Kính gửi Quý đồng nghiệp,
Cảm ơn bạn Thu đã chia sẻ báo cáo và thông tin về báo cáo rất cập nhật của World Bank. Tôi xin chia sẻ góc nhìn cá nhân khác liên quan đến quá trình tham vấn dự thảo Nghị định hấp thụ và lưu trữ các-bon của rừng, đặc biệt là các ý kiến góp ý về phương pháp
định giá tín chỉ các-bon đang được đề xuất trong dự thảo từ các loại giá/cơ chế định giá mà báo cáo đề cập.
Một số điểm chính từ báo cáo: Các loại cơ chế định giá:
-
Giá giao ngay trên sàn giao dịch (exchange‑traded spot prices): Tín chỉ chuẩn hóa được giao dịch trên các nền tảng (ví dụ: Xpansiv, ICE).
-
Giao dịch song phương OTC (OTC transactions): Giao dịch trực tiếp giữa các bên, theo dự án cụ thể, thường có phụ phí chất lượng và đồng lợi ích (quality and co‑benefit premiums).
-
Hợp đồng giao hàng kỳ hạn (forward contracts): Mua trước tín chỉ sẽ phát hành trong tương lai, thường dùng để tài trợ cho dự án mới.
-
Giá đấu giá (auction prices): Mức giá hình thành qua các phiên đấu giá công khai do cơ quan quản lý tổ chức để bán lần đầu hạn ngạch phát thải hoặc tín chỉ các‑bon (ví dụ: California–Québec)..
-
Giá gắn với cơ chế tuân thủ (compliance‑linked prices): Tín chỉ dùng trong giao dịch song phương theo Điều 6.2 và CORSIA.
Mức giá quan sát được (tính đến đầu năm 2025):
-
Giảm phát thải từ tránh mất rừng (avoided deforestation – REDD+): ~5,30 USD/tCO₂e (giao dịch trên sàn).
-
Hấp thụ dựa vào thiên nhiên (nature‑based removals): ~15,50 USD/tCO₂e (giao dịch trên sàn); hợp đồng kỳ hạn (forward contract) thường vượt 20 USD/tCO₂e.
-
Giao dịch OTC: Thường có phụ phí so với giá giao dịch trên sàn cho dự án chất lượng cao và có đồng lợi ích.
-
Giao dịch tuân thủ/Điều 6: 18–40 USD/tCO₂e (ví dụ: Thụy Sĩ trung bình trên 30 USD/tCO₂e).
Một số gợi ý cho tham vấn Dự thảo Nghị định:
-
Dự thảo hiện đề xuất Bộ Nông nghiệp và Môi trường quy định phương pháp định giá, kết hợp với cơ chế đấu giá cho tín chỉ từ rừng thuộc sở hữu toàn dân, đồng thời cho phép giao dịch qua hợp đồng. Trao đổi, chuyển nhượng tín chỉ các-bon rừng trên sàn giao dịch
các-bon trong nước theo quy định tại Nghị định số 06/2022/NĐ-CP đã được sửa đổi, bổ sung tại Nghị định 119/2025/NĐ-CP và quy định của Chính phủ về sàn giao dịch các-bon trong nước
-
Mô hình định giá kết hợp (hybrid) này tạo sự ổn định nhưng có thể hạn chế quá trình hình thành giá thị trường và làm giảm phụ phí (premium) của các tín chỉ chất lượng cao, đặc biệt là các tín chỉ đủ điều kiện cho giao dịch theo Điều 6.
-
Hợp đồng giao hàng nhiều năm (multi‑year delivery contracts) được ngụ ý tại Điều 12 của dự thảo ("...thời gian cung ứng và hoàn thành..." Phụ lục II
"Trong vòng....ngày làm việc kể từ khi phát hành bất kỳ lượng tín chỉ các-bon..."), nhưng chưa có khung định giá kỳ hạn rõ ràng (forward‑pricing framework), trong khi đây có thể là công cụ quan trọng để huy động vốn trước cho chủ rừng và nhà phát
triển dự án (pre‑financing options).
Một số câu hỏi gợi mở cần thảo luận cho tiến trình tham vấn tiếp theo:
-
Làm sao cân bằng giữa cơ chế định giá do Nhà nước định hướng với quá trình hình thành giá theo thị trường (market‑based price discovery) để đảm bảo tính cạnh tranh?
-
Có nên tham chiếu giá khởi điểm cho giao dịch nội địa và đấu giá với dữ liệu giá từ thị trường tự nguyện và thị trường tuân thủ toàn cầu (global voluntary/compliance market data)?
-
Làm thế nào tích hợp tốt hơn cơ chế hợp đồng kỳ hạn (forward contracting) để thu hút đầu tư cho chủ rừng và nhà phát triển dự án?
Hy vọng rằng góc nhìn cá nhân trên đây có thể cung cấp thêm thông tin hữu ích cho thảo luậntrong quá trình tham vấn tiếp theo. Rất mong nhận được ý kiến chia sẻ, thảo luận của Quý đồng nghiệp — đặc biệt về phương pháp định giá trong dự thảo Nghị định vừa phù
hợp với quy định liên trong nước, vừa bắt kịp thực tiễn thị trường quốc tế.
Trân trọng
Thông Nguyễn
📞0989022313