Tết Bính Ngọ 2026 nói chuyện Ngựa (cập nhật) - Google Groups

33 views
Skip to first unread message

Mikali Nguyễn

unread,
Feb 11, 2026, 9:29:29 PMFeb 11
to Alphons...@googlegroups.com, Giaitri...@googlegroups.com
Ngựa | Bát Sách
images.jpg


Bài tôi viết cách đây 2 kỷ, 24 năm (Xuân Nhâm Ngọ 2002), đã đăng trên Tập San Y Sĩ của Canada, tờ báo sống lâu nhất ở hải ngoại, 50 năm, và còn thoi thóp. Thân mến.

Bát Sách.


image002.jpg

Một kỷ có 12 con giáp. Mỗi độ xuân về, các báo thi nhau viết về con giáp của năm sắp tới, và Tập San Y Sĩ cũng không tránh khỏi thông lệ đó.


Bát Sách đã viết hai bài về con dê và con trâu; Năm Mùi Bát Sách cà kê dê ngỗng đủ thứ để chọc cười thiên hạ. Năm Sửu, Bát Sách tản mạn về mấy câu ca dao tục ngữ có liên quan tới con trâu. Sang năm Ngọ, Bát Sách vừa đủ một giáp, lên lão, nên lại viết một chút về con giáp mà mình cầm tinh. Bát Sách không nhắc tới ca dao tục ngữ, không nói đến các giống ngựa hay như ngựa Đại Uyển, ngựa Mông Cổ, mà viết về những con ngựa nổi tiếng trong lịch sử và tiểu thuyết.


Trong thần thoại Hy Lạp, người ta kể chuyện con ngựa thành TROIE. Hồi đó, đế quốc Hy Lạp vây thành TROIE đã 10 năm mà không hạ nổi. Sau, Ulysse dùng mưu, làm một con ngựa thật lớn, rỗng bụng, để các dũng sĩ núp ở bên trong, rồi giả thua, cho Hector chiếm ngựa đem vào thành. Đêm đến, Ulysse cùng các chiến hữu chui ra, giết quân canh, mở cổng thành để quân Hy Lạp tràn vào. Thành TROIE bị chiếm, và người đẹp Hélène qua tay người khác.


Ở Việt Nam, ai cũng biết con ngựa sắt của Phù Đổng Thiên Vương, người anh hùng đã đánh đuổi giặc Ân, cứu nước. Phù Đổng Thiên Vương được quân lực Việt Nam Cộng Hòa tôn vinh làm Thánh tổ của ngành thiết giáp, binh chủng xung kích mũ đen rất hào hùng mà Bát Sách đã hãnh diện phục vụ trong 2 năm đầu của đời quân ngũ.


Đời Trần, sau khi oanh liệt đánh bại quân Mông Cổ lần thứ hai, Thánh Tông và Nhân Tông trở về đế đô hoang tàn, thấy những con ngựa đá ở hoàng thành cũng tang thương, vương đầy bùn đất, tưởng tượng rằng ngựa đá cũng vì dân vì nước mà tham chiến chống ngoại xâm; Thượng hoàng Thánh Tông đã cảm tác 2 câu thơ:


Xã tắc lưỡng bồi lao thạch mã

Sơn hà thiên cổ điện kim âu.


Xã tắc hai phen bon ngựa đá

Non song muôn thuở vững âu vàng.


Trung Hoa, xứ của những huyền thoại, có rất nhiều con ngựa nổi tiếng. Trong Anh hùng xạ điêu, Quách Tĩnh cưỡi Hãn huyết bảo câu - Bát Sách nghĩ phải gọi là Huyết hãn bảo câu mới đúng, vì con ngựa nầy có mồ hội đỏ như máu. Hình như đó là một loại ngựa Mông Cổ đặc biệt, vóc nhỏ nhưng khỏe và chạy rất nhanh, nên tuy chở cả 2 vợ chồng Quách Tĩnh, Hoàng Dung mà các ngựa khác không theo kịp. Cặp vợ chồng này sát cánh nhau, len lỏi trong chốn giang hồ, nhờ Huyết hãn bảo câu mà nhiều phen thoát hiểm.


Thuyết Đường là một bộ tiểu thuyết, nửa lịch sử, nửa hoang đường, trong đó có nói tới 2 con ngựa rất đặc biệt:


Hô lôi báo là ngựa của Thượng Sư Đồ, tướng nhà Tùy. Con ngựa này đuôi sư tử, lông loang lổ như lông báo, cái bướu trên đầu có chùm lông trắng. Khi giao tranh, nếu bất lợi, Thượng Sư Đồ nhổ một sợi lông trên bướu, Hô lôi báo sẽ gầm lên như sấm, phun khói đen mù mịt, làm ngựa của đối phương ngã lăn ra. Tần Thúc Bảo, tướng nhà Đường, nhiều lần dùng mưu mới cướp được Hô lôi báo- Trình Giảo Kim, bạn Tần Thúc Bảo, vì thù Hô lôi báo làm mình ngã ngựa, đã lén nhổ hết chùm lông trắng nên nó hầu như bị câm, cả đời chỉ gầm thêm được có 3 lần.


Mộc vĩ câu là ngựa của Tả Hùng, đại tướng Cao Ly. Ngựa nầy không có đuôi- khi chủ vỗ mông thì nó thét lên một tiếng, và lòi cái đuôi cứng như gỗ, dài hơn một trượng, bất thần quật vào đối phương. Trong trận tranh võ trạng ở Dương Châu, Ngữ Vân Thiệu là anh hùng thứ 5 đời Tùy Đường, bị đuôi của Mộc vĩ câu đập chết. Khi đó, Tần Thúc Bảo cưỡi Hô lôi báo ra đấu với Tả Hùng. Anh này cũng dùng miếng cũ định giết đối phương, nhưng Thúc Bảo, vì đã đề phòng nên tránh thoát. Đuôi của Mộc vĩ câu đánh trúng đầu Hô lôi báo. Hô lôi báo đau quá, gầm lên một tiếng, Mộc vĩ câu ngã lăn ra, quăng Tả Hùng xuống đất : chủ và ngựa đều bị Thúc Bảo đảm chết.


Thời Hán Sở tranh hùng, nổi tiếng nhất là ngựa Ô Truy của Hạng Vũ. Con ngựa này liên quan đến một thiên tình sử tuyệt đẹp, vừa hào hùng, vừa bi thảm. Ngày đó Hạng Vũ còn trẻ tuổi, chưa có tiếng tăm gì, nhân đi qua thôn Nam-Phụ, đã giúp dân trừ một con quái vật thường đến giết người và phá hoại mùa màng. Thật ra, quái vật đó chỉ là một con thần mã rất cao lớn, hùng dũng, lông đen tuyền mà Hạng Vũ đặt tên là Ô Truy. Vì tướng mạo oai phong, vì tài nghệ siêu quần, vì có công với dân làng mà Hạng Vũ lọt vào mắt xanh của người đẹp Ngu Cơ, và hai người nên duyên cầm sắt. Trong suốt thời gian chinh chiến, tranh hùng với Lưu Bang, Hạng Vũ với Ngu Cơ lúc nào cũng sát cánh như hình với bóng.


Tại Cai Hạ, Hạng Vũ bị quân Hán vây khổn, nhưng binh lực chưa đến nỗi kiệt quệ. Với tài vũ dũng của mình, Hạng Vũ vẫn có thể phá vòng vây, trốn thoát để chờ ngày phục hận. Đêm đó, trời thu buồn man mác, sương lạnh mịt mờ, chợt có tiếng tiêu của Trương Lương (tướng Hán) văng vẳng từ xa vọng lại, tiếng còn, tiếng mất rất bi ai não nùng, toàn những điệu ca buồn của nước Sở. Quân của Hạng Vũ, vốn người Sở, nghe tiếng tiêu động tình hoài hương từ từ bỏ trốn hết... Lúc gần sáng, Hạng Vũ chỉ còn hai tướng Chu Lan, Hoàn Sở và 800 đệ tử ở bên mình.


Hạng Vũ sai bầy tiệc, cùng Ngu Cơ đối ẩm. Lúc đó, Hạng Vũ dường như nản chí, tuyệt vọng, than thở cùng Ngu Cơ:


Lực bạt sơn hề ! khí cái thế.

Thời bất lợi hề ! Truy bất thệ,

Truy bất thệ hề ! khả nại bà ? Ngu hề !

Ngu hề ! nại nhược hà ?


Cụ Tản Đà dịch như sau:

Sức nhổ núi chừ! Hùng khí đời ai bì

Thời không lợi chữ! Con ngựa Truy không đi.

Ngựa Truy không đi chừ! Biết làm sao ?

Ngu Cơ chứ! Ngu Cơ. Tính làm sao?


Ngu Cơ họa lại trong tiếng nấc nghẹn ngào:

Hán binh dĩ lược địa,

Tứ diện Sở ca thanh.

Đại vương chí khí tận.

Tiện thiếp bà tiêu sinh ?


Bài này, Bát Sách mạn phép dịch thoát theo thể lục bát:

Hán binh làm chủ chiến trường

Điệu ca nước Sở bốn phương não nùng

Đại vương chí khí đã cùng

Thiếp xin liều thác tạ lòng tri âm.


Sau đó Ngu Cơ tự sát bằng chính thanh gươm của Hạng Vũ. Hạng Vũ đau đớn phẫn hận, nhảy lên Ô Truy, phá 8 vòng vây quân Hán mà không ai địch nổi. Hai tướng thân cận bị vây khổn, đã liều mình, các đệ tử cũng lần lượt gục ngã. Chiều tối, khi chạy đến một ngôi chùa hoang, Hạng Vũ chỉ còn 9, 10 đệ tử. Để Ô Truy nghỉ ngơi, Hạng Vũ cặm cụi mài gươm, chuẩn bị cho cuộc chiến mất còn sắp tới. Sáng ra, quân Hán trùng trùng điệp điệp reo hò đuổi theo. Hạng Vũ vừa chiến đấu vừa chạy đến Ô Giang. Có người đình trưởng đậu thuyền đợi Hạng Vũ, khuyên Hạng qua sông. Thấy tình hình đã tuyệt vọng, nhưng với tinh thần bất khuất, Hạng quyết định ở lại tử chiến, đem ngựa Ô Truy tặng đình trưởng. Ô Truy nhìn chủ, mắt buồn vời vợi... Khi thuyền đến giữa sông, nó nhẩy xuống nước trầm mình, Hạng Vũ sau đó cũng tuẫn tiết. Bên bờ Ô giang, còn ma kiếm thạch là nơi Hạng Vũ mài gươm. Nơi phần mộ của Ngu Cơ, mọc lên một loại cỏ xanh tuyệt đẹp, gọi là Ngu mỹ nhân thảo. Người sau gọi mộ Ngu Cơ là Thanh trủng, vì ở đó cỏ màu xanh, trong khi ở chung quanh toàn là cỏ màu vàng.


Đời Tam Quốc, có Đích Lư và Xích Thố


ĐÍCH LƯ là con ngựa cao lớn, vạm vỡ, cực kỳ hùng dũng của Trương Vũ. Trương bại trận, Triệu Vân cướp được ngựa, dâng cho Lưu Bị là chủ tướng của mình. Lưu Bị lúc đó còn hàn vi, nương nhờ Lưu Biểu nên lại đem ngựa dâng Biểu. Biểu thích lắm đi đâu cũng cưỡi. Có người xem tướng ngựa giỏi là Khoái Việt tâu với Biểu:


Con ngựa này, dưới mắt có vũng chứa lệ, trán có điểm trắng, chính là giống Đích lư hại chủ, chúa công không nên cưỡi.

Biểu nghe vậy, sợ lắm, đem Đích lư trả lại Lưu Bị. Có người đem lời Khoái Việt mách với Lưu Bị, Bị khẳng khái trả lời:

Tiên sinh yêu mà dạy cho, Bị xin thâm cảm tấm lòng; nhưng nghĩ người ta sống chết có số mạng, há một con ngựa có thể hại nổi.


Bị tuy được Biểu tín cẩn, nhưng vợ Biểu và các tướng chỉ muốn giết Bị để trừ hậu hoạn, vì họ biết Bị là tay anh hùng, có chí lớn. Một lần, các tướng của Biểu đuổi gấp, Bị một mình một ngựa chạy tới Đàn Khê thì đường cùng. Bị giục ngựa xuống khe, tính lội qua thì ngựa sa lầy, Bị đã than:


Mày thật là giống hại chủ. Đích lư, Đích lư hôm nay hại ta rồi !

Ngựa bỗng vọt lên, nhảy qua khỏi Đàn Khê. Bị thoát nạn và gặp Tư Mã Huy, người đã giới thiệu cho Bị sau này tìm được Phục Long Gia Cát Lượng và Phượng Sồ Bàng Thống là hai quân sư đại tài. Tiếc rằng truyện không nói Đích lư về sau ra sao. Khi vào chiếm Tây Thục, Bị đã đổi ngựa cho Bàng Thống lúc xuất quân, Thống và ngựa đều bị loạn tên mà thác ở Lạc Phượng Ba. Chả hiểu con ngựa chết đó có phải Đích lư hay không?


XÍCH THỐ: Là con ngựa toàn thân đỏ như lửa, không một sợi lông tạp màu, dài một trượng, cao 8 thước, oai dũng như rồng như hổ, ngày đi ngàn dăm. Xích Thố vốn của Đổng Trác, chức Thái sư nhà Hán. Lúc đó, Đổng Trác đang kình địch với Đinh Nguyên, cha nuôi của Lã Bố. Bố là người rất khỏe, nhưng hữu dũng vô mưu, lại bất nhân bất nghĩa nên Lý Túc, bộ hạ của Trác, khuyên Trác đem Xích Thố tặng Bố để dụ hàng. Quả nhiên, Bố giết Đinh Nguyên, theo Trác, và lại nhận Trác làm cha nuôi. Sau Tư Đồ Vương Doãn dùng mỹ nhân kế, cho Điêu Thuyền quyến rũ cả Trác lẫn Bố để hai tên này ghen mà giết nhau. Kẻ bất nghĩa Lã Bố, một lần nữa, lại giết cha nuôi là Đổng Trác. Sau đó loạn lạc lung tung. Khi Lã Bố bị Tào Tháo, lúc đó là Thừa tướng nhà Hán, giết chết, Xích Thố về tay Tháo.


Quan Công, em kết nghĩa của Lưu Bị, khi bị Tháo vây khốn ở Thổ Sơn, thế cùng lực kiệt phải đầu hàng. (Quan Công tên Vũ, trước khi kết nghĩa với Lưu Bị làm nghề bán đậu hũ, được dân Tàu kính trọng, kiêng tên nên gọi như vậy). Tháo vốn yêu tài Quan Công nên rất hậu đãi, 3 ngày một tiệc nhỏ, 5 ngày một tiệc lớn và đem tặng con ngựa Xích Thố. Lúc đó, Lưu Bị thất lạc, Quan Công phải bảo vệ gia đình nghĩa huynh, phò nhị tẩu, vợ của Bị là Cam và My phu nhân. Tháo vốn là tay thâm hiểm, để Quan Công ở chung nhà với chị dâu, tạo dịp cho xẩy ra việc loạn luân. Theo truyền thuyết, đêm đêm, Quan Công chẻ cây nến làm hai, một nửa để phòng nhị tẩu, một nửa để phòng mình, đọc sách. Khi Quan Công dò được tin Lưu Bị, ông treo ấn “Hán Thọ Đình Hầu” ở giữa nhà, quá ngũ quan, trảm lục tướng, vạn dặm tìm nghĩa huynh.


Khi thế chân vạc đã thành 3 nước là Ngụy (Tào Tháo), Ngô (Tôn Quyền), Thục (Lưu Bị) chia 3 nước Tàu, sử gọi là thời Tam quốc. Quan Công trấn thủ Kinh Châu 20 năm, sau bị tướng Ngô là Lã Mông, Lục Tốn dùng mưu, cướp Kinh Châu, Quan Công thua, chạy về Mạch Thành. Trên đường vào Thục, Quan Công bị phục kích. Quân Ngô dùng thừng và mác móc chân Xích Thố, Quan Công ngã ngựa bị Mã Trung bắt được. Xích Thố lúc đó về tay Mã Trung, nhưng ngựa thương chủ bỏ ăn mà chết.


Quan Công với xích thố, và Quan Bình, Chu Xương có rất nhiều huyền thoại. Dân Trung Hoa thờ ông khắp nơi. Đôi câu đối nói về ông rất được truyền tụng:

XÍCH diện bỉnh XÍCH tâm, kỵ XÍCH thố truy phong, trì khu thời vô vong XÍCH đế.

THANH đăng quan THANH sử, trượng THANH long yểm nguyệt, ẩn vi xứ bất quý THANH thiên.

(mặt đỏ như lòng son, cưỡi ngựa xích thố truy phong, rong ruổi nơi đâu cũng không quên xích đế (vua Hán). Bên đèn xanh, đọc sử xanh, cầm đao rồng xanh vành nguyệt, dù ở nơi vắng vẻ nào cũng không thẹn với trời xanh).


Viết đến đây, Bát Sách nghe lòng bùi ngùi. Đọc lại sách vở, người ta có khi buồn man mác, có khi phẫn hận, có khi thương cảm, có khi băn khoăn tự hỏi tại sao định mệnh trớ trêu để dòng lịch sử có trăm điều ngang trái.


Hạng Vũ với Lưu Bang chẳng hạn. Các sử gia thường cho rằng, Hạng Vũ vì bất nhân, tàn bạo nên thất bại, Lưu Bang vì nhân nghĩa mà thành công. Sự thật chưa hẳn đã đúng như vậy. Người ta trách Hạng Vũ đã chém Tống Nghĩa và giết Nghĩa đế. Tống Nghĩa là đại tướng, có nhiệm vụ cứu nước Triệu, nhưng chần chờ không chịu tiến quân, Hạng Vũ chém Tống đem quân cứu được nước Triệu. Chém một người mà cứu được cả nghìn người khỏi bị chết oan vì chiến bại, đó chính là quyết định hợp thời của một đại tướng có tài. Nghĩa đế là một đứa trẻ, dòng dõi vua Sở, được Hạng Lương, chú của Hạng Vũ, tôn lên làm vua. Trong khi Hạng Vũ xông pha trận mạc, trăm chết một sống, để cướp đất chiếm thành thì Nghĩa đế ngồi hưởng phú quý, lại còn lên mặt tác oai tác phúc thì nếu ở địa vị Hạng Vũ, mọi người bình thường có lẽ cũng sẽ làm như vậy. Vũ giết Nghĩa đế cũng như vua Lê Thái Tổ của ta giết Trần Cao mà thôi. Sự thể nó phải như vậy, có chỉ mà gọi là ác.


Nếu Hạng Vũ bất nhân thì đã giết chết Lưu Thái Công và Lã hậu, là cha và vợ của Lưu Bang, khi hai người này lọt vào tay Hạng, và chính Lưu Bang cũng không toàn mạng khi hội yến ở Hồng Môn. Lưu Bang nhân ở chỗ nào ? Khóc Nghĩa đế, khóc Hạng Vũ, chỉ là nước mắt cá sấu. Nếu Bang có nhân có nghĩa, thì đã không giết Hàn Tín là người có công lớn trong việc tranh bá đồ vương của mình. Lưu Bang cũng như cộng sản ngày nay, toàn lên giọng giả nhân giả nghĩa, vì nước vì dân để lừa thiên hạ. Hạng Vũ thua chỉ vì không có mưu thần phò tá. Lưu Bang thắng nhờ công sức của Trương Lương, Hàn Tín, Tiêu Hà.


Giờ đến truyện Quan Công. Ông là bố nuôi của Bát Sách. Số là ngày xưa, song thân của Bát Sách sinh được 2 gái rồi bằng đi 5 năm, không sinh nở gì nữa. Các cụ thường nói “Bất hiếu hữu tam, vô hậu vi đại” nghĩa là bất hiếu có 3 không con nối dõi là tội lớn nhất. Song thân Bát Sách lúc đó rất lo buồn. Nhờ một bác sĩ Pháp là Paterson điều trị, thân mẫu Bát Sách khỏi bệnh nên mới có người viết bài ngày nay ! Song thân của Bát Sách đâu biết rằng, sau Bát Sách còn mấy thằng em trai nữa, nên khi Bát Sách ra đời, hai cụ bèn đem Bát Sách lên đền Quan Thánh, tức là đền thờ Quan Công, bán Bát Sách cho ông để ông bảo vệ. Tuy là con nuôi Quan Công, nhưng đọc Tam Quốc Chí thấy họ khen Quan Công quá mức, những chỗ khen nhiều khi gượng gạo làm Bát Sách cũng thấy khó chịu. Họ khen ông trung nghĩa, nhưng khi thất trận ở Thổ Sơn, ông đã hàng Tào Tháo. Một trong những điều kiện ông đưa ra là “Hàng Hán chẳng hàng Tào”. Lúc đó, ông đang phò Lưu Bị, còn Tào Tháo là Thừa tướng nhà Hán. Dù Tào Tháo lộng hành, ép chế vua Hán, điều kiện của ông vẫn có vẻ ấu trĩ và hoạt kê. Họ khen ông là quang minh chính đại, phò nhị tẩu mà không làm điều ám muội. Thời gian ông thất lạc với Lưu Bị, cùng nhị tẩu ở Hứa Xương là 12 năm ! Thời gian này quá dài, liệu ông có giữ được cho mình trong trắng?


Bát Sách hỏi như vậy là có lý do. Theo “Tam Quốc ngoại truyện” La Quán Trung, tác giả Tam Quốc, khi viết đến đoạn Quan Công phò nhị tẩu, đã viết không giống với truyện ta đọc ngày nay. Một đêm, họ La mơ thấy Quan Công hiện về khẩn khoản “xin tiên sinh nhẹ tay nên họ La mới xé hết đoạn đã viết và viết lại. Có thể Quan Công là một tướng tài (trấn thủ Kinh Châu 20 năm), rất can đảm (để Hoa Đà mổ tay, nạo xương mà không cần thuốc tê) nhưng ông tự cao tự đại một cách quá đáng. Chẳng hạn, khi Tôn Quyền cho người sang cầu thân, xin cưới con gái Quan Công cho con trai mình, Quan Quân đã mắng sứ giả:


Con gái ta là giống hùm, ai gả cho giống chó.

Mà lúc đó, Tôn Quyền làm vua nước Ngô, còn Quan Công tuy trấn thủ Kinh Châu, nhưng xuất thân chỉ là người bán đậu hũ. Lại nữa, lúc thua trận, chạy thất điên bát đảo tới Mạch Thành, tìm đường về Thục, các tướng khuyên đi đường nhỏ để tránh phục binh, Quan Công còn nói: dẫu có phục binh, ta há sợ gì ?


Sơ sơ thế thôi, Bát Sách không dám viết nhiều, sợ mang tội bất hiếu với nghĩa phụ.


Đang nói về ngựa mà lại xoay qua tản mạn về người và việc thì quả nhiên Bát Sách vẫn còn...bát sách.


Trở lại chuyện ngựa. Hết ngựa hay thì đến phiên 3 con ngựa hèn là Bát Văn, Bát Vạn và Bát Sách. Ngưu tầm ngưu, mã tầm mã nên 3 con ngựa này mới gắn bó với nhau. Hồi ở Việt Nam cả 3 tung vó từ Bắc vào Nam, chạy cùng trời đất. Sau ngày quốc hận, lại vượt biển tới Mỹ châu. Đang là ngựa hoang, tự do phơi phới, giang hồ quen thói vẫy vùng, nhất đán bị đeo hàm thiếc, tròng dây cương, bịt mắt. Ngựa hoang bèn thành ngựa kéo xe ! Ngựa Bát Văn còn đỡ, được chủ khéo nuôi, có da có thịt. Ngựa Bát Vạn và Bát Sách thì than ôi, gầy trơ xương, ngày ngày khập khiễng kéo xe thổ mộ. Mỗi khi nhìn bức tranh “Thiên mã hành không” con ngựa què về già không khỏi ngậm ngùi nhớ về dĩ vãng.


Nhưng thôi, năm ngựa tới rồi, xin chúc quý vị khỏi phải làm thân trâu ngựa, và chúc cho các ngựa khác đỡ phải kéo xe: mà ví dầu có phải kéo xe đi nữa thì đừng có ai nhè bánh xe mà thọc gậy.


BÁT SÁCH

Xuân Nhâm Ngọ 2002


Bàn thêm về con ngựa Đích Lư | Nhạc Trần
download.jpg

Trích : "Bàng Thống đương nhiên chết vì số mạng, chứ không phải vì ngựa Đích-Lư. Cũng như Lưu Bị thoát khỏi chết cũng do số mạng. Và, họ Lưu là chúa một cõi cũng là ở số mạng cả. Không có chuyện ngựa thì không thấy rõ số mạng. Cần tạo truyện con ngựa Đích-Lư, tác giả «Tam quốc chí» muốn nêu lên một triết thuyết Định-mạng bằng những sự kiện vừa thực tế... vừa pha vẻ thần bí."

Định mạng hay là số mệnh theo quan niệm thời xưa của Trung quốc là có thật.  Đây cũng là trường hợp mà người ta nói đất có long mạch (mạch rồng). Cũng vì tin tưởng quá nhiều vào mệnh số đến nỗi con người trở thành bi quan yếm thế mà không còn ý chí phấn đấu nữa.
Tướng nước Ngô là Lục Tốn có lẽ đã bị giết chết nếu không có bố vợ của Khổng Minh giúp đỡ. Lục Tốn đi lạc vào trận đồ, không thoát ra được.  Đang lúc lo buồn thì bất ngờ có một cụ già xuất hiện tự nói là bố vợ của Khổng Minh và cho biết đây là trận đồ của Khổng Minh, rồi chỉ đường cho Lục Tốn phá trận đồ mà thoát ra ngoài.

Truyện Tam quốc chí có thuật câu chuyện tướng nước Thục là Khổng Minh dụ tướng nước Ngụy là Tư Mã Ý dẫn quân đi vào Tý Ngọ cốc (hang Tý Ngọ). Hang này cũng là con đường duy nhất để tiến đánh nước Thục. Khi vào trong hang,  Tư Mã Ý cùng hai con là Tư Mã Sư và Tư Mã Viêm nhìn thấy trên đầu có đầy hoả pháo treo lũng lẵng thì thất kinh rụng rời. Cả ba cha con ôm nhau khóc sướt mướt biết là trúng bẫy và phải chết. Không ngờ vài phút sau một trận mưa lớn rơi xuống, hoả pháo bị ướt và tịt ngòi. Không Minh thấy thất bại không giết được tướng địch  thì ném gươm xuống đất, than thầm : "Mưu sự tại nhân thành sự tại thiên".  Đó chính là định mạng hay thiên số cũng thế.

Khổng Minh muốn giết cha con Tư Mã Ý là để tránh hậu hoạn sau này. Quả nhiên, sau đó, Tư Mã Viêm  diệt họ Tào và nhà Hậu Hán, thống nhất Trung quốc và  lập ra nhà Tấn. Tư Mã Viêm trở thành Tấn Vũ đế.

TNN

Mikali Nguyễn

unread,
Feb 11, 2026, 9:30:57 PMFeb 11
to Alphons...@googlegroups.com, Giaitri...@googlegroups.com

 Bài viết “Năm Ngựa Nói Chuyện Về Ngựa” năm 1942 của Văn Hòe | HCD

 

Trung Bắc Tân Văn Chủ Nhật - Số Tết Nhâm Ngọ (số 98 Bis, 8-2-1942)

Tất cả báo Xuân ngày xưa mà Quán Ven Đường đang có nằm ở đây
Báo Xuân

 

Dưới đây là nội dung văn bản từ trang báo Xuân được chuyển thành text (OCR) theo nguyên bản in năm 1942: Trung Bắc Tân Văn Chủ Nhật - Số Tết Nhâm Ngọ (số 98 Bis, 8-2-1942) Lưu ý tôi chưa dò hết kịp, nếu có chữ nhận diện sai các bạn sửa dùm.

 

Năm Ngựa Nói Chuyện Về Ngựa

 

Năm mới này là năm Nhâm , hoặc nổi tất là năm Ngọ. Theo các nhà tỷ số học thời cổ nước Tàu, Ngọ thuộc Ngựa, vậy năm Ngọ tức là năm Ngựa.

 Chưa biết năm ngựa có khỏe mạnh mau lẹ như ngựa không, song nhân năm ngựa nói chuyện về ngựa cho hợp thời và đọc trong xuân tưởng cũng không phải là không hứng

 

Trang tử ví ngựa với người

Ngựa nguyên là một giống vật rừng. Khi loài người đã tiến hóa một chút, hằng xa để kiếm thức ăn hoặc để chiến đấu người ta mới nghĩ cách bắt ngựa ... chân ảnh là nào cũng là ngựa tốt, mỗi ngày cũng chạy được ngàn dặm  nào cũng là thiên lý mã. Sau về chung với người, dần dần ngựa mất một phần bản năng quí hóa và hóa hư đi, thành ra thiên lý mới là một vật hiếm có

 Điều đáng tiếc đó, Trang tử bảo lỗi ở loài , và riêng ở ông mà Trang tử cho là người đầu tiên ở nước Tàu đã móng ngựa, hớt lông ngựa, đóng móng vào chân ngựa, và ràng buộc ngựa bằng hàm thiếc, dây cương

 Cũng như ông bảo cũng đặt ra lễ giáo, luật pháp phiền phức, loài người càng suy đi

 

Sự tích ngựa Thần Hy-lạp

Thủy cung hoàng tử Phorcus con Đức hải Long vương (Neptune) lấy Hải tinh Công chúa , được 3 cô con gái, người ta gọi chung là chiens Gorgones.

 Chị cả tên là Euryale, chị  là Stheno còn người em út tên là Méduse. Ba chị em đều ghê tởm như nhau,  và tóc là một con rắn độc, răng dài và nhọn như sang nanh lợn, tông bằng thép nguội có hai vành vàng vai, lúc muốn hay bùng lên không trung. Người phàm trần hễ trông thấy chị em nhà ấy, là hóa đá tức thì

 Hai chị thì thành tiên và bất. Còn em út thì trước kia từng từ tỉnh nên bị thần chiến tranh (Minerve) căm giận và phạt bắt phải chết như phàm trần. Thần giúp đối và dẫn đường cho kiệt Persée khắp các nước chân sang chân Âu nhanh đến thăm cung hiểm, khôn mưu nhải hiểm giết hàng được nàng Méduse, giữa lúc ấy một đầu của Méduse, dịch bay thông. Nhưng nhanh như chớp.

 Con thần mã ấy người Hy lạp gọi là ngựa  Pégase. Sau khi Persée thất tỏe, ngựa Pégase thông ang-dang ở trên Hippocrène, bước ở bờ giếng Castalie, gần núi Parnasse.

 Người ta nói các thi sĩ Hy lạp thường bắt gặp ngựa đó và thường cưỡi ngựa bay bổng cùng với thi hứng lên tận trời xanh

 

Vua Mục vương nhà Chu bất tử về ngựa

Vua Mục vương nhà Chu nước Tàu tính rất thích ngựa, lựa trong thiên hạ được 8 con ngựa quí, đặt cho mỗi con một tên khác nhau, như Hoa-lưu, Lục-nhĩ v.v... và dành cho 8 con tuấn mã ấy cả một cánh đồng rộng bát ngát trồng một thứ cỏ riêng cho ngựa ăn.

 Tới nay nói đến ngựa hay, người Tàu nào cũng nhớ đến Mục thiên tử. Thành ra chỉ vì tình thích ngựa mà Mục vương được thiên cổ lưu-danh

 

Đông-phương-Sóc bắt được thần-mã

Sách « Động-minh-ký » chép rằng: Đông-phương-Sóc chơi đất Cát-vân, vui chân vượt sang phía đông đất Phù-tang, bắt được một con thần-mã cao 9 thước, mông có hai khoáy, một khoáy hình giống mặt trời, một khoáy hình tựa mặt trăng. Cái khoáy hình mặt trời thì ban ngày sáng như mặt trời. Cái khoáy hình mặt trăng thì đêm tối sáng như mặt trăng. Lông con ngựa thì theo bốn mùa mà thay đổi màu sắc, coi rất lạ. Vua Hán-vũ-Đế phán hỏi về lai-lịch con thần-mã, Đông-phương-Sóc tâu rằng:

« Ngày xưa, Tây-vương-Mẫu ngồi kiệu linh-quang ngự chơi phía đông, Linh-quang giọi xuống thành một cánh đồng mọc toàn một thứ thụy-thảo tên là cỏ chi. Người nhà Vương-công thả con ngựa này ra cánh đồng cỏ chi, nó ăn mất gần hết chi-thảo. Vương-công giận lắm, bèn đuổi bỏ con ngựa này ra bãi biền. Hạ-thần hồi ấy đến chơi nhà Vương-công lúc về cưỡi luôn con ngựa ấy; nội nhật ngày hôm ấy đi ba thôi đường về Hán-quan, mà cửa quan chưa đóng, (nghĩa là hãy còn sớm).

Nhà vua hỏi tên ngựa, thì Đông-phương-Sóc tâu tên nó là Bộ-cảnh.

 

Ngựa Mông-cổ mấy lần chinh-phục hoàn-cầu

Vào tay bọn Hung-nô, rồi Thành-cát Tư-hãn, và sau rốt là Thiếp-mộc-Nhi, ngựa đã thành những vật giúp việc rất đắc-lực cho nhà binh. Chính nhờ ở vó ngựa chạy nhanh như bay mà ngày xưa Attila, Thành-cát Tư-hãn và Thiếp-mộc-Nhi, đều phát-tích từ đất Mông-cổ, đã tràn khắp các nước châu Á, sang tới châu Âu nhanh chóng như một trận bão táp, khiến người thời bấy giờ không sao giở tay mà đề-phòng trước được.

 

Một cái đầu ngựa chết giá 500 lạng vàng

Sách Quốc-sách chép rằng: Quách Ngôi tiên sinh là tôi tướng nước Yên, một hôm tâu với Chiêu vương nước Yên:

Thần nghe chuyện rằng ngày xưa có một ông vua định đem ngàn lạng vàng ra mua lấy một con ngựa tốt.  Nhưng trong 3 năm không kén được con nào gọi là thiên lý mã. Một ông quan tán vua xin cho đi khắp thiên hạ tìm ngựa. Vua liền sai sứ giả đem tiền đi trong 3 tháng trời, mới tìm được một con thiên-ly-mã nhưng ngựa đã chết rồi, sứ giả liền bỏ ra 500 lạng ra mua lấy cái đầu ngựa chết đem về dâng vua.

Vua giận lắm quở rằng:  làm gì? Thật lại mất 500 lạng vàng. Sứ giả tâu: Bệ hạ, ngựa chết mà còn mua tới 500 lạng vàng, huống chi ngựa sống thì mua đến bao nhiêu. Chắc thiên hạ đều nghĩ thế, mà đua nhau trừ ngựa thiên lý bán cho nhà vua.

Thần mua ngựa chết tức là đem ngựa sống. Quả nhiên chưa đầy một năm, nhà vua đã lựa mua được 3 con thiên lý mã

 

Ngựa cũng có tình?

Sách Thuật-dị chép rằng: Thời thái đời vua Can tân nước Tàu, có người nước Thục bị hắt các cả người cả ngựa đi đâu mất.

Sau con ngựa bỗng chạy được về nhà. Người vợ thấy ngựa về không, biết nấy có việc dở, bèn thề thốt với mọi người rằng: hễ ai cứu được chồng về, thì xin gả con gái cho. Con ngựa nghe nói xong liền lồng đi, cõng được chủ về.

Trong khi vợ chồng người chủ mừng mừng tủi tủi, thì con ngựa cứ la lên. Không hỏi vợ biết chuyện, liền bảo ngựa rằng: Thế là thề với người, chứ không thề với ngựa ta. Con ngựa vẫn không thôi kêu thương. Bực mình, người chủ bèn giết con ngựa, lột da phơi ở sân.

Thình lình nắm da cử động được chạy lại cuốn lấy con gái chủ nhà đem đi mất tích. Tìm kiếm mãi mấy hôm sau, người ta thấy xác người con gái cùng bộ da ngựa đã mọc hạt, hóa ra sâu tằm

  

Ngựa nhịn đói chết theo chủ

Đọc chuyện «Tam quốc chí», ai cũng biết con ngựa Xích-thố của Đổng Trác cho Lã Bố, khi Lã Bố bị hại, Tào Tháo lại tặng cho Quan Vân Trường. Sau khi cùng chủ lập nên bao nhiêu chiến công rực rỡ con Xích-thố cuối cùng nhịn ăn chết theo Quan-Công bị hại về tay Lã. Người ta nói khi Quan Công hiển thánh con nghĩa-mã cũng được hiển thánh theo.

 

Lập chùa kỷ niệm ngựa

Đời vua Minh đế nhà Đông Hán, Ban Siêu đi các nước ở Tây vực (Tây Tạng) biết đạo Phật thịnh hành ở phương Tây, về tâu vua, nên theo đạo Phật. Vua bèn sai đạo sĩ Thái-Am sang Thiên trúc (tức Ấn độ) thỉnh kinh. Bốn mươi hai chương kinh đó, do một con ngựa bạch tải từ Thiên trúc về, vì đi đường xa mệt nhọc, lúc về đến Lạc dương thì ngựa lăn ra chết. Nhà vua liền sai làm tại đó một ngôi chùa, lấy tên là chùa Bạch mã để kỷ công con ngựa bạch. Chùa Bạch mã tới nay hình như vẫn còn.

  

Một ông vua tự tắm cho ngựa

Vua Đường-minh-Hoàng xưa rất thích ngựa. Trong tàu ngựa nhà vua lúc nào cũng có ít nhất hàng trăm con ngựa đẹp và hay tựu trung hay nhất là hai con Ngọc-hoa-thông và Chiến-dạ-bạch.

Hai con ngựa này thường được nhà vua cho đứng ngay ở sân rồng và thường bắt đem nước ấm, pha nước thơm vào, rồi tự tay nhà vua tắm rửa cho ngựa rất chăm-chút, cẩn-thận.

Có người vẽ tranh vua Minh-Hoàng tắm ngựa; tranh ấy còn truyền đến sau này, và mấy ông sứ-thần nước ta về triều Trần hay Lê sang Tàu còn được xem, có ông vịnh cả thơ đề lại.

Như bài thơ vịnh tranh Đường-minh-Hoàng tắm ngựa của Chu-đường-Anh, hiệu là Liêu-thủy làm quan Chuyển-vận-sứ đời Trần, truyền lại sau đây:

 Ngọc-hoa, Dạ-chiếu tuyệt quyền kỳ

Dục bãi khiến lai cận xích trì

Nhược sử ái nhân như ái mã

使

Thương sinh an đắc hữu sang-di !

 dịch :

Ngựa Ngọc-hoa sao khéo lạ-lùng

Tắm rồi đem tiễn dưới sân rồng

Nếu lòng yêu mến người như ngựa

Lọ phải lo dân nỗi khốn cùng

ĐINH-VĂN-CHẤP

(Nam-phong)


HCD:
Các câu thơ chữ Nho nầy có nghĩa như sau:

Ngựa Ngọc Hoa, Dạ Chiếu (những giống ngựa quý) có vẻ đẹp kỳ lạ, dũng mãnh tột bậc
Tắm táp xong xuôi, ngựa được dắt đến đứng gần thềm cung điện đỏ rực (nơi vua ở).
Nếu như (vua quan) yêu thương nhân dân giống như yêu thương ngựa quý..
Thì dân chúng (thương sinh) đâu đến nỗi phải chịu cảnh đau thương, khốn khổ thế này!

Được ngựa là điềm gở, mất ngựa là điềm hay

Sách « Hoài-nam-tử » chép rằng: Ở miền biên-giới nước Tàu có một ông già (ta thường gọi là Tái-ông, nghĩa là ông già ở biên-giới) mất một con ngựa. Có người phàn-nàn thay cho ông. Ông nói: « Biết đâu đó chẳng là cái phúc cho nhà tôi? »

 Mấy tháng sau, con ngựa ấy bỗng trở về, đem cả một con tuấn-mã về theo. Có người tỏ lời mừng cho ông. Ông nói: « Biết đâu đó chẳng là cái họa? ». Con trai ông thấy con ngựa lạ đẹp liền cưỡi đi chơi, chẳng may ngã ngựa gãy một cánh tay. Có người lấy làm buồn cho ông. Ông nói: « Biết đâu đó chẳng là một cái phúc lớn cho con tôi ».

 Sau này, nội việc binh-đao, bao nhiêu tráng-đinh đều bị bắt ra lính chết trận rất nhiều. Duy có con trai ông bị gãy một cánh tay được miễn binh-dịch, ở nhà với cha mẹ già. Người ta tưởng ông già gàn, nhưng xét ra, ông già nói đều trúng lẽ cả.

 

Ngựa có tượng đồng ở cửa cung điện nhà vua

Vua Hán-vũ-Đế được người dâng một con ngựa nước Đại-uyển, rất cao lớn, khỏe-mạnh, đẹp-đẽ. Nhà vua lấy làm quí giá vô cùng, sai lấy đồng trong kho ra đúc một ngựa bằng đồng cao lớn và giống hệt con ngựa đó, đặt ở cửa cung Vệ-ương. Ngày ngày tượng ngựa được lau chùi sáng loáng coi chẳng khác gì con ngựa đúc bằng vàng. Nhà vua liền đặt tên cửa cung ấy là kim-mã-môn, nghĩa là cửa có con ngựa vàng, và từ đó đều bàn việc các quan triều ở cửa đó. Nên sau này và tới ngày nay cũng vậy, trong văn-chương người ta thường dùng những chữ kim-mã hoặc kim-môn để trỏ cung điện nhà vua.

 

Ngựa giấy thành thần

Dưới đây là một chuyện cổ-tích Nhật-bản. Trong một ngôi đền kia ở nước Nhật có treo một bức trang vẽ một con ngựa ô (đen) của nhà họa-sĩ Kanaoka về thế kỷ thứ 9. Từ ngày treo tranh ấy, các vườn cây lân-cận thường bị phá hoại một cách bí-mật. Người ta để ý rình. Một đêm thấy bóng một con ngựa ô lồng ra, người ta vội đuổi theo. Con ngựa chạy vào đền rồi mất. Người ta đốt đèn đuốc lên tìm. Nhìn đến bức tranh của nhà danh-họa Kanaoka thì thấy con ngựa trong tranh toát mồ-hôi ra và như có dáng nhọc-mệt. Đoán là con ngựa ấy thành thần, hiện hình ra phá hoại vườn-tược, có người lấy bút mực vẽ lên bức tranh một cái thừng buộc con ngựa vào một cái cọc. Từ đó, mùa-màng, hoa-màu không bị ngựa thần ra phá-hoại như trước.

 

Ngựa đá đánh giặc

Đời Trần, nước ta phải chống đánh giặc Nguyên chật vật lắm mới giữ nguyên-vẹn được giang-sơn. Khi giẹp giặc xong, dựng lại cuộc thái-bình, nhà vua làm lễ yết Tôn-miếu, thấy hai con ngựa đá chầu ngoài sân có dính vết bùn đất ở bốn vó, hình như mới ra trận-mạc về.

 Cho là Tiên-tổ linh-thiêng đã cưỡi ngựa đá ra trận âm-phù, nên mới dành được cuộc thắng.

 Thượng-hoàng là vua Trần-thánh-Tôn có làm hai câu thơ kỷ-niệm.

Xã-tắc kỷ hồi lao thạch-mã,

Sơn-hà thiên-cổ điện kim-âu.

dịch :

Xã-tắc hai phen hao ngựa đá,

Non sông muôn thuở vững âu vàng.

 

Lập một thành phố để kỷ-công một... con ngựa

Một hôm có người dắt đến trình vua Philippe nước Macédoine thời xưa, một con ngựa, nói rằng hay lắm và muốn xin nhà vua ban cho một món tiền to.

Vua Philippe cùng mấy vị triều-thần có tiếng là giỏi cưỡi ngựa đem ngựa ra cánh đồng quần thử. Thái-tử Alexandre lúc ấy mới 15 tuổi cũng đi theo xem.

Con ngựa ấy tên là Bucéphale dữ quá động thấy ai lại gần cũng nhe răng và cất vó lên chực cắn, đá, thành ra chẳng ai nhảy được lên lưng, cả vua Philippe cũng vậy.

Nhà vua liền ra lệnh đem trả con ngựa bất kham cho người lái buôn.

Thái-tử thấy thế, liền thở dài:

« Hoài của con ngựa hay thế mà không biết cưỡi » !

Thái-tử nói có vẻ hợm-hĩnh, nhà vua phán:

— « Sao vương-nhi không thử cưỡi xem sao? »

Alexandre liền tiến lại gần con ngựa, Thái-tử tinh ý nhận ra rằng sở dĩ con Bucéphale sợ-hãi và dữ-tợn, là vì nó trông thấy bóng đầu nó cử-động. Thái-tử bèn dắt ngựa cho nó quay mặt lại phía mặt trời. Rồi, vừa khẽ vỗ vào người nó vừa nói mấy câu ngọt-ngào, thái-tử lanh-lẹn nhẹ-nhàng nhảy lên lưng nó.

Trước hết Alexandre ghìm chặt dây cương, nhưng không thúc nó, cốt cho nó qua cơn hung. Đoạn, hạ tay xuống, thái-tử thét lên một tiếng, bắt nó phóng nước đại. Vua Philippe và quân-thần đều lấy làm lo-ngại, e vì quá ngông-cuồng mà thái-tử gặp nguy. Song, Alexandre vẫn đường hoàng, oai-vệ ngồi trên mình ngựa, nét mặt thản-nhiên như không, sau khi bắt Bucéphale quần một vòng cánh đồng cho nó mệt lử đi, bấy giờ thái-tử mới quay về, điềm-nhiên đem ngựa về trả lại Phụ-Hoàng. Vua Philippe thán-phục tài con, chạy lại hôn Alexandre rồi nói bằng một giọng thành-thật và cảm-động hết sức:

— « Vương-nhi nên tìm lấy một giang-sơn khác cho xứng-đáng với tài cao. Nước Macédoine của cha đối với con không bõ ».

Thế rồi từ đó, ngựa Bucéphale là ngựa riêng của Thái-tử. Vì nó chẳng chịu để ai nhảy lên lưng, và hễ thấy mặt Alexandre là nó tự nhiên quì gối xuống tiếp-rước, một cách rất lễ-phép.

Khi lên kế-vị Phụ-Hoàng cầm quyền trị nước, vua Alexandre đem quân đi chinh-phục được bao nhiêu đất nước khắp miền La-hy thời xưa nổi danh là một vị oanh-liệt anh-hùng trong lịch-sử thế-giới, trận nào Đại-Đế cũng cưỡi ngựa Bucéphale.

Chẳng may trong trận huyết-chiến với Porus, ngựa Bucéphale bị thương tử trận. Vua Alexandre thương tiếc lắm ra lệnh cho quân-sĩ làm lễ tống-táng rất trọng-thể, và lập trên mồ ngựa Bucéphale một thành-phố lớn để kỷ-công. Thành ấy lấy tên ngựa mà đặt là thành Bucéphalia.

 

LỜI KẾT-THÚC

Rút lại ngựa bao giờ cũng là một con vật có giá-trị đặc-biệt hằng được chúa dấu vua yêu.

Không giúp nhà chinh-chiến, thì nó làm việc cho nhà tôn-giáo; không làm việc cho nhà tôn-giáo, thì nó làm đẹp mắt nhà mỹ-thuật ; không làm một vật mỹ-thuật, thì nó làm con vật kiếm tiền.

Sống vào năm ngựa, tức là sống vào một năm có giá-trị đặc-biệt.

Chúng ta phải sống một cách đầy-đủ và xứng-đáng. Đừng để ngày tháng lạnh-lùng trôi đi vô-vị, rồi thở dài than : Thì giờ đi như bóng ngựa qua cửa sổ!

Văn-Hòe

 

Con ngựa thành TroieThanh Vân (11/2/2026, ngày 24 Tết Bính Ngọ) 


Năm nay Tết VN sắp đến sẽ là năm con ngựa. Xin được kể chuyện một con ngựa lừng danh thiên cổ ở phương Tây, con ngựa thành Troie.


Con ngựa được kéo vào thành Troie để buổi tối ấy đội quân trốn trong thân ngựa chui ra mở cửa thành cho quân Hy Lạp tràn vào

 

Trong lịch sử văn học phương Tây, nhiều thế kỷ trước Công Nguyên,  người Hy Lạp  chuyền miệng một câu chuyện về chiến tranh thành Troie rất ly kỳ được lưu truyền qua nhiều thế hệ. Thế kỷ thứ VIII trước Công Nguyên, với sự xuất hiện của chữ viết, cho phép một câu chuyện rời rạc chỉ kể cho nhau nghe , được chép lại thành thơ dễ nhớ và dễ ngâm do một thi sĩ Hy Lạp tên Homere viết  thành hai tập thơ vĩ đại : l‘ Iliade và l‘ Odyssée, hai tác phẩm này là căn bản của văn chương Hy Lạp thời cổ đại . L‘Iliade có 16 000 câu thơ và l‘ Odyssée có 12 000 câu, đến nay vẫn còn được đem ra học hỏi và bình luận.

 

Theo Homère, vào thế kỷ thứ XII trước CN, Pâris một hoàng tử khôi ngô tuấn tú của xứ Troie, đến thăm xứ Sparte, Pâris trông thấy hoàng hậu Hélène , một tuyệt sắc giai nhân, đem lòng yêu tha thiết và tìm cách bắt cóc Hélène đem về xứ Troie của mình. (Nhưng cũng có giả thuyết nói rằng cả hai Pâris và Hélène nhìn thấy nhau thì bị "cú sét ái tình" và Hélène bỏ trốn theo Pâris).

Ménélas, vua xứ Sparte, bị mất vợ nên kêu gọi anh là vua xứ Mycène cùng tất cả vua những đảo lân cận thành lập một đội ngũ hùng hậu đến bao vây thành Troie để cứu thoát vợ là tuyệt mỹ nhân Hélène. 

 

 


Đoàn tàu thuyền hơn 1000 chiếc hùng hậu đến bao vây Troie để đòi hoàng tử Pâris phải trả Helene về cho Menelas

 

Nhưng xứ Troie là một thành trí kiên cố, được bao bọc bởi những bức tường dầy 2m5 , quân của Menelas không xâm nhập được, chỉ tấn công bên ngoài. Cuộc chiến dằng dưa kéo dài 10 năm, xứ Troie tuy bị bao vây nhưng trong thành có đủ tài nguyên, thực phẩm nên người dân vẫn sinh hoạt bình thường.

 Chán nản, đoàn quân của Menelas định rút lui, nhưng Ulysse, vua xứ Ithaque, cùng chiến đấu trong cuộc bao vây xứ Troie, nẩy ra một mưu kế . Ulysse đề nghị làm một con ngựa bằng gỗ thật lớn, có thể chứa hàng chục lính bên trong. Con ngựa gỗ được dựng bên bờ biển như một lễ vật trước là bái tặng thần biển cả Poseidon, sau là để lại cho xứ Troie như một lời tạ lỗi, trước khi đoàn quân rút lui quay thuyền trở về xứ sở.

 


Con ngựa bằng gỗ được để lại cho dân xứ Troie, và đoàn tàu giả vờ quay trở về xứ.

 

Người dân Troie vui mừng nghĩ là đạo quân xâm lược vì thua trận đã rời khỏi đảo đất nước mình, nên hì hục kéo con ngựa vào thành và tổ chức ăn mừng, uống rượu đến say sưa.

 


Dân Troie kéo ngựa về thành 

Đêm về , những chiến binh Hy Lạp trốn trong thân ngựa, leo xuống và mở cửa thành cho đồng đội ào vào, đốt cháy thành và đánh giết dân chúng. Đàn ông thì giết sạch, kể cả bé trai ; đàn bà và bé gái đem đi làm nô lệ.  




Cảnh tượng tang thương của thành Troie khi đội quân Hy Lạp trốn trong con ngựa thoát ra ngoài và mở cửa thành cho đồng đội vào đánh giết 

 

Cuộc chiến tranh thành Troie để giành lại người đẹp Helene là một câu chuyện không những về xung đột vũ trang giữa các quốc gia cổ đại mà còn là một bi kịch lớn của nhân loại. Vì dục vọng cá nhân, đam mê sắc đẹp, Pâris chiếm đoạt Helene, bất chấp đạo lý và danh dự giữa các quốc gia khiến cuộc chiến kéo dài 10 năm, gây chết chóc tang thương. Và dẫn đến sự sụp đổ của xứ Troie, một đất nước trù phú, văn minh bậc nhất vào thời đó. Hành động chiếm đoạt Helene của Pâris, kết thúc bằng mưu kế Con Ngựa thành Troie nói lên sự suy vong của một quốc gia, không sụp đổ vì kẻ thù bên ngoài mà vì những sai lầm khờ khạo của người lãnh đạo và dân chúng. 

 

Việc hoàng gia Troie che chở Pâris cho thấy một nhà nước đã đặt chuyện tình yêu của vị hoàng tử lên trên công lý và đạo đức. Danh dự của vua Menelas và các liên minh Hy Lạp bị xúc phạm,  thì chiến tranh là điều hiển nhiên.

 Trong trận chiến, Pâris tử thương vì bị trúng tên. Menelas tìm được Hélène và đem vợ trở về.

 Các nhà khảo cổ tìm thấy ở Thổ Nhĩ Kỳ (Turkiye) thành phố Hisarlik còn những tàn tích được cho là thành Troie của thế kỷ thứ XII trước CN. Như vậy, câu chuyện Pâris, Hélène và Con ngựa thành Troie có thể là chuyện thật được người Hy Lạp truyền miệng với nhau và sau đó Homère ghi lại bằng thơ. 



Thành phố Hisarlik ở Thổ Nhĩ Kỳ được cho là tàn tích của Troie. 

 

Nhân những ngày cuối năm để bước sang năm mới Bính Ngọ, kính chúc quý thân hữu một mùa Xuân hạnh phúc, an khang. 

 

Thanh Vân 

11/2/2026, ngày 24 Tết Bính Ngọ

 


Mikali Nguyễn

unread,
Feb 11, 2026, 9:34:16 PMFeb 11
to Alphons...@googlegroups.com, Giaitri...@googlegroups.com
Đọc báo Xuân in 60 năm trước: “Con Ngựa Đích Lư” | HCD

 

Phổ Thông - Xuân Bính Ngọ 1966 (số 165, 15-1-1966

 

NGỰA ĐÍCH - LƯ của LƯU - BỊ

MỘT TRIẾT THUYẾT ĐỊNH MẠNG CỦA NHÀ VĂN LA QUÁN TRUNG TÁC GIẢ «TAM-QUỐC CHÍ»


NGUYỄN TỬ QUANG

 

Truyện Tàu có ghi chép nhiều con ngựa lạ. Con nào cũng có kỳ tài và có cái tên nghe hay hay. Nào Vạn-Lý-Vân, Thiên-Lý-Mã, Hiện Nguyệt Long-Câu, Xích-Thố, Huỳnh Biêu, Bảo-Nguyệt Ô, Chùy, Hô Lôi Báo, Một-Vĩ-Cu... Con nào cũng chạy như bay, như gió. Ngày đi ngàn dặm là lẽ thường. Có con lại còn có phép dị thường nữa.

 

Như con Hô-Lôi-Báo của danh tướng Thượng Sư-Đồ đời nhà Tùy (589 — 617), đầu ngựa, lông hùm, đuôi sư tử, có một chòm lông trên đỉnh đầu. Khi ra trận nếu gặp giặc quá đông, hoặc người tài cao hơn mình thì chủ ngựa Hô-Lôi-Báo nắm chòm lông giật mạnh, Hô-Lôi-Báo sẽ hét lên như sấm vang, làm những con ngựa tầm thường khác phải khiếp vía, cóng giò quăng chủ xuống đất. Bấy giờ chủ ngựa Hô-Lôi-Báo mặc giết tha kẻ địch tùy ý.

 

Lại cũng có một con khá đặc biệt hơn nữa là Một-Vĩ-Cu của tướng Tả Hùng, cũng đời nhà Tùy. Ngựa này không có đuôi. Chủ của nó nếu không đánh lại địch, bỏ chạy. Địch đuổi theo gần kề. Bấy giờ, chủ nó đưa tay vỗ mạnh vào đầu nó, Một-Vĩ-Cu liền quỳ hai chân trước, hét lên một tiếng tức thì có một chòm lông đuôi mọc ra ngay, quất nhanh vào đầu ngựa địch. Thế là đầu ngựa địch nát như tương. Tướng địch té ngay xuống. Đánh trận bị té ngựa thì kể như rồi đời.

Truyện Tàu kể lại như vậy. Có hay không? Chỉ biết nhà tiểu thuyết Tàu có tiếng là giàu tưởng tượng. Cũng như bây giờ, thời đại nguyên tử, họ vẫn còn tưởng tượng đánh bằng «chưởng». Ai muốn tin thì tin. Tin để chạy trốn thực tế hay an ủi nỗi bất lực của mình trước kỹ nghệ chiến tranh hiện tại... Hay để xen vào câu chuyện «trà dư tửu hậu»... trào lộng chơi âu cũng thích thú hay hay.

 

Bây giờ xin trở lại đầu đề, nói đến con ngựa Đích-Lư của Lưu Bị. Nó có liên hệ gì đến một triết thuyết định mạng của nhà tiểu thuyết đại danh Trung Hoa là La Quán-Trung, tác giả bộ «Tam Quốc chí»? Và truyện chép về con ngựa này như thế nào?

 

Ngựa Đích-Lư sát chủ

Ngựa Đích-Lư, vóc cao lớn vạm vỡ, vẻ cực kỳ hùng dũng. Dưới mắt ngựa, da đùn sâu như một cái vũng, trên trán có điểm trắng. Với mắt tầm thường, trông dáng ngựa, ai cũng nức nở khen.

Ngựa này nguyên của tướng Trương Võ ở Giang hạ bị tướng của Lưu Bị là Triệu Vân giết chết, rồi bắt ngựa này dâng cho Lưu Bị. Lưu Bị lúc này chưa có đất dung thân nên tạm qua Kinh châu, ở cùng người bạn là Thái thú Lưu Biểu. Biểu thấy Bị cưỡi ngựa Đích Lư tấm tắc khen ngựa mãi. Bị liền đem ngay ngựa tặng Biểu. Biểu thích lắm, cười về thành.

 

Mưu sĩ của Lưu Biểu là Khoái Triệt vốn giỏi khoa mã-tướng trông thấy ngựa, liền bảo Biểu:

— Trước đây anh Khoái Lương tôi rất giỏi xem tướng ngựa nên tôi hiểu đôi chút. Như con ngựa này trông vẻ hùng dũng nhưng dưới mắt có đường lõm sâu tức là «vũng chứa lệ», sách gọi là đường «lụy tào», lại trên trán có điểm trắng, chính là giống Đích-Lư hại chủ, không nên cưỡi. Trương Võ đã vì ngựa này mà chết. Sao Chúa công còn dùng.

Biểu nghe lời, hôm sau mời Lưu Bị dự tiệc, nhân thế bảo:

— Hôm qua được hiền đệ cho con tuấn mã, ta rất cảm hậu ý. Nhưng nay nghĩ hiền đệ thường hay đánh dẹp đó đây, cần có ngựa tốt. Vậy xin hoàn lại để hiền đệ dùng.

Thế là ngựa Đích-Lư trở lại tay Lưu Bị.

Theo khoa mã tướng của Khoái Triệt thì ngựa Đích-Lư vốn sát chủ Trương Võ đã chết vì làm chủ ngựa này. Lúc bấy giờ có quan Mạc tân Kinh-châu là Y-Tịch nghe được lời của Khoái Triệt nên cũng khuyên Lưu Bị không nên cưỡi. Nhưng Bị bảo:

— Tiên sinh quá yêu mà dạy cho, Bị thâm cảm tấm lòng. Nhưng nghĩ rằng người ta sống chết do số mạng. Há con ngựa có thể hại nổi sao?

Như vậy, Lưu Bị không tin ở ngựa sát chủ mà chỉ tin ở số mạng thôi.\

 

Nhưng Đích-Lư cứu chủ...

Thái Mạo là em vợ của Lưu Biểu muốn giết Lưu Bị. Nhân dịp Biểu đau, đặt tiệc mời Lưu Bị đến thay Biểu đãi khách, một mặt sắp đặt quân lính bao vây để giết Lưu Bị. Y-Tịch vốn có cảm tình với Bị nên lúc tiệc nửa chừng, rịch mật cho biết. Bị hốt hoảng, liền giả đi tiêu, đoạn lên ngựa ra roi cho chạy như bay.

 

Ngoài thành, ba cửa đông, nam, bắc đều có quân mã đóng chẹn. Chỉ có phía tây, Mạo không để quân đóng giữ vì có ngòi nước to, hắn cho rằng Lưu Bị có chạy đến đây cũng không sao thoát qua được. Lưu Bị được Y-Tịch cho biết phía tây không có quân của Mạo nên cứ nhắm phía đó mà buông cương.

 

Mạo được tin báo, lập tức đem 500 quân đuổi theo. Lưu Bị ra khỏi cửa Tây, chạy chưa được vài dặm đã thấy một cái ngòi lớn hiện ra trước mặt. Hết mắt đường đi! Ngòi này tên là Đàn Khê, rộng đến vài trượng, nước chảy cuồn cuộn ra sông Tương. Bấy giờ gió xô sóng đập khá mạnh. Lưu Bị đến bờ ngòi thấy không thể qua được, phải quay ngựa trở lại. Thấy xa xa phía tây thành bụi bay mù mịt, biết có quân đuổi theo, Lưu Bị lắc đầu, tặc lưỡi:

— Phen này thì chết mất!

 

Rồi chẳng biết làm sao nữa đành phải quay ngựa ra bờ ngòi. Ngoảnh nhìn lại thì truy binh đã gần tới. Lưu Bị sợ quá thúc ngựa lội liều xuống nước.

Ngựa lội mới được vài bước, bỗng hai chân trước sa lầy. Ngựa phục xuống, nước tràn lên ướt cả áo bào người cưỡi... Bấy giờ tiếng ngựa hí quân reo tở mở phía sau hầu như đã sát lưng. Lưu Bị hốt hoảng quất mạnh vào đít ngựa mà coi, kêu lớn:

— Mày thật giống hại chủ! Đích Lư! Đích Lư! Hôm nay mi đã hại ta.

 

Tiếng quát vừa dứt, con Đích Lư từ dưới bùn nước, bỗng vùng mình nhô lên, rồi vọt nhảy đến ba trượng, qua bờ phía tây. Lưu Bị cảm thấy như bay bổng trên mây mù; và khi mở mắt thì thấy mình đã qua khỏi Đàn Khê.

Về sau, nhà thơ đại danh Tô Đông Pha (1036-1101) đời Tống có làm bài thơ cổ phong vịnh chuyện «Vượt mã Đàn Khê». Trong bài có những câu:

...

Đào sinh độc xuất tây môn đạo,

Bối hậu truy binh phục thảo lồng.

Nhất xuyên yên thủy trướng Đàn Khê,

Cắp sắt chỉnh kỵ vãng tiền kiêu.

Mã đề đạp phá thanh pha ly,

Thiên phong hưởng xứ kim tiên huy.

Nhĩ bạn đản văn thiên kỵ tẩu,

Ba trung hốt kiến song long phi.

Tây xuyên độc bá thiên niên anh hùng chúa,

Tọa thượng long câu tráng hổ ngộ.

Đàn Khê, Khê thủy tự đông lưu,

Long câu, anh chúa kim hà xứ?

...

Tạm dịch:

Cửa tây trốn nạn ra đi,

Sau lưng quân đuổi càng khi càng gần...

Đường cùng: sóng nước chặn ngăn!

Đánh liều thét ngựa lội tràn qua khe.

Vút rơi trong gió như mê,

Vó câu đạp vỡ pha lê một giòng.

Nghìn quân đuổi đến đùng đùng,

Bỗng từ dưới nước đôi rồng bay lên:

Rõ ràng chân chúa Tây xuyên

Mình rồng lại ngựa trên yên ngựa Rồng!...

Nước kia vẫn chảy về đông

Long câu, anh chúa giờ trông nơi nào? (1)

Đích Lư đã cứu chủ. Lại được nhà thơ đại danh tôn là ngựa Rồng.

 

Rồi Đích Lư... lại sát chủ.

Lưu Bị đem binh đánh Tây xuyên cùng với tả thừa tướng Bàng Thống. Một hôm, cả hai cùng cưỡi ngựa đi, bỗng con ngựa của Thống quỵ xuống, hất chủ ngã lăn ra đất. Lưu Bị vội nhảy xuống đỡ ngựa của Thống lên, hỏi:

— Sao quân sư lại cưỡi con ngựa yếu thế này?

Thống nói:

— Tôi vẫn cưỡi ngựa này từ lâu. Chưa bao giờ nó thế này.

Lưu Bị bảo:

— Ra trận mà cưỡi ngựa sinh chứng thế này thì nguy cho tính mạng lắm. Con ngựa của tôi cưỡi đây tính rất thuần thục, vậy quân sư hãy cưỡi lấy, khỏi lo gì. Còn con ngựa này để tôi cưỡi cho.

Bàng Thống tạ ơn, đoạn đổi ngựa cho nhau. Thống xuất trận. Tướng của Tây xuyên là Trương Nhiệm đem quân đóng chẹn con đường nhỏ hiểm yếu, mai phục chờ quân của Lưu Bị đến. Lại ra lệnh, hễ thấy người cưỡi ngựa Đích Lư chính là Lưu Bị thì cứ nhắm vào đó mà bắn.

 

Bấy giờ Bàng Thống đương rong ngựa tiến binh, bỗng gặp chỗ đường hẹp, ngẩng đầu nhìn lên thấy hai bên núi dựng đứng như thành, cây cối um tùm, lại đương tiết cuối hạ đầu thu, cành lá xanh rì rậm rạp thì rất nghi ngại. Thống gò ngựa lại, hỏi tả hữu:

— Đây là chỗ nào?

Có tên quân Tây-xuyên mới hàng, trỏ tay thưa:

— Chỗ này gọi là đồi «Lạc Phượng».

Thống kinh hãi, bảo:

— Đạo hiệu ta là Phượng Sồ, mà tên đồi này là «Lạc Phượng» (Phượng rơi). Thật bất lợi cho ta!

 

Đoạn truyền quân lập tức lùi lại. Nhưng đã muộn. Trên đồi phía trước, một tiếng pháo lệnh nổ vang tức thì tên bay ra như châu chấu. Bao nhiêu cung nỏ cứ nhắm vào người cưỡi ngựa Đích-Lư mà bắn.

Bàng Thống, người và ngựa đều chết trong chỗ loạn tên. Một người có tài gần ngang hàng với Khổng Minh mà phải hết trong vòng 36 tuổi!

Vậy, ngựa Đích-Lư sát chủ, lại... sát cả mình.

 

Một triết thuyết định mạng.

Trương Võ vì ngựa Đích-Lư mà chết.

Lưu Bị vì ngựa Đích-Lư mà sống.

Bàng Thống lại vì ngựa Đích-Lư mà chết.

Mang tiếng tội nghiệp cho ngựa.

Ngựa có sát chủ không? Cũng như Lưu Bị đã nói với Y-Tịch: «Người ta sống chết do số mạng, chứ đâu phải do ngựa».

 

Trong «Tam-quốc-chí» có đoạn chép:

Trước một thời gian khi Bàng Thống chết, trẻ con ở vùng đông nam đất Tây-xuyên thường hát bài đồng dao:

Nhất Phượng tính nhất Long.

Tướng tướng đáo Thục trung.

Tài đáo bán lộ lý,

Phượng tử Lạc-pha đông.

Phong tống vũ, vũ tống phong.

Long Hán hưng thời Thục đạo thông.

Thục đạo thông thời chỉ hữu Long.

 

Tạm dịch:

Một Phượng với một Rồng

Cùng nhau đến Thục trung.

Xảy đến nơi giữa lộ,

Phượng thác Lạc-pha đông.

Mưa đưa gió, gió đưa mưa

Nhà Hán hưng thì đường Thục thông,

Đường Thục thông, chỉ có một Rồng.

 

Lời đồng dao đã ứng nghiệm vào việc Bàng Thống chết.

 

Cũng trong truyện chép: trong núi Cầm bình có một bực dị nhân, đạo hiệu là Tử Hư Thượng Nhân biết việc sống chết sang hèn của người, có mấy câu thơ tiên đoán thời cuộc lúc tướng Tây xuyên đến hỏi:

Tả Long hữu Phượng

Phi nhập Tây xuyên.

Sồ Phượng trụy địa,

Ngọa Long thăng thiên.

Nhất đắc nhất thất,

Thiên số đương nhiên.

 

Tạm dịch:

Một Rồng một Phượng

Bay vào Tây-xuyên.

Phượng rơi xuống đất

Rồng lên thanh thiên.

Một được một mất

Số trời đương nhiên. (1)

 

Bàng Thống đương nhiên chết vì số mạng, chứ không phải vì ngựa Đích-Lư. Cũng như Lưu Bị thoát khỏi chết cũng do số mạng. Và, họ Lưu là chúa một cõi cũng là ở số mạng cả.

Không có chuyện ngựa thì không thấy rõ số mạng. Cần tạo truyện con ngựa Đích-Lư, tác giả «Tam quốc chí» muốn nêu lên một triết thuyết Định-mạng bằng những sự kiện vừa thực tế... vừa pha vẻ thần bí.

Không ai hại được ai. Tất cả đều Định Mạng. Do Định Mạng.


Mikali Nguyễn

unread,
Feb 13, 2026, 4:24:47 AMFeb 13
to Alphons...@googlegroups.com, Giaitri...@googlegroups.com

Một ông vua tự tắm cho ngựa | HCD

image.png


Vua Đường Minh Hoàng xưa rất thích ngựa. Trong tàu ngựa nhà vua lúc nào cũng có ít nhất hàng trăm con ngựa đẹp và hay tựu trung hay nhất là hai con Ngọc hoa thông và Chiến dạ bạch.

Hai con ngựa này thường được nhà vua cho đứng ngay ở sân rồng và thường bắt đem nước ấm, pha nước thơm vào, rồi tự tay nhà vua tắm rửa cho ngựa rất chăm chút, cẩn thận.

Có người vẽ tranh vua Minh Hoàng tắm ngựa; tranh ấy còn truyền đến sau này, và mấy ông sứ thần nước ta về triều Trần hay Lê sang Tàu còn được xem, có ông vịnh cả thơ đề lại.

Như bài thơ vịnh tranh Đường-minh-Hoàng tắm ngựa của Chu-đường-Anh, hiệu là Liêu-thủy làm quan Chuyển-vận-sứ đời Trần, truyền lại sau đây:

 

Ngọc-hoa, Dạ-chiếu tuyệt quyền kỳ

      

Dục bãi khiến lai cận xích trì

      

Nhược sử ái nhân như ái mã

 使     

Thương sinh an đắc hữu sang-di !

      

 

dịch :

Ngựa Ngọc-hoa sao khéo lạ-lùng

Tắm rồi đem tiễn dưới sân rồng

Nếu lòng yêu mến người như ngựa

Lọ phải lo dân nỗi khốn cùng

ĐINH-VĂN-CHẤP

(Nam-phong)

-----=-----

Reply all
Reply to author
Forward
0 new messages