Chào tuần mới: 10/6/2013 - Chùm ảnh Sài Gòn xưa - Học giả An Chi: Cách xưng hô xưa

17 views
Skip to first unread message

Ngoc Be

unread,
Jun 9, 2013, 8:11:33 PM6/9/13
to CỘNG ĐỒNG IEIT
Hình ảnh xưa của Sài Gòn.











Những hình ảnh xưa















Sài Gòn taxi

Một vài hình ảnh Sài Gòn xưa. (1919-1923)













HÌNH NH SAIGON qua máy nh người Việt Nam và nước ngoài
Những hình ảnh toàn cảnh về một Sài Gòn "chọc trời" và rực rỡ ánh sáng do các tay máy ảnh trong và ngoài nước thực hiện 
““
Tác giả: David Phan .

““
Tác giả: Cafe da .

““
Tác giả: Cafe da .

““
Tác giả: Nikon-kid .

““
Tác giả: David Phan .

““
Tác giả: Haivuong Studio .

““
Tác giả: TranBaoHoa .

““
Tác giả: lequanghoang1203 .

““
Tác giả: LOGO400 .

““
Tác giả: LOGO400 .

““
Tác giả: Max .

““
Tác giả: VTCN .

““
Tác giả: Michaelhuy .

““
Tác giả: Monte .

““
Tác giả: Nguyen The Duong .

““
Tác giả: Nguyenhoanglevi .

““
““
““
““
““
““
26/05/2013 

Cùng xem lại các hình ảnh sinh động của những gánh hàng rong, món ăn vặt hấp dẫn một thời ở Sài Gòn.

Ẩm thực Sài Gòn xưa (Phần 03): Ký ức hàng rong 1
Mía ghim là món ăn vặt rất được yêu thích ở Sài Gòn


Ẩm thực Sài Gòn xưa (Phần 03): Ký ức hàng rong 2
Một cậu bé với khay mía ghim ở khu trung tâm


Ẩm thực Sài Gòn xưa (Phần 03): Ký ức hàng rong 3
Cách ăn mía lạnh (ướp với nước đá) đã từng rất phổ biến


Ẩm thực Sài Gòn xưa (Phần 03): Ký ức hàng rong 4
Một gánh rau câu ướp lạnh bán dạo trong những khu dân cư


Ẩm thực Sài
 Gòn xưa (Phần 03): Ký ức hàng rong 5
Thiếu nữ Sài Gòn xưa bên những gánh hàng rong


Ẩm thực Sài Gòn xưa (Phần 03): Ký ức hàng rong 6
Người bán bên khay mía ghim cạnh một con kênh nhỏ


Ẩm thực Sài Gòn xưa (Phần 03): Ký ức hàng rong 8
Gánh đậu nấu ngay trung tâm Sài Gòn


Ẩm thực Sài Gòn xưa (Phần 03): Ký ức hàng rong 10
Bún riêu Sài Gòn xưa...


Ẩm thực Sài Gòn xưa (Phần 03): Ký ức hàng rong 11
Gánh xôi gà thật hấp dẫn


Ẩm thực Sài Gòn xưa
 (Phần 03): Ký ức hàng rong 12
Xe mì Tàu với những họa tiết sơn thủy quen thuộc được người bán đẩy đi khắp hang cùng ngõ hẻm Sài Gòn

Ẩm thực Sài Gòn xưa (Phần 03): Ký ức hàng rong 15
Xe khô mực và ruột vịt (màu đỏ), món khoái khẩu của học trò ngày đó


Ẩm thực Sài Gòn xưa (Phần 03): Ký ức hàng rong 16
Một xe khô mực trên đường Hàm Nghi (quận 01)


Ẩm thực Sài Gòn xưa (Phần 03): Ký ức hàng rong 17
Đôi khi những xe khô mực còn bán thêm cóc, ổi


Ẩm thực Sài Gòn xưa (Phần 03): Ký ức hàng rong 20
Những gánh trái cây bên hông chợ Bến Thành


Ẩm thực Sài Gòn xưa (Phần 03): Ký ức hàng rong 22
Cũng ở một góc bên hông chợ Bến Thành


Ẩm thực Sài Gòn xưa (Phần 03): Ký ức hàng rong 23
Bò bía, món ngon của người Hoa cũng thường được bán trên các xe đẩy


Ẩm thực Sài Gòn xưa (Phần 03): Ký ức hàng rong 24
Phá lấu hấp dẫn gần nước mía Viễn Đông (ngã tư Pateur - Lê Lợi ngày nay)


Ẩm thực Sài Gòn xưa (Phần 03): Ký ức hàng rong 26
Phá lấu thường được bán trên khay, cùng với những món ăn chơi khác như mía ghim, chè...

Bạn đọc: Thưa học giả An Chi! Vừa rồi tôi có xem phim “Huyền sử Thiên đô”, nói về Lý Công Uẩn dựng triều Lý. Tôi thấy ở trong phim, người ta xưng hô với nhau ông - tôi; anh trai gọi em gái bằng em; trai gái gọi nhau cũng bằng anh em… Theo thiển nghĩ của tôi, thời đó chúng ta hoàn toàn dùng chữ Hán, vì vậy cách xưng hô cũng phải theo từ Hán Việt, anh em gọi nhau xưng huynh, gọi muội; hoặc xưng là ta (không gọi là tôi…). Xin ví dụ nhỏ như vậy. Vậy theo học giả An Chi, các bậc tiền nhân ngày xưa xưng hô và gọi nhau như thế nào? Cũng biết, chúng ta không thể “ghi âm” lời của các cụ, cho nên rất khó có thể xác định được chính xác. Hy vọng rằng, với tri thức uyên thâm của mình, học giả có thể tìm hiểu giúp chúng tôi được không? Nguyễn Sơn (Hà Nội)

Học giả An Chi: Xin thú thật với bạn là chúng tôi chưa có điều kiện thu thập đủ tư liệu để thuật lại một cách đầy đủ về cách xưng hô của ông cha ta ngày xưa. Vậy xin chỉ trao đổi với bạn trong phạm vi những điều kiện hiện có mà thôi.

Bạn cho rằng, “thời đó (đầu đời Lý) chúng ta hoàn toàn dùng chữ Hán”. Thực ra thì không phải như thế vì, nói chung, trong suốt thời kỳ phong kiến tự chủ, ta chỉ sử dụng chữ Hán làm quốc gia văn tự, nói rõ ra là chỉ dùng nó trên văn kiện và trong sách vở mà thôi. Dân ta vẫn nói tiếng Việt với nhau; mà vua quan trong triều đình cũng thế. Nhưng do ảnh hưởng của nhiều thế kỷ bị người Tàu cai trị nên từ vựng của tiếng Việt đã chứa đựng nhiều yếu tố gốc Hán, trong đó có gần như hầu hết những từ chỉ quan hệ thân tộc, như chúng tôi đã chứng minh trong bài “Từ nguyên của những từ chỉ quan hệ thân tộc”, trên Năng lượng Mới số 70 (11/11/2011). Những từ này đã có mặt từ lâu trong từ vựng của tiếng Việt, như có thể thấy trong “Chỉ nam ngọc âm giải nghĩa” (khoảng thế kỷ XVII). Trong tác phẩm này, “Nhân luân bộ đệ tam” là chương thứ ba, đã dùng nhiều từ quen thuộc mà chúng tôi đã nêu để giảng (đối dịch) các danh từ chỉ quan hệ thân tộc và xã hội bằng tiếng Hán (Xin x. bản phiên âm và chú giải của Trần Xuân Ngọc Lan, NXB Khoa học xã hội, Hà Nội,1985, tr.90-98).


Cảnh trong phim "Huyền sử Thiên đô"

Trong tiếng Việt, nhiều từ chỉ quan hệ thân tộc hoặc xã hội và cả một số danh từ chỉ người, lại được dùng làm từ xưng hô, mà một số tác giả gọi là đại từ nhân xưng, như: ông, bà, bố, mẹ, cô, cậu, dì, thím, v.v… Chúng tôi cho rằng, trong sinh hoạt hằng ngày, dân ta cũng xưng hô với nhau bằng những từ thông thường trên đây. Nhưng trước tiên, xin lưu ý bạn và bạn đọc rằng, ta cần phân biệt từ chỉ quan hệ thân tộc và từ dùng để xưng hô. Đây là hai khái niệm riêng biệt, mặc dù từ xưng hô vốn là từ chỉ quan hệ thân tộc. Vì không phân biệt được hai khái niệm này nên có người đưa hàng loạt từ, ngữ chỉ quan hệ thân tộc ra mà gọi đó là “cách xưng hô thời xưa”, như DevilChild trên trang tukhuc.wordpress.com ngày 11/12/2012:

“(…) Ông nội/ngoại = gia gia; ông nội = nội tổ; bà nội = nội tổ mẫu; ông ngoại = ngoại tổ; bà ngoại = ngoại tổ mẫu; cha = phụ thân; mẹ = mẫu thân; anh trai kết nghĩa = nghĩa huynh; em trai kết nghĩa = nghĩa đệ; chị gái kết nghĩa = nghĩa tỷ; em gái kết nghĩa = nghĩa muội; cha nuôi = nghĩa phụ; mẹ nuôi = nghĩa mẫu; anh họ = biểu ca; chị họ = biểu tỷ; em trai họ = biểu đệ (…)”.

Những từ, ngữ trên đây thực chất là một bảng từ vựng chỉ quan hệ thân tộc bằng tiếng Hán chứ thực ra thì, nói chung, những “nghĩa huynh”, “biểu ca”, “nghĩa tỷ”, “biểu tỷ”, v.v... do DevilChild đưa ra cũng chỉ là những yếu tố dùng trong văn bản bằng Hán văn Việt Nam chứ chẳng phải là những từ, ngữ quen thuộc dùng trong tiếng Việt hằng ngày của dân chúng. Dân chúng thì xưng hô với nhau giản dị và tự nhiên, chẳng hạn giữa vợ chồng, thì chồng có thể gọi vợ là “mình”, “bà nó”, “mẹ nó”, “bu nó”, “bủ nó”, “bầm nó”, “má nó”, “mạ nó”, “mợ nó”. Vợ có thể gọi chồng là “mình”, “ông nó”, “bố nó”, “ba nó”, “cha nó”, “cậu nó”. Còn giữa trai, gái thì “anh” và “em”:

- “Hôm qua tát nước đầu đình,

Bỏ quên cái áo trên cành hoa sen.

Em được thì cho anh xin

Hay là em để làm tin trong nhà…”.

- “Trèo lên cây bưởi hái hoa,

Bước xuống vườn cà hái nụ tầm xuân.

Nụ tầm xuân nở ra xanh biếc;

Em đã có chồng, anh tiếc lắm thay...”.

- “Em như cục cứt trôi sông

Anh như con chó ngồi trông trên bờ”.

Đấy, “anh” và “em”; thế thôi. Khách sáo và dè dặt hơn một tí thì “mình” với “ta”:

- “Mình nói dối ta mình hãy còn son,

Ta đi qua ngõ thấy con mình bò.

Con mình những trấu cùng tro,

Ta đi xách nước tắm cho con mình”.

- “Mình về mình có nhớ ta.

Ta về ta nhớ hàm răng mình cười”.

Trang trọng và thơ mộng hơn thì “chàng” và “nàng”, “thiếp”:

- “Nàng về nuôi cái cùng con

Để anh đi trẩy nước non Cao Bằng”.

- “Một mai thiếp có xa chàng

Đôi bông thiếp trả, con chàng thiếp xin”.

Ngay cả văn nhân, thi sĩ cũng xưng hô đúng với tinh thần của tiếng Việt, chẳng hạn Dương Khuê trong bài hát nói “Hồng Hồng Tuyết Tuyết”. Ở hai câu Hán văn trong phần “Nói” thì cụ già Dương dùng từ “quân” để chỉ người con gái và tự xưng là “ngã”:

- “Ngã lãng du thời quân thượng thiếu,

Quân kim hứa giá ngã thành ông”.

Nhưng ở phần “Mưỡu” “toàn Việt” thì Dương Khuê tự xưng là “ông” và gọi thẳng tên của cô đầu là “Tuyết”:

“Ngày xưa Tuyết muốn lấy ông

Ông chê Tuyết bé, Tuyết không biết gì

Bây giờ Tuyết đã đến thì

Ông muốn lấy Tuyết, Tuyết chê ông già”.

Bằng hữu với nhau cũng xưng hô kiểu Việt Nam thuần túy trong văn thơ. Khi Dương Khuê qua đời, Nguyễn Khuyến khóc:

“Kể tuổi tôi còn hơn tuổi bác,

Tôi lại đau trước bác mấy ngày;

Làm sao bác vội về ngay,

Chợt nghe, tôi bỗng chân tay rụng rời”.

Nhưng điển hình thì có lẽ phải là từ xưng hô và từ chỉ quan hệ thân tộc trong “Truyện Kiều” của Nguyễn Du, tại đây “cha” được dùng 12 lần, “mẹ” 6 lần, “chị” 13 lần, “em” 14 lần, “cậu” 1 lần, “ông” 15 lần, “bà” 8 lần, danh ngữ đẳng lập “ông bà” 4 lần, danh ngữ “mẹ cha” 2 lần, danh ngữ “chị em” 3 lần, v.v... Cách dùng từ “phi Hán ngữ tính” này đã không mảy may làm giảm giá trị của “Truyện Kiều”. Ngược lại, hiện tượng này cho thấy sức sống mãnh liệt của tiếng Việt bên cạnh một ngôn ngữ “đại gia” là tiếng Hán, mặc dù bản thân nó vẫn thu nhận nhiều từ, ngữ của thứ tiếng này.

Ngay cả khi chuyển cách xưng hô của người Tàu, giữa anh em với nhau, sang tiếng Việt, một số dịch giả cũng giữ đúng tinh thần của tiếng mẹ đẻ mà dùng “em”, “tôi”, v.v…, chứ không dùng “huynh”, “đệ”. Chắc là nhiều bạn đã biết đến “Tam quốc diễn nghĩa”, trong đó có ba anh em kết nghĩa là Lưu Huyền Đức, Quan Công và Trương Phi. Xin đọc mấy câu đối đáp sau đây giữa họ với nhau, khi Trương Phi nổi nóng muốn giết Đổng Trác:

“Huyền Đức, Quan Công vội ngăn mà rằng:

- Không nên, hắn là quan của triều đình, em chớ nên tự tiện giết hắn!

Phi nói:

- Nếu không giết nó, mà lại ở đây làm đầy tớ cho nó sai khiến thì tôi không thể chịu được”.

Huyền Đức và Quan Công gọi Trương Phi là “em” còn Trương Phi thì tự xưng là “tôi”. Mấy câu trên đây nằm trong bản dịch của Phan Kế Bính do Bùi Kỷ hiệu đính, rồi lại do Lê Huy Tiêu và Lê Đức Niệm sửa chữa (tập 1, NXB Đại học và Giáo dục chuyên nghiệp, Hà Nội, 1988, tr.47).

Cứ như đã biện luận ở trên thì ta có thể khẳng định rằng, về nguyên tắc, việc xưng hô với nhau bằng “ông - tôi”, “anh - em”, v.v…, trong phim “Huyền sử Thiên đô” cũng không phải là chuyện không thể chấp nhận được.

                                                            Một số điều cần lưu ý 

khi thực hành đi bộ.

Lương y VÕ HÀ

Tham khảo ý kiến Bác sĩ của bạn.

Hầu hết mọi người với sức khoẻ trung bình đều có thể bắt đầu một chương trình đi bộ hàng ngày mà không cần tham vấn một Bác sĩ.  Tuy nhiên, nếu bạn có một căn bệnh mãn tính, như  các bệnh tiểu đường type 2, áp huyết cao, nên hỏi ý kiến Bác sĩ điều trị.  Chẳng hạn, một số trường hợp bệnh tiểu đường có thể có những tổn thương ở bàn chân hoặc thần kinh ngoại biên cần những đôi giày đặc biệt, hoặc những bệnh nhân về tim mạch phải lưu ý nhiều hơn đến tốc độ chậm, nhẹ của các bước đi. Đối với những bệnh nhân đã được chẩn đoán loãng xương cũng cần cẩn thận để tránh té ngã.

Ngoài ra, dù có được tư vấn hay không, nếu đi bộ mà cảm thấy các triệu chứng đau ngực, chóng mặt, tim đập nhanh, hụt hơi hoặc thở ngắn đều cần phải đến gặp Bác sĩ.

Cần một đôi giày thích hợp. 

Có thể nói đi bộ là một phương cách thể dục đơn giản, không cần một dụng cụ gì phức tạp.  Tuy nhiên, chí ít bạn cũng cần phải mua một đôi giày thể thao dành riêng cho việc đi bộ.  Nên chọn một đôi giày tương đối bền, có loại đế chống trơn trợt và phần gót mềm đủ để khỏi đau chân.  Ngoài ra, nếu đi bộ lúc sáng sớm hoặc chiều tối, cần trang bị thêm áo ấm và mủ để chống lạnh khi cần.

Đi chậm lúc bắt đầu và lúc kết thúc. 

Cần đi bộ chậm trong khoảng 5 phút lúc bắt đầu cũng như 5 phút lúc sắp kết thúc buổi tập.  Đi bộ chậm giúp hệ thần kinh và tim mạch thích ứng với điều kiện thay đổi của cơ thể khi chuyển từ động sang tĩnh hoặc ngược lại để tránh những hệ quả xấu xảy ra.  Tương tự, các chuyên gia khuyên mỗi người nên “làm nóng” người trước khi đi bộ cũng như “làm nguội” sau khi hoàn tất bằng cách thực hành vài động tác vươn vai hoặc lắc tay, xoay người.

Giữ tư thế đúng khi đi bộ. 

Nên lưu ý đến tư thế để  đạt được hiệu quả tốt nhất khi đi bộ.  Không thu vai lại để giữ cho cột sống được thẳng và hô hấp được tối đa, cằm có thể hơi đưa lên nhưng cố không ngã đầu quá về phía sau.  Gót chân luôn tiếp đất trước để sức nặng của cơ thể như trượt dần từ  gót chân đến mũi bàn chân.  Cong khuỷu tay khoảng 90o và vung cánh tay thoải mái ra phía trước và phía sau.  Tránh nắm 2 bàn tay lại.

Trắc nghiệm “nói chuyện”. 

Người ta khuyên tất cả những người thực hành đi bộ thỉnh thoảng nên làm trắc nghiệm nói chuỵên (talk test) để đảm bảo không vận động quá sức có hại cho sức khoẻ.  Trắc nghiệm nầy đánh giá cường độ vận động.  Khi đi bộ ở cường độ trung bình, bạn phải có khả năng nói chuyện bình thường.  Nếu nói chuyện mà bị hụt hơi chứng tỏ bạn đã vận động quá sức, cần đi với vận tốc chậm hơn.  Ngược lại, nếu bạn có thể ca một bài hát trong khi đi có nghĩa là bạn đã vận động chưa tới mức cần thiết.  Trường hợp nầy, nên bước đi nhanh hơn.  Vẫn phải nhắc lại, dù đi ở bất cứ cường độ nào, cần phải dừng ngay lại mỗi khi đi mà cảm thấy chóng mặt, nhức đầu, khó chịu ở ngực hoặc bất cứ triệu chứng bất thường nào khác.  Nếu ngồi nghỉ mà triệu chứng vẫn không thuyên giảm, cần đến khám Bác sĩ ngay. 

Nên kéo dài thời gian đi bộ mỗi tuần. 

Nếu bạn đã lâu ngày không đi bộ chỉ nên bắt đầu bằng những lần đi chậm và ngắn khoảng 10 hay 15 phút.  Tuỳ theo điều kiện chung của sức khoẻ tổng quát cũng như như sự thích hợp dần của hệ tim mạch, thời gian và cường độ đi bộ sẽ tăng dần sau mỗi tuần.  Vấn đề quan trọng  không phải là đi bộ được bao lâu mỗi lần mà là cần gia tăng thời gian đi bộ lên sau mỗi tuần.  Theo khuyến cáo của Trung Tâm Phòng Ngừa và Kiếm Soát Bệnh Tật Hoa Kỳ, khi đã đạt đến bước đi nhanh, đi được mỗi ngày 30 phút, mỗi tuần 3 lần là đủ cho yêu cầu vận động  thể lực cần thiết cho sức khoẻ.  Các chuyên viên còn cho biết 2 lần đi bộ trong ngày, mỗi lần 15 phút có giá trị tương đương như một chuyến đi bộ 30 phút.  Điều nầy có nghĩa rằng nếu vì sức khoẻ hoặc vì không có thời gian dài đủ trong một lần, bạn có thể phân cuộc đi bộ mỗi ngày ra làm hai, mỗi lần chỉ cần đi 15 phút.

Cần giữ lửa nhiệt tình. 

Bắt đầu một chương trình đi bộ thường dễ hơn là tiếp tục duy trì nó.  Hãy tạo cho mình đủ động lực cần thiết để đi bộ.  Nên đặt ra những mục tiêu và tạo thành những tập quán tốt riêng cho mình hoặc cho những người trong gia đình.  Nên ghi lại những thông tin về cân nặng, về áp huyết, về độ cholesterol trong máu, về yếu tố đường huyết  hoặc về những điều kiện khác của sức khoẻ trong quá trình thực hành đi bộ.  Những cải thiện cụ thể nầy sẽ là động lực giúp bạn duy trì được chương trình đi bộ.









Reply all
Reply to author
Forward
0 new messages