Bạn biết gì về công tắc đèn điện?
Ai là người phát minh ra công tắc đèn điện có lẽ vẫn còn là một câu hỏi bí ấn. Đèn điện được Humphry Davy, Heinrich Gobel và Edmond Becquerel ở Pháp phát minh ra vào quãng năm 1801-1880 nhưng rất khó sử dụng vì tuổi thọ ngắn và đắt. Sau đó nhờ sự nghiên cứu sáng tạo của Thomas Edison, đèn điện đã được đưa ra sử dụng rộng rãi. 4 người này bao gồm cả Edison cũng chưa có ý niệm gì về việc có cái đèn thì phải có … cái công tắc đi kèm cả.
Công tắc đèn thay đổi khá nhiều lần theo thời gian. Trước năm 1970, công tắc đèn có chứa một giọt thủy ngân và khi muốn bật đèn, người ta sẽ nghiêng giọt thủy ngân này xuống để nối hai dây điện với nhau. Sau đó các công tắc lò xo mới bắt đầu được phát triển.
Điều kỳ lạ nhất của những chiếc công tắc đèn là tuy chỉ có hai mức : Bật/Tắt nhưng ở Anh, Úc và New ZeaLand, vị trí ở phía dưới lại là vị trí “Bật” còn ở Mỹ thì vị trí ở trên mới là vị trí “Bật”. Điều này cho thấy sự đa dạng của con người ngay cả khi chỉ có hai sự lựa chọn.
Cây guitar điện có xuất xứ như thế nào?
Cây guitar điện thủa sơ khai có lẽ đã được tạo ra từ cảm hứng của George Beauchamp (1899-1941) với những cây guitar Hawaii. George vốn là một nhạc công chơi nhạc Hawaii đã cùng với Adoplph Rickenbacker (1886-1939) tạo ra cây guitar điện đầu tiên trên thế giới được đặt tên là “Frying Pan”.
Tuy vậy, người có công lớn nhất trong việc phát triển guitar điện có lẽ là Les Paul (1915-2009). Là một nhạc sỹ và người chơi nhạc jazz và blues, Paul cảm thấy mệt mỏi với những cây guitar cũ và tự mình chế tạo ra một cây guitar mới theo ý mình. Nhận thấy rằng âm thanh có thể khuếch đại nhờ các thiết bị điện tử, Paul đã làm mỏng hộp âm đi rất nhiều. “The Log”, cây guitar điện đầu tiên của Paul đã không tạo ra được ấn tượng lắm với mọi người xung quanh nhưng đến thập niên 50, thập niên của Rock n
Roll thì guitar điện mới thực sự được bùng nổ.
Bên cạnh những nghiên cứu của Paul, Leo Fender (1909-1991) cũng đã có những sáng tạo riêng của mình và góp phần vào việc đưa guitar điện phổ biến rộng hơn. Giờ đây, bất cứ một cậu bé nào có được một cây đàn mang tên Fender đều chắc hẳn sẽ rất sung sướng, đặc biệt là cây Fender Stratocaster.
Vì sao máy nghe nhạc iPod có âm lượng phát ra to hơn các máy MP3 khác?
Năm 2001, một nhà phát minh độc lập có tên Tony Fadell đã mang tới Apple ý tưởng về
một máy nghe nhạc MP3 kết nối với dịch vụ trực tuyến ngang hàng kiểu Napster. Cho dù ý tưởng này không phải của Apple nhưng đây là công ty duy nhất mà Fadell tiếp cận có khả năng biến ý tưởng này trở thành mỏ vàng. Ngay khi nghe về ý tưởng này, Apple đã lập một đội thiết kế gồm 30 người để làm việc cùng Fadell.
Tuy vậy, người kiểm duyệt cuối cùng về tất cả mọi thứ từ
hình dáng, cảm nhận tới âm lượng là CEO của Apple, Steve Job. Câu trả lời cho câu hỏi trên là vì Steve Job bị lãng tai nên máy nghe nhạc iPod có âm lượng phát ra to hơn các máy MP3 bình thường khác
Bộ phim nào
có kinh phí “khủng” nhất?
Có phải Titanic không? Hay là Spiderman? Cả hai bộ phim này đều không phải. Câu trả lời là bộ phim được xây dựng dựa theo tiểu thuyết của Lev Tolstoy “Chiến tranh và hòa bình” vào năm 1968. Kinh phí cho bộ phim này lúc đầu dự tính là 100 triệu USD nhưng do lạm phát nên đã lên tới 700 triệu USD, một con số kỷ lục (!!!)
Có bao giờ tượng Oscar được trao lại làm bằng thạch cao không?
Bạn sẽ bảo là tôi đang đùa. Làm sao tượng vàng “óng ánh” trao giải Oscar lại làm bằng thạch cao được. Thế nhưng từ từ, vào năm 1938, Edgar Bergen đã được nhận giải Oscar với một bức tượng bằng gỗ. Đây cũng là bức tượng Oscar duy nhất làm bằng gỗ. Từ năm 1942 cho đến hết thế chiến thứ 2, các bức tượng trao giải Oscar đều được làm bằng thạch cao (plaster) để tiết kiệm. Tuy vậy, sau thế chiến thứ 2 chủ nhân của những bức tượng này có thể
đổi chúng lại để lấy tượng Oscar “xịn”.
Từ “paparazzi” xuất phát từ đâu?
Trong bộ phim nổi tiếng năm 1960 có tên La Dolce Vita có một nhân vật làm nghề
nhiếp ảnh mang tên Paparazzo. Từ “Paparazzo” xuất phát từ tiếng Ý mang ý nghĩa chỉ một con muỗi vo ve ồn ào và gây bực mình tới người khác. Ngày nay, từ “paparazzi” (tiếng Ý số nhiều) được xuất phát từ bộ phim nói trên đã được sử dụng rộng rãi để chỉ những nhiếp ảnh gia chuyên rình mò đời tư của người khác.
Dàn nhạc giao hưởng được bố trí như thế nào?
Dàn nhạc giao hưởng (symphony orchestra/philharmony orchestra) chuyên biểu diễn nhạc cổ điển thường có từ 30 tới 50 nhạc công chia theo khu vực khác nhau, mỗi khu vực có một chức năng nhất định. Hai nhạc sỹ có ảnh hưởng lớn tới cấu trúc của dàn nhạc giao hưởng là Beethoven và Wagner. Tuy vậy, rất nhiều các nhạc sỹ khác cũng đã góp phần vào việc hoàn thiện cấu trúc dàn nhạc giao hưởng.
Hiện tại, một giàn nhạc giao hưởng thường có 4 phần : bộ dây (string family - ví dụ violin, viola), bộ gõ (percussion - ví dụ trống), bộ gỗ (woodwind - ví dụ sáo hay oboes) và bộ đồng(brass - ví dụ kèn trombones). Có một điều đặc biệt là piano và harp không phải là thành viên thường xuyên của dàn nhạc giao hưởng (do sự ra đời muộn màng của piano).
Piano bắt đầu xuất hiện từ khi nào?
Bartolomeo Cristofori (1655-1731) được coi là người đã phát minh ra đàn piano - nhạc cụ được coi là vua của các loại nhạc cụ bởi nó có thể đánh được toàn bộ các nốt của các nhạc cụ khác trong dàn nhạc (5 quãng) . Những năm đầu tiên của thế kỷ XVIII (1700+) được coi là năm mà piano bắt đầu ra đời. Do vậy, những
sáng tác của các nhạc sỹ trước thời điểm này đều không có piano trong dàn nhạc.
Nhà soạn nhạc nổi tiếng nào không biết chơi piano?
Có thể nói những nhà
soạn nhạc nổi tiếng như Mozart, Beethoven cho tới Schubert và Lizst đều là những người chơi piano cực tốt. Piano chiếm một vai trò cực lớn trong âm nhạc cổ điển và gần như bất cứ nhà soạn nhạc nào cũng phải học nó trước khi bước vào thế giới âm nhạc.
Tuy vậy, Hector Berlioz (1803-1869) lại là một người không biết chơi piano. Tuy vậy, những bản nhạc để đời của ông đã khiến ông được gọi
với tên “thi nhân của nhạc giao hưởng”, “người nối tiếp Beethoven”… Trong lịch sử âm nhạc cổ điển, có lẽ chỉ có duy nhất Berlioz là nhà soạn nhạc nổi tiếng … không biết chơi piano.
Bản giao
hưởng nào đã được Beethoven dành tặng Napoleon?
“Bản giao hưởng anh hùng”, giao hưởng số 3 của Beethoven là một tác phẩm tiêu biểu của ông trong thời kỳ trưởng thành. Bản giao hưởng này đã được Beethoven đề tặng Napoleon. Tuy vậy, sau khi nghe tin Napoleon lên ngôi hoàng đế thì ông đã giận giữ chụp lấy nó và xé nát. Beethoven đã thất vọng vì Napoleon hóa ra cũng chỉ là một con người tầm thường, đầy tham vọng và đã chà đạp lên quyền lợi của mọi người để đạt tới mong muốn của mình - lên ngôi hoàng đế.
Tại sao Tchaikovsky trong lúc sáng tác nhạc lại dùng tay giữ đầu của mình?
Peter Ilich Tchaikopsky (1840) là một trong những nhạc sỹ có ảnh hưởng lớn tới âm nhạc cổ điển nước Nga với các tác phẩm như Swan Lake, The Sleeping Beauty và The Nutcracker. Ông đã kết thúc cuộc đời của mình ở tuổi 53 sau khi uống phải nước nhiễm khuẩn, một cuộc
đời cô đơn và sống trong ngượng ngùng. Gần như ông không gặp ai và chỉ ở nhà viết nhạc.
Tchaikovsky sợ rất nhiều thứ, đặc biệt là sợ chết. Ông luôn sợ rằng đầu của mình sẽ lìa khỏi cổ. Do vậy, trong lúc sáng tác nhạc, Tchaikovsky thường dùng tay trái để giữ đầu của mình còn tay phải để viết nhạc và những vở ballet nổi tiếng đã ra đời trong hoàn cảnh như vậy.
Những Dự Đoán Thú Vị Cho Tương Lai Thế Giới Trước Năm 2030.
Theo website NextBigFuture và ilookforward chuyên về phân tích sự phát triển của khoa học công nghệ và căn cứ vào những bước tiến của con người trong thời điểm hiện tại đã đưa ra được 11 tiên đoán thú vị về tương lai của thế giới đến năm 2030 .
01 . Đến năm 2030 , việc học ngoại ngữ sẽ không còn cần thiết nữa
Với sự trợ giúp của một máy tính tí hon lắp vừa vặn trong tai bạn và dịch những gì bạn nghe thấy bằng tiếng mẹ đẻ của bạn . Điều này không hề siêu tưởng . Trên thực tế , tất cả những
công nghệ cần thiết hiện nay đều có và chỉ việc duy nhất cần phải làm là gắn vào tai và sử dụng .
Google đang nỗ lực rất nhiều để phát triển công nghệ dịch giọng nói thời gian thực và các màn hình hiển thị có thể cung cấp đầy đủ những thông tin cho người dùng . Vấn đề quan trọng nhất ở đây là phải xác định được mức độ khả thi của ý tưởng . Tiêu chuẩn vàng của công nghệ này là chúng có thể thay thế được các phiên dịch viên của Liên hợp quốc hayits ra cũng bổ sung thêm các phiên
dịch viên cho tổ chức này .
02 . Đến năm 2030 , hàng ngàn , thậm chí là hàng triệu người sẽ có tuổi thọ là 150 năm
Aubrey de Grey , chuyên gia nghiên cứu về lão khoa người Anh , cho biết họ đang nghiên cứu phát triển và có 50 % cơ hội sản xuất được một loại biệt dược có khả năng giúp con người sống thọ đến 200 tuổi trong khoảng từ năm 2030 đến 2040 . Giả sử
mục tiêu ấy là có thể đạt được nhưng mức tuổi thọ 200 tuổi có lẽ phải chờ đến khoảng năm 2140 đến 2150 . Hiện nay mức tuổi thọ cao nhất trung bình từ 85 đến 90 .
03 . Đến năm 2030 , chỉ còn 2 % dân số thế giới sống trong điều kiện cực kỳ đói nghèo
Xoá bỏ tình trạng đói nghèo đang là vấn đề quan tâm trên toàn thế giới và của mỗi quốc gia . Vào thời điểm năm 1990 , 42 % dân số thế giới sống dưới mức 1 ,25 USD một ngày . Năm 2005 , tỉ lệ đó giảm xuống còn 25 % . Liên Hợp quốc ước tính đến năm 2020 , sẽ chỉ còn 10 % dân số thế giới sống trong tình trạng rất nghèo đói . Đến năm 2030 sẽ chỉ còn 2 % tức là cứ mỗi 50 người thì có 2 người sống trong tình cảnh đói
nghèo . Tuy nhiên mục tiêu này rất khó thực hiện vì hiện trên thế giới vẫn còn khoảng 160 triệu người đang phải sống trong những nơi vô cùng tồi tệ chỉ với 1 ,25 USD mỗi ngày .
04 . Đến năm 2030 , cây lương thực tốt nhất sẽ được trồng trong những toà nhà chọc trời .
Nền nông nghiệp dựa vào đất đai sẽ trở nên lạc hậu . Một cuộc cách mạng nông nghiệp đang được thực hiện bằng ý tưởng của tiến sĩ Dickson Despommier đến từ Đại học Columbia . Kế hoạch của ông là xây dựng cac nhà kính cao 30 tầng trong các thành phố trên thế giới , cho phép sản xuất nhiều lương thực hơn với chi phí thấp hơn , có lợi cho sức khoẻ hơn , giải phóng đất trồng trọt cho tự nhiên . Tất nhiên , sẽ có những nhà kính chọc trời để phát triển nông nghiệp nhưng chúng sẽ không chiếm quá 1 % hoạt động sản xuất nông nghiệp thế giới . Nó sẽ chỉ phù hợp cho phần lớn là các nhà hàng cao cấp có nhu cầu thực phẩm tươi và các cửa hàng thực phẩm sang trọng .
05 . Đến năm 2030 , xe hơi không người lái sẽ là chuyện xưa như diễm
Đó là điều hoàn toàn có thể
chứ . Bạn hãy tưởng tượng mình bước vào trong xe , quăng đôi giày sang một chỗ , ngồi dựa lưng vào ghế và thưởng thức một bộ phim hay với một cốc bia mát lạnh trong khi chiếc xe tự lái đưa bạn an toàn đến nơi bạn cần đến mà không cần lo lắng về việc điều khiển hay phanh thắng . Công nghệ để tạo ra một chiếc xe như thế hiện nay chúng ta đã có . Một số lượng xe rất nhỏ như vậy đang được sử dụng tại thành phố Masdar và phi trường Heathrow . Để phát triển và đưa loại xe này vào sử dụng rộng rãi trong đời sống chúng ta cần phải giải quyết tốt các vấn đề về luật pháp , bảo hiểm và các vấn đề xã hội khác .
06 . Đến năm 2030 , sẽ có 18 thành phố trên thế giới có dân số trên 20 triệu người , New York sẽ là thành phố lớn thứ 16 thế giới .
Mặc dù dân số toàn cầu
đang tăng lên với tốc độ nhanh chóng , các thành phố trên thế giới cũng có tỉ lệ tăng trưởng cao hơn bao giờ hết . Hiên tại có 50 % dân số thế giới sống ở những vùng đô thị , nhưng đến năm 2030 con số đó sẽ tăng lên 60 % . Và 93 % dân số thành thị sẽ diễn ra ở các nước đang phát triển . Con số thành phố đông dân như vậy có lẽ sẽ cao hơn nhưng hẳn không phải là mục tiêu thú vị cho bất cứ quốc gia nào , đặc biệt là vấn đề quản lý và môi trường .
07 . Đến năm 2030 , máy bay không người lái sẽ vận chuyển được con người
Có
lẽ một tương lai không xa , việc phát triển một mạng lưới máy bay vận tải không người lái đa năng sẽ dọn đường cho khả năng xây dựng trên thực tế một mạng lưới các máy bay không người lái có thể chở người . Như đã biết , khả năng định hướng của cong người tron các môi trường không gian ba chiều là rất kém , vì vậy máy bay không người lái sẽ là một lựa chọn an toàn hơn khắc phục được yếu điểm trên của con người .
08 . Đến năm 2030
, du lịch vũ trụ sẽ trở nên phổ biến và khoảng 40 000 người sẽ làm việc trên quỹ đạo
Tập đoàn Space Island Group ( SIG ) đang hợp tác với British Airways xây dựng một trạm không gian thương mại quốc tế đa mục đích . Trạm không gian này sẽ có các khách sạn , trung tâm nghiên cứu , nhà hàng và sân vận động ( áp dụng cho các môn thể thao không trọng lực mới ) cùng với nhiều ứng dụng khác mà hiện nay chúng ta chưa thể nghĩ tới . Nhưng SIG chỉ là một trong số ít các công ty nghiên cứu các dự án tương tự .
Con số 40 000 người làm việc trên quỹ đạo vào năm 2030 không phải là điều quá nhạc nhiên nhưng nó yêu cầu rất nhiều yếu tố phải được thực hiện đồng bộ và nhịp nhàng . Công nghệ tự động hoá và điều khiển từ xa là những lĩnh vực cần tập trung . Nhưng liệu nhu cầu của những người muốn lên vũ trụ có cao đến vậy không ?
09 . Đến năm 2030 , phần lớn diễn viên điện ảnh sẽ thất nghiệp vì sự cạnh tranh của diễn viên hoạt hình máy tính giá rẻ .
Công nghệ hình ảnh máy tính ( CGI ) sẽ cho chúng ta khả năng tạo ra các bộ phim với các nhân vật hoạt hình rất thật đến mức khó phân biệt được với người thật . Những bộ phim tiền đề điển hình như Avatar là một ví dụ . Thêm vào đó , nhu cầu về phim
ảnh từ người xem , đặc biệt từ các nước như Tàu Cộng , Ấn Độ , Hàn Quốc và Brazil sẽ đẩy mạnh tỉ lệ phim ảnh làm theo công nghệ CGI cao hơn nữa .
10 . Đến năm 2030 , Trung quốc sẽ có 250 thành phố triệu dân .
![]()
Hiện nay , 90 % dân số ở Anh và 80 % dân số ở Mỹ sống ở thành phố , trong khi ở Tàu Cộng tỉ lệ đó là 46 % . Anh có 5 vùng đô thị có trên 1 triệu dân ; Mỹ có 37 thành phố và Tàu Cộng là 90 . Anh và Mỹ là những nước đã đạt ngưỡng cao nhất về mặt đô thị hoá trong khi đó Tàu
Cộng mới đi được nửa đường . Công ty tư vấn McKinsey dự đoán đến năm 2025 Tàu Cộng 220 thành phố có trên 1 triệu dân . Một số dự đoán khác cho tỉ lệ đô thị hoá tới 80 % ở nước này .
11 . Đến năm 2030 , một lượng lớn người trên thế giới sẽ có người yêu là robot
Ở Nhật , búp bê silicon là khá phổ biến với cái tên « Những cô vợ Hoà Lan » ( « Dutch Wives » hay « dattchi waifu » trong tiếng Nhật ) . Tên của chúng có nguồn gốc từ thuật ngữ có thể là trong tiếng Anh chỉ một loại gối bằng mây hoặc tre , được sử dụng giúp ngủ được ngon bằng cách giữ tay được đỡ trên những tấm khăn thấm mồ hôi . Thậm chí có một công ty là Doru no Mori ở Tokyo còn cho thuê búp bê tình dục và phòng với khách hàng nam giới . Vào tháng 03/2007 , nhật báo Mainichi Shimbun báo cáo còn có những công ty cho thuê có
dịch vụ mang cả những von búp bê tình dục này đến nhà khách hàng .
Thị trường trung cấp và cao cấp chuyên về búp bê tình dục ở Mỹ xuất hiện năm 1995 . Thị trường này phát triển do hai nguyên nhân chính . Thứ nhất , khoảng 20 năm gần đây đã chứng kiến sự phát triển mạnh mẽ các loại búp bê tình dục đời đầu và khách hàng bắt đầu nhận ra nó thông qua mạng internet . Thứ hai , phương pháp mua bán lẻ cũng
phát triển mạnh cho phép khách hàng thấy được thế nào là búp bê thật , da , tóc và thậm chí là cơ quan sinh dục rất chi tiết .
|
|