m vị của tiếng Nhật, ngoại trừ m "っ" (phụ m đi) v "ん" (m gảy), mang đặc điểm của ngn ngữ theo m tiết kết thc bằng nguyn m, ngoi ra tiếng Nhật tiu chuẩn cũng như đa số cc phương ngữ tiếng Nhật được ni theo từng nhịp đều nhau. Ngữ điệu trong tiếng Nhật l ngữ điệu cao thấp. Trong bộ từ vựng Đại Ha (大和 Yamato), cc nguyn tắc sau đy được p dụng:
Về từ vựng, ngoi bộ từ vựng Yamato, tiếng Nhật sử dụng rất nhiều chữ Hn được du nhập từ Trung Quốc, ngoi ra gần đy từ vựng phương Ty ngy cng nhiều hơn trong kho từ mượn của tiếng Nhật (xem thm Hệ thống từ vựng).
Về biểu thị thi độ, tiếng Nhật c một hệ thống knh ngữ đa dạng về ngữ php v từ vựng để biểu hiện mối quan hệ một cch khn kho của người ni đối với người nghe v người được đề cập đến (xem thm Biểu thị thi độ).
Về phương ngữ, c sự khc nhau lớn giữa miền Đng v miền Ty của Nhật Bản cũng như ở nhm đảo Ryūkyū. Hơn nữa, nếu nhn vo chi tiết, ở mỗi địa phương lại c một phương ngữ khc nhau (xem thm Phương ngữ).
Hiện nay việc khẳng định tiếng Nhật thuộc ngữ hệ no vẫn nằm trong vng tranh ci, cần phải được chứng minh thm. C nhiều giả thuyết đ được đưa ra, nhưng chưa c giả thuyết no đủ mạnh để c thể khẳng định điều ny[2][3].
C giả thuyết cho rằng n thuộc ngữ hệ Altai, đặc biệt khi quan st tiếng Nhật từ cuối thời Minh Trị[4]. Về nguồn gốc, trong tiếng Nhật cổ (từ vựng Đại Ho), c thể thấy rằng m /r/ (m nước) khng đứng ở đầu từ, v một loại nguyn m điều ho (khng để hai nguyn m cng loại đứng gần nhau để điều ho cch đọc) đ được sử dụng[5]. Tuy nhin, bản thn những ngn ngữ cho rằng mnh thuộc ngữ hệ Altai cũng cần phải chứng minh thm về sự tương quan đ[6], do đ, đối với đặc trưng rất dễ thấy của tiếng Nhật cổ được đề cập ở bn trn th tiếng Nhật l ngn ngữ thuộc "kiểu Altai", chứ khng hon ton thuộc về hệ đ[7].
Ngữ hệ Nam Đảo cũng l một hệ m vị v từ vựng được cho l c sự tương đồng với tiếng Nhật[8], tuy nhin, những minh chứng được đưa ra để khẳng định về mặt ngn ngữ th khng đủ, c rất nhiều v dụ cho giả thiết trn khng thể kiểm chứng được. Cho nn ni về mối quan hệ th c thể ni rằng n khng r rng.
C giả thuyết ni rằng tiếng Nhật c quan hệ với ngữ hệ Dravida, nhưng những nh nghin cứu nhận thấy mối quan hệ đ khng nhiều. Shin Ono c giả thuyết cho rằng cc điểm từ vựng - ngữ php của tiếng Nhật c những điểm chung với tiếng Tamil[9], tuy nhin đ c nhiều chỉ trch quan điểm ny khi xem xt vấn đề theo phương php của ngnh so snh ngn ngữ học[10] (xem tiếng Tamil).
Nếu chng ta quan tm đến mối quan hệ đối với c nhn từng ngn ngữ, th k hiệu, từ vựng v.v. của tiếng Nhật ảnh hưởng mạnh mẽ bởi tiếng Hn từ xa xưa thng qua chữ Hn v Hn ngữ. Nhật Bản thuộc về nhm cc nước c truyền thống sử dụng chữ Hn (cc nước đồng văn) m trung tm l Trung Quốc. Tuy nhin, cơ sở từ vựng khng c sự tương ứng, ngoi ra đặc trưng về văn phạm - pht m th hon ton khc Trung Quốc, do đ sự lin quan về hệ thống l khng chnh xc.
Đối với ngn ngữ Ainu, mặc d cấu trc cu của ngn ngữ Ainu tương tự như của tiếng Nhật (kiểu SOV), nhưng văn phạm - hnh thi xt theo loại hnh th thuộc về cc tổ hợp ngn ngữ khc nhau, đồng thời cấu tạo m vị cũng chứng tỏ tồn tại nhiều khc biệt về hữu thanh - v thanh cũng như việc sử dụng m tiết đng. Sự lin quan tương tự về mặt từ vựng cơ bản cũng đ được chỉ ra[11] nhưng những dẫn chứng th khng đầy đủ. Ni chung sự giống nhau về ngn ngữ thể hiện ở chỗ, c nhiều từ vựng Ainu rất dễ nhận ra l đều được mượn từ tiếng Nhật[12]. Hiện nay, những ti liệu chứng minh ra sự lin quan với nhau của hai ngn ngữ một cch hệ thống rất thiếu.
Đối với ngn ngữ Triều Tin, mặc d c nhiều điểm giống nhau về cấu trc văn phạm, cơ sở từ vựng của hai ngn ngữ khc nhau rất nhiều. Về kha cạnh m vị, mặc d c những điểm giống nhau về nguồn gốc cũng như m nước khng đứng ở đầu từ, hay đều dng một kiểu ho hợp nguyn m, v.v., nhưng cũng như ngữ hệ Altai được đề cập ở trn, sự tương tự khng đng vai tr ton bộ, m đng v phụ m kp (trong tiếng Triều Tin thời kỳ giữa) tồn tại sự khc nhau lớn so với tiếng Nhật. Trong Ngn ngữ Cao Ly đ biến mất của bn đảo Triều Tin, cch đếm số cũng như từ vựng được cho l tương tự với tiếng Nhật[13], nhưng sự thật l hiện nay tiếng Cao Ly l biến mất gần như hon ton, do đ kh c thể trở thnh ti liệu kết luận giả thuyết trn một cch c hệ thống.
Ngn ngữ giống với tiếng Nhật v hệ thống của n được thấy r rng nhất l ngn ngữ của nhm đảo Ryūkyū (thuộc tiểu vương quốc Ryūkyū trước đy). Ngn ngữ Ryūkyū v tiếng Nhật gần gũi một cch dị thường, do đ c khả năng xếp n thnh một phần của tiếng Nhật (phương ngữ Ryūkyū). Trong trường hợp l ngn ngữ đặc biệt, tiếng Nhật v tiếng Ryūkyū được xếp chung vo Ngữ hệ Nhật Bản.
Mặc d tiếng Nhật hầu như chỉ được ni ở nước Nhật, tuy nhin n đ v vẫn được dng ở nhiều nơi khc. Khi Nhật Bản chiếm đng Triều Tin, Đi Loan, một phần của Trung Hoa lục địa, v một số đảo ở Thi Bnh Dương trong v trước Chiến tranh thế giới thứ hai, những người dn địa phương ở cc nước ny bị bắt buộc phải học tiếng Nhật trong cc chương trnh xy dựng đế chế. Kết quả l c nhiều người cho đến thập nin 1970 vẫn c thể ni được tiếng Nhật ngoi ngn ngữ bản địa. Cộng đồng dn di cư Nhật Bản (lớn nhất l ở Brasil) thường dng tiếng Nhật để ni chuyện hng ngy. Dn di cư Nhật c mặt ở Peru, Argentina, c (đặc biệt ở Sydney, Brisbane, v Melbourne) v Hoa Kỳ (chủ yếu ở California v Hawaii). Cn c một cộng đồng di cư nhỏ ở Davao, Philippines với nhiều hậu duệ người Philippines gốc Nhật sinh sống, cng với một số ở Laguna, Philippines v nhiều người khc ở khắp Philippines v ở Nhật Bản v trn 245.518 người Philippines ở Nhật, cộng với số người kết hn với người Nhật, v ở chu Mỹ cũng c thể ni tiếng Nhật. Con chu của họ (gọi l nikkei 日系 Nhật hệ), tuy nhin, hiếm khi ni được tiếng Nhật một cch thng thạo. Hiện nay ước tnh c khoảng vi triệu người ở cc nước đang học tiếng Nhật; nhiều trường tiểu học v trung học cũng đưa tiếng Nhật vo chương trnh giảng dạy.
Ở Việt Nam tiếng Nhật cũng được dạy từ những năm 1940-1945, nhưng chỉ đến khoảng những năm 1960-1965 mới được dạy c hệ thống ở cả hai miền. Trong khoảng 10 năm sau đ c một thế hệ người miền Nam rất giỏi tiếng Nhật lm việc tại Phủ quốc vụ khanh đặc trch văn ho, Tiểu ban Nhật Văn thuộc Ủy ban dịch thuật. Tuy nhin, tiếng Nhật chỉ thực sự được giảng dạy mạnh mẽ trở lại trong khoảng 20 năm từ khi bắt đầu đổi mới đến nay khi cc trường đại học mở phn khoa tiếng Nhật. Một số trường phổ thng ở Việt Nam cũng c chương trnh giảng dạy tiếng Nhật như Trường Trung học phổ thng Chuyn Ngoại ngữ, Trường Trung học phổ thng Chu Văn An (H Nội).
Theo bo co trong The World Factbook của CIA, bang Angaur của Palau xem tiếng Nhật l một trong ba ngn ngữ chnh thức cng với tiếng Angaur v tiếng Anh[14]. Tiểu bang ny l nơi duy nhất trn thế giới xem tiếng Nhật l ngn ngữ chnh thức về mặt php l, nếu như bản bo co đ xc thực. Tuy nhin, cũng c bo co khc ni rằng ngn ngữ chnh thức ở Angaur l tiếng Palau v tiếng Anh, giống như cc tiểu bang khc trong nước[15]. D thế no đi nữa, số người dng tiếng Nhật ở bang đ cũng l con số khng, theo điều tra vo năm 2005[16].
Ngy nay, tiếng Nhật chuẩn được dng phổ biến trn cả nước (bao gồm nhiều phần của nhm đảo Ryūkyū như Okinawa) do khng chỉ truyền hnh v radio, m cn nhờ vo hệ thống đường s, tu lửa, v hng khng. Những người trẻ tuổi thường ni được cả tiếng địa phương v ngn ngữ chuẩn, mặc d trong đa số trường hợp, tiếng địa phương chịu ảnh hưởng bởi tiếng chuẩn, v tiếng Nhật "tiu chuẩn" ngược lại cũng bị ảnh hưởng bởi tiếng địa phương.
Hơn nữa, bảng chữ ci tiếng Nhật thường được sử dụng để giải thch cho hệ thống m vị, nhưng thử so snh với bảng mora tiếng Nhật ở trn, ta thấy c sự khc nhau đng kể. Đng ch bảng chữ ci tiếng Nhật đ c từ thời kỳ Bnh An (平安, "Heian"), do đ n khng phản nh được hệ thống m vị của ngn ngữ hiện đại (xem thm phần "Trước thời Giang hộ (Eido)" của "Nghin cứu sử tiếng Nhật").
Sự thật l, trọng m theo phương ngữ của Nhật Bản đều bắt nguồn từ một hệ thống ngn ngữ c trọng m hon ton giống nhau trong qu khứ, nhưng sau đ dần dần tch ra v xuất hiện khc biệt. Shirō Hattori gọi n l trọng m của tiếng Nhật nguyn thủy[25], nhưng vấn đề tiếng Nhật nguyn thủy cụ thể ra sao th c nhiều quan điểm. V dụ như Kazuharu Kindaichi[26] v Otsumura Kazuo[27] th cho rằng trọng m theo kiểu Kinh Phản (Keihan) của thời kỳ Viện Chnh (Insei) (giọng kiểu sao chp tn (meigite)) l hệ thống cổ của trọng m tiếng Nhật v, hầu hết mọi trọng m của cc phương ngữ hiện tại l kết quả sinh ra từ sau thời đại Nam Bắc Triều.
c80f0f1006