Vũ khí của Mạc Đăng Dung và vũ khí của Quan Vũ.

90 views
Skip to first unread message

cuong

unread,
Oct 27, 2011, 2:04:19 AM10/27/11
to hoacuo...@googlegroups.com

Khu di tích vương triều Mạc (thôn Đài Thắng, xã Ngũ Đoan, huyện Kiến Thụy, TP Hải Phòng) có rất nhiều di vật, cổ vật. Nhưng đến đây, du khách đặc biệt chú ý đến một di vật đã trên 500 tuổi, gắn liền với cuộc đời của Thái tổ Nhân minh Cao hoàng đế Mạc Đăng Dung, vị vua sáng lập ra triều đại này, đó là thanh Đinh nam đao (còn gọi là long đao), được đặt thờ trong điện chính.

Theo các nhà sử học, thì Châu Á hiện chỉ có 2 binh khí được lưu thờ, một là thanh đao của vua Tống Thái Tổ (Triệu Khuông Dẫn) ở Trung Quốc, và hai là thanh long đao này.

Đao là 1 trong 18 thứ binh khí thời cổ đại (đao, thương, kiếm, kích, rìu, búa, qua, mâu, thuẫn, cung, nỏ, xoa, thù, roi, giản, đinh ba, côn, quất), mỗi thứ có một tác dụng khác nhau. Đao có 2 loại là đoản đao và đại đao. Đoản đao lưỡi ngắn, chuôi ngắn, chiến binh sử dụng đoản đao bằng một tay, sát thương đối thủ bằng chém, đập, đâm, tầm sát thương ngắn. Đại đao lưỡi dài, cán dài, tầm sát thương xa, muốn sử dụng nó phải dùng cả hai tay.

Thai to1

Con cháu họ Mạc rước thanh đao vào điện thờ

Thanh đao của Mạc Thái Tổ thuộc loại đại đao, dài 2,55 mét, gồm 2 phần là lưỡi đao bằng thép dài 0,95 mét và phần cán bằng sắt rỗng dài 1,6 mét. Một đầu rồng bằng đồng thau che kín phần cuối lưỡi đao nơi tiếp nối với phần cán đao thay cho khâu đao, trông như thể con rồng há miệng ngậm lấy lưỡi đao vậy. Có lẽ do cái đầu rồng này mà nó được gọi là long đao. Chỗ đầu rồng có “cá” chốt chặt lưỡi đao vào cán đao, khiến lưỡi đao được định vị rất chắc. Toàn bộ thanh long đao cân nặng 25,6 kg, đó là do thời gian đã làm nó han rỉ khá nhiều. Một số nhà sử học đoán rằng khi chưa bị han rỉ, có thể nó nặng tới 30 kg.

Ở Trung Quốc, Việt Nam và một số nước lân cận, người đời biết nhiều đến thanh “long đao yển nguyệt” của Quan Vân Trường qua tiểu thuyết “Tam Quốc diễn nghĩa” của La Quán Trung. Sở dĩ có tên đó là vì lưỡi đao trông như vầng trăng khuyết, còn nơi tiếp giáp giữa lưỡi đao và cán đao cũng là một đầu rồng. Thanh long đao của Quan Vân Trường nặng 82 cân. Nhiều người đã lầm tưởng rằng 82 cân là 82 kg. Sự thực không phải, cân Trung Quốc đời Hán chỉ bằng 0,45 kg thời nay, 82 cân tương đương với 36,9 kg.

Như vậy thanh long đao của Mạc Thái Tổ (khoảng 30 kg khi chưa bị han rỉ) cũng chẳng kém mấy thanh long đao của Quan Vân Trường về trọng lượng. Nhưng Quan Vân Trường là nhân vật tiểu thuyết, vũ khí của ông ta cũng là vũ khí của… tiểu thuyết, còn Mạc Thái Tổ là người thật, thanh đao của ông cũng là thật, và đang hiển hiện trước mắt ta. Sử dụng được thanh đao đó, phải là người có sức khỏe phi thường. Ẩn chứa trong thanh long đao này là một câu chuyện dài về chủ nhân của nó.

Mạc Đăng Dung đã trải qua một cuộc đời đầy phong ba bão táp nhưng không kém lẫy lừng. Ông là cháu 7 đời của trạng nguyên Mạc Đĩnh Chi thời Trần. Mạc Đĩnh Chi có văn tài. Đi thi, đứng đầu bảng giáp, nhưng trước khi lấy ông đỗ trạng nguyên, nhà vua còn ngần ngừ chỉ vì thấy ông thấp nhỏ, tướng mạo xấu xí. Biết vậy, Mạc Đĩnh Chi làm bài phú “Ngọc tỉnh liên” (hoa sen trong giếng ngọc) dâng vua. Đọc bài phú, vua tỉnh ngộ, mới quyết. Mạc Đĩnh Chi làm quan liêm khiết, đi sứ thì khiến cho từ vua đến quan bên Trung Quốc phải kính phục, làm vẻ vang cho nền ngoại giao nước nhà.

Mạc Đăng Dung sinh giờ ngọ, ngày 23 tháng 11 năm Quý Mão (1483) tại quê là làng Cổ Trai, huyện Nghi Dương (nay là xã Ngũ Đoan, huyện Kiến Thụy, TP Hải Phòng). Thuở bé nhà nghèo, phải làm nghề chài lưới. Lớn lên, nhờ có sức khỏe, ông thi đỗ lực sỹ xuất thân, được sung vào quân túc vệ đời vua Lê Uy Mục. Đến đời vua Lê Tương Dực thì được phong chức Thiên vũ vệ đô chỉ huy sứ ty đô chỉ huy sứ. Người đời có câu “văn thời loạn, võ thời bình” là để chỉ sự “bất phùng thời” của những văn nhân và võ tướng tài giỏi.  

thai to2

Thanh đao được thờ trong chính điện

Nếu thời ấy, đất nước cứ thanh bình, thì Mạc Đăng Dung cùng lắm cũng chỉ là một viên chỉ huy đội thân binh của hoàng đế, ngày ngày quanh quẩn bên cạnh vua để “quan võ thì ghét quan văn dài quần” mà thôi. Nhưng thời thế đã không diễn ra như vậy. Sau cái chết của vị vua anh minh nhất trong lịch sử phong kiến Việt Nam là Lê Thánh Tông, triều Lê nhanh chóng rơi vào suy tàn với những “vua lợn” Lê Uy Mục, “vua quỷ” Lê Tương Dực, rồi Lê Chiêu Tông, Lê Cung Hoàng. Những ông vua đó không xa xỉ, hoang dâm thì cũng ngu dốt, bất tài.

Đất nước chìm vào loạn lạc, lãnh tụ quân khởi nghĩa nông dân là Trần Cảo đã đánh vào tận kinh thành Thăng Long, đốt phá tan hoang. Nhân loạn lạc, đám quan lại của triều đình cũng nhóm họp thành năm bè bẩy mối tàn sát lẫn nhau để dành quyền lợi. Đời sống của muôn dân, chẳng cần nói hẳn ai cũng hình dung được là điêu linh, cơ hàn đến mức nào. Vừa giỏi võ vừa mưu lược, Mạc Đăng Dung đã cầm quân dẹp tất cả các phe phái, đẩy lùi các cuộc khởi nghĩa nông dân, được phong tới chức Bình chương quân quốc trọng sự thái phó, tước Nhân quốc công rồi tước An Hưng Vương, một mình thâu tóm toàn bộ quyền lực chính trị, quân sự trong tay.

Suốt mấy chục năm chinh chiến “tên reo đầu ngựa, giáo dan mặt thành”, khói lửa nhuộm đen chiến bào, hẳn rằng thanh long đao này đã trở thành vật “bất ly thân” của ông. Và hẳn rằng không ít kẻ đã rơi đầu dưới lưỡi đao ấy. Năm 1527, thấy triều Lê đã hết vai trò trong lịch sử, hào quang đánh đuổi giặc Minh cũng không thể bao bọc nổi những ông vua tượng gỗ nữa, Mạc Đăng Dung quyết định phế bỏ vua Lê Cung Hoàng, tự mình lên làm vua, sáng lập ra triều Mạc.

thai to3Dằng dặc trong suốt mấy thế kỷ phong kiến và cho đến tận ngày nay, nhiều nhà sử học vẫn cho triều Mạc là “ngụy Mạc”, một triều đại tiếm ngôi, cướp quyền bất chính. Nhưng cuối cùng thì cũng không ai có thể phủ nhận được thành tích chính trị của triều đại này trong 66 năm tồn tại ở kinh thành (không kể mấy đời chạy lên Cao Bằng) với 5 đời vua (Mạc Thái Tổ Mạc- Đăng Dung; Mạc Thái Tông Mạc- Đăng Doanh; Mạc Hiến Tông- Mạc Phúc Hải; Mạc Tuyên Tông- Mạc Phúc Nguyên; Mạc Mục Tông- Mạc Mậu Hợp)…

Triều Mạc sụp đổ, con cháu nhà Mạc phải đổi họ, tản mát khắp nơi để tránh sự trả thù của triều đại mới. Một nhánh của họ Mạc đổi thành họ Phạm, về ẩn ở làng Ngọc Tỉnh (nay thuộc thị trấn Xuân Trường, huyện Xuân Trường, Nam Định) đã lưu giữ được thanh long đao của Mạc Thái Tổ, mang thờ ở từ đường họ mình. Đến đời vua Minh Mệnh triều Nguyễn (1821-1840), khi Phan Bá Vành ở làng Minh Giám (nay thuộc huyện Vũ Thư, Thái Bình) nổi lên chống lại triều đình. Nghe tin về thanh long đao này, Phan Bá Vành muốn lấy làm vũ khí, nhưng con cháu họ Mạc (Phạm) ở Đồng Tỉnh đã kịp thời chôn giấu.

Một thời gian sau, những người chôn giấu thanh đao chết không trối trăng lại, nên thanh đao bị chìm trong lòng đất không ai biết nơi nào, chỉ biết rằng ở một gò đất phía đông - nam từ đường họ Phạm, thỉnh thoảng lại có lửa bốc lên, ngọn lửa lúc bùng lúc tắt. Người làng gọi đó là “gò con hỏa”.

Reply all
Reply to author
Forward
0 new messages