Giun đốt có nhiều đặc điểm giống giun tròn (hình dạng tròn dài, đối
xứng hai bên) nhưng nhiều đặc điểm mang tính tiến hóa hơn: xuất hiện
tế bào cơ, tế bào máu, hệ tuần hoàn, bài tiết bằng hậu đơn thận...
Đa số sống tự do ở biển, nước ngọt; một số ít sống ký sinh tạm thời
với những đặc điểm sau: Xuất hiện xoang cơ thể chính thức-thể xoang
(coelum), bên trong có biểu mô lót Cơ thể hình trụ, tiết diện ngang
tròn, một số dạng dẹp theo chiều lưng bụng (nhất là đỉa). Cơ thể phân
nhiều đốt giống nhau.
Xuất hiện chi bên là cơ quan vận chuyển chính thức. Đa số có hệ tuần
hoàn và một số có cả cơ quan hô hấp. Cơ quan bài tiết là hậu đơn thận
gồm một phễu thận và một ống thận cuộn khúc, trên thành có rất nhiều
mạch máu. Hệ thần kinh gồm hai hạch não nằm trên hầu, vòng thần kinh
và chuỗi hạch thần kinh bụng (hệ thần kinh chuỗi hạch). Trong quá
trình phát triển cá thể có ấu trùng mang tua (hình con quay) -
Trochophora đặc trưng cho ngành. Các đặc điểm trên chứng tỏ Giun đốt
tiến bộ hơn so với các ngành giun trước.
7.2. HÌNH THÁI CẤU TẠO
Giun đốt có cơ thể chủ yếu hình trụ, tiết diện cắt ngang tròn hoặc
dẹt, chiều dài trung bình từ 10 - 150 mm, cơ thể chia ra nhiều đốt
giống nhau (phân đốt đồng hình), giữa các đốt có vách ngăn. Chính vách
ngăn đã làm cho cơ thể chắc thêm và tăng thêm tính mềm mại, làm chỗ
dựa cho cơ quan vận động.
Thành cơ thể giun đốt gồm một lớp tế bào, lớp này tiết trên bề mặt tạo
thành lớp cuticun mỏng. Dưới đó là tầng tế bào cơ khá phát triển. Cơ
quan vận chuyển của giun đốt là các gai cứng và chi bên (ở đa số giun
biển), gọi là chi bên nhưng cấu tạo đơn giản, nó chỉ là hai phần lồi ở
hai bên cơ thể làm nhiệm vụ vận chuyển. Đây là cơ quan vận chuyển
chính thức đầu tiên của động vật đa bào.
Xoang cơ thể của giun đốt là xoang thứ sinh hay xoang chính thức và
được hình thành từ lá phôi thứ 3 với biểu mô lót ngăn cách với thành
xoang nguyên sinh cũng như xoang cơ thể thứ sinh chứa đầy dịch, các tế
bào bảo vệ, các sắc tố hô hấp và một số chất dự trữ. Xoang cơ thể có
chức năng quan trọng là cùng với hệ tuần hoàn làm nhiệm vụ chuyển vận
và trao đổi chất.
Ống tiêu hoá cửa Giun đốt đã phân hoá ra các phần khác nhau và mỗi
phần đảm nhiệm một chức năng: miệng - hầu - thực quản - dạ dày - ruột
giữa - ruột sau - hậu môn. Miệng, hầu, dạ dày đều có vòng cơ khỏe.
Thực quản phình to ở phần cuối thành
diều. Trên ống tiêu hoá còn hình thành một rãnh ruột (Typhlololis) để
làm tăng bề mặt tiêu hoá, hấp thụ thức ăn nhanh hơn.
Ngoài ra, các tuyến tiêu hoá tuy chưa hình thành cụ thể nhưng bên
trong thành ruột đã bắt đầu xuất hiện nhiều tuyến nhỏ tiết ra men tiêu
hoá thức ăn.
Giun đốt bài tiết bằng hậu đơn thận, gồm một phễu thận và một ống thận
cuộn khúc, trên thành có rất nhiều mạch máu. Phễu thận có một vòng tơ
mở ra trong thể xoang, còn ung thận xuyên qua vách ngăn sang đốt sau,
đổ ra lỗ bài tiết ở mặt bụng một bên cơ thể. Đa số giun đốt cứ mỗi đốt
có một hậu đơn thận. Ngoài ra, trên thành thể xoang có nhiều tế bào
màu vàng hấp thụ được sản phẩm dị hoá dồn vào hậu đơn thận.
Phần lớn giun đốt, đỉa, vắt... hô hấp qua bề mặt của da. Riêng giun
đốt sống tự do ở biển (Rươi) đã có cơ quan hô hấp là mang do phần phụ
của chi bên để lại, qua các lá mang oxy hòa tan xâm nhập vào cơ thể và
khí cacbonic cùng các chất cặn bã được thải ra ngoài, mang còn làm
nhiệm vụ bắt mồi.
Giun đốt chưa có tim chính thức. Hệ mạch là hệ mạch kín. Hệ mạch chính
gồm có một mạch lưng nằm dọc mặt lưng của ruột, một mạch bụng chạy dọc
mặt bụng của ruột và các mạch vòng nối liền hai mạch đó. Trong cơ thể
giun đốt, máu chảy trong mạch lưng từ sau ra trước (ngược với ở động
vật có xương sống) qua 5 đôi ống ngang ở vùng các đất hầu (có khả năng
co bóp: gọi là tim ống) xuống mạch bụng rồi toả đi khắp cơ thể. Mạch
bụng máu đi khắp nơi rồi trở về qua mạch vòng tới mạch lưng. Ngoài ra
còn có mạch dưới thần kinh và mạch bên thần kinh. Máu lưu thông trong
cơ thể giun đốt nhờ sự co bóp của mạch lưng và mạch vòng phía trước.
Máu của giun đốt có màu đỏ, vàng hoặc xanh xám, riêng đỉa hệ tuần hoàn
đã thoái hoá. Như vậy, giun đốt đã xuất hiện hệ tuần hoàn đầu tiên có
chức năng quan trọng là cung cấp oxy cho cơ thể, phân phối các chất
dinh dưỡng, vận chuyển các sản phẩm dị hoá tới cơ quan bài tiết bảo vệ
cơ thể, tiêu diệt các thể lạ, chuyển vận hormone đi khắp cơ thể để
điều hòa hoạt động của cơ thể.
Hệ thần kinh dạng hạch phân đốt. Hệ thần kinh trung ương gồm 2 hạch
não nằm trên háu, vòng thần kinh và chuỗi thần kinh bụng. Chuỗi thần
kinh bụng gồm một chuỗi hạch nằm ở mặt bụng, mỗi đốt có một đôi hạch
thần kinh. Ở các giun đốt thấp, các đôi hạch thần kinh ở mỗi đốt còn
cách xa nhau nên làm thành hình bậc thang. Còn ở các dạng giun đốt
cao, các đôi hạch thần kinh ở mỗi đốt đính với nhau, làm cho thần kinh
bụng có hình chuỗi. Giác quan khá phát triển, trên da có nhiều tế bào
xúc giác, tất cả giun đốt đều có tế bào cảm quang, riêng đỉa có mắt
đơn giản, một số có cơ quan thăng bằng.
Đa số giun đốt ở nước ngọt và đất ẩm (giun ít tơ, đỉa) là lưỡng tính,
cấu tạo cơ quan sinh dục phức tạp và thụ tinh trong. Còn hầu hết giun
đốt ở biển (giun nhiều tơ) đều đơn tính, cấu tạo cơ quan sinh dục đơn
giản. Tế bào sinh dục ra khỏi thành cơ thể qua hậu đơn thận ra môi
trường nước và thụ tinh ở đấy (thụ tinh ngoài). Bộ phận sinh dục đực
gồm hai đôi tinh hoàn nằm trong tinh nang màu trắng vàng, từ đó có ống
dẫn tinh xuống tuyến tiền liệt loét 18), tại đây có ống phóng tinh ra
ngoài.
Bộ phận sinh dục cái có hai buồng trứng ở đốt 12, từ đó có ống dẫn
trứng chập làm một và thông ra ngoài (đốt 13), ở đốt 7 và đốt 8 có từ
2 - 4 đôi túi nhận tinh.
Tuy lưỡng tính nhưng giun đốt thụ tinh chéo. Khi tiến hành thụ tinh,
hai con quay đầu ngược nhau và áp bụng vào nhau sao cho lỗ sinh dục
của con này (con đực) áp đúng lỗ túi nhận tinh của con kia (con cái).
Qua quá trình đó thì tinh dịch chuyển vào túi nhận tinh. Sau đó đai
sinh dục dày lên nhận được trứng (6-7 trứng) và tuột lên đầu qua túi
nhận tinh ra ngoài tạo thành kén. Chúng lại kết hợp với nhau tạo thành
hợp tử. Do đó người ta gọi là giả thụ tinh trong.
7.1. ĐẶC ĐIỂM CHUNG
Giun đốt có nhiều đặc điểm giống giun tròn (hình dạng tròn dài, đối
xứng hai bên) nhưng nhiều đặc điểm mang tính tiến hóa hơn: xuất hiện
tế bào cơ, tế bào máu, hệ tuần hoàn, bài tiết bằng hậu đơn thận...
Đa số sống tự do ở biển, nước ngọt; một số ít sống ký sinh tạm thời
với những đặc điểm sau: Xuất hiện xoang cơ thể chính thức-thể xoang
(coelum), bên trong có biểu mô lót Cơ thể hình trụ, tiết diện ngang
tròn, một số dạng dẹp theo chiều lưng bụng (nhất là đỉa). Cơ thể phân
nhiều đốt giống nhau.
Xuất hiện chi bên là cơ quan vận chuyển chính thức. Đa số có hệ tuần
hoàn và một số có cả cơ quan hô hấp. Cơ quan bài tiết là hậu đơn thận
gồm một phễu thận và một ống thận cuộn khúc, trên thành có rất nhiều
mạch máu. Hệ thần kinh gồm hai hạch não nằm trên hầu, vòng thần kinh
và chuỗi hạch thần kinh bụng (hệ thần kinh chuỗi hạch). Trong quá
trình phát triển cá thể có ấu trùng mang tua (hình con quay) -
Trochophora đặc trưng cho ngành. Các đặc điểm trên chứng tỏ Giun đốt
tiến bộ hơn so với các ngành giun trước.
7.2. HÌNH THÁI CẤU TẠO
Giun đốt có cơ thể chủ yếu hình trụ, tiết diện cắt ngang tròn hoặc
dẹt, chiều dài trung bình từ 10 - 150 mm, cơ thể chia ra nhiều đốt
giống nhau (phân đốt đồng hình), giữa các đốt có vách ngăn. Chính vách
ngăn đã làm cho cơ thể chắc thêm và tăng thêm tính mềm mại, làm chỗ
dựa cho cơ quan vận động.
Thành cơ thể giun đốt gồm một lớp tế bào, lớp này tiết trên bề mặt tạo
thành lớp cuticun mỏng. Dưới đó là tầng tế bào cơ khá phát triển. Cơ
quan vận chuyển của giun đốt là các gai cứng và chi bên (ở đa số giun
biển), gọi là chi bên nhưng cấu tạo đơn giản, nó chỉ là hai phần lồi ở
hai bên cơ thể làm nhiệm vụ vận chuyển. Đây là cơ quan vận chuyển
chính thức đầu tiên của động vật đa bào.
Xoang cơ thể của giun đốt là xoang thứ sinh hay xoang chính thức và
được hình thành từ lá phôi thứ 3 với biểu mô lót ngăn cách với thành
xoang nguyên sinh cũng như xoang cơ thể thứ sinh chứa đầy dịch, các tế
bào bảo vệ, các sắc tố hô hấp và một số chất dự trữ. Xoang cơ thể có
chức năng quan trọng là cùng với hệ tuần hoàn làm nhiệm vụ chuyển vận
và trao đổi chất.
Ống tiêu hoá cửa Giun đốt đã phân hoá ra các phần khác nhau và mỗi
phần đảm nhiệm một chức năng: miệng - hầu - thực quản - dạ dày - ruột
giữa - ruột sau - hậu môn. Miệng, hầu, dạ dày đều có vòng cơ khỏe.
Thực quản phình to ở phần cuối thành
diều. Trên ống tiêu hoá còn hình thành một rãnh ruột (Typhlololis) để
làm tăng bề mặt tiêu hoá, hấp thụ thức ăn nhanh hơn.
Hình 28. Sơ đồ cấu tạo Giun đốt (cắt ngang)
I. Nửa trái ở giun nhiều tơ II- Nửa phải ở giun ít tơ
1. Biểu bì. 2. Cơ vòng; 3. Cơ dọc; 4. Ruột; 5. Lá tạng; 6. Màng bao
cơ; 7. Thể xoang (coelom);
8. Chi bên; 9. Gai- tơ: 10. Hậu đơn thận; 11. Lỗ bài tiết; 12. Mạch
lưng; 13. Mạch bụng;
15. Chuỗi hạch bụng; 15. Mang; 16. Mạch mang; 17. Gai lưng; 18. Gai
bụng
Ngoài ra, các tuyến tiêu hoá tuy chưa hình thành cụ thể nhưng bên
trong thành ruột đã bắt đầu xuất hiện nhiều tuyến nhỏ tiết ra men tiêu
hoá thức ăn.
Giun đốt bài tiết bằng hậu đơn thận, gồm một phễu thận và một ống thận
cuộn khúc, trên thành có rất nhiều mạch máu. Phễu thận có một vòng tơ
mở ra trong thể xoang, còn ung thận xuyên qua vách ngăn sang đốt sau,
đổ ra lỗ bài tiết ở mặt bụng một bên cơ thể. Đa số giun đốt cứ mỗi đốt
có một hậu đơn thận. Ngoài ra, trên thành thể xoang có nhiều tế bào
màu vàng hấp thụ được sản phẩm dị hoá dồn vào hậu đơn thận.
Phần lớn giun đốt, đỉa, vắt... hô hấp qua bề mặt của da. Riêng giun
đốt sống tự do ở biển (Rươi) đã có cơ quan hô hấp là mang do phần phụ
của chi bên để lại, qua các lá mang oxy hòa tan xâm nhập vào cơ thể và
khí cacbonic cùng các chất cặn bã được thải ra ngoài, mang còn làm
nhiệm vụ bắt mồi.
Giun đốt chưa có tim chính thức. Hệ mạch là hệ mạch kín. Hệ mạch chính
gồm có một mạch lưng nằm dọc mặt lưng của ruột, một mạch bụng chạy dọc
mặt bụng của ruột và các mạch vòng nối liền hai mạch đó. Trong cơ thể
giun đốt, máu chảy trong mạch lưng từ sau ra trước (ngược với ở động
vật có xương sống) qua 5 đôi ống ngang ở vùng các đất hầu (có khả năng
co bóp: gọi là tim ống) xuống mạch bụng rồi toả đi khắp cơ thể. Mạch
bụng máu đi khắp nơi rồi trở về qua mạch vòng tới mạch lưng. Ngoài ra
còn có mạch dưới thần kinh và mạch bên thần kinh. Máu lưu thông trong
cơ thể giun đốt nhờ sự co bóp của mạch lưng và mạch vòng phía trước.
Máu của giun đốt có màu đỏ, vàng hoặc xanh xám, riêng đỉa hệ tuần hoàn
đã thoái hoá. Như vậy, giun đốt đã xuất hiện hệ tuần hoàn đầu tiên có
chức năng quan trọng là cung cấp oxy cho cơ thể, phân phối các chất
dinh dưỡng, vận chuyển các sản phẩm dị hoá tới cơ quan bài tiết bảo vệ
cơ thể, tiêu diệt các thể lạ, chuyển vận hormone đi khắp cơ thể để
điều hòa hoạt động của cơ thể.
Hệ thần kinh dạng hạch phân đốt. Hệ thần kinh trung ương gồm 2 hạch
não nằm trên háu, vòng thần kinh và chuỗi thần kinh bụng. Chuỗi thần
kinh bụng gồm một chuỗi hạch nằm ở mặt bụng, mỗi đốt có một đôi hạch
thần kinh. Ở các giun đốt thấp, các đôi hạch thần kinh ở mỗi đốt còn
cách xa nhau nên làm thành hình bậc thang. Còn ở các dạng giun đốt
cao, các đôi hạch thần kinh ở mỗi đốt đính với nhau, làm cho thần kinh
bụng có hình chuỗi. Giác quan khá phát triển, trên da có nhiều tế bào
xúc giác, tất cả giun đốt đều có tế bào cảm quang, riêng đỉa có mắt
đơn giản, một số có cơ quan thăng bằng.
Đa số giun đốt ở nước ngọt và đất ẩm (giun ít tơ, đỉa) là lưỡng tính,
cấu tạo cơ quan sinh dục phức tạp và thụ tinh trong. Còn hầu hết giun
đốt ở biển (giun nhiều tơ) đều đơn tính, cấu tạo cơ quan sinh dục đơn
giản. Tế bào sinh dục ra khỏi thành cơ thể qua hậu đơn thận ra môi
trường nước và thụ tinh ở đấy (thụ tinh ngoài). Bộ phận sinh dục đực
gồm hai đôi tinh hoàn nằm trong tinh nang màu trắng vàng, từ đó có ống
dẫn tinh xuống tuyến tiền liệt loét 18), tại đây có ống phóng tinh ra
ngoài.
Bộ phận sinh dục cái có hai buồng trứng ở đốt 12, từ đó có ống dẫn
trứng chập làm một và thông ra ngoài (đốt 13), ở đốt 7 và đốt 8 có từ
2 - 4 đôi túi nhận tinh.
Tuy lưỡng tính nhưng giun đốt thụ tinh chéo. Khi tiến hành thụ tinh,
hai con quay đầu ngược nhau và áp bụng vào nhau sao cho lỗ sinh dục
của con này (con đực) áp đúng lỗ túi nhận tinh của con kia (con cái).
Qua quá trình đó thì tinh dịch chuyển vào túi nhận tinh. Sau đó đai
sinh dục dày lên nhận được trứng (6-7 trứng) và tuột lên đầu qua túi
nhận tinh ra ngoài tạo thành kén. Chúng lại kết hợp với nhau tạo thành
hợp tử. Do đó người ta gọi là giả thụ tinh trong.
7.3. PHÂN LOẠI NGÀNH GIUN ĐỐT
Ngành Giun đốt có 4 lớp và căn cứ vào đặc tính sinh dục mà chia ngành
Giun đốt thành 2 phân ngành:
Phân ngành không có đai sinh dục (Aclitellata): hệ sinh dục rải đều
nhiều đốt, đơn tính, phát triển qua ấu trùng con quay (trochophora).
Phân ngành này có 2 lớp: Giun nhiều tơ (Polychaeta) và Echiurida.
Phân ngành có đai sinh dục (Clitellata): hệ sinh dục tập trung ở một
số đốt, lưỡng tính. Giai đoạn ấu trùng thu gọn trong trứng, trứng nở
trực tiếp thành con non. Phân ngành này có 2 lớp: Giun ít tơ
(Oligochaeta) và lớp Đỉa (Hirudinea).
7.3.1. Lớp giun nhiều tơ (Polychaeta)
Cơ thể có nhiều chi bên mang những túm cơ, có đầu phân hoá rõ rệt,
liên hệ với điều kiện sống một vài loài có đặc điểm đó thoái hoá đi và
cấu tạo ngoài biến đổi. Xoang cơ thể thứ sinh phát triển mạnh. Hô hấp
qua da hoặc mang. Phân tính, thụ tinh ngoài. Phát triển có biến thái
qua dạng ấu trùng con quay (Trochophora).
Hầu hết sống tự do ở biển, nước ngọt, một số ít sống ký sinh. Chúng có
ý nghĩa quan trọng là thức ăn của cá và người, tiêu biểu là loài Rươi
(Tylorhynchus sinensis) có nhiều ở vịnh Bắc Bộ, ở vùng nước lợ Quanh
Ninh, Thái Bình, Hải Dương, Ninh Bình. Mỗi năm Rươi xuất hiện hai lần
vào tháng 9 và 10 âm lịch. Nên nhân dân ta có câu: "tháng chín đôi
mươi, tháng mười mồng năm". Đó là hai ngày "giao hoan" của Rươi.
7.3.2. Lớp giun ít tơ (Oligochaeta)
Giun ít tơ có nhiều đặc điểm khác giun nhiều tơ: Đầu kém phát triển,
các phần phụ và giác quan tiêu giảm. Không có chi bên, tơ ít và ngắn,
thường xếp thành vòng ở mỗi đốt Xoang cơ thể .thứ sinh rất phát triển.
Cơ thể dạng lưỡng tính, phát triển trực tiếp không qua biến thái.
Đại diện là con Giun đốt (Plleretima) sống trong lớp đất mặt của ruộng
vườn, tác dụng làm cho đất tơi xốp và tăng cường độ mùn, đồng thời làm
cho đất thoáng khí. (Theo Đacuyn: trong 10 năm lượng đất do giun xới
lộn cũng đủ trải 1 lớp dày 5 cm lên khắp diện tích mặt đất trên thế
giới).
7.3.3. Lớp đĩa (Hirudinea)
Cơ thể dẹp có hai giác bám ở đầu và đuôi. Không có chi bên và hầu hết
không có tơ. Thể xoang thu hẹp thành những khe hở nên hệ tuần hoàn
thoái hoá. Cơ thể dạng lưỡng tính, phát triển trực tiếp.
Đời sống ký sinh ngoài tạm thời, dinh dưỡng bằng cách hút máu động
vật. Để thích nghi với việc hút máu, miệng đỉa có ba hàm răng sắc để
cứa đút da và ở hầu có tuyến tiết chất Hirudin.làm cho máu không đông.
Máu vào trong ruột đỉa vài tuần sau vẫn không đông. Đỉa, vắt ngoài gây
vết thương ở da cho gia súc và người, nó còn là môi giới truyền bệnh
Sung (bệnh do trùng roi Trypanosoma evansi).
7.4.4. Tầm quan trọng thực tế của Giun đốt
Giun đốt có ý nghĩa thực tế tương đối lớn, thường lợi hơn là hại: Một
số giun nhiều tơ sống ở vùng biển, nước lợ là thức ăn quan trọng của
nhiều loài cá, một số là thức ăn của người (như Rươi). Một số giun ít
tơ sống ở nước ngọt là thức ăn của cá, Giun đất sống trong đất ẩm, cày
xới đất và thải mùn hữu cơ làm cho đất tốt hơn. Người ta dùng giun đất
và đỉa để chữa một số bệnh có kết quả tốt.
Đỉa chui sâu vào một số cơ quan bên ngoài của cơ thể gây viêm, chảy
máu và có thể làm cho các mầm bệnh khác xâm nhập vào cơ thể. Vắt
(Haemadipsinae) hút máu người và động vật khác truyền bệnh Sung cho
vật nuôi (bệnh do Trypanosama evansi). Giun đốt có thể là vật chủ
trung gian hay vật chủ chứa một số giun sán ký sinh ở gia súc