Tiếng Việt hay Việt ngữ l một ngn ngữ thuộc ngữ hệ Nam , được cng nhận l ngn ngữ chnh thức tại Việt Nam. Đy l tiếng mẹ đẻ của khoảng 85% dn cư Việt Nam cng với hơn 4 triệu người Việt kiều. Tiếng Việt cn l ngn ngữ thứ hai của cc dn tộc thiểu số tại Việt Nam v l ngn ngữ dn tộc thiểu số được cng nhận tại Cộng ha Sc.
Dựa trn từ vựng cơ bản, tiếng Việt được phn loại l một ngn ngữ thuộc ngữ hệ Nam . Tiếng Việt l ngn ngữ c nhiều người ni nhất trong ngữ hệ ny (nhiều hơn tổng số người ni của tất cả cc ngn ngữ cn lại trong ngữ hệ). V Việt Nam thuộc Vng văn ho Đng , tiếng Việt cũng chịu nhiều ảnh hưởng về từ tiếng Hn, do vậy l ngn ngữ c t điểm tương đồng nhất với cc ngn ngữ khc trong ngữ hệ Nam .
Theo A. G. Haudricourt giải thch từ năm 1954, nhm ngn ngữ Việt-Mường ở thời kỳ khoảng đầu Cng nguyn l những ngn ngữ hay phương ngữ khng thanh điệu. Về sau, qua qu trnh giao thoa với Hoa ngữ v nhất l với cc ngữ thuộc ngữ hệ Tai-Kadai vốn c hệ thống thanh điệu pht triển cao hơn, hệ thống thanh điệu trong tiếng Việt xuất hiện v c diện mạo như ngy nay, theo quy luật hnh thnh thanh điệu. Sự xuất hiện cc thanh điệu, bắt đầu khoảng thế kỷ thứ VI (thời kỳ Bắc thuộc trong lịch sử Việt Nam) với 3 thanh điệu v pht triển thm vo khoảng thế kỷ XII (nh L) với 6 thanh điệu. Sau đ một số phụ m đầu biến đổi cho tới ngy nay. Trong qu trnh biến đổi, cc phụ m cuối rụng đi lm thay đổi cc kết thc m tiết v phụ m đầu chuyển từ lẫn lộn v thanh với hữu thanh sang tch biệt.
Theo ước lượng của cc nh nghin cứu, từ Hn Việt chiếm khoảng trn dưới 70% vốn từ trong phong cch chnh luận, khoa học (Maspro th cho rằng, chng chiếm hơn 60% lượng từ tiếng Việt).[4][5] Tc giả L Nguyễn Lưu trong cuốn sch Từ chữ Hn đến chữ Nm th cho rằng về lĩnh vực chuyn mn v khoa học tỉ lệ ny c thể ln đến 80% nhưng khi nhận xt về văn ngữ trong một cuốn tiểu thuyết th chỉ cn 12,8%, kịch ni rt xuống cn 8,9% v ngn ngữ ni chuyện hằng ngy cn thấp hơn nữa.[6]
Kể từ đầu thế kỷ thứ XI, Nho học pht triển, việc học cổ văn gia tăng, tầng lớp tr thức mở rộng tạo tiền đề cho một nền văn chương của người Việt bằng cổ văn pht triển với cc ng văn thư v dụ như Nam quốc sơn h bn sng Như Nguyệt (sng Cầu).
Từ khi Php xm lược Việt Nam vo nửa cuối thế kỷ thứ XIX, tiếng Php dần thay thế vị tr của cổ văn, trở thnh ngn ngữ chnh thức trong gio dục, hnh chnh v ngoại giao. Chữ Quốc ngữ (chữ Latinh tiếng Việt), do một số nh truyền gio chu u tạo ra, đặc biệt l hai tu sĩ người Bồ Đo Nha Gaspar do Amaral v Antonio Barbosa, với mục đch ban đầu l dng k tự Latinh ghi lại tiếng Việt, được chnh quyền Php thuộc bảo hộ sử dụng nhằm thay thế chữ Hn với chữ Nm để đồng văn tự với tiếng Php, dần dần sử dụng phổ biến trong x hội cng tiếng Php.
Gia Định bo l tờ bo đầu tin m pht hnh bằng chữ Quốc ngữ tại Nam Kỳ vo năm 1865, đặt nền mng cho sự pht triển v xu hướng của chữ Quốc ngữ như l chữ viết chnh của tiếng Việt sau ny.
Trong thời kỳ chiến tranh Việt Nam, sự pht triển tiếng Việt trong chnh thể Việt Nam Dn chủ Cộng ha ở miền Bắc v Việt Nam Cộng ha ở miền Nam diễn ra c khc nhau, chủ yếu ở sử dụng từ Hn-Việt v phin m tn trong tiếng nước ngoi.
Tại miền Bắc (Việt Nam Dn chủ Cộng ha) c xu hướng chuyển sang sử dụng từ thuần Việt thay thế từ Hn Việt cng nghĩa cn ở miền Nam (Việt Nam Cộng ha) th vẫn giữ nguyn việc sử dụng từ Hn Việt như thời trước 1945. V dụ như miền Nam vẫn giữ tn "Ngn hng Quốc gia" trong khi miền Bắc đổi thnh "Ngn hng Nh nước" (1960), miền Nam gọi l "phi trường" th miền Bắc gọi l "sn bay", miền Nam gọi l "Ngũ Gic Đi" th miền Bắc gọi l "Lầu Năm Gc", miền Nam gọi l "Đệ nhứt thế chiến" th miền Bắc gọi l "Chiến tranh thế giới thứ nhất", miền Nam gọi l "hỏa tiễn" th miền Bắc gọi l "tn lửa", miền Nam gọi l "thủy qun lục chiến" cn miền Bắc đổi thnh "lnh thủy đnh bộ",... Ngược lại ở miền Bắc lại dng một số danh từ bắt nguồn từ tiếng Hn như "tham quan", "sự cố", "nhất tr", "đăng k", "đột xuất", "v tư",... th miền Nam lại dng những chữ "thăm viếng", "trở ngại/trục trặc", "đồng lng", "ghi tn", "bất ngờ", "thoải mi",...
Sau khi Việt Nam thống nhất vo năm 1975, quan hệ Bắc-Nam đ kết nối lại. Gần đy, sự phổ biến hơn của cc phương tiện truyền thanh v truyền hnh trn ton quốc gp phần chuẩn ha tiếng Việt về chnh tả v m điệu. Từ Hn Việt v từ thuần Việt được người Việt sử dụng song song ty thuộc ngữ cảnh hay văn phong. Sự di cư để học tập v lm việc giữa cc vng miền gip mọi người ở Việt Nam được tiếp xc v hiểu nhiều hơn với cc phương ngữ tiếng Việt.
Tiếng Việt l ngn ngữ thanh điệu, mọi m tiết của tiếng Việt lun mang 1 thanh điệu no đ. Do cc thanh điệu của tiếng Việt trong chữ quốc ngữ biểu thị bằng cc dấu thanh cn gọi l dấu nn một số người quen gọi cc thanh điệu của tiếng Việt l cc "dấu". C sự khc biệt về số lượng thanh điệu v điệu trị của thanh điệu giữa cc phương ngn của tiếng Việt, thanh điệu c tn gọi giống nhau khng đồng nghĩa với việc ni chng sẽ giống nhau trong mọi phương ngn của tiếng Việt. Phương ngn tiếng Việt Bắc Bộ c 6 thanh điệu, phương ngn tiếng Việt Trung Bộ v Nam Bộ c 5 thanh điệu. Thanh điệu của tiếng Việt tiu chuẩn gồm 6 thanh: ngang (cn gọi l thanh khng dấu do chữ quốc ngữ khng c dấu thanh cho thanh điệu ny), sắc, huyền, hỏi, ng, nặng nhưng lại thiếu cc quy định cụ thể về việc lấy cch pht m trong phương ngn no của tiếng Việt lm cch pht m tiu chuẩn cho 6 thanh điệu ny.
Cc m tiết mang vần nhập thanh, tức l cc vần kết thc bằng 1 trong 3 phụ m cuối /k/ (chữ quốc ngữ ghi lại bằng chữ ci "c" hoặc chữ ci nhị hợp "ch"), /t/ (chữ quốc ngữ ghi lại bằng chữ ci "t"), /p/ (chữ quốc ngữ ghi lại bằng chữ ci "p") chỉ c thể mang thanh sắc hoặc thanh nặng. 3 m tắc trn đ lm cho cc m tiết mang vần nhập thanh chỉ c thể mang cc thanh điệu c điệu trị ngắn v nhanh.
Trong thơ ca cc thanh điệu phn thnh 2 nhm: thanh bằng gồm c ngang v huyền, thanh trắc gồm cc thanh cn lại. Trong cc thể thơ cổ như Đường luật v lục bt, c thể c sự ha hợp thanh điệu bằng trắc giữa cc tiếng trong 1 cu thơ.
Tiếng Việt l 1 ngn ngữ đơn lập. Cc quan hệ ngữ php thể hiện chủ yếu thng qua hệ thống hư từ v cch sắp xếp trật tự từ trong cu. Trật tự từ thng dụng nhất trong tiếng Việt l chủ ngữ - vị ngữ - tn ngữ (SVO). Tuy nhin, trật tự trong cu c thể trong một số trường hợp sắp xếp theo kiểu ngn ngữ nổi bật chủ đề, v thế m 1 cu c thể theo trật tự Tn ngữ - Chủ ngữ - Vị ngữ (OSV).
Vị tr cc từ sắp xếp theo thứ tự, từ mang chnh đứng trước từ mang phụ đứng sau bổ sung nghĩa cho từ mang chnh, tương tự như danh từ đứng trước tnh từ đứng sau bổ sung nghĩa cho danh từ. Tuy nhin trong một số trường hợp, bổ ngữ (bao gồm từ mang phụ v tnh từ) sẽ đứng trước danh từ.
Từ vựng tiếng Việt c 2 bộ phận chnh: từ thuần Việt v từ mượn. Ngoi ra cn c những từ hỗn chủng l kết quả của sự kết hợp cc yếu tố thuần Việt v ngoại lai.
Từ thuần Việt l những từ xuất hiện lu hơn trong tiếng Việt, biểu thị những sự vật, hiện tượng, khi niệm cơ bản nhất trong đời sống hằng ngy. Do c sự tiếp xc từ sớm hơn với cc ngn ngữ nhm Ty-Thi nn nhiều từ thuần Việt v cc từ tương ứng trong cc tiếng ny c sự giống nhau nhất định về ngữ m v ngữ nghĩa.[15]
Trước 1960, một số từ thuần Việt dng để đặt tn thng tục cho người trong tầng lớp bnh dn hoặc để trnh bị ma quỷ thần thnh bắt đi. Tại miền Bắc c cc tn như "Rụt", "Tằm", "Cột", "Cu", "Gi",... Tại miền Nam c cc tn như "Đực",... Sự pht triển dn tr dẫn đến cch đặt tn thng tục giảm dần.
Kể từ khi Việt Nam trở thnh thuộc địa của Php, tiếng Php đ c ảnh hưởng đến tiếng Việt v cc từ ngữ gốc Php thm nhập vo tiếng Việt. Sự ảnh hưởng ny l do tiếng Php c sử dụng trong cc văn bản, giấy tờ của Nh nước v trong giảng dạy ở nh trường cũng như trong cc loại sch bo khc. Ảnh hưởng ny ko theo sự xuất hiện của cc từ gốc Php trong cc lĩnh vực khc nhau đặc biệt l trong khoa học kỹ thuật.
Trong thời kỳ Chiến tranh Việt Nam, miền Bắc Việt Nam chịu ảnh hưởng của Lin X. Do đ, một số từ ngữ gốc Nga c điều kiện du nhập vo tiếng Việt. Đồng thời, cng với sự tiếp xc, hội nhập su rộng hơn với thế giới, trong tiếng Việt cũng xuất hiện cc từ ngữ c nguồn gốc từ tiếng Anh.