhìn sang chị Lê Thị Thiên, người vợ đã một thân nuôi đứa con mới tuổi rưỡi cùng ba mẹ già của anh 5 năm trời. Thời gian đó, tờ giấy báo tử đã được gửi đến gia đình, bàn thờ của anh đã được lập và hương khói.
Sau khi bị Trung Quốc bắt làm tù binh rồi chuyển vào nhà tù ở tỉnh Quảng Đông, anh Phụng cùng 8 đồng đội bặt vô âm tín với gia đình, Tổ quốc. Vì không tìm thấy thi thể và bất kỳ thông tin
gì, nên ngày 1.11.1988 Trung đoàn 83 đã gửi giấy báo tử về gia đình anh Phụng báo tin và xác nhận anh Phụng đã mất tích trong lúc đang bảo vệ chủ quyền đảo Gạc Ma, quần đảo Trường Sa của Tổ quốc.
Lúc này, chị Lê Thị Thiên (SN 1967) – vợ anh Phụng một mình nuôi đứa con trai mới tuổi rưỡi và phụng sự bố mẹ già của chồng. Chị khóc ngất, ôm đứa con nhỏ vào lòng. Ngày tiễn chồng ra đi, đứa con nhỏ mới bập bẹ gọi tiếng ba, nay con đã nói rành từng tiếng một thì tin tức về anh Phụng mà gia đình nhận được chỉ là một tờ giấy. Chị vẫn không nguôi hy vọng anh Phụng còn sống sót, trên bàn thờ được lập vội lúc đó chỉ có tấm di ảnh cùng
tờ giấy báo tử.
Bẵng đi một thời gian, bất ngờ chị nhận được dòng tin nhắn ngắn ngủi được Hội Chữ thập đỏ quốc tế gửi tới, trong đó viết: “Anh bị Trung Quốc bắt làm tù binh, em và bố mẹ giữ gìn sức khỏe”. Chị Thiên vui mừng đến ứa nước mắt, niềm hy vọng càng được nhen nhóm khi thông qua Hội Chữ thập đỏ quốc tế, chị biết được rằng sẽ có ngày anh Phụng được thả về. Nhưng cái ngày đó đến mãi tận năm 1991 mới đến, khi cả 9 chiến sĩ của ta được Trung Quốc trao trả về nước qua cửa khẩu ở Lạng Sơn. Chị Thiên mừng quá, bắt ngay chuyến xe đò lên cửa khẩu để đón anh về. Giây phút gặp gỡ đẫm nước mắt, ai cũng
mừng vì anh Phụng đã trở về từ cõi chết.
Đặt chân đến quê nhà, anh Phụng lao nhanh vào nhà, ôm chầm đứa con trai vào lòng. Lúc đi, đứa con trai đầu lòng của anh còn chập chững, thế mà bây giờ đã lớn, cứng cáp và rất giống ba. “Thấy tôi lúc đó, con trai của tôi cứ đứng trơ trơ, cười cười chứ không nói năng gì cả. Ông bà nội, mẹ nó nói ba đó, ba đi xa chừ mới về đó. Nhưng con trai tôi không dám nhìn lâu, rồi chạy đến với mẹ nó” – anh Phụng tâm sự.
Để giúp vợ nuôi sống gia đình, mặc dù sức khỏe không còn như trước, nhưng anh Phụng
vẫn xin làm lơ xe để kiếm đồng ra đồng vào. Những ngày trái gió trở trời, vết thương ở cánh tay và đầu của anh giở chứng nên anh không kham nổi việc. Bỏ nghề lơ xe, anh cùng vợ mở một quán bún nhỏ tại nhà trên đường Kim Đồng ở thành phố Đông Hà. Quán ở góc khuất, mặt bằng ít nên khách đến ăn chủ yếu là bà con ở khu phố. Khó khăn nhưng anh và vợ vẫn gắng tằn tiện để nuôi 3 đứa con ăn học nên người. Người cựu binh năm xưa thật hiền, nước da trắng hơi nhợt nhạt, người nhỏ nhắn và dáng đi chậm rãi.
Trở về sau gần 4 năm bị Trung Quốc bắt làm tù binh, anh Phụng cùng vợ mở quán bún nhỏ để mưu sinh
26 năm đã trôi qua, hỏi về giây phút khi vừa bước chân lên đảo chìm Gạc Ma, anh Phụng chùng mắt xuống:
“Anh em trên tàu hôm đó phấn khởi lắm, vì ở đảo có nhiều san hô đẹp. Thủy triều xuống, từng nhánh san hô đầy màu sắc cuốn hút anh em chúng tôi. Ai cũng nói rằng khi hoàn thành việc xây dựng trên đảo, sẽ hái một nhánh san hô về quê để vừa làm kỷ niệm, vừa tặng người thân. Nhưng việc xây dựng chưa thực hiện được thì máu của đồng đội tôi đã chảy xuống, thấm vào ướt những nhánh san hô đầy màu sắc. Mãi cho đến bây giờ, tôi vẫn băn khoăn, day dứt. Nếu có thể, tôi mong muốn một ngày gần đây, sẽ đặt lên nấm mồ của những
người đã ngã xuống một nhánh san hô lấy từ Gạc Ma - vùng biển của Tổ quốc. Nhưng tôi nghe rằng Trung Quốc đang dùng bê tông đổ trái phép lên hòn đảo chìm này, thì bây giờ hay về sau sẽ lấy đâu ra những nhành san hô đó, để làm yên lòng những đồng đội của tôi đã kiên cường ngã xuống…”.
Tấm huân chương mà anh
Phụng nhận được sau khi thực hiện nhiệm vụ bảo vệ đảo Gạc Ma của Tổ quốc.
Giấy báo tử, thư của Hội Chữ thập đỏ quốc tế được gửi về nhà lúc anh bị Trung Quốc bắt làm tù binh
Cựu binh Dương Văn Dũng: Trận chiến năm xưa là điểm tựa trụ tôi lại với cuộc đời
Với số ít người sống sót trên con tàu HQ 604, trận chiến bảo vệ Gạc Ma 14.3.1988 vẫn là một cơn ác mộng như mới xảy ra đêm qua… Riêng với cựu binh Dương Văn Dũng, trong 64 liệt sĩ có 9 đồng đội là bạn đồng hương Đà Nẵng
của anh. Đã hơn 26 năm qua, những người đồng đội ấy vẫn mãi “thanh xuân” trong ký ức, còn anh thì tuổi già toan đến sớm vì gánh nặng cơm áo với nghề phụ hồ bấp bênh và những xui rủi bất hạnh của đời người…
Gia đình anh Dương Văn Dũng.
Nhà Dũng ở Hòa Cường, một phường thuộc quận trung tâm thành phố Đà Nẵng bị giải tỏa, gia đình anh dìu dắt nhau về quê vợ ở Cồn Dầu, Hòa Xuân (huyện Hòa Vang, thành phố Đà Nẵng). Nhưng rồi người ta làm cầu qua Hòa Xuân xây khu đô thị, gia đình anh lại bị giải tỏa lần nữa để vào khu dân cư mới chỉ 100 mét vuông. Căn nhà cấp 4 tuềnh toàng năm xưa chỉ còn đống gạch vụn nát, xóm làng tan hoang giữa mùa giải tỏa. Người láng giềng chỉ mơ hồ biết tin gia đình anh đã dạt xa ra ngoại vi thành phố, làm nhà mới ở khu đô thị mới Cẩm Lệ. Ở khu phố chưa kịp đặt tên đường, nhà
không đánh số, nhưng lần hỏi “Dũng phụ hồ từng đánh trận Trường Sa” thì ai cũng biết. Dũng kể, anh được Nhà nước đền bù 390 triệu đồng, phải trả tiền mua lại lô đất mới trong diện giải tỏa chính với giá khá rẻ là 70 triệu. Tiền còn lại anh đổ hết vào xây nhà. Vì nghĩ một lần xây nhà, là cũng để lại cho con trai nên anh xây hết diện tích. Nhà mới chưa xong nhưng nhà cũ phải đập đi để bòn từng viên gạch, khung cửa để bồi đắp cho tổ ấm mới. Vừa xong phần thô thì biến động giá, vật tư như lên gấp đôi. Hết tiền, ngôi nhà trơ lại dưới mưa nắng không biết đến bao giờ mới xong...
Trong căn nhà dở dang ở khu đô thị mới chưa một bóng cây, khiến cái nắng tháng ba cũng trở nên gay gắt. Dũng kể chuyện chiến tranh trong ký ức mệt nhoài nhưng người nghe như thấy được từng thước phim sống động qua người cựu chiến binh có thân hình nhỏ bé này. Dũng nhớ lại, tháng 3.1987 anh nhập ngũ cùng 100 tân binh Đà Nẵng, nhưng chỉ vài chục người vào hải quân. Và rồi ngẫu nhiên có đến 10 người đồng hương phường Hòa Cường, trong đó có bạn thân là Phan Văn Sự đã cùng anh có mặt trên con tàu định mệnh HQ 604 để ra Trường Sa làm nhiệm vụ bảo vệ chủ quyền đảo đá Gạc Ma. HQ 604 là một trong ba tàu vận tải của Hải quân Việt Nam, chuyển đá ra xây dựng các đảo chìm Gạc Ma, Cô
Lin và Len Đao. Trong số những chiến sĩ hải quân ngày ấy, không ai hình dung được đó là chuyến hải hành cuối cùng. Lính Trung Quốc đã bất ngờ xuất hiện, nã súng bắn thẳng vào hàng trăm chiến sĩ bộ đội đang ngâm mình dưới biển để cắm cờ, chuyển đá xây đảo trên bãi ngầm san hô.
Nghe và chắp nối những mẩu ký ức vỡ vụn, đau thương của anh Dũng mà giống như đang xem cận cảnh những thước phim giật cục, trầy xước nhưng đầy bi hùng.
“Trong lúc chúng tôi bấn loạn khi nhìn thấy đồng đội gục ngã khi ngâm mình giữ cờ trên bãi Gạc Ma, thuyền trưởng HQ 604 Vũ Phi Trừ đã cho tàu lao về phía tàu Trung Quốc vì trên tàu chúng tôi chỉ có súng AK, B40, B41 - tầm bắn quá ngắn. Ngay lập tức, chúng tôi đã hứng chịu hỏa lực mạnh hơn nhiều lần từ tàu chiến Trung Quốc. HQ 604 bị thủng nhiều chỗ và chìm dần.
Tôi thấy máu đỏ khắp boong, đồng đội ngã la liệt... Đạn như mưa đá, nhưng dường như nó đã tránh tôi. Khi tôi vào buồng lái, thấy thuyền trưởng Vũ Phi Trừ đã “dính” đạn, máu anh trào ra đẫm vạt áo. Hoảng quá, tôi chỉ kịp xé toạc áo mình băng cho anh, nhưng anh xua tôi mau chạy lên boong, nhảy ra biển vì tàu sắp chìm... Tôi chưa kịp chạy thì nước biển đã ngập kín con tàu. Thuyền trưởng của tôi vẫn ôm chặt bánh lái, nằm lại với biển. Còn tôi, khi tỉnh lại đã cuối giờ chiều".
Dũng không hiểu tại sao mình lại sống sót trong khi chiếc tàu vỡ toác và chìm vụt xuống đáy biển.
Trồi lên giữa những vật nổi như gỗ cốp-pha, thùng phuy, can nhựa nhưng anh không dám ôm vào bất cứ thứ gì. Bám hờ vào một cây gỗ, anh bơi nhẹ ra thật xa mới dám nhô lên trên để thở. Và âm thanh đầu tiên anh nghe thấy là tiếng la hét vui mừng của quân chiếm đảo. Dương Văn Dũng lềnh bềnh trên mặt nước đến chiều thì một chiếc xuồng chạy đến cùng nòng súng lạnh gí vào đầu và tiếng quát gì đó có trời biết. Anh giơ tay và chúng lôi anh lên tàu. Trên đó đã có 8 đồng đội sống sót và
chúng trói tất cả lại thành một xâu, chỉ cho nước uống và bánh quy ăn suốt 3 ngày tàu chạy về Hải Nam, Trung Quốc. Trương Văn Hiền, quê Nghệ An, bị thương ở ngực cùng một người nữa bị thương ở vai và chân nhưng không hề được băng bó. Đến Hải Nam thì vết thương bốc mùi hôi không chịu nổi. May là tất cả đều còn sống, họ bắt đầu cuộc tù đày ròng rã 4 năm...
Cuối năm 1991 được trao trả qua đường ngoại giao, Dương Văn Dũng về quê.
“Tôi nhớ truy lĩnh được tiền lương binh nghiệp của
4 năm bị giam giữ ở Trung Quốc, rồi nhận giấy xuất ngũ. Số tiền ấy đủ cưới vợ. Năm 1993 sinh đứa con trai đầu lòng và hai cô con gái kế tiếp. Tôi làm lại cuộc sống đời thường từ hai bàn tay trắng. Tôi phụ hồ, vợ buôn gánh bán bưng để nuôi 3 con nhỏ”.
Không ai biết anh đã vì một doi đất chìm dưới mặt nước của Tổ quốc mà đã sẵn sàng hy sinh. Thế nhưng sự bình an không dành cho người lính sống sót từ cõi chết này. Đứa con trai bất ngờ bị tai nạn xe máy, chết vào năm 2011. Con
người đã trải qua những phút giây sinh tử hãi hùng của trận chiến, vật vạ 4 năm trong lao tù như Dũng cũng phải chết lặng sau vụ tử nạn quá đột ngột của đứa con trai mình. Nhìn di ảnh đứa con trai đang học lớp 12 thật sáng sủa, thông minh, đẹp trai trên bàn thờ, Dũng thẩn thờ:
"Đây là cú sốc thứ hai trong đời suýt làm tôi quỵ ngã. Nhưng nhìn 2 đứa con gái nhỏ, người vợ tảo tần buôn gánh bán bưng, sớm chợ mai, chiều chợ hôm một mình mà
không nỡ buông xuôi. Tôi cũng tự nhủ, cuộc chiến ác liệt năm xưa không giết chết nỗi mình, chẳng lẽ giờ gục ngã trước nỗi đau gia cảnh. Không ngờ những ám ảnh đau thương của cuộc chiến đầy máu lửa năm xưa lại có ngày trở thành điểm tựa, an ủi tôi trụ lại với cuộc đời. Ngày đó, chúng tôi bị Trung Quốc bắt nhốt 4 năm, gia đình thì nhận được giấy báo tử, tôi cũng nghĩ là mình sớm muộn sẽ chết mòn theo đồng đội. Những ngày tháng đầu trong tù, không đêm nào được bình yên giấc ngủ. Tôi hay giật mình thảng thốt, ngỡ như vẫn còn chìm giữa tiếng súng của cuộc chiến. Rồi nhiều đêm, thằng bạn thân Phan Văn Sự “về” lôi tôi cùng đi với nó...
Liệt sỹ Sự đã hy sinh ngay trong làn đạn đầu tiên của Trung Quốc tại Gạc Ma ngày 14.3.1988.
Cựu binh Lê Hữu Thảo – Hình ảnh đồng đội hy sinh cứ ám ảnh
tôi
Năm 2012, một cựu binh khác của tàu HQ 604, quê Hương Khê, Hà Tĩnh đã bất ngờ xuất hiện trong một cuộc gặp mặt, giao lưu giữa các cựu chiến binh và thân nhân các gia đình liệt sĩ đã hy sinh tại đảo đá Gạc Ma trong trận chiến bảo vệ chủ quyền biển đảo 14.3.1998 ở Trường Sa. Cuộc gặp này do Hội Cựu chiến binh, Đoàn TNCS Hồ Chí Minh, Đài PT-TH Đà Nẵng tổ chức tại thành phố Đà Nẵng. Theo Ban tổ chức, cuộc giao lưu trong "phạm vi hẹp" lần này cũng chỉ có 2 cựu chiến binh là Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân Nguyễn Văn Lanh, người
trực tiếp chiến đấu tại Gạc Ma, nguyên Chính uỷ Trung đoàn 83 (E83) - thượng tá Hoàng Văn Hoan để giao lưu cùng mẹ liệt sĩ Phan Văn Sự - bà Lê Thị Muộn. Thế nhưng, Lê Hữu Thảo đã đột ngột có mặt, rồi bất ngờ chạy oà lên gặp đồng đội cũ...
Cựu binh Lê Hữu Thảo nghẹn ngào nhìn danh sách dài các đồng đội hi sinh trong trận hải chiến Gạc Ma
Thảo cho biết anh chỉ vào Đà Nẵng để dự cuộc họp mặt thông lệ của Ban liên lạc Cựu chiến binh Trường Sa hàng năm. Điều làm những người có mặt hôm đó xúc động là anh Thảo đã gặp lại bạn chiến đấu Nguyễn Văn Lanh - người đã cùng anh và thiếu uý, liệt sĩ Trần Văn Phương tựa lưng vào nhau trong cuộc giằng co với lính Trung Quốc để cắm cờ Tổ quốc tại đảo đá Gạc Ma sáng 14.3.1988. Anh Thảo bị lê sắt nhọn của lính Trung Quốc đâm sau lưng, anh Lanh cũng sớm bị trúng đạn, họ cùng ngã xuống nước trước đồng đội
nên đã may mắn sống sót sau những loạt đạn hung tàn từ tàu chiến Trung Quốc. Gặp nhau, họ như sống lại giữa những phút giây bi hùng nhất của cuộc chiến, rồi thi nhau kể lại những câu chuyện gay cấn xảy ra trong cuộc quyết đấu không cân sức với lính chiến Trung Quốc. Lê Hữu Thảo cho rằng, dù là lính công binh, có người chỉ cầm trên tay xà beng, xẻng, có người chỉ thước đo, tay không... nhưng họ đã không khuất phục lính chiến Trung Quốc. Khi bị lính Trung Quốc nổ súng tấn công, các anh đã dũng cảm xông lên chiến đấu bằng mọi vật dụng mà mình có được trên tay. Dù đã có 64 người đã ngã xuống, 3 tàu đã bị đánh chìm, song đến 1 giờ trưa ngày 14.3, Trung Quốc đã rút quân. Thực tế, nhiệm vụ giữ đảo đến lúc đó vẫn hoàn thành.

Lê Hữu Thảo (trái)và Vũ Huy Lễ
Nếu như Dương Văn Dũng đã chứng kiến trận chiến từ góc nhìn trên tàu HQ 604 của thuyền trưởng Vũ Phi Trừ, thì Lê Hữu Thảo lại cận cảnh cuộc đọ sức khốc liệt ngay dưới nước, trong tầm đạn pháo chát chúa, lưỡi lê sắt lạnh của Trung Quốc. Anh kể:
“Khi chuyến xuồng chở vật liệu thứ hai vào đảo thì tàu Trung Quốc ập đến. Có khoảng 50 tên đổ bộ lên đảo, chúng dàn thành hình vòng cung, bao
vây quân ta. Anh Phương - liệt sĩ Trần Văn Phương, Đại đội phó chỉ huy tàu HQ 604 - nói, kệ bọn chúng, anh em tiếp tục làm việc. Chúng tôi tiếp tục lấy san hô chèn cột cờ cho chắc thêm. Lúc này, anh em đã lập thành vòng tròn quanh cột cờ. Phía lính Trung Quốc, chỉ một tên mang bộ đàm, còn toàn súng ống, lưỡi lê sáng quắc. Dàn hàng xong, chúng đồng loạt móc mì gói ra ăn sáng. Bất ngờ tên chỉ huy rút súng ngắn ra khỏi vỏ. Quân ta cứ hiên ngang công việc của mình. Khi lá cờ Tổ quốc phấp phới bay trên đầu anh Phương thì bọn chúng nổ súng. Chúng bắn vào bụng anh, rồi tiếp một phát nữa vào trán. Anh Phương gục xuống, cờ Tổ quốc vẫn thắm tươi trên tay anh...”.
Lê Hữu Thảo không bị Trung Quốc bắt tù binh, nhưng số phận cũng chẳng hơn gì Dương Văn Dũng. Sau khi thoát chết từ trận chiến Gạc Ma, Thảo xuất ngũ về quê và được ưu tiên cho đi xuất khẩu lao động sang Cộng hòa Liên bang Đức. Tuy nhiên sau gần 20 năm bươn chải xứ người, đến năm 2007, anh tay trắng, không vợ con trở về Hà Tĩnh sống trong một căn phòng trọ vẻn vẹn 15m2, không nghề nghiệp. Cũng như anh Dũng, những diễn biến của cuộc chiến năm xưa vẫn luôn dựng Thảo dậy hằng đêm. Tuy nhiên, “nhiều năm trở lại đây, điều ám ảnh anh hơn cả là
cuộc chiến bảo vệ chủ quyền tại đảo Gạc Ma và thân phận những người lính còn sống sót vẫn chưa được thông tin đầy đủ”. Có lẽ đấy chính là lý do mà thời gian gần đây, Lê Hữu Thảo đã lặng lẽ đi khắp nơi, tìm kiếm thân nhân các gia đình liệt sỹ, những cựu binh là đồng đội anh trong trận chiến Gạc Ma năm xưa. Anh cũng tích cực kết nối các cá nhân, tổ chức từ thiện xã hội để vận động giúp đỡ những gia đình thân nhân liệt sỹ còn khó khăn, hoặc đôi khi cũng đến với họ chỉ là những lời thăm hỏi, những nén hương cho vong linh người đã khuất. Cựu binh Lê Hữu Thảo trải lòng:
"Tôi may mắn được sống sót nên tự trong lương tâm thấy mình phải có trách nhiệm đi thăm hỏi, chia sẻ, động viên thân nhân của các đồng đội đã hi sinh. Tôi cũng muốn gặp lại những đồng đội cũ còn sống để ôn lại những ngày tháng chiến đấu hết mình trong trận chiến ác liệt đó. Hình ảnh các đồng đội của tôi anh dũng hi sinh, bỏ xương máu lại trên đảo cứ ám ảnh tôi mãi dù đã gần 30 năm trôi qua. Nhớ đến họ, tôi lại nhớ đến cuộc sống còn nhiều khó khăn và những giọt nước mắt của thân nhân các liệt sĩ mỗi khi tôi tìm đến thăm hỏi, chuyện trò."
Trương Minh Hiền: Trận chiến sinh tử từng trải qua giúp tôi nghị lực sống
Trong danh sách báo Nhân dân đăng ngay sau trận chiến Gạc Ma im tiếng súng, thì chiến sĩ Trương Minh Hiền có tên trong số những người hy sinh, mất tích. Thực tế Hiền
không chết, anh đã trở về cùng 9 đồng đội của mình sau 4 năm bị Trung Quốc bắt, nhốt làm tù binh. Nhưng sau khi Trung Quốc trao trả về lại quê, Trương Minh Hiền mới chính thức... "mất tích" khỏi quê nhà.
Trương Minh Hiền sinh ra và lớn lên tại xã Hương Phong, huyện Hương Sơn, Hà Tĩnh. Sau khi học xong lớp 9, ngày 1.3.1986, Hiền xung phong nhập ngũ, được biên chế tại Tiểu đoàn 6 đo đạc hải đồ, thuộc Bộ tham mưu Quân chủng Hải quân. Và anh đã có mặt trong trận hải chiến Gạc Ma, Trường Sa năm 1988. Lặng lẽ ra đi, lặng lẽ trở về sau trận chiến đầy bi hùng, dẫu chịu cực hình từ thân xác đến tinh thần, nhưng cũng như các đồng đội may mắn sống
sót, người chiến binh này trở về quê coi như là xong đời binh nghiệp. Hương Phong, Hương Sơn - rốn lũ của Hà Tĩnh, luôn là cái tên đất tên làng gắn với thân phận nghèo cho đến thời điểm bây giờ. Đối mặt với ruộng vườn cằn khô, với đời nông dân sau đít trâu cày, chẳng bao lâu không ai còn biết đến một cựu binh Trương Minh Hiền nữa. Mùa lũ năm 1992 ngập làng Hương Phong, nước đã quét sạch qua nhà anh. Chút gia tài ít ỏi cùng dăm thứ tư trang đời lính gọi là kỷ vật như giấy báo tử, giấy nhập, xuất ngũ... đã theo dòng cuồng lũ, cuốn phăng vào quá khứ. Hiền đã dứt bỏ quê nghèo, trôi dạt vào Tây Nguyên tìm đất mới mưu sinh.
Ngày Trương Minh
Hiền về Đà Nẵng gặp mặt, giao lưu cùng đồng đội trong chương trình do nhóm sinh viên học sinh, những nhân sĩ trí thức tham gia diễn đàn “Trung tâm dữ liệu Hoàng Sa” lần đầu tiên tổ chức ở TP. Đà Nẵng (3.2011), mọi người như cảm nhận rằng, cái tên của bố mẹ đặt cho, đôi khi nó vận vào nét mặt, dáng dấp và cả tính cách của con người mình. Có thể tả ngắn gọn là người cựu chiến binh này là rất... hiền. Trương Minh Hiền cho biết, bây giờ anh có nhà, ở thôn 3 xã Hòa Thắng, TP. Buôn Ma Thuột, tỉnh Đắc Lắc, song gia cảnh không khá hơn mấy so với ngày còn ở quê nhà Hương Sơn. Hiền đã tha hương, lên tận Đắc Lắc với quyết tâm tìm phương kế mưu sinh để thoát nghèo. Thế nhưng, di chứng những vết thương đã không cho phép anh và gia đình làm
được những điều như mong đợi.
Căn nhà anh ở Buôn Ma Thuột vẫn đang xây dở dang vì thiếu tiền, chỉ có phòng bếp và hai phòng ngủ không còn mới, phần trước là cái móng… không hẹn ngày xây tiếp. Hiền cho biết, từ sau cuộc gặp gỡ đồng đội ở Suối Lương, TP. Đà Nẵng, câu chuyện những người lính trở về sau trận chiến Gạc Ma như anh đã được nhắc nhiều trên các tờ báo. Chính vì thế, không những các anh tìm gặp được lại với đồng đội của mình từ các vùng miền đất nước, mà một số tổ chức, doanh nghiệp đã quan tâm, kết nối để hỗ trợ. Hiền đã nhận được số tiền hơn 95 triệu đồng. Anh đã xây được nửa căn nhà, trong đó Đoàn
Thanh niên khối Bộ Xây dựng hỗ trợ 35 triệu đồng, Công ty Đạm Phú Mỹ 50 triệu đồng. Anh Hiền phân bua: “Công ty Đạm Phú Mỹ cho tôi 50 triệu đồng chữa bệnh, nhưng nếu chữa bệnh chỉ mình tôi được hưởng, phải làm nhà thì vợ, con tôi mới có phần”.
Có giấy chứng nhận bị thương trong chiến đấu do đơn vị cấp, nhưng nhiều năm nay anh Hiền vẫn chưa làm được chế độ thương binh. Cán bộ chính sách của tỉnh yêu cầu phải có giấy điều trị vết thương tái phát, mà lần nào đi viện về anh cũng làm mất giấy tờ.
Hai cựu binh Trương Minh Hiền (phải) và Lê Hữu Thảo ngày gặp lại
Trong trận hải chiến quyết giữ đảo Gạc Ma 26 năm trước, Trương Minh Hiền bị pháo bắn cháy một phần tư khuôn mặt, gãy một xương
sườn bên phải, gãy tay trái, phần ngực và mắt trái đều trúng đạn để lại thương tích. Suốt thời gian qua, những vết thương này không thôi hành hạ anh. Nỗi đau thể xác quen thuộc như cơm bữa. Lúc trở trời nó càng hoành hành dữ dội hơn. Mắt trái của anh nhòa dần, giờ chỉ còn thấy lờ mờ, nhưng anh chưa bao giờ nghĩ đến việc điều trị. Với anh, còn một mắt là còn nuôi được vợ con, chỉ cánh tay trái mới can hệ đến sinh kế duy nhất của gia đình anh. Khi cánh tay có dấu hiệu teo dần, Hiền đến Bệnh viện Đa khoa tỉnh Đắc Lắc và nhận được tin buồn: gãy xương, chèn dây thần kinh, phải bẻ hoặc đập cho gãy lại, rồi sắp xếp các mảnh xương mới khắc phục được. Cầm tờ giấy chuyển viện, Hiền đi TP. Hồ Chí Minh nhưng chỉ đến phòng khám
tư, với hy vọng chi phí thấp hơn. Rồi không “cãi” được bác sĩ, anh trở về tiếp tục làm thợ hồ, không muốn ai nhắc đến “cánh tay đòi tiền” nữa. Với thân hình đầy thương tích như thế của anh Hiền, chị Bùi Thị Phượng vợ anh phải là trụ cột gia đình, lo sinh kế, đỡ đần người chồng đau yếu. Nhưng thực tế, tình trạng sức khỏa chị cũng không hơn gì chồng, vì chị cũng bị bệnh gai cột sống chèn dây thần kinh hơn 10 năm rồi, chưa có điều kiện chữa trị.
Với Trương Minh Hiền, trận chiến Gạc Ma luôn là những đòn chí tử, hành hạ anh từ khi súng nổ cho đến tận bây giờ. Hiền tâm sự:
“Ngay khi Trung Quốc nổ súng tấn công ở đợt đầu, tôi đã bị thương nặng, trôi lênh đênh trên biển. May mắn bám được một mảnh ván, tôi cởi quần buộc chặt mình vào rồi ngất đi... Sự bất tỉnh kiểu dở sống dở chết ấy kéo dài khoảng 10 ngày. Khi tôi tỉnh lại, cảm nhận được xung quanh thì đã là lúc ở trong một trại lính tại tỉnh Quảng Đông, Trung Quốc cùng với 8 đồng đội khác.
Một cuộc chiến sinh tử từng trải qua, nên giờ khó khăn mấy tôi cũng đủ nghị lực để sống…”
Cựu binh Lê Minh Thoa: Không quên sự hy sinh anh dũng
của đồng đội
Lê Minh Thoa, quê thành phố Quy Nhơn, Bình Định. Cũng như những đồng đội còn sống sót, trận chiến trong ký ức của Thoa cũng chất đầy lửa hận, khi quân thù trút đạn pháo trên đầu những người lính đang tay không, trầm mình dưới nước. Khi trận chiến xảy ra, Lê Minh Thoa đang có mặt trên con tàu HQ 604 của thuyền trưởng Vũ Phi Trừ cùng với Dương Văn Dũng. Và anh cũng là một trong số ít người may mắn sống sót khi tàu HQ 604 bị Trung Quốc bắn chìm. Nhiều năm sau, anh vẫn thường nói: “Không thể quên sự hy sinh anh dũng của đồng đội”.
Thoa cũng không thể hiểu nổi vì sao mình có thể sống sót
sau những giờ phút tàu anh ngập trong đạn lửa, chìm xuống biển.
"Khi tôi bừng tỉnh, đã thấy mình lềnh bềnh trên mặt nước, hai tai ù điếc chẳng còn nghe thấy gì. Xung quanh rất nhiều vật dụng nổi trôi, nhưng tôi bất lực vì không còn chút sức lực nào có thể bơi đến để bám vào. Nhưng dường như chuyện sống chết cũng do số phận, bởi trong tình cảnh gần như tê liệt đó, tự dưng ở đâu đó trôi đến bên tôi hai quả bí đao dài - vốn là thực phẩm trên tàu HQ 604. Lúc đó, tôi dồn hết sức
lực cũng chỉ đủ kẹp hai quả bí đao vào hai bên nách như cái phao để nương tựa vào. Tôi đã nổi trôi vô định trên biển, bởi đã cứng đờ người vì đã kiệt sức lại trải qua nhiều giờ liền ngâm mình dưới biển lạnh.”
Các cựu binh Trương Minh Hiền, Dương Văn Dũng, Lê Minh Thoa
Cuộc chiến kết thúc vào buổi sáng, nhưng đến cuối giờ chiều ngày hôm đó, tàu Trung Quốc mới chạy rà một lần cuối để vớt người. Khi thấy Thoa kẹp chặt bên hai vật dài, đầu tròn như đạn pháo, lính Trung Quốc hô hoán lên, chĩa súng vào anh dọa dẫm, vừa muốn tháo chạy.
"Chúng trí tráo với nhau những gì tôi không rõ, nhưng nhìn cử chỉ là biết chúng hoảng sợ, có lẽ do nghĩ hai quả bí đao là đạn pháo hay tên lửa lạ... Một hồi thấy tôi vẫn bất động, chúng dùng lưỡi câu chùm, quẳng xuống nhiều lần mới móc được vào lưng áo tôi, kéo lên tàu kiểu như người ta câu cá. Lưỡi câu quắp vào người, máu me te túa, nhưng dường như tôi không còn chút cảm giác gì nữa, chỉ biết là mình còn được cơ may sống sót".
Thoa trở thành một trong chín tù binh Gạc Ma của Trung Quốc. Câu chuyện anh kể có chút gì đó bi hài nhưng thật xót xa. Tưởng những móc câu chùm sắc nhọn kia móc vào lưng mà nghe buốt lạnh chạy dọc xương sống. Ngay trong những cuộc chiến khốc liệt thời trung cổ, sau khi im tiếng súng, thu dọn chiến trường, con người ta còn đối xử nhân đạo với nhau như những người lính. Nhưng trường hợp cư xử của lính Trung Quốc này không ai có thể tưởng tượng nổi.
Tàu HQ 604 ( Ảnh tư liệu)
Khác với các đồng đội sống sót, sau
khi được Trung Quốc trao trả về nước, Lê Minh Thoa xin được ở lại phục vụ quân đội. Anh đã được chuyển công tác về Trường trung cấp Kỹ thuật Hải quân thêm thời gian nữa. Nhưng rồi anh cũng giải ngũ sau thời gian ngắn. Thoa quê ở đất võ Tây Sơn, Bình Định, nhưng ngày ra quân anh quyết định rời quê, ngược vào TP. Hồ Chí Minh kiếm sống bằng nghề chạy xe ôm. Ban ngày, gã nhà quê áo lính này không cạnh tranh lại giới anh chị xe ôm ở đây, anh phải chạy xe đón khách vào ban đêm. Thoa kể, thời gian đầu, thói quen sinh hoạt không bình thường ấy của anh, cộng với vẻ mặt trầm lặng ít nói, đã khiến bà chủ nhà trọ sinh nghi... Sau một thời gian theo dõi, bà đã lên công an phường báo cáo về "hành tung bất thường" của người khách trọ là Thoa. Lúc ấy,
anh Thoa chỉ có mỗi cái CMND đã cũ, nên vị chỉ huy công an phường cho lục soát đồ đạc. May thay, dưới đáy chiếc hòm sắt của Thoa là… những huân huy chương, từ Huân chương Chiến sĩ hạng nhì - hạng ba do “đã có thành tích phục vụ trong Quân đội Nhân dân Việt Nam” cho đến Huân chương Chiến công hạng ba do “đã có thành tích xuất sắc trong chiến đấu, bảo vệ quần đảo Trường Sa”... đề tặng cho trung uý Lê Minh Thoa. Người chỉ huy tổ công tác của công an phường hôm ấy đã không nén nổi xúc động, trừng mắt quát bà chủ nhà trọ.
Nhưng sống ở Sài Gòn phồn hoa chẳng bao lâu, Thoa lại về Nha Trang cưới vợ theo tâm nguyện của bố mẹ
già. Sau vài năm chung sống, người vợ đầu sinh được 2 cô con gái và 1 cậu con trai kháu khỉnh. Nhưng do vướng vào biêu hụi, tài sản mất sạch, cô vợ đâm đơn ly hôn, bỏ đi biệt tích, để lại cho Thoa đứa con thứ ba, mới bốn tháng tuổi. "Gà trống" Thoa ẵm đứa con còn nằm ngửa về lại Bình Định, xin làm chân phụ bếp cho một nhà hàng tại thành phố Quy Nhơn. Mấy năm sau, Thoa lấy vợ khác, và anh sống bằng cái nghề chẳng liên quan đến tàu bè, súng ống là bán phở - luộc ốc ở đầu con phố nhỏ Tăng Bạt Hổ, thành phố Quy Nhơn, Bình Định.
Chuyện hai cựu binh Nguyễn Văn Thống và Lê Văn Đông
Nguyễn Văn Thống không còn lành lặn, ngoài đôi bàn tay cụt ngón, một mắt của anh cũng để lại vĩnh viễn ở Gạc Ma, làm biến dạng khuôn mặt vốn khá điển trai của Thống. Thống kể, đầu năm 1988, Bộ chỉ huy vùng 4 Hải quân tuyển chọn hơn 300 người lính ở tỉnh Quảng Bình. Trong đó có rất nhiều người đồng hương của anh đã ra Trường Sa. Riêng trong
trận ngày 14.3.1988, tỉnh Quảng Bình có đến 13 người tử trận - nhiều nhất trong số 64 chiến sĩ hy đã sinh trong trận hải chiến này.
Nguyễn Văn Thống
Thống giới thiệu cựu binh Lê Văn Đông, người đồng hương, đồng đội, và cùng là tù nhân với 8 đồng đội khác của anh. Trong bữa cơm tối đông vui, pha trộn với nước mắt mừng tủi, những câu chuyện luôn bị gián đoạn bởi quá nhiều người tranh nhau thăm hỏi, kể chuyện về mình, về đồng đội trong những tháng năm sau trận chiến. Lê Văn Đông có vẻ lưu loát hơn Thống, anh cho biết trên con tàu HQ 604 của Hải quân Việt Nam bị bắn chìm có chừng 120 người, thì đã có gần 100 người lính quê ở tỉnh Quảng Bình. Cùng bị Trung Quốc bắt làm tù binh với Đông còn có hai người
đồng hương của huyện Bố Trạch, là anh Mai Xuân Hải, xã Liên Trạch và Nguyễn Văn Thống ở xã Nhân Trạch. Còn anh - Lê Văn Đông ở thôn Rẫy, xã Tây Trạch.
Lê Văn Đông
Trước khi vào lính, Lê Văn Đông đã cưới vợ. Nhưng chỉ sau đêm tân hôn, anh đã phải khoác ba lô theo đơn vị, còn người vợ trẻ cũng hoài thai. Sau trận chiến Gạc Ma, gia đình anh nhận được giấy báo tử. Chị Nguyễn Thị Thương vợ anh đã chết lặng cùng đứa con còn đỏ hỏn trên tay. Không chỉ riêng anh Đông, gia đình anh Mai Xuân Hải, Nguyễn Văn Thống cũng nhận “giấy báo tử” từ đơn vị của các anh. Cha mẹ của Đông không tin con mình đã chết nên họ chưa lập bàn thờ. Còn gia đình của anh Hải, anh Thống thì đã bày biện bàn thờ, và lấy ngày nhận “giấy báo tử” là ngày cúng giỗ. Năm 1991, cả 3 chàng liệt sỹ đùng đùng trở về khiến xóm làng mừng như mở hội.
Nguyễn Văn Thống và tờ giấy báo tử của chính mình
Các anh trở về với tấm bằng Huân chương chiến công hạng ba vì “đã có thành tích xuất sắc trong chiến đấu, phục vụ chiến đấu bảo vệ
quần đảo Trường Sa”. Và rồi, vinh quang ấy được đóng đinh trên vách tường nhà, còn các anh phải lao động cần cù, chịu thương chịu khó để mưu sinh, nhưng đa phần họ đều nghèo. Đến cuộc gặp giao lưu hôm ấy, các cựu binh đều trong dáng lão nông nghèo. Riêng anh Nguyễn Văn Hải, quê ở Liên Trạch, vừa từ trần, để lại vợ và bốn đứa con thơ côi cút trong cảnh gia đình nghèo khó.
Nhà nước thường phong anh hùng cho những người đã diệt được nhiều quân thù, nhưng trong trường hợp này, cả 9 anh - cựu binh Gạc Ma bị Trung Quốc bắt làm tù binh sau trận chiến - chỉ riêng việc tồn tại được thôi họ đã xứng đáng với danh hiệu anh hùng rồi. Sự
hiện diện, sự có mặt của họ đến hôm nay không chỉ là minh chứng cho sự vô nhân bất tín nhất của Trung Quốc mà còn là sự sống thay cho 64 đồng đội đã hy sinh mất xác ở lòng biển Trường Sa. Thế nhưng, vì nhiều lý do, mà đã 26 năm qua, các anh gần như không được nhắc tới.
Cựu binh Phạm Văn Nhân:
Phạm Văn Nhân sinh ra ở làng Sỹ Lạc, xã Nghĩa Lợi, huyện Nghĩa Hưng, tỉnh Nam Định trong một gia đình có tới 9 anh chị em (5 trai, 4 gái).
“Mẹ tôi mất sớm vào năm 1981; bố tôi một mình làm lụng ruộng nương lần hồi nuôi chúng tôi. Nhà tôi nghèo lắm, có lẽ là nghèo nhất làng, nghèo rách mồng tơi như người ta thường nói. Nhà nghèo, lại đông người khiến chúng tôi chẳng có đủ cơm mà ăn.”
Cũng vì nhà quá nghèo mà Nhân đã phải “đứt gánh” học hành ngay từ khi mới học hết lớp 6, ở nhà cùng bố và các anh chị em “bán mặt cho đất, bán lưng cho trời”, chân ngập trong bùn để kiếm cơm, kiếm gạo duy trì cảnh sống trong thiếu thốn. Cuộc sống buồn tẻ, vất vả cứ thế trôi đi. Đến năm 1986, Nhân lúc đó là chàng thanh niên 21 tuổi, rất khỏe mạnh, cường tráng, lên đường gia nhập lực lượng Hải quân. Nói về lý do đi bộ đội, Nhân hồn nhiên bảo:
“Hồi đấy tôi có nghĩ ngợi, chọn lựa gì đâu. Các anh trai đã đi bộ đội hết. Bạn bè cũng chẳng còn người nào ở quê, nên tôi cũng rất buồn, nhưng mãi chẳng thấy họ gọi tôi đi bộ đội. Mãi đến năm 21 tuổi thì tôi mới được gọi đi. Được gọi là tôi đi luôn, cũng chẳng suy nghĩ, tính toán gì.”
Phạm Văn Nhân
Phạm Văn Nhân bảo, khi ấy nghe là mình sẽ đi Hải quân, điều gì duy nhất anh biết về lực lượng này là ra biển, ngoài ra thì chẳng có một “khái niệm” gì về nó hết. Chàng thanh niên lực điền ấy lên đường, gia nhập Lữ đoàn 126 đóng quân ở quận Sơn Trà, Đà Nẵng, rồi được huấn luyện 3 tháng ở nơi đây.
“Hồi đấy huấn luyện khổ lắm. Chúng tôi mỗi người được phân cho 7,1 lạng gạo mỗi ngày, nhưng do là gạo của thời bao cấp, mất chất, rất hôi nên ngày nào cũng chẳng đủ ăn, lúc nào cũng lâm vào cảnh đói. Thời đấy tôi ăn khỏe lắm. Ăn mãi mà chẳng thấy no gì cả.”
Sau thời gian huấn luyện, Phạm Văn Nhân được biên về E83 thuộc Trung đoàn Công binh. Từ khi đi Hải quân đến khi ra quần đảo Trường Sa, anh chỉ được nghỉ phép về thăm bố, thăm các anh chị một lần vào
cuối tháng 7, đầu tháng 8/1987.
Chưa hết thời gian nghỉ phép, Nhân đã vào đơn vị. Lúc này đã nghe mọi người rục rịch chuyện đi đảo Trường Sa, nói là ra xây dựng nhà giàn ở bãi đá mới nổi lên. Mọi người nói là ngoài đó đã có căng thẳng, va chạm với Trung Quốc. Sau đó, Nhân lên tàu HQ 604 ra quần đảo Trường Sa. Nhân ở bên công binh để ra xây dựng đảo. Ngoài ra, trên tàu còn rất nhiều lực lượng khác. Tàu chở rất nhiều sắt thép, bê tông để làm nhà giàn.
“Đi từ cảng Cam Ranh ra Trường Sa mất 3 ngày liền, sóng rất to, nhưng tôi không bị say sóng một chút nào. Anh em trên tàu cũng chẳng ai lo lắng cả. Mọi người vẫn vui vẻ, tếu táo, trêu chọc nhau để giết thời gian, mặc dù mọi người đều biết chuyến đi này nguy hiểm.
Khi ra đến đảo Gạc Ma – Cô Lin vào chập tối thì tàu mình đã gặp ngay tàu chiến của Trung Quốc có mặt tại đó. Chúng bắc loa, ngược ngạo nói rằng đây là lãnh thổ Trung Quốc, đề nghị tàu của ta rời khỏi. Anh Thông chỉ huy trưởng của chúng
tôi bảo: việc nó nói thì nó cứ nói, còn việc mình làm thì cứ làm. Anh Thông bảo anh em đo độ sâu của biển ở khu vực mình, rồi thả neo để tàu đậu ở gần đảo Cô Lin. Còn tàu của Trung Quốc sau một hồi lải nhải thì cũng bỏ đi.”
Thế nhưng, không ai ngờ được rằng, sau buổi đêm yên lành ấy (anh em trên tàu còn tổ chức đi câu cá mập, câu được 1 con khá to), ngày hôm sau là một ngày đẫm máu, một ngày bi tráng, đau thương mà chúng ta sẽ mãi mãi không thể quên.
8 giờ sáng hôm sau, Trung Quốc quay lại với 3 chiếc tàu, trong đó có 2 tàu pháo, một tàu tên lửa. Bọn chúng lại ngang ngược nói đây là đảo của bọn chúng, rồi dàn mấy trăm quân được trang bị vũ khí đổ bộ xuống đảo.
Thuyền trưởng cử 25- 30 người bơi vào đảo trước rồi. Họ cầm cờ để cắm xuống đảo, khẳng định chủ quyền và mang theo 2,3 khẩu súng . Còn Nhân thì được giao nhiệm vụ xuống xuồng để móc cẩu, đưa sắt, bê tông xuống xuồng, để vận chuyển ra đảo. Lúc Phạm Văn Nhân ở dưới móc cẩu hàng thì rất nhiều xuồng của Trung Quốc chạy quanh, lính của bọn chúng chĩa súng vào.
“Rồi sau đó, tôi nghe thấy tiếng súng nổ ở trên đảo. Sau một loạt súng nổ ở trên đảo, bọn chúng dùng súng bắn lên tàu của ta. Tiếp theo, hai tàu pháo của chúng bắn vào tàu của ta. Hàng loạt đạn AK nhắm bắn vào xuồng tôi chiu chíu, tôi nhìn thấy vết đạn găm vào thân xuồng. Đạn pháo lúc đấy của địch nã vào ca bin của tàu, khiến đồ đạc, sắt thép rơi loảng xoảng. Trận nã pháo ấy kéo dài khoảng 20 phút. Khi thấy đạn, pháo đã ngớt, tôi liều mình nhảy lên tàu. Khung cảnh trên tàu rất đau đớn, kinh hoàng: xác của các đồng đội tôi nằm la liệt;
lính bị thương thì người bê bết máu.”
Phạm Văn Nhân xúc động rơi nước mắt khi kể lại giây phút bi tráng của mấy mươi năm về trước. Ngừng một lát như muốn lấy bình tĩnh lại khi nhớ đến cảnh kinh khủng ấy, anh kể tiếp giây phút mình ở lằn ranh sinh tử:
“Tôi nhảy vào khu hầm chứa
hàng hóa của tàu. Lúc này, sau khi trúng phải đạn pháo của giặc, tàu dần dần nghiêng hẳn rồi chìm xuống. Nước ào ạt chảy vào hầm chứa hàng dồn ép tôi vào góc. Lúc ấy, tôi nghĩ, thôi thế là chết rồi, vì mình đang bị nhốt chặt dưới nước trong một hầm kín. Nhưng tôi bỗng trở nên bình tĩnh. Địa điểm lúc tôi bị kẹt nằm cách mặt nước biển khoảng 30 mét. Tính toán rất nhanh, tôi lặn xuống dưới để tìm cách thoát ra ngoài. Tôi cố gắng ép người, nhịn thở. Rất may, sau lúc đầu mất phương hướng, tôi đã tìm được lối để nổi lên mặt nước.”
Sau khi nổi lên, Phạm
Văn Nhân bám vào một mảnh gỗ văng ra từ tàu. Bỗng anh nhìn thấy một lính Trung Quốc chĩa súng vào mình. Anh lấy hơi, rồi vội vàng lặn xuống rất lâu. Ở dưới mặt nước biển, Nhân vẫn nghe thấy tiếng chiu chíu của đường đạn kẻ thù. Chúng đang dã man giết chết những chiến sỹ còn sống sót của chúng ta.
“Sau khi bắn giết, chúng thu quân bỏ đi. Còn tôi chỉ còn biết bám vào tấm gỗ như bản năng bằng đôi tay đã cứng đơ, trôi nổi trên biển. Nước biển rất lạnh. Tôi dường như không còn cảm giác gì ở phần dưới cơ
thể mình nữa. Lúc này, tôi cũng đã uống nước biển no nê, với nhiều vết thương trên cơ thể do đồ đạc, sắt thép văng vào. Tôi nghĩ rằng mình sẽ bỏ mạng ở nơi đây, tôi đành phó mặc mọi chuyện cho ông trời. Trong cơn mơ màng, tôi càng thêm sợ bởi có hàng đàn cá kéo đến, con nào con đấy to bằng cái bàn. Lại thêm hàng trăm con chim hải âu quần đảo trên đầu. Rất may không phải cá mập (vùng biển này có rất nhiều cá mập, đêm hôm trước anh em trên tàu đã câu được con cá mập 20 kg), có lẽ chỉ là cá heo thôi nhưng cũng làm tôi thêm “hồn xiêu phách lạc”.
Đến 17 giờ
chiều, sau 9 giờ lênh đênh trên mặt biển, ngâm mình trong nước lạnh thì có lính Trung Quốc vớt Phạm Văn Nhân lên xuồng để đưa lên tàu, Nhân mê man, không biết gì nữa. “Sau này, tôi nghĩ, nếu chỉ ngâm mình dưới biển vài tiếng nữa là tôi đã chết”- Phạm Văn Nhân nói.
Sau khi bị bắt, Phạm Văn Nhân được lính Trung Quốc đưa về đảo Hải Nam (Nhân đoán như vậy, bởi khi đó ông bị bịt mắt). Khi tàu cập bến, hai lính Trung Quốc cắp nách đưa đi. Chân chạm đất, ông thấy bị bỏng rát như dẫm lên lửa, vội vàng co chân lại. Thấy vậy, chúng đưa dép cho đi. Chúng cứ xì xà xì xồ thứ tiếng của nước chúng nên Nhân chẳng thể hiểu gì. Sau khi đưa vào trong một căn
phòng, chúng cởi bịt mắt ra, cho ăn, nhưng Nhân không thể nào ăn được vì mệt quá, và vì uống nước biển nhiều.
Tiếp theo, lính Trung Quốc bịt mắt rồi đưa Phạm Văn Nhân về tỉnh Quảng Đông, vào một bệnh viện để chữa trị. Lúc này có phiên dịch nên Nhân nghe thấy chúng hỏi: Sao trường hợp này bị thương nhẹ mà không ăn được? Rồi bọn chúng đưa Công ước về tù binh cho đọc, nhưng Phạm Văn Nhân vẫn không tài nào ăn được. Tay phiên dịch hỏi: “Không phải sợ chết mà sao không ăn được nhỉ?”.
Giấy xuất ngũ của cựu binh Phạm Văn Nhân
Sau khi điều trị khoảng 4-5 tháng ở bệnh viện, Phạm Văn Nhân được đưa về trại. Tại đây, ngoài Nhân ra còn 8 đồng đội khác cũng bị bắt làm tù binh. Chúng nhốt 2 người một phòng.
“Chúng tôi rất nhớ nhà, muốn được trở về. Nhưng chúng cứ lừa chúng tôi bảo, mấy tháng nữa, năm nữa sẽ được thả mà mãi chẳng thấy được trở về. Mãi 3 năm, 5 tháng, 15 ngày sau chúng tôi mới có lệnh phóng thích.”
Phạm Văn Nhân nói trong nuối tiếc về một khoảng thời gian trai trẻ bị nhốt trong trại tập trung. Anh bảo tuy trong nơi giam giữ không có lịch, nhưng do buồn, chẳng có việc gì làm nên đếm từng ngày, ghi nhớ ở trong
đầu. Hôm có lệnh phóng thích, ai cũng sung ướng, hò reo, mừng rơi nước mắt bởi sắp được trở về cố hương.
Sáng hôm sau, nhằm đúng ngày 2/9/1990, cả 9 người trong đó có Phạm Văn Nhân lên xe ô tô đi từ Quảng Đông về Quảng Tây, rồi sau đó ra cửa khẩu Lạng Sơn. Ngủ tại đây một đêm, đến 9 giờ sáng hôm sau thì làm thủ tục trao trả tù binh giữa Trung Quốc và Việt Nam. Vậy là sau thời gian dài rơi vào tay địch, Phạm Văn Nhân mới lại đặt chân về mảnh đất quê cha đất tổ.
Sau khi rời cửa khẩu Lạng Sơn, Phạm Văn Nhân được đưa về nghỉ 10 ngày tại khu thương bệnh binh ở
huyện Thuận Thành, tỉnh Bắc Ninh, rồi Hải quân đưa xe ra đón về Bãi Cháy (Quảng Ninh). Nghỉ ở đó, nhưng lòng anh như lửa đốt, chỉ muốn về nhà.
Và, người lính đã từng trải qua phút giây sinh tử ấy, một mình vác ba lô, trong đó chẳng có gì ngoài 3 bộ quần áo, bắt xe khách về Nam Định. Mọi người ở quê đã biết trước là anh còn sống, nhưng vẫn mừng rơi nước mắt khi thấy Phạm Văn Nhân bằng xương bằng thịt trở về. Bố của Nhân, không nghĩ ngợi, xả ngay một con lợn để mời anh em, họ hàng đến chia vui.
Phạm Văn Nhân lại quay trở lại cuộc sống chân lấm tay bùn làm nông
như trước kia. Lúc này, các anh em của ông hầu như đã lập gia đình hết, chỉ còn anh và một anh trai khác sống cùng với người bố, năm đó đã ngoài 70, mưu sinh trên 5 sào ruộng. Cuộc sống rất khó khăn, khổ cực. Mọi kỷ niệm bi tráng trong anh dường như dần nguôi ngoai trong nỗi lo cơm áo hàng ngày.
Người lính Gạc Ma trở về với nghề
nông
Năm 1993, chàng cựu binh Hải quân lấy cô thôn nữ Trần Thị Xuyên ở cùng thôn làm vợ, rồi chuyển ra khu vực đất ngoài đê của thị trấn Rạng Đông, huyện Nghĩa Hưng, tỉnh Nam Định bây giờ sinh sống. Thực ra khu này chẳng phải đất đai, chuyển nhượng, mua bán gì. Đây vốn là nơi có mái nhà làm bằng rạ mà bố của Nhân - cụ Phạm Văn Nguyên - được Nông trường Rạng Đông giao cho để trông cái cống nước của nông trường ở gần đó. Ra đây, Nhân được “kế nghiệp” bố, thay bố trông chiếc cống. Vào năm 2000, 2 vợ chồng Nhân giành dụm được 13 triệu đồng, liền lợp
ngói, sơn sửa lại như hiện nay. Vợ chồng Nhân đang “ăn nhờ, ở đậu” đất của nông trường. Thậm chí, theo lời một cán bộ thị trấn Rạng Đông, thì thậm chí nhà cửa của anh Nhân còn… vi phạm hành lang đê điều nữa.
Phạm Văn Nhân và vợ
Từ khi được trao trả tù binh đến nay, Phạm Văn Nhân bị bệnh đau dạ dày hành hạ. Đó là hậu quả của sự kiện bi tráng năm 1988, khi anh bị ngâm dưới nước biển nhiều giờ, phải uống no nước biển. Anh bảo: “Mỗi khi thay đổi thời tiết là dạ dày tôi lại đau như ai đang cầm dao cắt nó đi vậy. Cứ mỗi khi đau là tôi lại sang bệnh viện 5 của Ninh Bình ở gần đó, mất 1 triệu mua thuốc cực mạnh uống để chữa trị”. Đỡ hẳn. Nhưng chỉ được 1 năm, cơn đau lại tái phát, lại nhập viện, và chu trình như thế cứ kéo dài mãi. Không có thẻ bảo hiểm y tế, nên mỗi lần đi chữa trị là một lần anh phải cầm theo số tiền trị giá cả tấn thóc. Xót lắm chứ,
nhưng nếu không chữa thì quá đau đớn, không thể làm được việc gì.
“Có lần, tôi đang đi chăn bò thì bất ngờ bị đau dạ dày. Đau ghê gớm, đau lăn lê bò toài, người lăn cả xuống mương. Bò thì chạy tứ tung mà tôi không thể đuổi theo được. Tôi cứ nằm dưới mương, đợi cơn đau nguôi đi rồi mới dám về, bảo vợ con đi tìm bò về. Ngày trước, sức tôi khỏe lắm. Nhưng sau khi xảy ra vụ Gạc Ma- Cô Lin, bị uống no
nước biển, dẫn đến bị đau dạ dày mãn tính nên tôi yếu đi nhiều.”
Chính vì căn bệnh đau dạ dày này hành hạ suốt hơn 20 năm qua nên Phạm Văn Nhân chẳng thể đi làm đâu xa để kiếm tiền, anh chỉ có thể quanh quẩn làm ở nhà. Làm ở nhà thì khi cơn đau nổi lên có thể nghỉ, chứ làm xa thì ai người ta cho như vậy.
9 chiến sĩ Gạc Ma,Trường Sa bị Trung Quốc bắt làm tù binh
1. Trần Thiện Phụng (Phường 2, TX.Đông Hà, Quảng Trị)
2. Lê Minh Thoa (TP.Quy Nhơn, Bình Định)
3. Nguyễn Văn Thống (xã Nhân
Trạch, huyện Bố Trạch, Quảng Bình)
4. Lê Văn Đông (xã Tây Trạch, huyện Bố Trạch, Quảng Bình)
5. Mai Văn Hải (xã Liên Trạch, huyện Bố Trạch, Quảng Bình)
6. Dương Văn Dũng (Phường Hoà Xuân, quận Cẩm Lệ, TP.Đà Nẵng) 7. Phạm Văn Nhân (thị trấn nông trường Rạng Đông, huyện Nghĩa Hưng, Nam Định)
8. Trương Minh Hiền (Hương Phong, Hương Sơn, Hà Tĩnh, nay thường trú tại thôn 3, xã Hoà Thắng, TP.Buôn Ma Thuột, Đắk Lắk) 9. Nguyễn Tiến Hùng (Thanh Hoá).
Hiện nay 2 cựu binh Mai Văn Hải (xã Liên Trạch, huyện Bố Trạch, Quảng Bình) và Nguyễn Tiến Hùng (Thanh Hoá) đã mất. -----------------