Cách biến chữ in thành chữ viết & Đọc báo Xuân xưa
Bằng hữu hỏi làm sao biến trang sách in thành chữ text mà không cần đánh máy lại.
Chúng ta có một trang báo in, một số trang sách in,.. làm sao chúng ta biến nó thành text có thể edit được, hay bảo cái tablet, cái cell phone đọc thành tiếng cho chúng ta nghe.
Đi xa hơn nữa. chúng ta tháy một tấm bảng thông báo đầy chữ ngoại quốc dán trên tường... hay một user guide toàn tiếng “ma rốc”... làm sao chúng ta dịch chúng ra tiếng Việt ngay tức thì, hoặc đọc nó bằng tiếng Việt.
Với phương tiện ngày nay thì chuyện nầy mất vài phút là xong.
(Lạ quá, trong nước dùng chữ “phương tiện” để gọi xe cộ, bất cứ vật gì chỡ người ta đi thì gọi là phương tiện, xe gắn máy, xe hơi, xe đò, tàu, ce đạp đều bị gọi bằng một chữ “phương tiện” gọn mà nghèo quá).
Sau đâu là một vài cách dễ làm: Tùy theo chúng ta có máy móc gì.
1. Dùng cell phone (tablet) chụp ảnh trang sách in. Lấy tay khoanh một vòng cách hàng chữ, bảo nó select text, xong bảo copy là xong. Paste các hàng chữ copy vào đâu đó như email hay note là có text.
Bảo nó “read aloud” (hay chữ tương tợ, tùy máy) nó sẽ đọc to thành tiếng Việt rõ ràng giống như người thật. Video hướng dẫn:
Hướng dẫn dùng Tablet hay cell phone nhận mặt chữ (OCR)
Smart Phone Tablet đọc sách in hay giới thiệu mươi ngàn nhât báo tạp chí xưa.
Dùng cell phone đổi trang sách in thành chữ viết (text) sửa được.

Dùng tablet đổi trang sách in thành text để edit

2. Chúng ta dùng cell phone hay tablet đọc và dịch bảng chỉ dẫn tiếng ngoại quốc ra tiếng Việt
Cell phone độc và dịch nhãn hiệu
3. Nếu dùng desktop computer hay laptop computer thì chúng ta scan trang sách thành hình, chụp bằng digital camera hay cell phone cũng được. Xong gởi hình nầy vào một AI (trí tuệ nhân tạo) bảo nó nhận mặt chữ (OCR) viết lại thành text.
Kết luận: Tạm thời bày các bạn chừng nầy, còn nhiều cách khác nữa
Dưới đây là thí dụ chúng ta đọc báo xuân phát hành cách nay gần 100 năm bằng chữ viết (text) rõ ràng

Hình bìa tờ báo Xuân: Trung Bắc Chủ Nhật in năm 1941 Có mươi tờ Báo Xuân xưa, các bạn có thì giờ click hàng chữ xanh gạch dưới để vào xem.
Sau đây là bài:

Dùng Câu Đối Để Chơi Chua
Tôi dùng cách OCR để đọc trang trên
LÀM CÂU ĐỐI ĐỂ CHƠI CHUA
LÊ QUÂN SAO LỤC
Ảnh Nguyễn-duy-Kiên
Xưa, các cụ « nhà nho », ngoài việc ngâm thơ, vịnh phú, hay làm câu đối để biểu-lộ khí-phách của mình đã tiêu-dao ngày tháng. Hiếu, hỷ, gặp bất cứ việc gì, các cụ cũng nhân dịp làm câu đối.
Gặp một đám cưới! Lễ mừng của các cụ là một câu đối. Một đám ma? Lễ viếng của các cụ cũng chỉ một câu đối. Nên là một đám ma to, thế nào cũng có những cây bút có tiếng, nên các cụ quên ăn, quên ngủ, vò đầu, bóp trán, cố sao « cho ra » một vài câu xuất chúng. Thành ra một đám ma to là một nơi tập trung những khí-phách của các anh tài… tài đối. Chẳng thế mà, sau khi ông Cử, ông Tú… đi đám ma về, câu hỏi thứ nhất của mọi người là: « Đối của ai hay nhất đám? »
Tết đến. Làm câu đối là công việc đầu tiên, quan trọng kính cẩn nhất của các cụ. Ngay từ đầu tháng chạp, các cụ đã bắt đầu nghĩ. Và tới ba mươi Tết, từ cột đình cho tới cột nhà, cột bếp, chỗ nào cũng dán đầy giấy đỏ.
Sáng mùng một, các cụ đi chúc tết nhau, chỉ mang một thứ lễ quý nhất: tấm danh thiếp. Một mảnh giấy con gập làm tư xinh-xắn để vào lòng một cái đĩa Tàu trắng phau. Ba quả cau tròn trĩnh màu xanh biếc để lộn trôn làm nổi bật màu hồng thắm hay màu vàng tươi của cánh thiếp. Còn gì đến thơ, tao-nhã, thanh-khiết, giản-dị bằng? Và trong danh-thiếp: một câu đối chứa đầy hạnh-phúc.
Thời ấy đã xa chúng ta rồi. Ngày nay, lễ viếng? một vòng hoa; lễ mừng? một hộp bánh; lễ Tết? mấy chai rượu. Ít người dùng câu đối nữa. Người ta ngậm-ngùi nhìn những cụ già râu phơ tóc bạc ngồi bán văn viết câu đối ở xó chợ đầu hè. Các cụ lấy hết gan, thu hết tài đã thế dần. Nhiều khi các cụ tìm cách châm chọc nhau vì thế, đã bao phen các cụ gây thù gây oán với nhau. Thù, oán ấy còn để lại đời đời, cha truyền con nối, chỉ tìm dịp trả lại.
Ví dụ: Cụ Nguyễn-tư-Giản (Bắc-ninh) đỗ hoàng-giáp. Cụ Yên-Đồ cũng đỗ hoàng-giáp nhưng cùng khoa với ông ngụê Nguyễn-Kham, con cụ Giản. Trong một câu đối mừng cụ Yên-Đồ, Cụ Giản có ý xếp cụ này ngang hàng với ông nguê Kham. Nhâm nhe mãi, cụ Yên-Đồ đã được dịp trả thù: cụ Nguyễn-tư-Giản chết. Sinh thời cụ Giản có làm bài văn bia ca-tụng ông quận công Nguyễn-hữu-Độ, bia ấy lập ở Sinh từ Hanoi và nghe nói khi còn làm quan cụ Giản không biết làm gì mà bị tội. Cụ phải cầu cứu đến cha Sáu ở Phát-Diệm (Ninh-bình). Cụ Yên-Đồ viếng rằng:
當絕筆生祠下
Nhất thiên tuyệt bút Sinh từ hạ,
千載游魂翠嶺間
Thiên tải du hồn Thùy-ĩnh gian.
(Chữ Nho tôi dốt đặc, máy nhận chữ sai thì các bạn sửa giùm)
Ý nói: tiếng tăm của ngài còn ghi ở bia Sinh-tử, nhưng hồn của ngài có về thì phải phảng-phất quanh ngọn núi Thủy-lĩnh (Ninh-bình).
Kết quả: câu đối bị xé ngay.
Một lối chơi cầu kỳ của các cụ: mượn một người đề ám chỉ một người. Ông Đăng... tổng-đốc Hà-đông, sợ vợ có tiếng. Vợ ông án-sát tỉnh ấy chết. Hôm bà Án mất, Hà-đông còn mang tên cũ là tỉnh Đơ. Ngày hôm sau, thành Đơ đổi tên là Hà-đông. Thừa dịp, ông Trần Tấn Bình xông xọt ông Đặng... bằng câu đối phúng bà án:
(Về này không quan hệ).
夫人賢德地名終更遜河東
Phu nhân hiền đức, địa danh chung cảnh tỵ Hà đông,
Ý nói: không phải là Hà-đông sư tử, nên bà không thèm sống trên cái đất mang tên Hà-đông.
Ngày trước, đại tang, các cụ không được đi thi. Rải cho ông Bùi-hướng-Thành, còn mười lăm ngày nữa mới hết tang bố, mà kỳ thi đã đến. Nhưng sao lại may cho ông, kỳ thi năm ấy hoãn lại mười lăm ngày. Ông đi thi, đỗ cử-nhân. Nên chú ý: ông đỗ trên có một người. Ông Trần-tán-Bình mừng ông cử mới:
天意亦憐花買院遲來三五日 «
Thiên ý diệc liên hoa, công viện từ lai tam ngũ nhật,
圖中應破笑才郎壓得幾多人
Khuê trang ứng phả tiếu, tài lang áp đắc kỳ đa nhân,
Ý nói: giời run rủi hoãn kỳ thi lại mười lăm ngày, về nhà vợ phả lên cười: Chàng đè được nhiều người nhỉ? Đè được một người? Ý ông Bình muốn nói ông Thành chỉ đè được... vợ, kết quả: câu đối ấy theo thần hỏa lên mây.
Nhiều khi các cụ ngồi chấp chữ chơi. Các cụ cũng cười, cũng nghịch, cũng trẻ trung đáo để.
Một cô hàng thịt đến xin đối tết: Cụ Tam Nguyên Yên-Đổ đọc luôn :
四時八節更終始
Tứ thời bát tiết, canh chung thủy,
岸柳地滑欲點糖
Ngạn liễu đôi bồ, dục điềm trang.
Một ông lý trưởng đến xin câu đối về dân chuồng lợn. Cụ Đình La-Ngạn nói: muốn lợn to ? dài ? Thì viết đi:
Trường trường, trưởng trưởng, trưởng trường, trường;
Trưởng trưởng, trường trường, trưởng trưởng, trường
Lý-trưởng tần-ngần mang về.
Cụ Nghè Tân làm đối cho anh thổi kèn, khóc mẹ:
吁殂兮從赤松子辟穀
Hu ta từ hề, tùng xích tùng tử tịch cốc
(vẽ nữa không nhớ).
Các bạn nghe: toàn những tiếng mõ, chiêng, trống, kèn... nhưng rất có nghĩa: than ôi: 1 mẹ bắt chước Xích-Tùng Tử nhịn ăn (tức là chết).
Cụ Cử Nhưng, quê ở xã Bắc-Thôn, tổng Trà-lũ, huyện Giao-thủy, phủ Xuân-trường (Nam-định). Nhân tiết xuân, làng mở hội. Cụ làm câu đối dán cột đình, nơi phòng trà :
節到春預留南北居無限樂
Tiết đáo xuân trường lưu nam bắc thôn cư vô hạn lạc
蜜來茶屬的漆膠始飲有餘香
Tân lai trà lũ chước, tất giao thủy ẩm hữu dư hương.
Ý nói: nhân dịp xuân kéo dài, nam bắc các thôn vui vẻ quá; khách lạ đến đây, xin rót chén trà, chỗ bạn bầu uống nước trà ấy càng có hương vị.
Rõ ra cảnh làng vào đám. Cụ đã khéo dùng những tiếng: Xuân trường, bắc thôn, trà lũ, giao thủy, trong câu đối.
Đêm ba mươi tết, ông Tú Xương còn nằm ở nhà hát, có bốn cô đầu: Yến, Oanh, Lan, Hạnh. Sáng mùng một, một ông đồ (bạn thân thường đi hát với ông Tú) đến chúc tết, thì vừa gặp ông Tú về.
Ông Đồ đọc rằng:
Tiệc yến bày nhà lan, chúc Tết ngắm câu cầm tử,
Giọng canh vang ngô hạnh, mừng xuân cùng chữ vinh-xương.
Ông Tú nhoẻn cười nhìn bà Tú!
Nhiều cụ lại giở giọng khôi hài trong câu đối. Cụ Nghè Tân đã nổi tiếng về khoa hý. Cụ chúc tết cô ruột:
Cô lô cô lốc... bé...
Năm mới năm me... que...
Để thay câu đối, nhiều khi các cụ chỉ dùng mấy chữ cho giản tiện, nhưng có khi các cụ cũng điểm những nụ cười để mỉa nhau. Ông Huyện Chén ở Nam-định chết. Ông Tuần Vũ khóc:
送君南浦
Tống quân nam phố
Ông đã moi tên kèm ông huyện bằng những chén tống, chén quân, chén nam, chén phố.
Kiểm-duyệt bỏ
LÊ-QUÂN (Sông Vỵ)