Thư số 146a gởi Người Lính Quân Đội Nhân Dân Việt Nam
Phạm Bá Hoa
Tôi là người Việt Nam. Chào đời năm 1930 tại Đại Ngãi, quận Kế Sách, tỉnh Sóc Trăng. Phục vụ quân lực Việt Nam Cộng Hòa từ ngày 12/5/1954 đến Giờ Thứ 25 ngày 30/4/1975. Sau ngày tang thương này, lãnh đạo Việt Cộng đẩy tôi vào trại tập trung trên đất Nam ngày 14/6/1975, chuyển đến trại tập trung trên đất Bắc ngày 16/6/1976, ra khỏi trại tập trung ngày 9/9/1987 về đến nhà ở Sài Gòn chiều ngày 12/9/1987. Rời khỏi Việt Nam đầu tháng 4/1991 đi tị nạn Việt Cộng trong đợt H05, và đang sống tại Hoa Kỳ. Tôi chưa bao giờ, và sẽ không bao giờ về Việt Nam khi Việt Cộng độc tài còn cai trị quê hương tôi.
Ước mơ của tôi là được trở về Việt Nam sống trên quê hương cội nguồn của mình dưới chế độ dân chủ tự do. Vì vậy mà ước mơ đó luôn thúc đẩy tôi tổng hợp các tin tức và chọn lọc vào nội dung, giúp Các Anh và những thành phần yêu chuộng dân chủ tự do có nét nhìn rộng hơn và rõ hơn, về chế độ độc tài + gian trá + tự cao + tham nhũng, về những sự kiện trên thế giới liên quan trực tiếp lẫn gián tiếp đến mục tiêu ngăn chận tham vọng thống trị thế giới của Trung Cộng, mà Hoa Kỳ và một số quốc gia phát triển đang thực hiện. Và khi lãnh đạo Việt Cộng tự suy yếu, hoặc Trung Cộng bị suy yếu thì lãnh đạo Việt Cộng không còn chỗ dựa, đó là cơ hội cho Các Anh và toàn dân đứng lên giành lại Quyền Làm Người của mình, nối tiếp dòng lịch sử oai hùng của dân tộc từ ngàn năm trước.
Là Người Lính trong Quân Đội gắn liền với hai chữ “Nhân Dân”, phải hiểu là Các Anh có trách nhiệm bảo vệ Nhân Dân, bảo vệ Tổ Quốc, vì Tổ Quốc với Nhân Dân là trường tồn, trong khi đảng cộng sản hay bất cứ đảng nào cầm quyền cũng chỉ một giai đoạn của lịch sử. Ngay cả Cộng Sản Quốc Tế là Liên Xô như đang chờ nắm quyền thống trị thế giới vô sản, đã phải sụp đổ từ đầu năm 1991 vì bản chất độc tài độc ác của cộng sản. Cộng sản Liên Xô sụp đổ, kéo theo nhóm quốc gia cộng sản vùng Đông Châu Âu cùng sụp đổ.
Chưa hết, Các Anh hãy nhớ lại vào nửa thế kỷ trước đó, phát xít Đức bắt đầu chiến tranh xâm lăng Ba Lan từ tháng 10/1939 và chiếm gần hết Châu Âu, trong khi phát xít Nhật bắt đầu chiến tranh với Hoa Kỳ từ tháng 12/1941 và chiếm gần hết các quốc gia vùng Đông Nam Châu Á, nhưng đến nữa cuối năm 1945 thì cả Đức lẫn Nhật phải gục ngã -vì họ là chế độ độc tài với tham vọng thống trị thế giới, không thể tồn tại dài lâu- trước thế giới tự do do Hoa Kỳ dẫn đầu. Và nội dung tôi gởi đến Các Anh được đặt trên căn bản đó.
Xin nói thêm cho rõ. Với những bài văn bài thơ của các tác giả ở trong nước, tôi xin sử dụng chữ viết truyền thống thay thế chữ viết thời Việt Cộng, ngoại trừ những nhóm chữ thời Việt Cộng mà tôi không hiểu nghĩa.
Với lá thư này, tôi tóm luợc những bản tin liên quan đến:
(1) Hoa Kỳ & Philippines & Australia với Trung Cộng trên hồ sơ Biển Đông.
(2) Trung Cộng đang thu nợ từ các nước nghèo trong “Vành Đai & Con Đường” BRI.
(3) Chủ Tịch Trung Cộng thăm Tổng Bí Thư Việt Cộng.
(4) Những ngày cuối cùng củaSông MéKong hùng vĩ.
(5)Xã hội Việt Nam thời Việt Cộng nói láo toàn tập.
(1) Hoa Kỳ & Philippines & Australia với Trung Cộng trên hồ sơ Biển Đông.
Ngày 25/11/2023, Bộ Tư Lệnh chiến khu phía nam của quân đội Trung Cộng lên tiếng: “Phản đối khu trục hạm Hoa Kỳ xâm nhập vùng Biển Đông thuộc chủ quyền của chúng tôi mà không xin phép trước. Vì vậy, chúng tôi phải điều động Hải Quân và Không Quân theo dõi và xua đuổi ra khỏi khu vực. Sự hiện diện của Hải Quân Hoa Kỳ trong vùng biền này là một yếu tố dẫn đến rủi ro”.
Theo tin của Reuters: “Trung Cộng khẳng định chủ quyền với gần 90% diện tích Biển Đông, đường hàng hải huyết mạch đối với giao thương quốc tế. Trung Cộng tranh chấp chủ quyền biển đảo với Philippines, Việt Nam, Malaysia, Indonesia, và Brunei. Phán quyết của Tòa Án Trọng Tài La Haye năm 2016 đã khẳng định, Trung Cộng không có cơ sở pháp lý khi tự vẽ bản đồ 9 đoạn để “đòi hỏi chủ quyền lịch sử” mà không có gì chứng minh.
Ngày 26/11/2023, phát ngôn viên Hạm Đội 7 của Hoa Kỳ khẳng định: “Chúng tôi thực thi quyền tự do lưu thông ở Biển Đông trong khuôn khổ luật pháp quốc tế, sự kiện khu trục hạm USS Hopper có trang bị hỏa tiễn dẫn đường hoạt động gần quần đảo Hoàng Sa là hoàn toàn hợp pháp”.
Vẫn hãng tin Reuters của Anh quốc cho biết: “Trong thông cáo Hạm Đội 7 của Hoa Kỳ (còn có tên Hạm Đội Thái Bình Dương) khẳng định: “Những đòi hỏi chủ quyền bất hợp pháp với quy mô lớn tại Biển Đông, chính là mối đe dọa an ninh nghiêm trọng Biển Đông nhắm vào quyền tự do lưu thông hàng hải. Hoa Kỳ thách thức những đòi hỏi quá đáng về chủ quyền trên biển ở mọi nơi trên thế giới, bất luận danh tính các bên liên quan là quốc gia nào.
“Trung Cộng đưa ra cáo buộc này vào lúc Phillippines và Australia bắt đầu cuộc tuần tra song phương trên Biển Đông lần đầu tiên từ hôm qua -25/11/2023- và trước đó Hải Quân Phillippines đã mở các cuộc tuần tra chung với Hải Quân Hoa Kỳ. Trung Cộng từng lên án Philippines mở cửa Biển Đông cho các Hải Quân ngoại quốc vào gây rối”.
Theo hãng tin AFP, trong một bản tuyên bố chung, Bộ Quốc Phòng Australia và Philippines khẳng định: “Đợt tuần tra chung kéo dài 3 ngày, nhằm chứng tỏ “cam kết bảo đảm tự do hàng hải và hàng không, theo đúng luật pháp quốc tế”. Trong khi Tổng Thống Philippines Ferdinand Marcos Jr. tuyên bố rằng: “Đợt tuần tra chung này biểu hiện cụ thể mối bang giao chiến lược và quốc phòng, ngày càng chặt chẽ giữa hai quốc gia”.
Trong cuộc tập trận chung này, Philippines điều động 2 chiến hạm và 5 phi cơ giám sát, trong khi Australia có chiến hạm HMAS Toowoomba và phi cơ giám sát biển P-8A đến vùng biển Philippines.
Theo lời phát ngôn viên Bộ Quốc Phòng Philippines: “Đợt tuần tra chung trên biển được thực hiện bên trong vùng đặc quyền kinh tế của Philippines”.
Hãng tin AFP nhắc lại rằng: “Tháng 9/2023, Thủ Tướng Australia Anthony Albanese và Tổng Thống Philippines Ferdinand Marcos Jr. đã ký Hiệp Định “hợp tác chiến lược song phương trên nhiều lãnh vực, từ an ninh quốc phòng đến giáo dục và chống biến đổi khí hậu. Đợt tuần tra chung Philippines – Australia diễn ra sau một đợt tuần tra tương tự giữa Philippines với Hoa Kỳ cách đây vài ngày tại vùng Biển”. Đông. (tóm lược bài của Thanh Hà trong e-mail diendantuoihac ngày 26/11/2023)
(2) Trung Cộng đang thu nợ từ các nước nghèo trong BRI.
Bắt đầu từ năm 2001 và bao gồm Sáng Kiến Vành Đai & Con Đường (BRI) bắt đầu vào năm 2013, Trung Cộng đã cho 165 quốc gia vay nợ để thực hiện gần 21.000 dự án, và do các công ty của Trung Cộng thực hiện. Đây là các quốc gia có thu nhập thấp hoặc thu nhập trung bình. Tổng số nợ này lên đến 1.100 tỷ mỹ kim, và khoảng 75% trong số đó sẽ đến hạn thanh toán vào năm 2030.
Ban đầu, những dự án này được kỳ vọng sẽ thúc đẩy tăng trưởng GDP của các quốc gia vay nợ, với sản lượng kinh tế tăng lên cho phép họ thanh toán được các khoản vay. Nhưng, hầu hết các dự án chập chạp kéo dài thời gian mà chưa xong, trong khi những dự án hoàn thành nhưng hoạt động không hiệu quả nên không đạt được lợi nhuận như ước tính. Điển hình là “Hành Lang Kinh Tế Trung Cộng – Pakistan” (CPEC), từ lâu được xem là viên ngọc quý của BRI, tiếng Việt là “Một Vành Đai, Một Con Đường” (Nhất Đới, Nhất Lộ).
(Hải cảng Gwadar của Pakistan đang xây dựng. Hình chụp ngày 12/02/2013).
Sau một thập niên với 25 tỷ mỹ kim đã chi ra, CPEC vẫn chưa thực hiện được lời hứa phát triển cơ sở hạ tầng năng lượng của Pakistan, cũng như tu bổ và kết nối hải cảng Gwadar với Kashgar ở khu vực Tân Cương của Trung Cộng.
Vì Pakistan không trả nợ được, chủ nợ là Trung Cộng nắm quyền quản trị và điều hành hải cảng Gwadar trong 40 năm, đồng thời giúp cho Trung Cộng đường hàng hải thương mại rẻ hơn khi họ tiếp xúc với các quốc gia Á Rập. Người dân Pakistan phản ứng dữ dội, càng ngày càng xem Trung Cộng là bên hưởng lợi khiến Pakistan chìm sâu hơn trong nợ nần.
Các nhà kinh tế khẳng định rằng: “Tác động lan tỏa của việc thực hiện cơ sở hạ tầng CPEC là không đáng kể, trong khi tác động lên khoản nợ của Pakistan là rất lớn. Tính đến tháng 07/2023, 30% trong tổng số nợ mà Pakistan vay của các ngân hàng thương mại của Trung Cộng, trong khi đồng rupee đã mất giá đến 40% so với đồng mỹ kim, vì vậy mà việc thanh toán nợ càng khó khăn. Sự bất ổn kinh tế trong giai đoạn đầu của dự án, đã dẫn đến sự chậm trễ trong việc hoàn thành dự án, cũng là không thu được tiến nên không có tiền để trả nợ. Trước sự thất vọng của nhiều người Pakistan, giai đoạn tiếp theo của CPEC lại sắp bắt đầ, trong khi nhiều đợt đảo nợ, cùng với các khoản vay bổ sung làm tăng thêm số nợ hiện tại”.
Những câu chuyện tương tự có thể được nghe thấy ở các quốc gia thành viên khác của BRI. Toàn bộ 80% khoản nợ mà Trung Cộng cho các nước nghèo vay, là lý do tại sao phương Tây cáo buộc Trung Cộng là quốc gia cho vay với lãi suất cao, dẫn đến đồng tiền các quốc gia vay nợ bị giảm giá.
Trong giai đoạn đầu, BRI đồng nghĩa với các khoản vay đáng kể nhằm tài trợ cho các nỗ lực phát triển cơ sở hạ tầng, nhưng từ khi Trung Cộng mở rộng các khoản vay cứu trợ, thay vì chỉ tập trung vào các dự án cơ sở hạ tầng quy mô lớn, thì nhiều món nợ trong số các khoản vay cứu trợ này dần dần chuyển sang hợp tác với các tổ chức tài chánh truyền thống.
Trung Cộng là nguồn tài chánh phát triển hàng đầu thế giới, chi tiêu nhiều hơn bất kỳ quốc gia nào trong Nhóm G7. Tuy nhiên từ năm 2021, các quốc gia thành viên G7 đã bắt đầu chi tiêu nhiều hơn Trung Cộng với mục đích tạo ra một giải pháp thay thế cho sáng kiến BRI của Trung Cộng.
Tại hội nghị thượng đỉnh BRI vào tháng 10/2023, Chủ Tịch Trung Cộng Tập Cận Bình đã nói rằng: “Chúng tôi đang giảm thiểu rủi ro đầu tư, tập trung vào các khoản đầu tư phẩm chất cao với 100 tỷ mỹ kim”.
Tuyên bố như vậy, nhưng có vẻ như phần lớn số tiền này được dùng để giải cứu các dự án cũ, thay vì bắt đầu những dự án mới. Trung Cộng là chủ nợ, và đang trong vai trò đòi nợ bằng cách âm thầm tịch thu dự trữ ngoại tệ quá hạn của những quốc gia đã vay nợ, mà Trung Cộng nắm giữ “tài sản thế chấp trong tài khoản ký quỹ.
Khi thế giới phân cực về các vấn đề như chiến tranh Nga – Ukraine, hay xung đột Israel - Hamas, Trung Cộng đang mất dần vị thế ngoại giao, vì theo nhận định của AidData: “Trung Cộng nhiều thất bại hơn là thành tựu trong cuộc đấu tranh về quyền lực mềm chống lại Hoa Kỳ. Theo một nghiên cứu gần đây của Pew Research, hầu hết các quốc gia nghèo lẫn giàu, đều có cái nhìn thiện cảm với Hoa Kỳ hơn Trung Cộng, và khoảng cách này ngày càng mở rộng”.
Trong lịch sử, Hoa Kỳ đã từ chối chi tiêu nhiều hơn Trung Cộng để giành được ảnh hưởng toàn cầu. Trung bình, Trung Cộng đầu tư 80 tỷ mỹ kim hàng năm vào các nước đang phát triển, trong khi Hoa Kỳ chỉ đầu tư trung bình 60 tỷ mỹ kim. Hoa Kỳ hiện đang tăng cường chi tiêu ở ngoại quốc, trong đó DFC chứng kiến các hoạt động ở ngoại quốc tăng gấp 15 lần. Ngoài ra, Liên minh Âu Châu, Nhóm G7, và các quốc gia phát triển khác, đang bắt đầu thực hiện các giải pháp để thay thế BRI của Trung Cộng, chẳng hạn như dự án “Cửa Ngõ Toàn Cầu”, dự án “Bang Giao Hợp Tác về Cơ Sở Hạ Tầng”, và dụ án “Đầu Tư Toàn Cầu”. (tóm lược bài của Vân Du biên dịch từ Epoche Times trong e-mail hieudchau ngày 27/11/2022)
(3) Chủ Tịch Trung Cộng thăm lãnh đạo Việt Cộng.
Chủ Tịch Trung Cộng Tập Cận Bình thăm lãnh đạo Việt Cộng ngày 12 và 13/12/2023, trước khi kết thúc, lãnh đạo Việt Cộng và lãnh đạo Trung Cộng cùng ký Bản Tuyên Bố Chung, với những điểm chính trong nội dung bị chỉ trích mạnh mẽ. Xin tóm lược:
Giáo Sư Nguyễn Thị Hiền: “Lãnh đạo Việt Cộng thật là ngu xuẩn khi ký Tuyên Bố Chung với Trung Cộng, trong đó có đoạn: Hai bên đồng ý rằng, phát triển bang giao giữa các quốc gia cần tuân theo Hiến Chương Liên Hiệp Quốc, luật pháp quốc tế, và chuẩn mực căn bản của bang giao quốc tế, kiên trì tôn trọng lẫn nhau, bình đẳng, cùng có lợi, hợp tác cùng thắng, tôn trọng chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ của nhau, kiên trì giải quyết bất đồng thông qua biện pháp hòa bình...
“Vậy là lãnh đạo Việt Cộng chấp nhận quần đảo Hoàng sa, quần đảo Trường sa, và các vùng lãnh thổ của Việt Nam mà Trung Cộng đã chiếm, chánh thức là lãnh thổ của Trung Cộng.
“Toàn dân Việt-Nam không bao giờ tin vào lời tuyên bố của lãnh đạo Trung Cộng lẫn Việt Cộng. Nhất là giặc Tàu, kẻ thù truyền kiếp của nhân dân Việt Nam”.
Giáo Sư Phan Thị Độ: “Chúng tôi rất thán phục những lời phản đối mạnh mẽ của nhà báo JB Nguyễn Hữu Vinh và các nhà hoạt động, các nhà báo tự do, đã cho lãnh đạo Trung Cộng hiểu rằng, dân tộc Việt-Nam hiện nay vẫn có các Đại Anh Hùng Dân Tộc, chớ không hèn nhát như nhóm lãnh đạo Việt Cộng -Nguyễn Phú Trọng + Võ Văn Thưởng + Phạm Minh Chính- chỉ biết bảo vệ quyền lực và quyền lợi cá nhân, trước sự lấn chiếm lãnh thổ và lãnh hải Việt Nam. Tội ác tày trời của nhóm lãnh đạo Việt Cộng đáng bị tử hình thời hậu cộng sản.
Toàn dân Việt Nam phải thức tỉnh và hiểu rằng: ‘’Còn đảng cộng sản Việt Nam thì sẽ mất nước, và toàn dân Việt Nam sẽ bị Trung Cộng thống trị vô cùng tàn bạo. Toàn dân Việt Nam trong nước dũng cảm vùng lên -với sự yểm trợ chính trị, tinh thần, lẫn vật chất của Cộng Đồng Việt Nam tị nạn Việt Cộng tại hải ngoại- diệt trừ nhóm lãnh đạo Việt Cộng để giành lại Quyền Làm Người của mình ,rồi cùng nhau xây dựng chế độ dân chủ tự do, và phát triển đất nước theo nguyện vọng toàn dân. Mong lắm thay”.
Đại Anh Hùng Dân Tộc -nhà báo tự do JB Nguyễn Hữu Vinh- đã dũng cãm đăng ảnh mang biểu ngữ viết: “Tôi phản đối rước giặc vào nhà. Tập Cận Bình là tên xâm lược bẩn thỉu, cút đi”. Không phải chuyến thăm lần này mà chuyến thăm trước đây của Tập Cận Bình, chúng tôi cũng đã đến tận nơi để phản đối, ngay sau đó tôi bị Công An Hà Nội bắt nhốt vào đến tận chiều tối mới thả ra. Nhưng lần này, chúng tôi thấy rằng, không ai có thể ra được khỏi nhà vì bọn an ninh ngăn chặn tất cả. Không còn cách nào hơn là chúng tôi tỏ thái độ bất bình về chuyện rước giặc vào nhà, một tên xâm lược bẩn thỉu vào ngôi nhà của mình, cũng như đưa cả bà vợ Bành Lệ Viện là người đã cổ vũ cho đám quân xâm lược biên giới phía Bắc năm 1979”.
Trên trang mạng Facebook, nhiều nhà hoạt động, nhà báo tự do, đã bày tỏ sự phản đối chuyến thăm của ông Tập Cận Bình:
“Phản đối cộng đồng chung vận mệnh!!!
Phản đối sáng kiến Vành Đai & Con Đường!!!
Phản đối chuyến thăm Việt Nam của Tập Cận Bình!!!”
(trích trong e-mail phant...@gmail.com ngày 14/12/2023)
(4) Những ngày cuối cùng của Sông MéKong hùng vĩ.
*Sông MéKong hùng vĩ.
Sông MéKong trên bản đồ quốc tế, khi chảy vào Việt Nam chúng ta thì gọi là sông Cửu Long, lớn hàng thứ ba Châu Á và là thứ 11 trên thế giới. Phát nguyên từ Tây Tạng, dài 4.200 cây số, chảy qua Trung Hoa, biên giới Lào-Thái, rồi Cam Bốt, trước khi đổ vào Việt Nam với hai nhánh Tiền Giang và Hậu Giang, rồi đổ ra Biển Đông qua 9 cửa, là Định An, Ba Thắc, Trần Đề, Cửa Đại, Cửa Tiểu, Hàm Luông, Cổ Chiên, Cung Hầu, và cửa sông Ba Lai. Khoảng phân nửa chiều dài sông Mê Kông chảy ngang lãnh thổ Trung Hoa, có tên là Lạng Thương Giang.
Đồng bằng sông Cửu Long gồm 12 tỉnh, là: Tỉnh Long An (tức Long An và Kiến Tường cũ). Tỉnh Tiền Giang (tức Mỹ Tho cũ). Tỉnh Bến Tre. Tỉnh Vĩnh Long. Tỉnh Trà Vinh. Tỉnh Hậu Giang (Cần Thơ cũ). Tỉnh Sóc Trăng. Tỉnh Đồng Tháp (Sa Đéc và Kiến Phong cũ) Tỉnh An Giang. Tỉnh Kiên Giang. Tỉnh Bạc Liêu. Và tỉnh Cà Mau.
Vùng đồng bằng này do những trầm tích phù sa bồi đấp nhờ mực nước biển thay đổi qua nhiều thế kỷ, cũng từ đó mà hình thành những giồng cát dọc theo bờ biển như những con đê thiên nhiên.
Những hoạt động hổn hợp của sông và biển, đã tạo nên những vạt đất phù sa phì nhiêu dọc theo ven sông, ven biển, tạo nên những đầm mặn Cà Mau, những trũng thấp như Đồng Tháp Mười, Cái Sắn (Rạch Giá), và rừng U Minh (Cà Mau). Riêng rừng U Minh và quận Năm Căn, chịu ảnh hưởng của nước biển mặn, hình thành vùng ngập mặn với rừng cây đước và cây mắm.
Sông dài, mưa nhiều, nước chảy mạnh, nên lưu lượng trung bình của hai nhánh Tiền Giang và Hậu Giang khoảng 90.000 thước khối trong 1 giây đồng hồ. Cũng trong 1 giây đồng hồ đó, hai nhánh sông này chuyên chở khoảng 15 phần 10.000 trọng lượng phù sa cho đồng bằng sông Cửu Long -nhất là "cù lao" 3 tỉnh Sa Đéc, Vĩnh Long, và Vĩnh Bình- giúp cho vùng đất này mầu mở, ruộng đồng nương rẫy và vườn cây hoa trái tốt tươi (trích trong Wikipedia).
Năm 2021, theo tài liệu của Tổng Cục Thống Kê Việt Nam thì tổng diện tích các tỉnh thuộc đồng bằng sông Cửu Long là 40.548 cây số vuông, với tổng số dân là 17.330.900 người. Dù diện tích canh tác nông nghiệp chưa tới 30% của toàn quốc, nhưng sản lượng lúa thu được hơn 50% trong tổng sản lượng toàn quốc.
Vì vậy mà đồng bằng sông Cửu Long, là vùng xuất cảng gạo nòng cốt của Việt Nam. Ngoài ra, cây ăn trái và những đặc sản nổi tiếng của vùng này, vừa nhiều vừa đạt phẩm chất lẫn hương vị của từng loại.
*Sông Mékong không còn hùng vĩ.
Năm 2020, có khoảng gần 1.000.000 người dân vùng đồng bằng sông Cửu Long rời quê đi lao động ngoại quốc, vì mực nước Sông Mê Kong xuống thấp nên đất ruộng đất vườn bị nước biển xâm nhập vào. Tình cờ lướt báo điện tử “cafebiz.vn” đọc được bài “Muốn thoát nghèo, không nên chỉ quanh quẩn giữa lúa, trái cây, thủy sản” của Bộ Trưởng Bộ Nông Nghiệp & Phát Triển Nông Thôn Lê Minh Hoan. Bài viết cho thấy hằng năm Trung Cộng xuất cảng nấm và thu về 17 tỷ mỹ kim, đồng thời tạo công ăn việc làm cho 10 triệu người. Vùng đồng bằng Cửu Long chỉ cần chuyển đổi sang trồng nấm bằng 10% của Trung Cộng, cuộc sống người dân chắc hẳn sẽ sung túc.
Trước khi nhận chức Bộ Trưởng Bộ Nông Nghiệp, ông là Bí thư Tỉnh Ủy tỉnh Đồng Tháp, luôn trăn trở với ngành nông nghiệp của vùng đất trù phú này. Trong hội nghị Conect Mekong có sự tham gia của 4 tỉnh An Giang, Bến Tre, Cần Thơ, và Đồng Tháp, ông đã đề nghị với lãnh đạo các tỉnh nên nghiên cứu thay đổi mô hình phát triển nông nghiệp -thích hợp với biến đổi của sông MeKong- để giúp người dân thoát nghèo mà không phải tìm việc những nơi xa xôi.
Tác giả quyển sách “Những Ngày Cuối Cùng Của Dòng Mekong Hùng Vĩ” là Brian Eyler -người Hoa Kỳ, Giám Đốc Chương Trình Đông Nam Á của Trung Tâm Simson tại Washington DC- từng có hơn 15 năm sinh sống và làm việc tại Trung Cộng, với nhiệm vụ quản trị các Trung Tâm Du Học ở Bắc Kinh và Côn Minh, nên dẫn đầu nhiều chuyến viếng thăm học tập trên khắp khu vực sông Mekong.
Sách được viết theo dạng bút ký, là những tài liệu với những số liệu cụ thể được ghi chép lại một cách khách quan, tỉ mỉ. Ông đã dành hằng chục năm nghiên cứu dòng sông huyền thoại đã cưu mang cho cư dân dọc hai bên bờ sông, nhiều dân tộc sinh sống từ vùng Tây Tạng đầy băng tuyết giá lạnh, đến vùng đất Cửu Long đổ ra biển cả. Đó là sự diệu kỳ của tự nhiên được sắp đặt sẵn từ hàng triệu năm trước. Ngay khi sách “Những ngày cuối của dòng Mekong hùng vĩ” ấn hành, đã gây sự chú ý đặc biệt đối với những chuyên gia môi trường, và giới làm chính sách không chỉ tại Châu Á và Việt Nam.
Sách được trình bày qua 10 chương, gồm: (1) Vũ Băng, thiên đường hạ giới cuối cùng. (2) Xây đập trên thượng Mekong. (3) Thung lũng Nhĩ Hải. (4) Tộc Akha, người Zomia hiện đại. (5) Tam giác vàng đang thay đổi. (6) Lào, không gian tranh đoạt. (7) Xây đập ở hạ dòng Mekong. (8) Phnom Penh và hồ Boeung Kak. (9) Hồ Tonle sap. (10) Tương lai Đồng bằng sông Cửu Long”. 10 chương sách là 10 chặng của dòng sông Mekong từ nơi khởi nguồn đến nơi kết thúc đổ ra biển cả, tái dựng lại lịch sử của một dòng sông Mekong hùng vĩ đang chịu tác động bởi sự khai thác làm thay đổi môi trường sống đáng báo động.
Điểm thú vị của cuốn sách cho thấy: “Phần lớn người dân Trung Cộng không biết sông Lan Thương và sông Mekong là một, mà họ lại cho rằng đó là hai con sông hoàn toàn khác biệt, dẫn đến chuyện nhiều người ở Trung Cộng thắc mắc vì sao các nước hạ nguồn lại quá bận tâm đến cách Trung Cộng đối xử với sông Mekong.
Khi nhà báo kỳ cựu Đông Nam Á Tom Fawthrop thực hiện bộ phim tài liệu Where Have All the Fish (Cá đi đâu hết rồi), một nhà ngoại giao Trung Cộng phản bác rằng, những việc xảy ra trên sông Lan Thương chẳng ảnh hưởng gì đến sông Mekong, vì chúng là hai con sông khác nhau. Mãi đến năm 2011, một tai nạn xảy ra trên sông Mekong tại khu vực Tam Giác Vàng khiến 13 thương nhân Trung Cộng bị sát hại và báo chí quốc tế loan tin, lúc ấy người dân Trung Cộng mới biết rằng Lan Thương và Mekong là một.
Ngoài ra, tác giả cho biết: “Tuy dòng sông Mekong chảy qua Trung Cộng hơn một nửa chiều dài nhưng nó đóng góp chưa đến 20% lưu lượng nước, nhưng khi đến tỉnh Stung Treng thuộc vùng Đông bắc Campuchia, Mekong nhập với dòng 3S (Sekong, Sesan và Serepok) có đến hơn 80% lượng nước đổ về tạo ra một vùng phù sa trù phú với tổng sinh khối cá gấp 13 lần tổng số cá ở trong các sông ngòi và hồ chứa ở Bắc Mỹ cộng lại. Riêng Biển hồ Tonle Sap của Campuchia, đã chứa nhiều cá hơn cả lục địa Bắc Mỹ và ở cuối dòng, hơn 20 triệu người Việt Nam đang sống dựa vào canh tác nông nghìệp, ngư nghiệp trên vùng đồng bằng trù phú, tạo ra từ phù sa kết lắng do các dòng hạ lưu sông Mekong mang đến…
“Nói đến dòng Sekong, với tôi đó là những kỷ niệm trong vài lần đi công tác và du lịch ở tỉnh Stung Treng, Vương quốc Campuchia. Những buổi sớm mai, tôi thường đi dạo gần khu vực ngã ba sông để ngắm nhìn dòng sông chảy ngược nhập vào dòng Mekong hùng vĩ, khung cảnh thật bình yên thơ mộng, một bên là ngã ba sông, một bên là chiếc cầu uy nghi, sừng sững, do Trung Cộng tài trợ cho Campuchia. Sekong bắt nguồn từ dòng Serepok (Đắk Lắk, Việt Nam) chảy qua các tỉnh cao nguyên phía Nam Lào mang tên dòng Sesan và xuôi dòng vào Campuchia có tên là Sekong, và tại khu vực ngã ba sông này cho nhiều vô kể các loài cá to, rất ngon, và quý hiếm.
“Sau khi hai dòng sông được nhập lại, nước từ Mekong rất nhiều tạo dòng chảy mạnh, từ đây xuôi về đồng bằng sông Cửu Long với địa hình bằng phẳng, như là động mạch chủ bơm sức sống cho các vùng đất. Thế nhưng, các quốc gia đang được dòng Mekong nuôi dưỡng một cách bao dung và miễn phí, lại không hiểu được điều đó. Họ luôn tìm cách khai thác từng khúc sông chảy qua lãnh thổ của mình theo lợi ích của họ.
Tác giả phân tách: “Những dự án phát triển kinh tế mà không đề cao những lợi ích bền vững, gây tác động xấu đến hệ sinh thái. Như tại Campuchia, người dân đánh bắt cá “quá tay”, tiêu diệt triệt để nguồn cá và làm nguy hại đến sinh cảnh. Lào dự tính xây đập nước thứ sáu, do muốn trở thành trung tâm sản xuất điện đê bán cho nước lân cận. Các quốc gia thượng nguồn đều gây thiệt hại cho Việt Nam, và Trung Cộng là quốc gia đầu nguồn, xây nhiều đâp thủy điện và là những đập lớn, rất lớn, gây tổn hại cho các quốc gia hạ nguồn, là Thái Lan, Lào, Campuchia, nhất là Việt Nam cuối nguồn thiếu nước ngọt cho ruộng đồng, không còn phù sa cho cây trái, dòng sông ít cá, nước mặn tràn sâu vào nội địa, hạn hán ….
Chặng cuối của hành trình, tác giả dừng lại ở dồng bằng sông Cửu Long với những ghi nhận thực tế: “Đưa ra nhiều cảnh báo, đề nghị những phương án thích nghi khi khu vực sản xuất nông nghiệp lớn nhất ở Việt Nam, đang bị kẹp giữa các đập thượng nguồn và mực nước biển tràn sâu vào nội địa.
Ở đó, một miền Tây sông nước hiện ra, những cuộc gặp gỡ từ chuyên gia đến người nông dân, những cánh đồng ngập mặn, những người nông dân không thể sống nhờ mảnh vườn của mình, và cả những cánh đồng thiếu người thu hái, vì thanh niên đã bỏ quê đi nơi khác lập nghiệp...
Ngoài những phân tích, tác giả còn đưa ra những giải pháp hợp lý rằng: "Việt Nam là quốc gia cuối dòng Mekon, cần phải đấu tranh để đạt mức cân bằng trong hoạch định kết hợp nguồn năng lượng, để giúp các quốc gia láng giềng (như Lào, Campuchia) phát triển các cơ sở điện gió, điện mặt trời, và điện sinh học", thì tình hình có thể thay đổi đôi chút.”
“Hoặc Campuchia, với truyền thống làm nghề mắm bò hóc cũng là cách hay để dự trữ cá, tránh tình trạng khai thác bừa bãi quá mức làm tiêu diệt nguồn lợi thủy sinh mà Mekong đã hào phóng ban tặng.
“Cuối cùng, tác giả đề cập đến việc Campuchia với bản nghiên cứu khả năng thực hiện xây dựng đập thủy điện ở huyện Sambor, tỉnh Kratie 2.600 megawatt, nơi mà loài cá heo nước ngọt Irrawaddy lớn nhất thế giới đang sinh sống có nguy cơ tuyệt chủng.
“Nếu đập thủy điện Sambor chánh thức được xây dựng, thì “sẽ là chiếc đinh cuối cùng đóng vào cỗ quan tài để chôn cất dòng Mekong hùng vĩ”.
“Vì vậy, chúng ta cần bắt đầu ngay hôm nay, xem dòng sông và cảnh quan chung quanh như một hệ thống kết nối, và cùng nhau hành động để bảo tồn dòng Mekong hùng vĩ”. (tóm lược bài của Vũ Tiến Dương với hình của Andy Van trong e-mail Andy Van via TGNSgroups ngày 25/11/2023)
(5) Xã hội Việt Nam thời Việt Cộng toàn nói láo.
Không biết lịch sử ghi lại các triều đại phong kiến đúng sai như thế nào, cũng chẳng có cách nào để kiểm chứng. Thế nhưng, thời đại ta đang sống hoàn toàn nói láo. Rồi lịch sử thời đại này sẽ viết sao đây?
Thằng doanh nhân bán đồ giả làm giàu, cứ tưởng nó giỏi, hoá ra chẳng phải thế. Nó chỉ là kẻ “Treo đầu dê bán thịt chó”, mua 30.000 bán 600.000 không giàu sao được. Khi giàu lên, hàng ngày lên hệ thống internet dạy đạo đức, dạy bí quyết, dạy cách cư xử thế.
Cậu doanh nhân dùng hoá chất trộn vào thức ăn nước uống, khiến người ta nghiện chất độc, tạo thành thói quen nguy hiểm cho người dùng. Rồi khi có nhiều tiền, anh ta in sách dạy người ta suy nghĩ, dạy cho tuổi trẻ cách sống. Nuôi đội ngũ nhà văn nhà báo tung hô mình như thánh sống, tuyên bố như đấng khải đạo.
Ông kỹ Sư chuyên làm thép, nghĩ toàn chuyện xây dựng những công trình có hại cho dân, nhưng lúc nào cũng mặc áo lam, đeo tràng hạt, nói toàn chuyện Phật pháp.
Một tập đoàn làm nước mắm giả với toàn hoá chất, bỏ biết bao tiền để quảng cáo lừa dân, thế là tiền vô đầy túi.
Một tập đoàn khác mua hoá chất quá hạn để sản xuất nước uống, lừa những kẻ phát hiện sai sót của sản phẩm mình để đưa họ vào tù, lại chuyên nói lời có cánh..... Kẻ buôn gian bán lận, lại dạy cho xã hội đạo đức làm người!
Thời đại đảo lộn tất tần tật, vậy mà không thiếu kẻ tôn sùng, xem các ông ấy như tấm gương sáng để noi theo. Khi vỡ chuyện, hóa ra chúng toàn là nói láo. Tất cả đều nói láo để lừa đảo nhau.
Xã hội toàn nói láo. Ca sĩ nói láo theo kiểu ca sĩ, đạo diễn nói láo theo kiểu đạo diễn, diễn viên nói láo theo kiểu diễn viên. Ừ, thì họ làm nghề diễn, chuyên diễn nên láo quen thành nếp, lúc nào cũng láo. Thế nhưng có những kẻ chẳng làm nghề diễn, vẫn luôn mồm nói láo.
Thi gì cũng láo, từ chuyện thi hát đến thi hoa hậu, chỉ là một sắp đặt láo cả... Ngay chuyện từ thiện cũng toàn chi tiết láo để mua nước mắt mọi người. Cứ có chuyện là loanh quanh láo khoét. Kẻ buôn lớn láo, kẻ bán hàng rong ở bên đường cũng láo, toàn láo và láo liên tục.
Mỗi ngày mở truyền hình toàn nghe nói láo từ tin tức cho đến quảng cáo, rặt láo, chẳng những không ai phản ứng mà cứ dán mắt vào xem.
Thằng đi buôn nói láo đã đành, vì họ lừa lọc để kiếm lời. Thế mà Cô Hiệu Trưởng nhà trẻ, Anh Hiệu Trưởng trường cấp ba, Ông Viện Trưởng trường đại học, cũng chuyên nói láo. Thực phẩm cho các cháu có giòi, cô hiệu trưởng chối quanh... Các cháu học sinh đánh nhau như du côn, làm tình với nhau trong nhà trường, anh hiệu trưởng bảo là không phải. Tảng bê tông rớt chết sinh viên, ông hiệu trưởng bảo là tự tử. Thế rồi tất cả đều chìm, đều im im ỉm. Người ta đồn tiền hàng đống đã lót tay bộ phận quyền lực để rồi để lâu cứt trâu hoá bùn.
Mấy ngài lãnh đạo lại càng nói láo tợn. Chỉ kể vài chuyện gần đây thôi, chứ kể mấy sếp nhà ta phát biểu láo thì thành truyện dài nhiều tập. Từ chuyện quốc gia đại sự cho đến chuyện hưng vong của tổ quốc, toàn chuyện quan trọng đến vận mệnh quốc gia, thế nhưng dân toàn nghe láo. Kẻ thù mang tham vọng, âm mưu để biến nước ta thành chư hầu, chuyện này rõ như ban ngày, ai cũng thấy, ai cũng hiểu, thế mà các quan toàn nói tào lao, láo lếu, vì chấp nhận cúi đầu làm nô lệ để được quyền cao chức trọng.
Đến chuyện Formosa, khi biển nhiễm độc, cá chết, các quan bày lắm trò láo để mị dân, lấp liếm tội ác của thủ phạm, tuyên bố, họp báo, trình diễn ăn hải sản, ở trần tắm biển...tất cả đều rặt láo, vì tiền đã bỏ túi.
Rồi chuyện BOT với các trạm đặt không đúng chỗ cho đến mở rộng phi trường Tân Sơn Nhất, các quan ở Bộ Giao Thông lại được dịp nói láo, tuyên bố rùm beng để bênh vực những tập đoàn và cá nhân vi phạm, vì tiền đã bỏ túi.
Khi vụ thuốc giả của VN Pharma nổ ra, cả một hệ thống truyền thông của Bộ Y Tế -kể cả các quan chức cấp bộ- đều tuyên bố láo, tìm mọi cách che giấu tội ác của những tên buôn thuốc giả, vì tiền đã bó túi.
Rừng Sơn Trà quý hiếm, các ông vì tư lợi cá nhân, ra lệnh xây cất, chấp nhận nhiều dự án khai thác, các nhà chuyên môn, nhân dân phản ứng dữ quá, các ông bắt đầu chiến dịch nói láo tìm kế hoãn binh.
Đến chuyện cá nhân của các quan thì lại càng nói láo hơn nữa ... Ông bí thư xây biệt phủ như cung điện của vua chúa ở xứ nghèo, phải sống nhờ trợ cấp của chánh phủ, cho đến ông giám đốc môi trường xây biệt phủ mênh mông ở xứ lắm rừng, rồi đến ông lãnh đạo ngân hàng với những dãy nhà như cung điện trên miếng đất hàng ngàn thước vuông. Tất cả đều cho rằng do sức lao động cật lực mà có. Kẻ thì do nuôi gà, trồng cây, anh thì bảo chạy xe ôm đến hốc cả người, người thì nhờ bán chổi, trồng rau, kẻ khác thì bảo nhờ tiền của con dù con chẳng làm gì ra tiền và có đứa thì mới mười chín tuổi.
Lương thì chẳng bao nhiêu mà quan nào cũng có biệt thự ở trong nuớc, nhà nghỉ trên núi, nhà mát dưới biển, lâu đài ở ngoại quốc. Con cái ăn chơi như các công tử, tiểu thư quý tộc. Các bà vợ thì như các mệnh phụ, chỉ xài đồ dùng ngoại quốc, đi shopping các mall lớn ở ngoại quốc như đi chợ... Thế nhưng các ngài luôn phát biểu yêu dân, thương nước, yêu tổ quốc, đồng bào, và luôn nhắc nhở đất nước còn nghèo phải học tập ông này, cụ nọ, để có đạo đức sáng ngời.
Các lãnh đạo xem rừng như sân nhà mình, phá nát không còn gì.. Một cây có đường kính 1 thước phải mất trăm năm mới hình thành, lâm tặc chỉ cần 15 phút để đốn hạ. Hàng trăm chiếc xe chạy từ rừng chở hàng mét khối gỗ chỉ cần đóng cho kiểm lâm 400.000 đồng một chiếc là qua trạm. Rừng không nát mới lạ. Khi rừng không còn, lệnh đóng rừng ban ra, các lãnh đạo địa phương toàn báo cáo láo với chính phủ, và có nơi tìm cách tiếp tục vét cú chót bằng cách làm trắng những cánh rừng còn lại..
Rừng bị tận diệt vì nạn phá rừng, rừng còn bị hủy diệt bởi những dự án thủy điện. Tất cả đều có sự tiếp tay của các quan và ban ngành quyền lực địa phương. Rừng không còn, lũ về gây tang thương chết chóc, đê vỡ khiến nhà cửa tài sản trôi theo dòng nước, các quan cho là xả lũ đúng quy trình.
Bão chưa tới, lũ chưa về, các quan tỉnh đã bàn với nhau viết báo cáo thiệt hại để xin trợ cấp. Một anh từng là tổng biên tập tờ báo lớn, sau khi thu vén được hàng triệu mỹ kim la bèn đưa hết vợ con qua Mỹ, sắm nhà to, xe đẹp, còn anh thì qua lại hai nước, lâu lâu viết bài biểu diễn lòng yêu nước thương dân, trăn trở với tiền đồ tổ quốc, khóc than cho dân nghèo, kinh tế chậm lớn, đảng lao đao…
Còn biết bao chuyện láo không kể xiết: Ngay cả các bậc tu hành cũng làm trò láo để quảng cáo chùa của mình, để thêm nhiều khách cúng bái, để thùng phước sương thêm đầy, để nhà thờ của mình thêm tín hữu. Chúa, Phật đành bỏ ngôi cao mà đi, khi thấy những kẻ đại diện mình đến với mọi người bằng những điều xảo trá..
Chúng ta đang ở một thời đại nói láo toàn tập, láo từ trung ương đến địa phương, láo từ tập đoàn cho đến công ty, láo từ một tổ chức cho đến cá nhân. Láo mọi ngành nghề, láo toàn xã hội. Tất cả đều bị đồng tiền sai khiến, bị danh lợi bám quanh. Hơn nữa, vì sự thật bi đát quá đành láo để khoả lấp, hy vọng sẽ an dân. Nhưng thời đại bùng nổ thông tin, dân biết hết nên chuyện láo trở thành trơ trẽn.
Nghe láo quen, chúng ta lại tự láo với nhau và chuyện nói láo trở thành bình thường, nói láo để tồn tại, để phấn đấu, để thêm lợi thêm danh, và rồi nói láo đã trở thành một nếp sống.
Trẻ con học người lớn nói láo rồi tiếp tục những thế hệ nói láo. Ở nhà trường nghe cô thày nói láo, ra đời nghe thiên hạ nói láo, về nhà lại được nghe nói láo từ cha mẹ, mở máy nghe, nhìn cũng rặt điều láo.
Một nền văn hoá nói láo đã nẩy sinh và phát triển. Hỏi sao trẻ con không nói láo, rồi những thế hệ tương lai lại tiếp tục nói láo. Nghĩ mà buồn!
(tóm lược bài của Đỗ Duy Ngọc trong e-mail thanhqu...@gmail.com ngày 26/11/2023)
Kết luận.
Tôi muốn Các Anh đọc hiểu rõ thêm về nói láo -cũng là dối trá- bắt đầu rõ nét là từ khi nhà cầm quyền Việt Cộng trên lãnh thổ Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa xua quân xâm lăng Việt Nam Cộng Hòa chúng tôi. Tôi nói “xâm lăng”, vì Việt Nam Cộng Hòa chúng tôi là một quốc gia, Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa của Các Anh là một quốc gia, quân của Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa đánh chiếm Việt Nam Cộng Hòa của chúng tôi là “xâm lăng”. Nhà cầm quyền Việt Cộng nói láo với toàn dân của họ là “giải phóng Miền Nam” để người dân lẫn quân đều nghe theo lời họ, sau khi chiếm Việt Nam Cộng Hòa chúng tôi, người dân lẫn quân vào Sài Gòn của chúng tôi sống mới nhận ra sự thật, hoàn toàn thật, đó là họ bị nhà cầm quyền nói láo, nói dối suốt chiều dài cuộc chiến 20 năm, từ 1956 đến 1975. Mời Các Anh:
Năm 2000, cố Trung Tướng cộng sản Trần Độ, để lại tập nhật ký “Rồng Rắn” ngày 7/12/2000, có đoạn liên quan đến giáo dục như sau: “Bộ máy quản lý xã hội đã thực hiện một nguyên tắc chuyên chính tàn bạo hơn tất cả các thứ chuyên chính. Đó là chuyên chính tư tưởng, được thực hiện bởi một đội ngũ nòng cốt là “những lưu manh tư tưởng”. Nền chuyên chính tư tưởng định ra những điều luật tàn khốc để bóp nghẹt mọi suy nghĩ, mọi tiếng nói. Nó làm cho tất cả trí thức không dám suy nghĩ gì, hay ít nhất cũng không muốn suy nghĩ. Từ đó làm tê liệt toàn bộ đời sống tinh thần của dân tộc và biến họ trở thành những con rối, chỉ biết nhai như vẹt những nguyên lý bảo thủ giáo điều. ….
Năm 2004, Tiến Sĩ Hà Sĩ Phu, đảng viên cộng sản lão thành, trong bài viết “Sức Nén Của Ngôn Từ”, đoạn nói về ngôn ngữ lộn ngược trong xã hội chủ nghĩa Việt Nam ngày nay, ông diễn giải: “Nói nghe nó “ngược” nhưng chắc gì đã “ngược”, chẳng hạn như cả một bộ máy đảng bộ máy nhà nước “bị” làm đầy tớ của nhân dân thì sướng đến tột đỉnh, trong khi nhân dân “được” làm chủ thì thất điên bát đảo, chạy gạo chạy cơm chạy tiền học cho con cho cháu đủ điên đầu. Khi người “được” làm chủ mà có việc phải đến với những người “bị” làm đầy tớ, thì từ đầu chí đuôi luôn bị hạch sách hoạnh hẹ đến mức phải vét tiền và kính cẩn “tự nguyện” đưa cho đầy tớ mới xong việc. Điều này rất thực, không ai phủ nhận được cả. Thế mới biết, trong một không gian đảo lộn thật giả giả thật, khi nói ngược chính là nói xuôi đó! Vậy, chính xã hội chủ nghĩa đã tạo nên nhu cầu nói ngược, rồi theo thời gian nhu cầu nói ngược đó trở thành một nếp khác trong đời sống văn hoá: “Nếp sống nói ngược nhưng là xuôi”, nói láo nhưng là thật .....
Năm 2006, ông Xuân Diệu nhận xét thật ngắn nhưng rất sâu sắc: “Một trong những thiếu sót quan trọng là giáo dục không đào tạo con người, nên rốt cuộc xã hội chúng ta chỉ có thần dân mà không có công dân”.
Một nhận thức sâu sắc khác: “Giáo dục phải nhắm mục đích đào tạo con người dân chủ từ bé, phải chống lại sự tha hóa lớn nhất hiện nay là sự quanh co dối trá, sự thiếu thành thật giữa con người với nhau…”.
Ngày 12/1/2012, phóng viên Thanh Quang của đài Á Châu Tự Do trình bày, có đoạn: “Thời gian gần đây, vấn đề sa sút đạo đức và thực trạng trong xã hội Việt Nam ra sao? ..... Ngày nay, tình hình đạo đức sa sút trong nước đang gây nhiều bất an, trăn trở cho những người có tâm huyết với quê hương. Căn bệnh nặng nhất, chí tử nhất, toàn diện nhất của xã hội ta hiện nay là bệnh giả dối.
Nhà văn Nguyên Ngọc, qua bài “Cần Một Cuộc Tự Vấn” đã thẳng thắn đề cập tới một trạng thái chán chường sâu sắc và mênh mông về đạo đức xâm chiếm mọi con người, và tâm trạng chán chường trước sự sa sút về đạo đức ấy phát sinh từ một “căn bệnh” cứ “vây kín quanh mình, “va vào đâu cũng gặp” dưới “mọi kiểu trắng trợn hay tinh vi”, đó là sự giả dối.
Nhà văn Trần Mạnh Hảo cũng không tránh khỏi âu lo khi căn bệnh giả dối ấy “đang thống trị xã hội” Việt Nam, bắt nguồn từ tình trạng thiếu trung thực của nền giáo dục nước nhà. “Sự giả dối tồn tại ở xã hội Việt VN lâu rồi.
Phó Thủ Tướng Nguyễn Thiện Nhân phụ trách các mặt văn hóa giáo dục, cũng khẳng định: “Ttình trạng không trung thực trong giáo dục là bệnh lớn nhất tại Việt Nam. Mà giáo dục là gì? Giáo dục là dạy cho con người trở thành người. Nó dạy cho con người phải có đạo đức. Mà cái đầu tiên của đạo đức là chân thật. Giả dối thì trái ngược lại, là phản giáo dục.
Nhà toán học Hoàng Tụy góp ý thời Thủ Tướng Nguyễn Tấn Dũng về tái cấu trúc xã hội. Theo Giáo Sư Hoàng Tụy thì không thể nào tái cấu trúc xã hội. Bởi vì tái cấu trúc là những bộ phận rời. Nhưng toàn bộ hệ thống đã hư, đã sai rồi, thì phải thay đổi cả hệ thống mới cải tạo được xã hội hiện nay. Hiện sự giả dối đang thống trị xã hội chúng ta.”
Giáo Sư Hà Văn Thịnh từ Huế, cảnh báo tình trạng giả dối ở Việt Nam lan tỏa từ “A đến Z”, khi cảnh nhiễu nhương, tự tung tự tác đang hoành hành xã hội: Điều đầu tiên tôi nghĩ là tôi trách bộ Giáo & Đào Tạo của Việt Nam, vốn lâu nay toàn dạy đạo đức, giáo dục công dân v.v…trên mây trên mưa, toàn giáo điều mà chẳng thiết thực gì. Xã hội Việt Nam ngày nay, toàn là giả dối, vô cảm, ích kỷ, và tàn nhẫn. Đó là tất cả những gì biểu hiện của văn hoá Việt Nam hiện nay. Nói ra chẳng ai thích đâu. Nhưng đó là sự thật. Vì sao? Vì bây giờ người ta giả dối từ A tới Z, từ trên xuống dưới. …”
Ngay cả đại biểu Quốc hội Việt Nam Dương Trung Quốc cũng than thở rằng: “Thế hệ chúng ta là thế hệ mất gốc…”.
Đến đây, tôi nghĩ là trong mức độ nào đó, Các Anh cũng nhận ra được “Chân Dung Xã Hội Việt Nam Ngày Nay là mọi người sống với nhau bằng dối trá, vì không dối trá sẽ không thể sống yên ổn trong xã hội này”.
Tôi gởi sự suy nghĩ này đến Các Anh, hãy bình tâm nhận định một chuỗi sự kiện mà Các Anh vừa đọc qua, và suy nghĩ từ chiều sâu tâm hồn của chính mình chớ không phải tâm hồn của người đảng viên cộng sản. Mong Các Anh đừng đứng nhìn một cách vô cảm nữa mà hãy hành động “như một đầu tàu”, kéo theo 95 triệu bà con trên quê hương Việt Nam thân yêu, và mạnh dạn đứng lên giành lại quyền làm người từ tay cộng sản độc tài tàn bạo, một chế độ đã tạo nên một xã hội băng hoại bắt nguồn từ chính sách dối trá, ngu dân, để cùng nhau xây dựng một nền văn hoá khai phóng, nhân bản, khoa học, và phát triển một xã hội dân chủ pháp trị mà mọi người được hưởng một cách tự nhiên những quyền căn bản của mình. Nếu Các Anh “không thể đứng dậy làm đầu tàu” thì khi người dân vùng lên, Các Anh hãy đứng về phía người dân mà hành động.
Tôi vững tin rằng, bà con trong Cộng Đồng Việt Nam tị nạn cộng sản tại hải ngoại, có nhiều thuận lợi vận động với các quốc gia để hỗ trợ Các Anh và đồng bào làm nên lịch sử.
Hãy nhớ: “Tự Do, phải chính chúng ta tranh đấu, vì Tự Do không phải là quà tặng”.
Texas, ngày 15 tháng 12 năm 2023
Phạm Bá Hoa
~~~~~~~~~~~~~~~~~~~~~~~~~~~~~~~