Thư số 129a gởi: Người Lính Quân Đội Nhân Dân Việt Nam
Phạm Bá Hoa
Tôi là người Việt Nam. Chào đời năm 1930, phục vụ quân lực Việt Nam Cộng Hòa từ ngày 12/5/1954 đến Giờ Thứ 25 ngày 30/4/1975. Sau ngày tang thương này, lãnh đạo Việt Cộng đẩy tôi vào trại tập trung trên đất Nam ngày 14/6/1975, chuyển đến trại tập trung trên đất Bắc từ ngày 16/6/1976, ra khỏi trại tập trung ngày 9/9/1987 về đến nhà ở Sài Gòn chiều ngày 12/9/1987, rời khỏi Việt Nam tháng 4/1991 tị nạn cộng sản trong đợt H05, và đang sống tại Hoa Kỳ.
Ước mơ của tôi là được trở về Việt Nam sống trên quê hương cội nguồn của mình dưới chế độ dân chủ tự do. Vì vậy mà ước mơ đó luôn thúc đẩy tôi tổng hợp các tin tức và chọn lọc vào nội dung, giúp Các Anh và những thành phần yêu chuộng dân chủ tự do có nét nhìn rộng hơn và rõ hơn, về những sự kiện trên thế giới liên quan trực tiếp lẫn gián tiếp đến mục tiêu ngăn chận tham vọng thống trị thế giới của Trung Cộng, mà Hoa Kỳ và một số quốc gia phát triển đang thực hiện. Và khi lãnh đạo Việt Cộng tự suy yếu, hoặc Trung Cộng bị suy yếu thì lãnh đạo Việt Cộng không còn chỗ dựa, đó là cơ hội cho Các Anh và toàn dân đứng lên giành lại Quyền Làm Người của mình, nối tiếp dòng lịch sử oai hùng của dân tộc từ ngàn năm trước.
Là Người Lính trong Quân Đội gắn liền với hai chữ “Nhân Dân”, phải hiểu là Các Anh có trách nhiệm bảo vệ Tổ Quốc và Nhân Dân, vì Tổ Quốc với Nhân Dân là trường tồn, trong khi đảng cộng sản hay bất cứ đảng nào cầm quyền cũng chỉ một giai đoạn của lịch sử. Ngay cả Cộng Sản Quốc Tế là Liên Xô đang chờ nắm quyền thống trị thế giới vô sản, nhưng đã sụp đổ từ đầu thập niên 1990 vì cộng sản là chế độ độc tài và độc ác. Liên Xô sụp đổ, kéo theo nhóm quốc gia cộng sản vùng Đông Châu Âu cùng sụp đổ. Các Anh hãy nhớ lại vào nửa thế kỷ trước đó, phát xít Đức bắt đầu chiến tranh xâm lăng Ba Lan từ tháng 10/1939 và chiếm gần hết Châu Âu, trong khi phát xít Nhật bắt đầu chiến tranh với Hoa Kỳ từ tháng 12/1941 và chiếm gần hết các quốc gia vùng Đông Nam Châu Á, nhưng đến nữa cuối năm 1945 thì cả Đức lẫn Nhật phải gục ngã -vì họ là chế độ độc tài và độc ác- trước thế giới tự do do Hoa Kỳ dẫn đầu. Và nội dung tôi gởi đến Các Anh được đặt trên căn bản đó.
Với lá Thư này, tôi chọn lọc những tin tức liên quan đến hồ sơ Ấn Độ - Thái Bình Dương mà tôi sưu tầm được:
(1) Bài phân tách “Chiến Lược Phương Nam” của Trung Cộng từ thời Mao Trạch Đông đến thời Tập Cận Bình.
(2) 10 quốc gia bên bờ vực phá sản đều là thành viên “Một Vành Đai, Một Con Đường”.
(3) Trung Cộng như đang rơi vào bẫy nợ do chính họ giăng ra.
(4) Liệu Việt Nam có vỡ nợ như Sri Lanka không?
(1) Chiến Lược Phương Nam của Trung Cộng.
Đài RFI (Pháp) trong chương trình Việt ngữ, giới thiệu tóm tắt một số điểm trong bài phân tách của nhà nghiên cứu Nadège Rolland đăng trên Foreign Affairs ngày 09/06/2022, với tựa đề “Chiến Lược Phương Nam của Trung Cộng”.
Ngay từ đầu những năm 1950 sau khi cộng sản nhuộm đỏ toàn lục địa Trung Hoa, Mao Trạch Đông vạch ra “Chiến Lược Phương Nam” (Global South) để thống trị “Thế Giới Thứ Ba” theo học thuyết 3 thế giới do Mao Trạch Đông vạch ra:
-“Thế Giới Thứ Nhất” là cường quốc Hoa Kỳ và Liên Xô (lúc ấy Liên Xô - Trung Cộng cắt đứt bang giao).
-“Thế Giới Thứ Hai” là các quốc gia phát triển hạng trung, là: Australia + Canada + Nhật Bản + Tây Âu.
-“Thế Giới Thứ Ba” là các quốc gia mới bắt đầu phát triển thuộc Châu Phi + Châu Á + Nam Mỹ.
Với các quốc gia mà Trung Cộng xếp vào thế giới thứ ba, Trung Cộng sẽ trợ giúp kỹ thuật và tài chánh cho các phong trào chống các chế độ tư bản. Nhưng rồi những bất ổn lan nhanh trong nước, cùng với các hạn chế về kinh tế, Trung Cộng đành phải gác “Chiến Lược Phương Nam” sang một bên từ thời Đặng Tiểu Bình cho đến các đời lãnh đạo trước khi Tập Cận Bình lên cầm quyền năm 2012, để tập trung phát triển sức mạnh quốc gia. Trung Cộng rất cần nguồn cung cấp năng lượng và tài nguyên thiên nhiên thiết yếu từ bên ngoài, giúp các doanh nghiệp của họ trỗi dậy mạnh mẽ.
*Một Vành Đai, Một Con Đường -BRI-
Đại Hội Đảng Cộng Sản lần thứ 16 hồi năm 2002, Trung Cộng chánh thức xem các quốc gia bắt đầu phát triển là nền tảng ngoại giao đối với họ, và chính sách “Một Vành Đai Một Con Đường” trong “Chiến Lược Phương Nam” nhắm vào mục tiêu giúp các quốc gia này hình thành “Thế Giới Thứ Ba” dưới hình thức viện trợ kinh tế và đầu tư (từ Trung Cộng).
Vào cuối nhiệm kỳ 2002-2012 của Chủ Tịch Hồ Cẩm Đào, Trung Cộng tự đánh giá là họ đi đúng hướng của “Chiến Lược Phương Nam”, khi một số quốc gia vừa nhỏ vừa nghèo cắt đứt bang giao với Đài Loan, và xoay qua bang giao với Trung Cộng, trong khi nền kinh tế Trung Cộng vượt qua Nhật Bản trở thành cường quốc kinh tế thứ nhì trên thế giới, chỉ sau Hoa Kỳ..
Vào thời ấy, chính sách ngoại giao của Hoa Kỳ chuyển trục sang Châu Á, rõ ràng là Hoa Kỳ nhắm vào mục tiêu ngăn chận Trung Cộng “bành trướng” vào vùng này. Năm 2012, Ông Tập Cận Bình nhận chức Chủ Tịch Trung Cộng, đã công khai từ bỏ chính sách “ẩn mình chờ thời” của Đặng Tiểu Bình, và chuyển sang chiến lược toàn cầu mới, với tham vọng Trung Cộng sẽ vượt lên Hoa Kỳ và thống trị thế giới.
Lúc ấy, trong giới lãnh đạo Trung Cộng có hai nhóm khác nhau về quan điểm:
Nhóm thứ nhất, chủ trương liên kết các quốc gia Châu Á Châu Âu, để chống lại hành động của Hoa Kỳ ngày càng nỗ lực trong ngoại giao, kinh tế, quân sự, và hàng hải ở Châu Á.
Nhóm thứ hai, chủ trương liên kết các quốc gia phương Nam hình thành một vai trò then chốt, giúp Trung Cộng chống lại Hoa Kỳ, trong khi các quốc gia Châu Âu không quan tâm đến những khu vực mà Trung Cộng tin rằng họ sẽ thực hiện chiến lược dễ dàng hơn.
Chủ trương của Nhóm Thứ Hai, cũng là chủ trương của Chủ Tịch Tập Cận Bình,
và sáng kiến “Một Vành Đai, Một Con Đường (BRI) là do Chủ Tịch Trung Cộng Tập Cận Bình thực hiện, nhắm đưa ảnh hưởng kinh tế của Trung Cộng lan rộng khắp thế giới, từ các đảo quốc Thái Bình Dương cho đến bờ Đại Tây Dương của Châu Phi bằng các khoản tiền cho vay, đầu tư vào phát triển cơ sở hạ tầng, và không ngừng mở rộng hợp tác trong một loạt các lãnh vực khác. Kết quả là Trung Cộng có cả động lực lẫn đòn bẫy tiềm tàng, mà họ có thể sử dụng để hình thành một liên minh các quốc gia bắt đầu phát triển theo hướng có lợi choTrung Cộng, và đó cũng là cách mà Trung Cộng chống lại Hoa Kỳ.
*Đầu tư vào Phương Nam có thể giúp Trung Cộng giảm phụ thuộc vào Phương Tây?
Trung Cộng đầu tư vào các quốc gia Phương Nam, sẽ thúc đẩy sự thịnh vượng và tăng trưởng kinh tế dài hạn cho các quốc gia này, và Châu Phi sẽ là nguồn nhu cầu mới cho các doanh nghiệp Trung Cộng khi nhìn vào triển vọng gia tăng tầng lớp trung lưu thành thị, ước tính khoảng 800.000.000 (800 triệu) dân trong vòng 15 năm.
(Tại diễn đàn hợp tác Trung Cộng - Châu Phi ngày 4/9/2018, Trung Cộng cam kết tài trợ 60 tỷ mỹ kim cho các công trình ở Châu Phi. AP - Andy Wong)
Chương trình trợ giúp xây dựng hệ thống kỹ nghệ truyền thông, cho phép Trung Cộng nắm giữ nguồn tài liệu kỹ thuật số từ nhiều nguồn khách hàng khác nhau, là bước tiến không thể thiếu để thực hiện tham vọng dẫn đầu kỹ nghệ này trên thế giới trong tương lai.
Cuối cùng, trong một báo cáo do Cơ Quan Nghiên Cứu Châu Á công bố hồi tháng 5/2022, đầu tư phát triển hạ tầng cơ sở ở Châu Phi, có thể biến lục địa này thành một nền sản xuất tích hợp với chi phí thấp, cho phép các quốc gia tại Châu Phi đóng một vai trò công xưởng, như Trung Cộng đã từng là công xưởng của các quốc gia phương Tây vậy. Nói cách khác. Trung Cộng hy vọng các quốc gia Phương Nam có thể giúp Trung Cộng giảm phụ thuộc vào các thị trường Hoa Kỳ và Châu Âu, khi tạo ra một hệ thống kinh tế phụ tại các quốc gia Phương Nam.
Các nỗ lực này của Trung Cộng ở các quốc gia bắt đầu phát triển ít nhiều cũng đạt được thành công, điển hình là trong những hội nghị của các tổ chức quốc tế, Trung Cộng có được lá phiếu của những quốc gia Phương Nam theo ý muốn của mình trong nhiều hồ sơ, kể cả hồ sơ nhân quyền.
Các quốc gia Phương Nam tham gia nhiều diễn đàn do Trung Cộng dẫn đầu, như: Đối thoại Nam – Nam về Nhân Quyền + Tán thành các khái niệm do Trung Cộng trình bày như cộng đồng cùng chia sẻ tương lai + Tầm nhìn về một trật tự thế giới mà Trung Cộng là trung tâm, ..v..v…, và tất cả những điều đó đã giúp Trung Cộng ở vào thế mạnh hơn tại các diễn đàn quốc tế.
Với quan điểm mở rộng ảnh hưởng tại các quốc gia bắt đầu phát triển đã giúp Trung Cộng củng cố sức mạnh quân sự ra bên ngoài, trước mắt là hạn chế các giải pháp quân sự của các quốc gia khác. Năm 2017, Trung Cộng xây dựng căn cứ Hải Quân tại Djibouti -quốc gia vùng Đông Phi- và sẽ thực hiện một căn cứ quân sự khác ở Cam Bốt. (tóm lược bài của Minh Anh trong e-mail tmyloan@..... ngày 23/6/2022)
Thật sự thì năm 2022 này, Trung Cộng đang canh tân căn cứ Hải Quân Ream của Cam Bốt -sát Hà Tiên của Việt Nam- và Trung Cộng sẽ sử dụng phần lớn căn cứ này sau khi hoàn tất canh tân.
(2) 10 quốc gia bên bờ vực phá sản đều là thành viên “Một Vành Đai Một Con Đường”.
Theo hãng tin AP, Sri Lanka không phải là nền kinh tế duy nhất gặp khó khăn nghiêm trọng. Nhiều quốc gia trên thế giới, bao gồm: Lào, Pakistan, Venezuela, Guinea, và Việt Nam, đều lên tiếng báo động.
Áp lực kinh tế đã thúc đẩy làn sóng biểu tình, việc vay nợ lãi suất cao ngắn hạn để cung cấp tiền cho các gói cứu trợ COVID-19, đã chồng chất thêm nợ cho các quốc gia, vốn đang phải vật lộn để lo trả nợ. Theo tài liệu của Liên Hiệp Quốc, trong số các quốc gia nghèo nhất thế giới, có hơn một nửa quốc gia đang lâm vào cảnh khó khăn trả nợ, đến mức có nguy cơ vỡ nợ rất cao.
Nhìn vào tình hình trả nợ của các nước nghèo trong năm 2022 này, tài liệu từ Ngân Hàng Thế Giới cho thấy, các nước nghèo nhất thế giới phải trả tổng cộng 35 tỷ mỹ kim nợ cho các chủ nợ nhà nước và tư nhân trong năm nay, và 40% trong tổng số đó là trả cho Trung Cộng.
Dựa trên những con số tính toán này, các nước nghèo sẽ phải trả khoản nợ của Trung Cộng lên tới 14 tỷ mỹ kim. Đây chỉ là con số có thể thấy ở bề mặt, còn các khoản nợ tích lũy ẩn của Trung Cộng thì khó mà ước tính được.
Liệu có quốc gia nào phá sản như Sri Lanka không? Theo hãng tin AP điểm tên 10 quốc gia, gồm: Ai Cập, Afghanistan, Argentina, Lào, Lebanon, Myanmar, Pakistan, Thổ Nhĩ Kỳ, Việt Nam, và Zimbabwe, với nền kinh tế cũng đang trên bờ vực phá sản.
Trong số đó, dự trữ ngoại hối của Ngân Hàng Trung Ương Argentina thấp đến mức nguy hiểm, và tỷ lệ lạm phát năm nay ước tính sẽ vượt quá 70%.
Trong khi Ai Cập, gần 50% trong số 103 triệu người dân sống trong cảnh nghèo đói. Dự trữ ngoại hối ròng của nước này tiếp tục giảm, và các nước như Ả Rập Xê Út, Qatar, và Các Tiểu Vương Quốc Ả Rập Thống Nhất, đã cam kết cung cấp 22 tỷ mỹ USD tiền gửi, viện trợ, và đầu tư trực tiếp.
Với Việt Nam, tỷ lệ lạm phát ở Việt Nam đã vượt quá 70%, khiến đời sống của nhiều người lâm vào cảnh khó khăn.
Lào cũng rất thê thảm. Ngân Hàng Thế Giới cho biết, dự trữ ngoại hối của Lào hiện tương đương với giá trị nhập cảng chưa đầy hai tháng. Giá cả gia tăng, và tỷ lệ thất nghiệp có thể sẽ dẫn đến gia tăng nghèo đói.
Lebanon là một trong những quốc gia mắc nợ nhiều nhất thế giới, và nền kinh tế của nước này suy giảm 18% vào năm ngoái, dự báo năm nay gần như sẽ không tăng trưởng.
Tỷ lệ lạm phát ở Zimbabwe đã vượt quá 130% khiến đời sống của nhiều người lâm vào cảnh khó khăn, năm 2008, quốc gia này đã xảy ra siêu lạm phát lên tới 500 phần trăm (500%). Hiện nay tình trạng này liệu nó có lặp lại hay không, cũng là điều rất đáng lo ngại.
Ngoại trừ Sri Lanka, quốc gia được nhiều người biết đến vì rơi vào bẫy nợ “Một Vành Đai Một Con Đường”, và dẫn đến sự sụp đổ kinh tế trầm trọng hơn. Trong danh sách 9 quốc gia có thể phá sản mà hãng tin AP đã liệt kê, ngoại trừ Afghanistan muốn tham gia, nhưng Trung Cộng không trả lời. (Nguồn: Brahma Chellaney, “China’s Debt Trap Diplomacy”, Project Syndicate 23/01/2017, Biên dịch: Trịnh Ngọc Thao, và hiệu đính là Lê Hồng Hiệp, trong e-mail lien_minh_vaca@.......ngày 11/7/2022)
(3) Trung Cộng như đang rơi vào bẫy nợ do chính họ giăng ra.
Ông Bùi Mẫn Hân (Pei Minxin), một học giả thông thạo về tình hình Trung Cộng -đang sống tại Hoa Kỳ- nhận định rằng: “Với kế hoạch “Một Vành Đai Một Con Đường”, Trung Cộng đã đầu tư vào các quốc gia nghèo ở Phương Nam bắt đầu phát triển, đồng thời thực hiện kế hoạch cho các quốc gia này vay nợ trong 15 năm, với số tiền lên đến hằng trăm triệu mỹ kim. Trung Cộng đạt được lợi ích trước mắt, là những quốc gia đó ủng hộ Trung Cộng tại các tổ chức quốc tế, kể cả ủng hộ Trung Cộng trên hồ sơ Nhân Quyền.
Trong bài bình luận đăng trên Nikkei Asia, ông Bùi Mẫn Hân viết rằng: “Những quốc gia Phương Nam bắt đầu phát triển, đang đối mặt với tình trạng thiếu lương thực, khiến việc trả các khoản nợ đã vay của Trung Cộng ngày càng khó trả, dẫn đến tình trạng Trung Cộng như rơi vào “cái bẫy nợ” do chính họ giăng ra. Thậm chí, một số quốc gia có khoản nợ vay của Trung Cộng tích lũy chồng chất, chiếm ít nhất là 15% GDP của các quốc gia vay nợ”.
“Trung Cộng là chủ nợ lớn nhất đối với các quốc gia nghèo này, và gần 2/3 các khoản nợ của các quốc gia này là dành xây dựng cơ sở hạ tầng. Trong tình hình kinh tế suy thoái ngày nay, các công trình xây dựng hạ tầng , như: Đường thu lệ phí + Giang cảng hải cảng + Nhà máy điện, ..v..v… sẽ bị ảnh hưởng đến doanh thu do giảm lưu lượng và tiêu thụ điện, khiến khó có thể bù đắp để trả các khoản nợ vay của Trung Cộng.
“Thêm nữa, các khoản nợ vay của Trung Cộng thường bị Trung Cộng bắt buộc phải dùng tài nguyên làm thế chấp, nên rủi ro vỡ nợ trong thời kỳ suy thoái này sẽ tăng lên đáng kể. Nhu cầu giảm, sẽ khiến giá hàng hóa chủ lực giảm, hiện giờ chỉ ngoại trừ giá năng lượng như dầu là tăng cao, nhưng cũng không tăng thu nhập bao nhiêu để trả nợ”.
Ông Bùi Mẫn Hân bình luận tiếp: “Trung Cộng không có lựa chọn nào tốt để thoát khỏi “cái bẫy” mà họ đã giăng ra bằng số tiền rất lớn, vì trong thời kỳ khủng hoảng kinh tế mà Trung Cộng gây áp lực trả nợ lên các quốc gia vỡ nợ như Sri Lanka là vô ích. Nếu các khoản nợ của các quốc gia vay nợ bị hủy bỏ hoàn toàn, sẽ dẫn đến thiệt hại rất lớn đối với các ngân hàng quốc doanh của Trung Cộng. Vì vậy mà Trung Cộng nên miễn hoặc giảm các khoản nợ của các nước nghèo nhất. Đầu tiên và đặc biệt là ở cácquốc gia thu nhập thấp vùng Sahara Châu Phi. Các quốc gia vùng này, chiếm khoảng một nửa trong tổng số nợ mà Trung Cộng cho vay”.
Đoạn cuối của bài bình luận, ông Bùi Mẫn Hân viết: “Trung Cộng có thể lựa chọn giải pháp giảm lãi suất và tạm ngưng trả nợ, thậm chí kéo dài thời hạn cho vay để tránh nguy cơ vỡ nợ. Cuộc khủng hoảng năng lượng toàn cầu hiện nay do Nga xâm lăng Ukraine đã khiến lạm phát tăng vọt. Đồng thời với nền kinh tế thế giới đang bị bao phủ bởi nhiều mây mù, Trung Cộng nên chuẩn bị cho cuộc khủng hoảng bẫy nợ mà họ đã gài. Điều trớ trêu là kẻ gây ra những vấn đề này lại là Trung Cộng”.
Xin nhắc lại, Sri Lanka đã trở thành một điển hình cho “chính sách ngoại giao bẫy nợ” của Trung Cộng. Theo báo cáo của Nikkei, Trung Cộng đã nắm quyền kiểm soát các công trình cơ sở hạ tầng cao cấp của Sri Lanka, làm dấy lên lo ngại rằng nước này sẽ sớm trở thành thuộc địa của Trung Cộng.
Năm 2017, khi đến hạn trả nợ, Sri Lanka không có khả năng trả số nợ đã vay của Trung Cộng, đành phải giao quyền kiểm soát hải cảng nước sâu phía nam Hambantota cho Trung Cộng trong thời gian 99 năm. Nhưng khi Sri Lanka thay đổi lãnh đạo sau cuộc bầu cử, thì tân Tổng Thống Sri Lanka Gotabaya Rajapaksa, bày tỏ thái độ hủy bỏ hợp đồng này vì lợi ích quốc gia.
Hải cảng Hambantota cách thủ đô Colombo khoảng 240 cây số về phía đông nam và ở cực nam của đảo quốc Sri Lanka, do vị Tổng Thống thời ấy ký hợp đồng vay nợ của Trung Cộng lên đến 85%, với dự trù hoàn thành giai đoạn đầu tiên vào năm 2010, nhưng hiệu quả hoạt động của hải cảng không như mong đợi. Tờ Nikkei Asia cho rằng: “Hải cảng Hambantota đã trở thành một tiêu biểu cho “chính sách ngoại giao bẫy nợ” của Trung Cộng”.
Tháng 4/2022, Sri Lanka đã chánh thức tuyên bố: “Tất cả các khoản nợ ngoại quốc là không thể trả được”. Đến lúc ấy, tổng số nợ mà Sri Lanka vay của ngoại quốc lên đến 51 tỷ mỹ kim. Các khoản vay của Trung Cộng để xây dựng cơ sở hạ tầng chiếm khoảng 10%.
Bộ Ngoại Giao Trung Cộng đã dùng phương thức “chơi thái cực quyền” khi tuyên bố rằng: Hai quốc gia luôn hiểu và ủng hộ nhau, và chúng tôi đã và đang giúp Sri Lanka phát triển kinh tế và xã hội trong khả năng của mình, và sẽ tiếp tục làm như vậy trong tương lai”.
Nikkei Asia tiết lộ: “Trong thời kỳ nội chiến Sri Lanka, Trung Cộng đã “bán chịu” vũ khí cho chánh phủ Sri Lanka lên dến 1 tỷ 800 triệu mỹ kim, tính đến khi nội chiến kết thúc. Trung Cộng còn tuyên bố giúp đỡ xây dựng cơ sở hạ tầng với khoản vay đến 5 tỷ mỹ kim với lãi suất bình quân lên đến 3,3%, gần gấp 5 lần lãi suất mà Nhật Bản cho các quốc gia nghèo vay. Trong cùng thời gian, Trung Cộng còn lợi dụng danh nghĩa “Một Vành Đai, Một Con Đường“, để “đầu tư” 1 tỷ 400 triệu mỹ kim, và có kế hoạch thực hiện các công trình khai hoang gần bờ biển Colombo để xây dựng một trung tâm kinh doanh tối tân, với ý đồ nắm giữ các nguồn tài nguyên chiến lược của quốc gia này trong khu vực Ấn Độ Dương”. (tóm lược bản dịch Việt ngữ trong e-mail chinao...@googlegroups.com ngày 27/6/2022)
(4) Liệu Việt Nam có bị vỡ nợ như Sri Lanka không?
-Việt Nam học được gì?
Câu chuyện vỡ nợ của Lào và Srilanka đã cho thấy những mặt trái trong các công trình đầu tư khổng lồ trong sáng kiến “Một Vành Đai Một Con Đường” của Trung Cộng. Tại Việt Nam, mấy ngày gần đây, báo chí loan tin đường sắt Cát Linh - Hà Đông, sau hàng chục năm xây dựng vẫn kéo dài cho đến tháng 11/2021 mới bắt đầu hoạt động. Theo hãng tin AFP, thì sau thời gian hoạt động, đường sắt Cát Linh – Hà Đông đã lỗ nặng.
Ngoài công trình đường sắt Cát Linh - Hà Đông, còn rất nhiều công trình do Trung Cộng thực hiện có thể nằm trong ”Một Vành Đai Một Con Đường” nhưng không được lãnh đạo Việt Cộng công khai với người dân. Điều đó có nghĩa là còn rất nhiều khoản “nợ kín” mà lãnh đạo Việt Cộng vừa vay nợ của Trung Cộng vừa giao cho các doanh nghiệp Trung Cộng thực hiện.
Những sai lầm của Lào và Sri Lanka, đã cho thấy bài học kinh nghiệm khi một quốc gia vướng vào những khoản nợ với Trung Cộng mà công chúng không hề biết được tin tức, có nghĩa là chánh phủ đó không minh bạch với người dân.
-Việt Nam vay nợ của Trung Cộng bao nhiêu?
Mặc dù lãnh đạo Việt Cộng luôn khẳng định nợ công của Việt Nam vẫn trong phạm vi an toàn, nhưng theo báo cáo hồi đầu năm 2022 của Ngân Hàng Thế Giới cho biết, nợ công của Việt Nam năm 2020 chiếm 56.9 % GDP,và đây cũng là sát cạnh mức báo động đỏ.
Báo chí Việt Nam từ năm 2017 cho biết: “Theo tài liệu thống kê từ Hiệp Hội Doanh Nghiệp Cơ Khí Việt Nam đưa ra hồi năm 2014, trong tổng số 62 công trình xi măng của Việt Nam thực hiện theo hình thức BOT, trong số đó có 49 công trình mà các công ty Trung Cộng là tổng thầu. Tương tự, có tới 16/27 công trình BOT nhiệt điện cũng do các công ty của Trung Cộng là tổng thầu. Và hầu hết các công trình do công ty của Trung Cộng xây dựng, đều chậm từ vài tháng đến hai hay ba năm, nhất là và phẩm chất các công trình đều rất kém”.
Trong khi tài liệu của Ủy Ban Tài Chánh & Ngân Sách Quốc Hội Việt Cộng, cho biết: “Tính đến năm 2010, có đến 90% các công trình tổng thầu EPC của Việt Nam do nhà thầu Trung Cộng thực hiện, mà nhiều nhất là dầu khí, hóa chất, nhiệt điện than, dệt kim. Trong số đó có 30 công trình thuộc hàng trọng điểm quốc gia, với giá trị hằng tỷ mỹ kim. Nhưng, cho đến nay, số phận các công trình do Trung Cộng đầu tư này ra sao, không thấy lãnh đạo Việt Cộng minh bạch”.
Điều đáng chú ý là một trong các điều kiện để nhận vốn vay của Trung Cộng theo chương trình BRI, các quốc gia vay nợ phải chấp nhận thuê các tổng thầu là công ty nhà nước Trung Cộng, thậm chí phải chấp nhận đưa các công nhân Trung Cộng và gia đình họ sang Việt Nam.
Tính đến tháng 11/2020, Trung Cộng đầu tư tổng cộng 18 tỷ mỹ kim vào Việt Nam với khoảng 3.087 công trình FDI của Trung Cộng trên khắp lãnh thổ Việt Nam, đặc biệt là những công trình dọc theo biên giới, dọc theo ven Biển Đông, các thành phố đông dân, để trước mắt thuận lợi cho họ nhập cảng hàng hóa, nhất là thuận lợi cho các gia đình công nhân của họ có chỗ ở.
Với số tiền 18 tỷ mỹ kim mà Trung Cộng đầu tư vào Việt Nam, nhưng theo đánh giá của các chuyên gia nghiên cứu thị trường, thì vốn đầu tư của Trung Cộng đổ vào Việt Nam còn lớn hơn nhiều, vì các nhà đầu tư của Trung Cộng không phải chỉ có nguồn vốn bằng tiền, mà nguồn vốn còn là máy móc, dụng cụ, sản phẩm trong nhu cầu của các công trình, ..v..v.. Nhưng, những tin tức đó mà người dân cần biết, lại không được lãnh đạo Việt Cộng công khai.
-Liệu Việt Nam có vỡ nợ không?
Hàng loạt những vụ mà Công An bắt giam điều tra các nhân vật cao cấp trong hệ thống chính trị Việt Nam trong thời gian qua, và ngay trọng hiện tại, đã cho thấy tham nhũng trong bộ máy của đất nước này ghê gớm đến mức nào. Và trong các vụ án tham nhũng tày trời đó, có bao nhiêu vụ liên quan đến Trung Cộng? Nếu không có giải pháp hữu hiệu và minh bạch tin tức về các công trình đầu tư của Trung Cộng tại Việt Nam, thì ngày mà Việt Nam vỡ nợ như Lào và Sri Lanka là điều không tránh khỏi.
Nhận định chung.
Trong số 10 quốc gia thành viên “Một Vành Đai Một Con Đường” của Trung Cộng, tôi tin là không quốc gia nào lệ thuộc Trung Cộng như lãnh đạo Việt Cộng đâu, vì lãnh đạo Việt Cộng cai trngười dân ị theo chế độ độc tài độc ác, nên họ bám sát lãnh đạo Trung Cộng trên mọi lãnh vực xã hội, ngang qua những Hiệp Ước Hợp Tác mà lãnh đạo Việt Cộng ký với Trung Cộng trong chuyến gọi là lãnh đạo Việt Cộng sang thăm Trung Cộng ngày 12/1/2017, và dưới đây là 9 trong số 15 văn kiện rất có thể là liên quan đến vấn đề sáp nhập vào Trung Cộng, như sau:
1. “Thỏa thuận hợp tác đào tạo cán bộ cấp cao giữa lãnh đạo Việt Cộng với lãnh đạo Trung Cộng”. Sẽ không bao giờ có chuyện "hợp tác song phương”, mà phải hiểu là “chỉ có hợp tác một chiều”. Liệu có phải Trung Cộng chuẩn bị nhân sự cho cuộc sáp nhập êm thắm không?.
2. “Bản ghi nhớ hợp tác giữa Ban Kinh Tế trung ương Việt Cộng với TrungTâm Nghiên Cứu Phát Triển Quốc Vụ Viện Trung Cộng”. Có nghĩa là Việt Nam phải ghi nhớ mọi hoạch định kinh tế của lãnh đạo Việt Cộng, sẽ là một phần trong toàn bộ kế hoạch phát triển kinh tế của Trung Cộng. Liệu có phải những kế hoạch kinh tế của Việt Cộng từng bước đi vào kế hoạch của Trung Cộng chăng?
4. ”Công thư trao đổi về việc hỗ trợ kỹ thuật lập quy hoạch đường sắt tiêu chuẩn Lào Cai - Hà Nội - Hải Phòng”. Khi một dự án nằm trong lãnh thổ Việt Nam được đưa vào "văn kiện hợp tác", liệu có phải Trung Cộng đang biến lãnh thổ Việt Nam từng bước trở thành lãnh thổ Trung Cộng chăng?.
5. “Tuyên bố tầm nhìn chung về hợp tác quốc phòng giữa Bộ Quốc Phòng Việt Cộng với Bộ Quốc Phòng Trung Cộng đến năm 2025”. Phải chăng, hai Bộ Quốc Phòng chỉ là một, trên một lãnh thổ?
6. “Hiệp định khung hợp tác cửa biên giới đất liền giữa Bộ Quốc Phòng Việt Cộng và Tổng Cục Hải Quan Trung Cộng”. Quan thuế cũng theo kế hoạch chung do Trung Cộng lãnh đạo?
. . . . . . . . . . . . . . .
9. “Kế hoạch hợp tác du lịch Việt Nam-Trung Hoa giai đoạn 2017-2019”. Liệu đây có phải là “tập dượt” cho những bước để người Việt Nam và người Tàu quen dần với văn hóa Tàu ngang ngược, thô lổ sơ khai, dần theo thời gian sáp nhập vào nước Tàu chăng?
10. “Thỏa thuận hợp tác giữa nhà xuất bản Sự Thật của Việt Cộng với nhà xuất bản Nhân Dân của Trung Cộng giai đoạn 2017-2021”. Đây là một nâng cấp để nhà xuất bản Sự Thật tại Hà nội sẽ xuất bản theo lệnh của Bắc Kinh.
11. “Bản ghi nhớ về việc hợp tác làm phim truyền hình chuyên đề “Sức lôi cuốn của Việt Nam - sức lôi cuốn của Trung Hoa” giữa đài truyền hình Việt Cộng và đài truyền hình Trung Cộng. Sự hợp tác được hiểu là một chiều như sự hợp tác của nhà xuất bản vậy.
12. “Thỏa thuận hợp tác giữa Đài Phát Thanh trung ương của Việt Cộng và Đài Phát Thanh trung ương của Trung Cộng”.Sự hợp tác về phát thanh, cũng trong trường hợp hợp tác về truyền hình..
Các văn kiện 10, 11, và 12 trên đây cho phép nhận định rằng, phim ảnh + sách báo + phát thanh + phát hình, bên ngoài là hai quốc gia cộng sản, nhưng nội dung là của Trung Cộng.
Tuy là dùng chữ hợp tác, nhưng Các Anh có nghĩ rằng Trung Cộng có chấp nhận cho chuyên viên Việt Nam do lãnh đạo Việt Cộng đưa sang Trung Cộng hợp tác vớí họ không? Tôi hoàn toàn không tin điều đó, mà chỉ có chuyên viên Trung Cộng sang Việt Nam vào từng cơ quan gọi là hợp tác để chuyển dần quyền quản trị cho họ theo Biên Bản Thành Đô ngày 4/9/1990.
Vì vậy mà lãnh đạo Việt Cộng ôm chặt chân của lãnh đạo Trung Cộng, rồi theo từng thời gian lãnh đạo Việt Cộng sẽ tuyên bố vỡ nợ, rồi giao dần “tài sản thế chấp” cho Trung Cộng. Cuối cùng là giao Việt Nam cho Trung Cộng, miễn là còn đảng cộng sản Việt Nam -dưới tên gọi gì đó- là đúng theo lời của Tổng Bí Thư Nguyễn Văn Linh nói trong hội nghị các lãnh đạo Việt Cộng, trước khi ông sang Thành Đô thuộc tỉnh Tứ Xuyên họp với Trung Cộng ngày 3 và 4/9/1990: “Tôi cũng biết rằng, dựa vào Trung Quốc sẽ mất nước, nhưng thà mất nước còn hơn mất đảng”.
Các Anh thấy rõ chưa? Là một Tổng Bí Thư đảng cộng sản Việt Nam mà tuyên bố như vậy, chính xác, ông ta không phải là con người, chớ chưa nói đến con người Việt Nam.
Kết luận.
Bây giờ tôi muốn Các Anh nhận ra sự suy yếu của lãnh đạo Việt Cộng, mà những đoạn dưới đây do tôi trích dẫn trong bài viết “Lời Bộc Bạch Của Một Đảng Viên” -tác giả xin giấu tên vì rất nguy hiểm- mà tôi nghĩ là Các Anh sẽ dễ cảm thông với tác giả, vì tôi tin là từ chiều sâu tâm hồn của Các Anh cũng giấu kín một tâm trạng như vậy, mà cũng có thể là hơn thế nữa để tiến đến phối hợp với xã hội dân sự, chớ không phải chống lại.
Vào bài, người đảng viên này ”bộc bạch” nhưng nỗi sợ hãi vẫn hiện rõ: “...Tôi nghe được những thằng bạn làm bên an ninh nói rằng, đang thực hiện những chỉ thị của cấp trên rất quyết liệt để tìm ra dấu vết tông tích của những blogger “có vấn đề” để có cách giải quyết thích đáng. Tôi thực sự sợ, có lẽ là tôi hèn nhát”.
Nhưng, sau phút sợ hãi, người đảng viên tác giả tỏ ra cứng rắn, dù sợ hãi vẫn còn đó: “Hôm nay tôi muốn viết. ... Tôi cảm nhận rõ ràng một sự thôi thúc phải nói ra những gì mình suy nghĩ cho nhiều người đọc, ... nhưng thật tình là tôi rất run sợ khi post bài này. Tôi không phải là người dũng cảm, nhưng tôi thấy mình cần làm điều đó. Và tôi cũng chỉ có nơi này để viết, để nói ra được sự thật, blog là nơi duy nhất ở xã hội này người ta có thể nói thật, còn lại đều là dối trá. Dối trá với chính mình, và dối trá với mọi người”
“Tôi đã gần 50 tuổi đời, trong đó có 15 tuổi đảng, đang làm cho một viện nghiên cứu của nhà nước. Thật lòng là tôi đã nghĩ đến việc ra khỏi Đảng nhưng lại không dám thực hiện, vì tôi không đủ can đảm..... Lương hai vợ chồng cộng lại hơn chục triệu. Riêng tôi mỗi năm được thêm vài công trình nghiên cứu, chia ra cũng được khoảng 30-40 triệu đồng. Số tiền này là bổng lộc mà cấp trên ban phát, vì nghiên cứu cho có, xong là cho vào tủ, điểm chính là viết theo ý muốn cấp trên, rồi lập hội đồng khen nhau mấy câu là xong.
Giàu thì chủ yếu là các sếp lớn, vì đề tài nghiên cứu nào các sếp cũng có tên để chia tiền dù chẳng làm gì, có khi cũng chẳng nhớ nổi cái tên đề tài.
Nếu lên được trưởng phòng thì không phải lo tiền bạc, vì người ta “cúng” cho mình. Do vậy mà trong nội bộ đấu đá giành giật nhau ghê lắm.... Muốn ngoi lên phải có nhiều thủ thuật, phải biết luồn cúi thật giỏi, chà đạp người khác mà lương tâm không hề cắn rứt.... Chuyên viên như tôi -dù là được xếp vào ngạch cao cấp- bây giờ toàn phải nói dối như vẹt, nói dối đến mức mất tư cách mà chẳng biết phải làm sao. Giờ mới thấy mình hèn nhưng đã muộn.... Đảng viên như tôi, bây giờ chiếm đến 95%, đa số tuyệt đối trong Đảng.
“.... Tôi đang đứng trước một trạng thái chông chênh, giữa những lựa chọn không dễ dàng: theo thói xấu của xã hội để sống, hay tham gia vào những sự thay đổi của người khác làm xã hội tốt hơn, nhưng nhiều lần tôi đã không vượt qua được chính mình. .... Gần đây tôi bắt đầu tin dần vào những gì vô hình như là định mệnh, số phận, vận nước... nhưng có lẽ niềm tin là tâm linh không phải biện chứng khoa học. Do vậy, tôi hy vọng như nhiều người dân đang hy vọng, hồn thiêng sông núi sẽ phù hộ cho vận mệnh của đất nước”.
“.... Nhà cầm quyền hiện nay làm ra vẻ chống đối và mạnh tay với những người đấu tranh cho dân chủ, nhân quyền, nhưng thực ra họ rất mong những người đấu tranh này lao vào những mục tiêu như vậy... Những gì thiết thực đối với quần chúng thì rất nhiều, nhiều vô kể, không thể nhắm đến tất cả trong một lúc được. Những con người sáng suốt sẽ nhận ra một vài điểm thật quan trọng từ những nhu cầu đó, nhấn mạnh nó, giương cao nó lên làm ngọn cờ để tạo ra động lực cho đa số dân chúng, tạo ra lực lượng và thế lực thay đổi xã hội hiện nay. Điều đáng mừng là một vài năm gần đây đã thấy xuất hiện những người có tầm nhìn như vậy, nhìn được những mấu chốt từ những gì rất thiết thực. Tôi có hân hạnh được trao đổi với những người như vậy trên blog, và cảm nhận được sức mạnh của họ cho dù họ không nói gì về điều đó”.
Tôi bảo đảm rằng, khi có một sự thay đổi thì bọn người này sẽ trốn chạy đầu tiên,hoặc quay ngoắc lại để theo lực lượng mới.... Sự sụp đổ và thay đổi là không thể tránh khỏi, nhiều người bảo rằng sẽ rất nhanh, nhưng cũng có người bảo rằng sẽ chưa thể trong một hai năm nữa. Tôi thì nghĩ điều đó không tùy thuộc vào Đảng, vào Nhà Nước nữa, vì ngoài khả năng của họ rồi. Nó tùy thuộc vào lực lượng thay đổi có thể hành động lúc nào thì lúc đó sẽ có sự thay đổi... Tạm biệt mọi người, cũng có thể là tôi vĩnh biệt…. Tôi đã thực sự ân hận vì đã vào Đảng”.
Cũng vì vậy mà tôi vững tin là khi Trung Cộng thật sự suy yếu, hoặc ngay trong hàng ngũ lãnh đạo Việt Cộng hỗn loạn, thì đó là cơ hội giúp Các Anh cùng đồng bào đứng lên diệt trừ chế độ độc đảng độc tài trên quê hương Việt Nam, trong khi Cộng Đồng Tị Nạn Việt Cộng tại hải ngoại chúng tôi rất nhiều thuận lợi để vận động các quốc gia trợ giúp chúng ta cùng xây dựng chế độ Dân Chủ Tự Do và phát triển toàn diện, cùng lúc hòa nhập vào cộng đồng thế giới. Từ đó, người Việt Nam chúng ta sẽ ngẫng cao đầu giữa thế giới văn minh lịch sự, được hãnh diện trước những người ngoại quốc đến Việt Nam du lịch, tìm hiểu nếp sống văn hóa dân tộc với chiều dài lịch sử ngàn năm trước đã lừng danh thế giới.
Các Anh còn chần chờ gì nữa .... Lịch sử Việt Nam sẳn sàng đón nhận Các Anh như những anh hùng của thời cổ đại, đến thời cận đại, rồi thời đương đại, và đầu thế kỷ 21 này.
Hãy nhớ, “Tự do, không phải là điều đáng sợ, mà là nền tảng cho sự thịnh vượng của đất nước. Không có dân chủ, không thể có sự trỗi dậy và phát triển bền vững. Muốn được sống trong Tự Do Dân Chủ, chính chúng ta phải tranh đấu, vì Tự Do Dân Chủ không phải là quà tặng./.
Texas, ngày 20 tháng 7 năm 2022
Phạm Bá Hoa
!~~~~~~~~~~~~~~~~~~~~~~~~~~~~~~~~~~