Thư số 146 gởi: Người Lính Quân Đội Nhân Dân Việt Nam
Phạm Bá Hoa
Tôi là người Việt Nam. Chào đời năm 1930 tại Đại Ngãi, quận Kế Sách, tỉnh Sóc Trăng. Phục vụ quân lực Việt Nam Cộng Hòa từ ngày 12/5/1954 đến Giờ Thứ 25 ngày 30/4/1975. Sau ngày tang thương này, lãnh đạo Việt Cộng đẩy tôi vào trại tập trung trên đất Nam ngày 14/6/1975, chuyển đến trại tập trung trên đất Bắc ngày 16/6/1976, ra khỏi trại tập trung ngày 9/9/1987 về đến nhà ở Sài Gòn chiều ngày 12/9/1987. Rời khỏi Việt Nam đầu tháng 4/1991 đi tị nạn Việt Cộng trong đợt H05, và đang sống tại Hoa Kỳ. Tôi chưa bao giờ, và sẽ không bao giờ về Việt Nam khi Việt Cộng độc tài còn cai trị quê hương tôi.
Ước mơ của tôi là được trở về Việt Nam sống trên quê hương cội nguồn của mình dưới chế độ dân chủ tự do. Vì vậy mà ước mơ đó luôn thúc đẩy tôi tổng hợp các tin tức và chọn lọc vào nội dung, giúp Các Anh và những thành phần yêu chuộng dân chủ tự do có nét nhìn rộng hơn và rõ hơn, về chế độ độc tài + độc ác + tự cao + tham nhũng, về những sự kiện trên thế giới liên quan trực tiếp lẫn gián tiếp đến mục tiêu ngăn chận tham vọng thống trị thế giới của Trung Cộng, mà Hoa Kỳ và một số quốc gia phát triển đang thực hiện. Và khi lãnh đạo Việt Cộng tự suy yếu, hoặc Trung Cộng bị suy yếu thì lãnh đạo Việt Cộng không còn chỗ dựa, đó là cơ hội cho Các Anh và toàn dân đứng lên giành lại Quyền Làm Người của mình, nối tiếp dòng lịch sử oai hùng của dân tộc từ ngàn năm trước.
Là Người Lính trong Quân Đội gắn liền với hai chữ “Nhân Dân”, phải hiểu là Các Anh có trách nhiệm bảo vệ Nhân Dân, bảo vệ Tổ Quốc, vì Tổ Quốc với Nhân Dân là trường tồn, trong khi đảng cộng sản hay bất cứ đảng nào cầm quyền cũng chỉ một giai đoạn của lịch sử. Ngay cả Cộng Sản Quốc Tế là Liên Xô như đang chờ nắm quyền thống trị thế giới vô sản, đã phải sụp đổ từ đầu năm 1991 vì bản chất độc tài độc ác của cộng sản. Cộng sản Liên Xô sụp đổ, kéo theo nhóm quốc gia cộng sản vùng Đông Châu Âu cùng sụp đổ.
Chưa hết, Các Anh hãy nhớ lại vào nửa thế kỷ trước đó, phát xít Đức bắt đầu chiến tranh xâm lăng Ba Lan từ tháng 10/1939 và chiếm gần hết Châu Âu, trong khi phát xít Nhật bắt đầu chiến tranh với Hoa Kỳ từ tháng 12/1941 và chiếm gần hết các quốc gia vùng Đông Nam Châu Á, nhưng đến nửa cuối năm 1945 thì cả Đức lẫn Nhật phải gục ngã -vì họ là chế độ độc tài với tham vọng thống trị thế giới, không thể tồn tại dài lâu- trước thế giới tự do do Hoa Kỳ dẫn đầu. Và nội dung tôi gởi đến Các Anh được đặt trên căn bản đó.
Xin nói thêm cho rõ. Với những bài văn bài thơ của các tác giả ở trong nước, tôi xin sử dụng chữ viết truyền thống thay thế chữ viết thời Việt Cộng, ngoại trừ những nhóm chữ thời Việt Cộng mà tôi không hiểu nghĩa.
Với lá thư này, tôi tóm luợc những bản tin liên quan đến:
(1) Diễn Đàn Hợp Tác & Quản Trị Biển họp tại Trung Cộng.
(2) Đàm phán về COC giữa Trung Cộng với các quốc gia khối ASEAN.
(3) Hoa Kỳ họp với Trung Cộng.
(4) Phóng viên người Đức viết về Việt Nam thời Việt Cộng.
(1) Diễn Đàn Hợp Tác & Quản Trị Biển họp tại Trung Cộng.
Ngày 8 và 9/11/2023, hội nghị “Diễn Đàn Hợp Tác & Quản Trị Biển” (GMCOG) họp tại thành phố Tam Á, tỉnh Hải Nam, Trung Cộng, trang web của Bộ Ngoại Giao Trung Cộng đăng lại phát biểu khai mạc của Ngoại Trưởng Trung Cộng Vương Nghị, như sau:
“Chúng tôi cương quyết duy trì hệ thống quốc tế lấy Liên Hiệp Quốc làm trung tâm, và trật tự quốc tế dựa trên luật pháp quốc tế. Chúng tôi sẽ tiếp tục tham gia toàn diện vào việc xây dựng luật biển, và thực hiện
các cơ chế quản trị trong khuôn khổ Liên Hiệp Quốc, đồng thời nghiêm chỉnh thực hiện các nghĩa vụ của mình theo luật biển quốc tế, trong đó có UNCLOS. Các tranh chấp trên biển, cần được giải quyết thông qua tham vấn thân thiện giữa các bên liên quan trực tiếp.
“Đồng thời, cương quyết bác bỏ đối đầu khối, sẽ tiếp tục hợp tác với các nước ASEAN để thực hiện đầy đủ và hiệu quả Tuyên Bố Ứng Xử Biển Đông (DOC), sớm thông qua Bộ Quy Tắc Ứng Xử Biển Đông (COC), cũng như thúc đẩy trật tự hòa bình và an toàn Biển Đông”.
Trong diễn biến khác, báo South China Morning Post ngày 7/11/2023, dẫn tin từ Bộ Quốc Phòng Nhật Bản cho biết:
“Nhóm tác chiến hàng không mẫu hạm Sơn Đông của Trung Cộng đã vào Biển Đông, sau khi hoàn tất cuộc tập trận kéo dài một tuần gần vùng biển Nhật Bản. Có ít nhất 10 chiến hạm của Trung Cộng trong nhóm này, kể cả hàng không mẫu hạm Sơn Đông.
Hàng không mẫu hạm này đã hoạt động ở phía nam đảo Miyako của Nhật Bản, và phía đông đảo Luzon của Philippines trong khoảng một tuần kể từ ngày 28/10/2023. Các phi cơ chiến đấu với tiêm kích J-15 và trực thăng, đã thực hiện cất cánh và hạ cánh trên hàng không mẫu hạm Sơn Đông khoảng 570 lần”. (tóm lược bài của Bình An trong e-mail tmy...@gmail.com ngày 1/11/2023)
Nhận định.
Tại Diễn Đàn Hợp Tác & Quản Trị Biển, Ngoại Trưởng Trung Cộng mạnh miệng nói “lấy Liên Hiệp Quốc làm trung tâm, và dựa vào luật pháp quốc tế…”, chừng như Trung Cộng là quốc gia tôn trọng luật pháp, tôn trọng Liên Hiệp Quốc, trong khi Trung Cộng là quốc gia giành chủ quyền gần hết diện tích Biển Đông, mà họ nói đó là “chủ quyền lịch sử” do tổ tiên họ để lại, nhưng họ không có bất cứ tài liệu nào hay vật chứng nào để chứng minh với tòa án trọng tài quốc tế khi họ bị Philippines đệ đơn kiện.
Vì vậy mà năm 2016, tòa án trọng tài quốc tế phán quyết rằng: “…Không có bằng chứng nào cho thấy Trung Cộng trong lịch sử đã từng có chủ quyền các vùng trên biển và các nguồn tài nguyên tại đây …. Do đó, một số khu vực nằm trong vùng đặc quyền kinh tế của Philippines không chồng lấn với bất cứ khu vực nào của Trung Cộng. Vậy thì Trung Cộng đã vi phạm chủ quyền của Philippines ở vùng đặc quyền kinh tế của nước này, khi ngăn trở việc thăm dò dầu hỏa & khí đốt và đánh cá của Philippines…”
Bằng chứng mới nhất về sự gian trá của Trung Cộng là ngày 21/11/2023, phát ngôn viên của quân đội Philippines là ông Xerxes Trinidad cho biết: “Hai chiến đấu cơ của Trung Cộng đã bay quanh chiếc A29B Super Tucano của Philippines trên không phận Biển Tây (Việt Nam gọi Biển Đông), trong khi Không Quân Philippines tuần tra chung với Không Quân Australia”.
Vậy mà phát ngôn viên Bộ Ngoại Giao Trung Cộng tuyên bố rằng: “Chủ quyến lãnh thổ và lợi ích hàng hải của chúng tôi bị đe dọa hoặc thách thức. Chắc chắn là chúng tôi sẽ có phản ứng cứng rắn, vì Philippines hợp tác với lực lượng ngoại quốc để tuần tra Biển Đông và gây rối chúng tôi”.
Tư Lệnh Lục Quân Philippines Romeo Brawner khẳng định rằng: “Chúng tôi có quyền tuần tra chung với các đồng minh, nhằm thúc đẩy trật tự quốc tế và dựa trên luật lệ".
(2) Đàm phán về COC giữa Trung Cộng với khối ASEAN.
Indonesia là quốc gia đang giữ chức Chủ Tịch Luân Phiên của khối ASEAN, cố gắng thúc đẩy các cuộc đàm phán giữa Khối ASEAN với Trung Cộng về Bộ Quy Tắc Ứng Xử Biển Đông -gọi tắt theo Anh ngữ là COC- nhưng không thể thông qua trong thời gian trước mắt, vì Trung Cộng giành chủ quyền gần hết Biển Đông, rồi giành luôn quyền điều hành đàm phán COC để đạt mục đích của họ, dù họ không phải là thành viên của Khối này.
(10 quốc gia thành viên của ASEAN)
Thế giới đang có hai cuộc chiến, đó là Nga xâm lăng Ukraine, và giữa Do Thái với Hamas, nhưng Biển Đông vẫn là nơi căng thẳng giữa Hoa Kỳ với Trung Cộng, nếu xảy ra chiến tranh Biển Đông thì cuộc chiến này có nguy cơ bùng nổ Thế Chiến Thứ Ba.
Ngày 19/04/2023, nhà nghiên cứu Hoàng Việt -chuyên gia về Biển Đông- trả lời phỏng vấn của đài RFA, xin tóm lược như sau:
“Ý tưởng về một Bộ Quy Tắc Ứng Xử Biển Đông (COC) đã có từ những năm 1990, thời kỳ xảy ra rất nhiều căng thẳng trên Biển Đông, khi Trung Cộng tấn công chiếm đóng Gạ Ma thuộc quần đảo Trường Sa của Việt Nam năm 1988, giết chết 64 lính của Việt Cộng. Đến năm 1995, Trung Cộng lại dùng quân sự chiếm Đá Vành Khăn trong tay quân đội Philippines.
“Trước những căng thẳng như vậy, Philippines là một trong các quốc gia thành viên kêu gọi ASEAN tìm kiếm một Bộ Quy Tắc Ứng Xử Biển Đông. Sau đó, tất cả các bên đã ngồi vào bàn đàm phán. Nhưng hằng chục năm sau mà COC vẫn chưa ra đời. Năm 2002, ASEAN họp tại Cam Bốt cùng ký vào bản Tuyên Bố Ứng Xử Biển Đông (DOC), và bản Tuyên Bố này đơn thuần là một tuyên bố về chính trị, không ràng buộc về pháp lý mà tùy thuộc vào thiện chí của các quốc gia khi áp dụng”.
“Năm 2007, vấn đề Biển Đông lại nóng lên, và đặc biệt là năm 2009 theo Công Ước về Luật Biển, một quốc gia ven biển được có một vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa, thềm lục địa tối thiểu là 200 hải lý tính từ đường cơ sở, tối đa là 350 hải lý, nếu chứng minh được sự kéo dài của thềm lục địa. Muốn làm được điều này, các quốc gia liên quan phải làm hồ sơ, và trình lên Ủy Ban Biên Giới Thềm Lục Địa của Liên Hiệp Quốc trước ngày 15/09/2009. Khi Việt Nam và Malaysia gởi công hàm và các hồ sơ lên Ủy Ban này, lập tức Trung Cộng đưa ra công hàm phản đối, kèm theo bản đồ "đường lưỡi bò". Từ đó, Trung Cộng liên tục có những hành động gây căng thẳng, vì vậy mà các quốc gia khối ASEAN mới nghĩ đến Bộ Quy Tắc Ứng Xử trên Biển Đông (COC).
“Năm 2012, bản dự thảo đầu tiên của COC do Indonesia nghiên cứu biên soạn, và được hầu hết các quốc gia trong khối ASEAN đồng ý nội dung, nhưng Trung Cộng không đồng ý. Tiếp theo là những cuộc họp bàn thảo về COC, nhưng tất cả đều “dậm chân tại chỗ” . Mãi tới những năm gần đây, các quốc gia mới đưa ra được những cái gọi là “đồng ý ban đầu” về COC.
“Thế nhưng do đại dịch Covid-19 mà các bên không thể gặp nhau được, cho nên vẫn chưa có bước tiến trong đàm phán về COC. Mãi đến cuối năm 2022 đầu năm 2023, Trung Cộng mới chánh thức bãi bỏ chính sách zero-Covid, mở đường cho các cuộc họp tiếp tục.
Năm 2022, Cam Bốt là quốc gia giữ chức Chủ Tịch Luân Phiên của ASEAN, quốc gia này thắt chặt bang giao với Trung Cộng, đúng theo lời của Thủ Tướng Hun Sen đã từng nói: ”Nếu tôi không dựa vào Trung Cộng thì dựa vào ai? Cũng vì vậy mà cùng năm 2022, lần đầu tiên hội nghị Ngoại Trưởng ASEAN đã không ra được thông cáo chung, bởi vì lúc ấy Cam Bốt là quốc gia chủ nhà, tìm cách ngăn cản các bên đưa ra bản tuyên bố chung với những điều khoản bất lợi cho Trung Cộng, trong khi bãi cạn Scarborough của Philippines bị Trung Cộng chiếm đoạt.
Trong thời gian qua, các bên vẫn đàm phán về một Bộ Quy Tắc COC, nhưng còn nhiều bất đồng.
a/ Bất đồng thứ nhất. Các quốc gia Đông Nam Á, đặc biệt là những nước có liên quan đến tranh chấp Biển Đông -Việt Nam, Philippines, Malaysia, Indonesia- hay những quốc gia không liên quan trực tiếp đến Biển Đông nhưng gắn liền với biển như Singapore, đều muốn sử dụng COC theo Công Ước Quốc Tế Về Luật Biển năm 2009, trong khi Trung Cộng muốn COC có lợi cho họ trong mục đích giành chủ quyền Biển Đông, nhất là sau khi các bãi cạn mà họ đã bồi đấp thành đảo nổi, đã quân sự hóa các đảo đó, và họ không muốn các quốc gia thành viên ASEAN hành động giống như họ.
b/ Bất đồng thứ hai. Như chúng ta biết, Hoa Kỳ là quốc gia có vai trò quan trọng đối với Biển Đông, dù không trực tiếp liên quan đến tranh chấp Biển Đông. Nhưng Trung Cộng rất không muốn Hoa Kỳ tham gia vào Bộ Quy Tắc Ứng Xử Biển Đông, mà muốn sử dụng Bộ Quy Tắc đó như một công cụ đẩy Hoa Kỳ ra khỏi ảnh hưởng Biển Đông. Trong khi Philippines và những quốc gia khác đã tuyên bố là không thể gạt Hoa Kỳ ra khỏi các cuộc đàm phán COC. Có rất nhiều khác biệt giữa các bên, chưa kể nội dung của Bộ Quy Tắc cũng là một khác biệt.”
“Mặc dù các cuộc đàm phán đã đạt được một bước tiến vào năm 2018, Trung Cộng và ASEAN thông qua được bản dự thảo “Đàm Phán Duy Nhất -Single Draft Negotiating Text- nhưng đó lại là một tập hợp các quan điểm trái ngược nhau về các vấn đề gây tranh cãi về tính pháp lý, phạm vi áp dụng, về cơ sở pháp lý quốc tế, và về nguyên tắc giải quyết tranh chấp”.
Nhà nghiên cứu Hoàng Việt, giải thích quan điểm của Việt Nam về nội dung COC:
“Trong khối ASEAN, nhóm quốc gia có lợi ích trực tiếp đến Biển Đông, gồm: Indonesia, Việt Nam, Philippines, và Malaysia, là 4 quốc gia có vùng biển bị “đường lưỡi bò” của Trung Cộng lấn chiếm. Quan điểm của Việt Nam được nhiều lãnh đạo Việt Nam nói đến hai nội dung trong Bộ Quy Tắc Ứng Xử Biển Đông:
Nội dung một là, phải tránh những khiếm khuyết trong Bản Tuyên Bố Ứng Xử Biển Đông năm 2002 (DOC), vì nội dung DOC đã không ngăn chận những hành động của Trung Cộng gây căng thẳng Biển Đông. Quan điểm của Việt Nam là COC phải mang tính ràng buộc về pháp lý, có nghĩa là nếu một trong các bên vi phạm, thì một trong các bên còn lại, hoặc tất cả các bên còn lại đưa “bên vi phạm” ra trước cơ quan tài phán quốc tế để giải quyết.
Và nội dung hai là, COC phải bao gồm quần đảo Hoàng Sa và quần đảo Trường Sa của Việt Nam, trong khi Trung Cộng mạnh mẽ tách quần đảo Hoàng Sa ra khỏi COC.
Đó là hai nội dung khác biệt lớn nhất. Ngoài ra còn có những khác biệt nữa, chẳng hạn như Việt Nam đã nhiều lần đề nghị ghi trong nội dung của COC là các bên không được bồi đấp hoặc quân sự hóa các thực thể khác. Việt Nam cũng đề nghị đưa tinh thần phán quyết của tòa án trọng tài quốc tế về Biển Đông hồi năm 2016 vào trong nội dung của COC.
“Do có quá nhiều khác biệt quan điểm như trên, nên COC khó có khả năng thông qua trong thời gian trước mắt, dù Indonesia đang là Chủ Tịch Luân Phiên của ASEAN năm 2023, và đang thúc đẩy các cuộc đàm phán. Cuộc họp thượng đỉnh ASEAN tại Labuan Bajo, Indonesia từ ngày 9 đến 11/05/2023, đã không đạt được tiến triển nào về hồ sơ này, ngoài lời cam kết của khối các nước Đông Nam Á sẽ nỗ lực để sớm kết thúc đàm phán về COC.
Theo tin báo chí trong nước, tại hội nghị các viên chức cao cấp của ASEAN và Trung Cộng ngày 17/5/2023 tại Hạ Long tỉnh Quảng Ninh, về Tuyên Bố Ứng Xử Biển Đông, Trưởng phái đoàn Việt Nam là Vũ Hồ, đã kêu gọi các bên hãy thực hiện “lời nói đi đôi với việc làm”, tức là phải thực hiện nghiêm chỉnh mọi điều khoản của DOC. Phát biểu này biểu lộ sự bực tức của Việt Nam trước “những diễn biến phức tạp” trên Biển Đông, ám chỉ đến các vụ tàu khảo sát của Trung Cộng xâm phạm vùng đặc quyền kinh tế của Việt Nam, và quấy phá các hoạt động thăm do dầu hỏa và khí đốt của Việt Nam”. (tóm lược bài của Thanh Phương đài RFA trong e-mail tmy...@gmail.com ngày 20/11/2023)
(3) Hoa Kỳ họp với Trung Cộng tại Hoa Kỳ.
Ngày 15/11/2023, Tổng Thống Hoa Kỳ Joe Biden và Chủ Tịch Trung Cộng Tập Cận Bình đã chào nhau bên ngoài một dinh thự ở phía nam San Francisco, sau đó di chuyển đến khu vực thảm đỏ, nơi diễn ra hội nghị thượng đỉnh giữa hai vị lãnh đạo.
Ông Biden nói với ông Tập:
"Chúng ta đã biết nhau từ lâu. Chúng ta không phải lúc nào cũng đồng ý với nhau, nhưng các cuộc gặp của chúng ta luôn thẳng thắn và hiệu quả. Không có gì có thể thay thế được các cuộc thảo luận trực tiếp. Chúng ta phải bảo đảm rằng, cạnh tranh giữa 2 quốc gia không biến thành xung đột, và chúng ta phải quản trị nó một cách trách nhiệm. Đồng thời hợp tác cùng nhau khi điều đó mang lại lợi ích về những thách thức toàn cầu quan trọng" bao gồm cả biến đổi khí hậu, vấn nạn ma túy, và lãnh vực trí tuệ nhân tạo”.
Phát biểu của ông Tập:
“Mối bang giao Trung - Mỹ là quan trọng nhất thế giới, cần được nhìn nhận trong bối cảnh rộng lớn về những thay đổi toàn cầu đang ngày càng gia tăng, nhưng bang giao giữa hai quốc gia chúng ta chưa bao giờ thuận buồm xuôi gió trong hơn 50 năm qua, và nó luôn phải đối mặt với những vấn đề này hay vấn đề khác. Giữa hai quốc gia lớn nhất nhì thế giới, quay lưng lại với nhau không phải là một lựa chọn. Trái Đất này đủ lớn để hai quốc gia cùng thành công, và thành công của quốc gia này là cơ hội cho quốc gia kia”.
Đây là lần gặp mặt trực tiếp đầu tiên tại Hoa Kỳ giữa hai nhà lãnh đạo trong vòng sáu năm qua, và cuộc họp dự trù trong 4 tiếng đồng hồ. Giới chức Hoa Kỳ lẫn Trung Cộng, hy vọng kết quả cuộc gặp sẽ mở ra cơ hội giảm bớt sự căng thẳng giữa hai quốc gia.
Trong những năm qua, Hoa Kỳ với Trung Cộng đã bất đồng quan điểm trong hàng loạt lãnh vực, như: Thương mại, Biển Đông, Đài Loan, ..v..v.. . Vấn đề kiểm soát dòng chảy chất fentanyl từ Trung Cộng sang Hoa Kỳ, cũng có thể được thảo luận. Đây là chất gây nghiện mạnh, và việc dùng fentanyl quá liều đang trở thành nguyên nhân gây tử vong hàng đầu với công dân Hoa Kỳ ở tuổi trưởng thành. Giới chức Hoa Kỳ đang tìm mọi cách để giải quyết vấn nạn này. (tóm lược bài trong e-mail tienggo...@grooups.com ngày 15/11/2023)
(4) Phóng viên người Đức viết về Việt Nam thời Việt Cộng.
Dưới đây là quyển sách có tựa “CHUYỆN BUỒN VIỆT NAM” “A reporter's love for a wounded people” của tác giả người Đức Uwe Siemon Netto. Quyển sách đã dịch sang Việt ngữ nhưng chưa ấn hành. Tác giả Uwe Siemon Netto đồng ý cho ông Trần Cao Mạnh trích Đoạn Kết dưới đây.
Hậu quả của khủng bố và đức hạnh của hy vọng.
“Hơn 40 năm qua kể từ khi tôi giã biệt Việt Nam. Năm 2015, thế giới chứng kiến kỷ niệm lần thứ 40 chiến thắng của Cộng Sản Việt Nam mà họ gọi đó là ngày “giải phóng”.
![]()
“Chẳng lẽ nào tôi lại không mừng vui? Chuyện này có khác nào Đức quốc chúng tôi khi bức tường Bá Linh đổ xuống và những bãi mìn biến mất, nay những chuyến xe lửa ngược xuôi giữa hai xứ nguyên là cộng sản phía Đông (gọi là Đông Đức) và dân chủ phía Tây (gọi là Tây Đức) với tốc độ lên tới 320 cây số một giờ.
(Tác giả người Đức, ông Uwe Siemon Netto)
“Hiển nhiên là tôi rất vui khi chiến tranh kết thúc, và Việt Nam được thống nhất, những chuyến xe lửa hoạt động trở lại, và các bãi mìn cũng được tháo gỡ. Nhưng đến đây thì sự tương đồng giữa Đức quốc với Việt Nam chấm dứt.
“Nước Đức chúng tôi được thống nhất, một phần nhờ người dân tại Đông Đức đứng dậy lật đổ chế độ độc tài toàn trị, bằng những cuộc biểu tình và phản kháng ôn hòa, một phần nhờ vào sự khôn ngoan của các nguyên thủ quốc tế như các vị Tổng Thống Ronald Reagan và Tổng Thống George G.W. Bush, của Thủ Tướng Helmut Kohl, của lãnh tụ Xô Viết Mikhail Gorbachev, và cũng phần khác vì sự sụp đổ có thể đoán trước được của hệ thống xã hội chủ nghĩa sai lầm trong khối Sô Viết. Không có ai bị thiệt mạng trong sự thống nhất này, không một ai bị tra tấn, cũng chẳng có ai phải vào các trại tù, và cũng chẳng có ai chạy trốn ra ngoại quốc.
“Có một khuynh hướng khó hiểu, ngay cả trong số các vị học giả đáng kính của phương Tây, đã diễn tả sự kiện cộng sản miền Bắc Việt Nam xâm chiếm miền Nam tự do là “giải phóng”. Điều này đặt ra một câu hỏi: “Giải phóng cái gì và giải phóng cho ai?”
“Có phải miền Nam tự do được “giải phóng” khỏi sự áp đặt một nhà nước độc đảng toàn trị, như những chế độ vi phạm tồi tệ nhất thế giới về các nguyên tắc tự do tôn giáo, tự do phát biểu, tự do ngôn luận, tự do hội họp, và tự do báo chí? Hoàn toàn không.
“Giải phóng” gì mà giết chết 3.800.000 người dân Việt từ 1954 đến 1975, và từ năm 1975 với sự cai trị khắc nghiệt đã buộc hơn 1.000.000 người phải liều chết khi trốn ra khỏi đất nước, không những người từ miền Nam bại cuộc mà cả từ những người miền Bắc đều chạy trốn, và làm từ 200.000 đến 400.000 người gọi là “Thuyền Nhân” đã chết mất xác trên biển cả mênh mông?
“Có phải là hành động giải phóng không, khi xử tử 100.000 người lính miền Nam và viên chức chánh phủ sau ngày Sài Gòn thất thủ? Phải chăng chỉ là một màn trình diễn nhân đạo của bên thắng cuộc bằng cách lùa từ một triệu đến 2 triệu rưỡi người miền Nam vào các trại tù cải tạo, trong đó có khoảng 165.000 người chết do bị hành hạ, do đói khát, bệnh hoạn không thuốc uống, và hàng ngàn người khác đã bị tổn thương sọ não lâu dài, và bị các vấn đề tâm thần do hậu quả của tra tấn, theo một cuộc nghiên cứu của một nhóm học giả quốc tế do Bác sĩ tâm thần Richard F. Molina của đại học Harvard dẫn đầu?
“Từ giữa những năm 1960, những tay bịa đặt huyền thoại về chính trị và lịch sử của phương Tây, hoặc ngây thơ hoặc bất lương, đã chấp nhận lời giải thích của cộng sản Việt Nam rằng, cuộc xung đột là một cuộc “chiến tranh nhân dân.” Đó là định nghĩa của Mao Trạch Đông và Võ Nguyên Giáp, nhưng theo luật văn phạm mà Saxon Genitive quy định, thì “chiến tranh nhân dân” phải được hiểu là cuộc “chiến tranh của nhân dân”.
“Nhưng thực tế thì không phải vậy. Ðã có khoảng 3.800.000 người Việt Nam đã bị giết từ năm 1954 đến năm 1975. Khoảng 164.000 thường dân miền Nam đã bị thủ tiêu trong cuộc tru diệt bởi cộng sản Việt Nam trong cùng thời kỳ, theo tài liệu của nhà học giả chính trị Rudolf Joseph Rummel thuộc trường Đại Học Hawaii. Bộ Quốc Phòng Hoa Kỳ ước tính khoảng 950.000 lính Bắc Việt và hơn 200.000 lính Việt Nam Cộng Hòa đã gục ngã tại chiến trường, cộng thêm 58.000 quân Hoa Kỳ nữa. Đây không thể là một cuộc chiến tranh của nhân dân, mà chính là chiến tranh chống nhân dân.
“Trong tất cả những lập luận đạo đức giả về cuộc chiến Việt Nam mà ta thường thấy thường nghe trong vòng 40 năm qua. Những câu hỏi quan trọng:
“Dân Việt Nam có chấp nhận chế độ cộng sản hay không?” Hoàn toàn không.
“Nếu có, tại sao gần một triệu người miền Bắc đã di cư vào Nam sau khi đất nước bị chia cắt năm 1954, trong khi chỉ có khoảng 130.000 lính Việt Minh đi ra Bắc?
“Có đơn vị nào của miền Nam nào đã hoạt động ở miền Bắc hay không? Hoàn toàn không.
“Có du kích quân miền Nam nào vượt vĩ tuyến 17 để mổ bụng và treo cổ những người trưởng làng thân cộng, cùng vợ và con cái họ ở đồng quê miền Bắc hay không? Hoàn toàn không.
“Chế độ miền Nam có tàn sát cả một giai cấp hàng chục ngàn người trên lãnh thổ của họ sau năm 1954, bằng cách tiêu diệt địa chủ và các đối thủ tiềm năng khác theo cách thống trị theo lối Sô Viết của họ hay không? Hoàn toàn không.
“Miền Nam có thiết lập chế độ độc đảng độc tài toàn trị hay không? Hoàn toàn không.
“Với cương vị một người công dân Đức, tôi không can dự gì đến cuộc chiến này, nhưng để giải thích cho quyển sách “Lời nguyện của nhà báo”, tương tự như các phóng viên kỳ cựu có lương tâm, lòng tôi đã từng và vẫn còn đứng về phía dân tộc Việt Nam nhiều đau thương dưới chế độ cộng sản độc tài toàn trị.
“Lòng tôi hướng về những người phụ nữ tuyệt vời với tính tình rất thẳng thắn và vui vẻ. Hướng về những người đàn ông Việt Nam khôn ngoan đang theo đuổi giấc mơ tuyệt hảo theo phong cách Khổng Giáo. Hướng về các chiến binh giống như trẻ con đi ra ngoài mặt trận mang theo cái tài sản duy nhất là lồng chim hoàng yến. .Hướng về nhóm trẻ em bụi đời trong thành thị cũng như ngoài nông thôn, săn sóc lẫn nhau và những con trâu đồng.
“Với trái tim chai cứng còn lại, lòng tôi thuộc về những người trốn chạy khỏi lò sát sinh và vùng chiến sự, luôn luôn đi về hướng Nam mà không bao giờ về hướng Bắc cho đến tận cùng, khi không còn một tấc đất nào vắng bóng cộng sản để mà trốn. Tôi đã chứng kiến họ bị thảm sát, hay bị chôn sống trong những ngôi mồ tập thể, và mũi tôi vẫn còn phảng phất mùi hôi thối của những thi thể đang thối rữa.
“Tôi không có mặt vào lúc Sài Gòn thất thủ, sau khi toàn bộ các đơn vị Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa thường xuyên bị bôi bẩn một cách ác độc bởi truyền thông Hoa Kỳ, giờ đây bị những đồng minh người Hoa Kỳ của họ bỏ rơi, đã chiến đấu một cách cao thượng dù biết rằng họ không thể thắng hay sống sót khỏi trận đánh cuối cùng này.
“Tôi đang ở Paris, lòng sầu thảm khi tất cả những chuyện này xảy ra, và tôi ước gì có dịp tỏ lòng kính trọng năm vị tướng lãnh Việt Nam Cộng Hòa trước khi họ quyên sinh lúc mọi chuyện chấm dứt, một cuộc chiến mà họ đã có thể thắng: Lê Văn Hưng sinh năm 1933, Lê Nguyên Vỹ sinh năm 1933, Nguyễn Khoa Nam sinh năm 1927, Trần Văn Hai sinh năm 1927, và Phạm Văn Phú sinh năm 1927.
“Nhưng không có hành vi tàn ác nào của các đơn vị rối loạn Hoa Kỳ và Việt Nam Cộng Hòa, có thể sánh bằng cuộc tàn sát do lệnh nhà nước cộng sản giáng xuống đầu người miền Nam nhân danh hồ chí minh. Những tội ác mà cho đến ngày nay, những kẻ kế thừa vẫn không thừa nhận vì không ai có cái dũng cảm hỏi họ: Tại sao các anh thảm sát tất cả những người vô tội mà các anh rêu rao là đi chiến đấu để giải phóng họ?
“Với tư cách một người Đức, tôi xin được thêm một đoạn chú thích như sau: Tại sao các anh giết người bạn của tôi là Hasso Rüdt von Collenberg, tại sao lại giết các bác sĩ người Đức ở Huế, và anh Otto Söllner tội nghiệp mà “tội ác” duy nhất là dạy trẻ em Việt Nam cách điều khiển một ban nhạc hòa tấu?
“Tại sao các anh bắt cóc những thanh niên thiện nguyện Knights of Malta, làm cho một số bị chết trong rừng rậm, và số khác thì bị giam cầm tại Hà Nội?
“Hồi tưởng lại cuộc thử thách trên con đường mòn hồ chí minh trong tạp chí Der Spiegel, cô y tá Tây Đức Monika Schwinn nhớ lại cuộc gặp gỡ với các đơn vị chiến đấu của cộng sản Bắc Việt, trên đường xuống phía Nam như là một trong những kinh nghiệm khủng khiếp nhất. Cô diễn tả cái cường độ của mối hận thù trên khuôn mặt của những tên lính cộng sản đó, và cô viết, chính những tên Việt Cộng canh chừng phải khó khăn lắm mới ngăn chận họ không giết những người Đức ngay tại chỗ.
“Không có ai sinh ra là mang theo hận thù cả. Sự thù hận có được là do chính sách giáo dục của nhà cầm quyền. Nuôi dưỡng tính giết người trong lòng thanh niên, là một khuôn phép huấn luyện chỉ có dưới chế độ độc tài toàn trị, trong đó có cộng sản Việt Nam. Chính cái ánh mắt thù hận của những tên sát nhân Bắc Việt tại Huế năm 1968, luôn ám ảnh những người mà tôi phỏng vấn họ...
“Trong một cuốn sách gây chú ý về đoàn quân Lê Dương của Pháp, Paul Bonnecarrère đã kể lại cuộc gặp gỡ lịch sử giữa Đại Tá Pierre Charton và Tướng Võ Nguyên Giáp sau khi Pháp thất trận Điện Biên Phủ (Bonnecarrère. Par le Sang Versé. Paris: 1968). Charton là tù binh trong tay Việt Minh Cộng Sản. Giáp đến thăm Charton trong một lớp học, trước mặt khoảng 20 học viên đang tham dự một buổi tuyên truyền chính trị. Cuộc đối thoại giữa hai nhân vật đối chọi nhau như sau:
Giáp: “Tôi đã đánh bại ông, thưa Đại Tá.
Charton: “Không, ông không đánh bại tôi, thưa Đại Tướng. Rừng rậm đã đánh bại chúng tôi... cùng sự hỗ trợ các ông đã nhận được từ người dân bằng các phương tiện khủng bố”.
“Võ Nguyên Giáp cấm các học viên không được ghi chép cuộc nói chuyện đó.
“Đó là sự thật, hay chính xác hơn: Đó là một nửa của sự thật. Một nửa kia là nền dân chủ Hoa Kỳ không được trang bị về chính trị và tâm lý để theo đuổi một cuộc chiến trường kỳ. Sự nhận thức này, cùng với cách sử dụng các phương tiện khủng bố, đã trở thành trụ cột trong chiến lược của Võ Nguyên Giáp, và hắn đã thắng...
“Cho đến tận ngày hôm nay tôi vẫn còn bị ám ảnh bởi cái kết luận tôi bắt buộc phải rút ra từ kinh nghiệm về Việt Nam là:
- Khi một nền văn hóa bê tha hủ hóa đã mệt mỏi về lòng hy sinh, nó sẽ vứt bỏ tất cả. Nó đã chín mùi để bỏ rơi một dân tộc mà đáng lẽ nó phải bảo vệ. Thậm chí, nó còn sẵn sàng xóa đi những mạng sống, sức khoẻ về thể chất và tinh thần, nhân phẩm, trí nhớ và danh thơm của những thanh niên đã được đưa ra mặt trận, và điều này đã xẩy ra trong trường hợp các cựu chiến binh Cộng Sản Việt Nam…
- Tuy nhiên tôi không thể kết thúc câu chuyện ở đây bằng điều tăm tối này được. Là một người quan sát về lịch sử, tôi biết là lịch sử khép kín trong quá khứ, nhưng vẫn luôn luôn mở rộng ra tương lai.
- Chiến thắng của cộng sản dựa vào bản chất độc ác, dối trá, khủng bố, tàn sát … Hiển nhiên là tôi không biện minh cho chuyện tiếp tục đổ máu nhằm chỉnh lại kết quả, cho dù có khả thi đi chăng nữa. Nhưng là một người ngưỡng mộ tính kiên cường của dân tộc Việt Nam, tôi tin là cuối cùng họ sẽ tìm ra phương cách ôn hòa với các lãnh đạo chân chính, để họ có thể thoát khỏi những tay bạo chúa. Có thể sẽ phải trải qua nhiều thế hệ, nhưng điều đó sẽ phải xảy ra.
“Trong ý nghĩa này, tôi bây giờ chỉ muốn xếp hàng vào đoàn xích lô bên ngoài ga xe lửa Huế vào năm 1972, nơi chẳng có người khách nào quay trở lại. Chỗ của tôi ở đâu bây giờ? Tôi còn lại gì nữa ngoài niềm hy vọng? (tóm luợc bài của ông Trần Cao Mạnh trong e-mail Tinhxa...@outlock.com chuyển tiếp ngày 9/11/2023)
Kết luận.
Các Anh suy nghĩ gì sau khi đọc hết các trang trên?
Thôi thì tạm để sang một bên, và Các Anh đọc kỹ bài thơ "Vỡ Mộng" dưới đây mà tôi trích trong e-mail HyVanNguyen...
Tác giả bai thơ Vỡ Mộng sinh ra trên đất Bắc, theo dòng thời gian lớn dần lên và vào sống trên đất Nam sau ngày 30/4/1975, là cơ hội giúp tác giả nhìn lại hai xã hội Nam - Bắc qua những góc nhìn khác nhau giữa Tự Do với Độc Tài, rồi tác giả cố gắng diễn đạt nỗi đau của mình nhưng không dám cho biết tên, vì tác giả là công dân của chế độ cộng sản độc tài và độc ác, toàn dân đều bị bịt mắt + bịt tai + bịt miệng bằng những cái gọi là luật pháp rất mơ hồ để họ tùy theo trường hợp mà giải thích theo cách của họ, khi cần.
Và đây, nỗi đau của tác giả:
- Hồi nhỏ tưởng học lịch sử để biết tổ tiên nòi giống. Lớn lên mới biết bị cộng sản nhồi sọ.
- Hồi nhỏ tưởng Công An bắt cướp. Lớn lên mới biết Công An là ăn cướp.
- Hồi nhỏ tưởng cờ đỏ sao vàng là cờ tổ quốc. Lớn lên mới biết đó là cờ tỉnh Phúc Kiến bên Tàu.
- Hồi nhỏ tưởng Mỹ Nguỵ là ác. Lớn lên mới biết Cộng Sản là độc tài độc ác.
- Hồi nhỏ tưởng bán vàng giàu nhất. Lớn lên mới biết lãnh đạo bán nước giàu hơn.
- Hồi nhỏ tưởng đánh trận được lên tướng. Lớn lên mới biết hèn hạ với Tàu được lên tướng.
- Hồi nhỏ tưởng miền Nam đói rách. Lớn lên mới biết miền Bắc là đói rách.
- Hồi nhỏ tưởng bác hồ là người Việt Nam. Lớn lên mới biết là người Trung Cộng.
- Hồi nhỏ tưởng "đầy tớ cán bộ" lo cho dân. Lớn lên mới biết "dân làm chủ" phải lo cho cán bộ đầy tớ.
- Hồi nhỏ tưởng yêu nước là yêu tổ quốc. Lớn lên mới biết yêu nước là yêu bác yêu đảng.
- Hồi nhỏ tưởng những người lưu vong là Việt gian. Lớn lên mới biết đó là những người giúp dân.
- Hồi nhỏ tưởng đánh Mỹ là đánh cho dân tộc. Lớn lên mới biết đánh Mỹ là đánh cho Nga cho Tàu.
- Hồi nhỏ tưởng Lê Văn Tám là anh hùng. Lớn lên mới biết đó là dựng chuyện tuyên truyền.
- Hồi nhỏ tưởng Biển Đông là của Việt Nam. Lớn lên mới biết Việt Cộng đã giao cho Tàu Cộng.
- Hồi nhỏ tưởng tiền cứu trợ thiên tai dành cho dân. Lớn lên mới biết tiền đó dành cho cán bộ.
- Hồi nhỏ tưởng cờ vàng của Nguỵ. Lớn lên mới biết cờ vàng là cờ truyền thống Việt Nam.
Đau lắm phải không Các Anh? Các Anh hãy suy nghĩ với tất cả các góc cạnh của bài thơ, rồi nhìn vào những sự thật trong cuộc sống, Các Anh dễ dàng nhận ra sự thật, hoàn toàn thật. Khi nhận ra sự thật đắng cay chua chát với dân tộc nói chung, và đối với tuổi trẻ Việt Nam nói riêng, bị lãnh đạo Việt Cộng gian manh dối trá lừa gạt từ thế hệ này sang thế hệ khác, tự khắc Các Anh sẽ nhận ra trách nhiệm của người cầm súng bảo vệ đồng bào, bảo vệ tổ quốc.
Với tôi, trong hoàn cảnh hiện nay, khi nhóm cầm quyền Việt Cộng không thể dựa vào Trung Cộng được nữa, hoặc nhóm cầm quyền Việt Cộng tự suy yếu nghiêng ngã, thì đó là cơ hội mà Các Anh cùng đồng bào đứng lên giành lại Quyền Làm Người cho Các Anh + cho thân nhân thân quyến Các Anh + và cho toàn thể đồng bào. Bởi, không quốc gia nào hành động thay cho Việt Nam mình đâu Các Anh à, mà họ chỉ sẳn sàng trợ giúp Việt Nam mình thực hiện trách nhiệm cao cả đó.
Vậy, Các Anh hãy luôn luôn sẳn sàng, khi cơ hội chợt đến là lập tức đứng lên, toàn dân sẽ đứng cạnh Các Anh, cùng Các Anh làm nên lịch sử bằng cách triệt hạ chế độ cộng sản độc đảng, độc quyền, độc tài, độc đoán, và độc ác nhất suốt dòng lịch sử Việt Nam oai hùng từ khi lập quốc hơn 4.000 năm trước.
Từ đó, người Việt Nam trong nước và người Việt Nam tị nạn cộng sản tại hải ngoại, cùng nhau vá lại mảnh giang sơn đã "rách loang lỗ" bởi những Hiệp Ước của Việt Cộng giao đất giao biển cho Trung Cộng, xóa tan những “vệt da beo trên da thịt quê hương” mà hiện nay là những làng mạc có công nhân hay quân lính Trung Cộng mà người Việt bị cấm vào. Cùng nhau khôi phục lại nền văn hoá nhân bản và khoa học dù phải trải qua hai ba thế hệ mới thành công, và cùng nhau phát triển một xã hội dân chủ pháp trị mà mọi người được hưởng một cách tự nhiên những quyền căn bản của mình.
Hãy nhớ, “Tự do, không phải là điều đáng sợ, mà đó là nền tảng cho sự thịnh vượng của đất nước. Không có dân chủ, không thể có sự trỗi dậy và phát triển bền vững. Muốn được sống trong Tự Do, chính chúng ta phải tranh đấu, vì Tự Do Dân Chủ không phải là quà tặng./.
Texas, ngày 1 tháng 12 năm 2023
Phạm Bá Hoa
~~~~~~~~~~~~~~~~~~~~~~~~~~~~~~~