So với Bọt bể, Ruột túi đã có cơ thể hoàn thiện hơn nhưng vẫn ở mức độ
tổ chức thấp hơn các động vật đa bào khác. Những đặc điểm cơ bản của
Ruột túi là: Cơ thể đối xứng hình tia (đối xứng toả tròn) và phát
triển từ hai lá phôi là lá phôi ngoài (ngoại phôi bì - exoderm) và lá
phôi trong (nội phôi bì - endoderm). Giữa hai lớp có tầng trung chất
rất mỏng.
Do các đặc điểm trên, Ruột túi được xếp vào nhóm động vật có đối xứng
toả tròn
(Radiata) hay nhóm động vật có hai lá phôi (Diploblastica) trong động
vật đa bào.
Ngoài những đặc điểm cơ bản trên, Ruột túi còn có những đặc điểm mới
quan trọng trong cấu tạo cơ thể là: Bắt đầu đã có sự phân hoá tế bào
thành cơ, tuy còn ở mức độ phân hoá thấp dưới dạng các tế bào mô bì
cơ, nhưng đã tạo cho cơ thể một khả năng vận động chủ động. Ngoài ra
trong lớp ngoại bì có những tế bào thần kinh và tế bào cảm giác nằm
rải rác hay liên hệ với nhau tạo thành mạng lưới thần kinh cảm giác,
tuy còn ở mức độ thấp của một cơ thể đa bào.
Vòng đời ruột túi diễn ra qua 2 pha luân phiên nhau: sinh sản vô tính
và sinh sản hữu tính. Sinh sản vô tính ở nhiều loài dẫn tới hình thành
tập đoàn, còn sinh sản hữu tính có ý nghĩa bảo tồn và phát triển nòi
giống với thế hệ sau có khả năng thích nghi cao hơn thế hệ trước.
Trong vòng đời ở nhiều loài có tồn tại hai dạng cơ thể phân biệt nhau
về hình thái, về đặc điểm hoạt động sống và nhất là về loại hình sinh
sản: dạng thủy tức (polyp) chỉ sinh sản vô tính và dạng sứa (meduse)
chỉ sinh sản hữu tính
4.2. HÌNH THÁI CẤU TẠO
Ruột túi được chia thành hai dạng cấu tạo là dạng thuỷ tức và dạng
sứa.
4.2.1. Dạng thủy tức
Thuỷ tức thích nghi với đời sống bám hay cố định. Cơ thể hình túi dài,
hẹp, phía dưới đính vào giá thể trong nước, phía trên có lỗ miệng
chung với lỗ xả (osculum). Quanh miệng có nhiều râu (xúc tu) để bắt
mồi, lỗ miệng thông với xoang ruột sơ khai túi tiêu hóa.
Thành cơ thể gồm loại tế bào:
- Lớp tế bào ngoài (biểu bì) có các tế bào mô bì cơ vừa để bảo vệ vừa
để co rút (nhờ các tơ cơ được tạo ra do chồi tế bào ở phần chân kéo
dài xếp dọc cơ thể), tế bào tiết chất nhầy giúp cơ thể bám vào giá
thể, tế bào gai có sợi xoắn và gai để tự vệ và săn mồi, tế bào thần
kinh hình sao có nhánh nối liền với nhau thành một mạng lưới - hệ thần
kinh mạng lưới, tế bào amip với chức phận sinh sản hữu tính.
- Lớp tế bào trong (nội bì tiêu hóa) gồm các tế bào cổ áo với các roi
luôn luôn rung động để tạo thành dòng nước từ ngoài đi vào khoang ruột
cuốn theo thức ăn và tiếp nhận thức ăn kiểu ẩm thực (tiêu hóa nội bào)
và tế bào tuyến không có roi với nhiệm vụ tiết men để tiêu hóa thức ăn
bên ngoài tế bào (tiêu hóa ngoại bào) thành những chất đơn giản rồi
hấp thu vào trong cơ thể kiểu thẩm thấu qua màng bào. Giữa hai lớp là
tầng keo mỏng không có tế bào. Ruột túi hấp thụ oxy và thải các sản
phẩm dị hoá đều qua toàn
4.2.2. Dạng sứa
Là dạng cấu tạo thích nghi với đời sống phù du trôi nổi, cơ thể có
hình ô dù hay hình chuông với miệng hướng xuống đáy, đối xứng cơ thể
kiểu toả tròn, cấu tạo cơ bản của cơ thể giống như Thủy tức.
Thành cơ thể chỉ gồm hai lớp tế bào - ở giữa là tầng trung chất dày.
Dọc mép dù quanh cơ thể có nhiều xúc tu. Lỗ miệng ở chính giữa mặt
dưới. Từ miệng thông vào thực quản rồi đến hệ thống ruột phân nhánh
(ống vị) để tăng cường tiêu hoá.
Sứa sống tự do, thích nghi đời sống hoạt động nên hệ thần kinh và giác
quan phát triển hơn thuỷ tức. Ngoài tế bào thần kinh nằm rải rác sứa
còn có thêm 2 vòng thần kinh, vòng ngoài liên hệ với các giác bào phân
bố quang miệng và trên xúc tu; vòng thần kinh bên trong điều khiển sự
hoạt động của hệ tơ cơ. Sứa có 2 hình thức di chuyển: bơi từ từ băng
xúc tu và co rút toàn thân tạo phản lực đẩy cơ thể tiến về hướng nhất
định
4.3. SINH SẢN
Ruột túi có hai cách sinh sản là sinh sản vô tính và sinh sản hữu tính
4.3.1. Sinh sản vô tính
Tế bào cơ thể chưa có sự phân hóa chức năng hoàn chỉnh nên Ruột túi có
khả năng tái sinh cao (sinh sản vô tính kiểu phân mảnh hay phục sinh).
Do những nguyên nhân môi trường, cơ thể Thủy tức bị phá thành nhiều
mảnh; từ các mảnh cơ thể vẫn phát triển thành cơ thể hoàn chỉnh (sự
phục sinh). Nhưng hình thức sinh sản vô tính phổ biến nhất vẫn là kiểu
mọc chồi. Những chồi nhỏ trên cơ thể thuỷ tức dần dần phát triển thành
những cơ thể nhỏ, sau đó tách khỏi cơ thể mẹ và tạo thành cơ thể mới
(ở thủy tức nước ngọt - Hydra) hay bám trụ trên cơ thể mẹ và phát
triển thành tập đoàn (ở Thủy tức nước mặn và ở San hô Anthrozoa). Đặc
biệt sự chuyển dạng cơ thể ở nhiều loài Ruột khoang nước mặn là một
hình thức sinh sản vô tình: dạng Thủy tức sống bám trên nền cứng mọc
nhiều tầng xúc tu (dạng ấu trùng Ephyra trong vòng luân dạng sinh sản
- metamorphogenese) đứt tầng trên cùng và phát triển thành dạng sứa.
4.3.2. Sinh sản hữu tính
Phương thức sinh sản này có ở tất cả các loài và theo kiểu noãn giao.
Cơ chế cơ bản gồm các giai đoạn sinh tinh trùng và sinh trứng; sau đó
là giai đoạn thụ tinh. Tất cả các loài đều có tính biệt cơ thể là
lưỡng tính, nghĩa là không phân biệt cá thể đực hay cái mà một cá thể
đồng thời tạo ra cả tinh trùng và trứng.
Đáng chú ý là nhiều loài sống ở nước mặn có hiện tượng luân dạng về
sinh sản (hay còn gọi là hiện tượng xen kẽ thế hệ). Điều đó có ý nghĩa
lớn đối với đời sống của ruột túi cũng như các động vật sống bám giúp
chúng có thể phát tán xa.
4.4. PHÂN LOẠI
Ngành Ruột túi có khoảng 9.000 loài và chia thành hai phân ngành: Phân
ngành
Gai chích (Cnidaria) và phân ngành Không gai chích (Acnidaria)
4.4.1. Phân ngành Gai chích (Cnidaria): cơ thể đối xứng toả tròn có
gai chích. Phân ngành này có các lớp sau:
* Lớp 1. Thủy tức (Hydrozoa): sống đơn lẻ hay tập đoàn, dạng sứa nhỏ
có diềm lợi, tế bào sinh dục trong biểu bì, thường với luân dạng sinh
sản, các đại diện: Thủy tức nước ngọt (Hydra vulgaris); Thủy tức xanh
(Chlorohydra viridissima); Thủy tức hoa chuông (Obelia = Laomedea
flexuosa); Thủy tức nâu (Pelmatohydra oligactis); Thủy tức hình chầy
(Cordylophora lacustris); Sứa nước ngọt (Craspedacusta); Sứa tập đoàn
(Siphonophora).
* Lớp 2. Lớp Sứa (Scyphozoa): Có khoảng 200 loài sứa, phần lớn sống
trôi nổi ở biển, số ít sống bám. Cơ thể sứa có cấu tạo điển hình của
dạng sứa, tuy nhiên một số chi tiết về cấu tạo lại phân biệt rõ rệt
với ấu trùng sứa của lớp Thuỷ tức: cơ thể lớn hơn, không có rèm bờ dù,
có hệ khoang vị là thần kinh, giác quan phát triển hơn. Dựa vào hình
thái bờ dù và lối sống bám hay sống tự do, lớp Sứa phân thành 5 bộ: bộ
Sứa có cuống (Stauromedusae) sống bám nhờ cuống dài; bộ Sứa vuông
(Cubomedusae) bờ dù có dạng khối vuông và 4 ropali xếp xen kẽ với 4
tua dài quanh bờ dù; bộ Sứa có rãnh (Coronata); bộ Sứa đĩa
(Semaeostomeae) và bộ Sứa miệng rễ (Rhizostomida).
* Lớp 3: Lớp San hô (Anthozoa): chỉ có dạng thủy tức, đơn lẻ hoặc tập
đoàn, có hay không có cốt cứng, thành ống vị có gân nhung chứa tế bào
sinh dục, sống ở nước mặn. Lớp này lại chia ra:
+ Phân lớp San hô tám ngăn (Octocorallia): Khoang vị chia làm 8 ngăn
ứng với
8 vách ngăn và 8 tua miệng hình lông chim. Có 1 rãnh hầu. Gai xương
rải rác trong tầng keo hoặc kết thành trụ cứng. Đại diện: bộ San hô
mềm (Alcyonium); San hô sừng (Corallilum rubrum) và San hô lông chim.
+ Phân lớp San hô sáu ngăn (Hexacorallia): số đôi vách ngăn của khoang
vị là 6 hay bội số của 6 giới hạn bằng các vách ngăn chính. Có 2 rãnh
hầu. Bộ xương hoặc không có hoặc kết thành trụ cứng hoặc tạo thành
tảng lớn. Đại diện: bộ Hải quỳ (Actinaria); San hô tạo rạn
(Madreporaria), San hô hình hoa (Ceriantharia), San hô tổ ong
(Zoantllaria) và San hô gai (Antipatharia).
4.5. SINH THÁI HỌC
4.5.1. Đời sống và ý nghĩa thực tế
Phần lớn các loài Ruột túi sống ở biển, một số ít sống ở nước ngọt.
Đặc biệt nhiều loài sống trong biển tạo thành tập đoàn lớn (san hô).
Nhiều loài Ruột túi làm thực phẩm như Sứa là món ăn của vùng biển có
tác dụng chữa bệnh huyết áp cao.
Ngành hàng hải còn dựa vào một vài loài Sứa để xác định dòng hải lưu.
San hô có bộ xương giàu iốt dùng làm thuốc. San hô còn dùng để trang
trí và các hàng mỹ nghệ khác. San hô còn để nung vôi dùng trong xây
dựng đường xá, nhà cửa, để xác định tuổi địa tầng của các thời kỳ địa
chất.
Tuy nhiên, những san hô ngầm đã gây khó khăn và nguy hiểm cho tàu bè
qua lại trên biển.
4.5.2. Nguồn gốc triển hoá
Trong ngành Ruột túi thì Thuỷ tức là nhóm thấp nhất, vì cấu trúc cơ
thể đơn giản ngang mức với một giai đoạn phôi (phôi vị) và có đời sống
bám, ít hoạt động nên nó đứng ở gần gốc phát sinh của động vật hậu
sinh chính thức. Như vậy chúng có thể bắt nguồn từ trùng không khoang
(Acoelenterata). Đa số các tác giả cho là Thuỷ tức bắt nguồn từ một
tập đoàn Trùng roi hình cầu; một nửa khối cầu này trong quá trình tiến
hóa lõm vào trong tạo thành túi có 2 lớp tế bào. Trong quá trình tiến
hóa, các lớp còn lại của Ruột túi như Sứa và San hô chỉ là sự phức tạp
hoá của dạng tổ tiên. Sứa còn giữ giai đoạn thuỷ tức trong vòng đời
còn San hô biến đổi xa hơn, đã không còn giữ lại dấu vết của dạng sứa.