Giỗ Quốc Tổ Hùng Vương 2007
Nguyễn Minh Triết sự tích tiên rồng và vòng thái cực ![]()
![]()
![]()
ahoo.com>; Lanh Thi Pham <lindal...@aim.com>; "LE...@yahoo.com" <LE...@yahoo.com>; "lequa...@yahoo.com" <lequa...@yahoo.com>; libbya western <lib...@yahoo.com>; Loc Van Hoa <locv...@gmail.com>; Mai Bùi <sharl...@hotmail.com>; man le <man...@yahoo.com>; minh duy <ericm...@yahoo.com>; MInh Mai <congmi...@gmail.com>; nerina van <vner...@yahoo.com>; nghia pham <nghi...@hotmail.com>; nguyet le <nguy...@yahoo.com>; nhan trinh <nike...@yahoo.com>; nhut quang ngo <ngonhu...@gmail.com>; paul le <cop...@yahoo.ca>; Peter P.Le <PP...@llu.edu>; Phi Le <phi_...@yahoo.com>; pho do26 <pho...@gmail.com>; "phs...@gmail.com" <phs...@gmail.com>; Phuc-Minh Huynh <boca...@yahoo.com>; phuoc le <peter...@yahoo.com>; phuong le <billjac...@yahoo.ca>; phuong dang <kimp...@yahoo.com>; phan viethu <ptvie...@gmail.com>; "Que^' Bui`" <que...@hotmail.com>; son huynh <huynhso...@yahoo.com>; Sonny Nguyen <sonnyng...@gmail.com>; Stephanie Le <stb...@yahoo.ca>; "tan...@hotmail.com" <tan...@hotmail.com>; Thach Pham <thach...@yahoo.com>; Thạch Thảo <daffad...@yahoo.com>; thanh mai dinh <dinhthi...@gmail.com>; "thanhp...@yahoo.com" <thanhp...@yahoo.com>; Thao Ha <cmv...@yahoo.com>; THIEN CHI <thie...@gmail.com>; thien-huong ninh <huong...@yahoo.com>; "thien...@yahoo.com" <thien...@yahoo.com>; thienquang vtvan <thienqua...@gmail.com>; Thọ Lâm <tomp...@yahoo.com>; "Thu`y Trang Che^'" <tran...@yahoo.com>; thuy le <Thuy_...@yahoo.com>; "tieung...@yahoo.com" <tieung...@yahoo.com>; "tiffan...@yahoo.com" <tiffan...@yahoo.com>; "tnguy...@yahoo.com" <tnguy...@yahoo.com>; "trai...@hotmail.com" <trai...@hotmail.com>; Trang Huynh <tran...@gmail.com>; Tranh Nguyen <tra...@hotmail.com>; trung friend <Trun...@yahoo.com>; "truongha...@yahoo.com" <truongha...@yahoo.com>; "tth...@hotmail.com" <tth...@hotmail.com>; Tuan Le <tuanv...@ltmachine.com>; "tung_...@yahoo.com" <tung_...@yahoo.com>; U. Nguyen <leva...@msn.com>; Van duong <vandu...@gmail.com>; "vantra...@yahoo.com" <vantra...@yahoo.com>; "viet...@gmail.com" <viet...@gmail.com>; vinh nguyen <vn1...@hotmail.com>; Vinh Bui <lock...@yahoo.com>; "vota...@gmail.com" <vota...@gmail.com>; Vu Nguyen <victorti...@gmail.com>; Wayne Phan <kalib...@gmail.com>; xuan mai doan <xuanma...@yahoo.com>; Yến Vỹ <dye...@gmail.com>; Huỳnh Đông <sch...@yahoo.com>; Huỳnh Án <ahuy...@yahoo.com>; "chihuup...@yahoo.com" <chihuup...@yahoo.com>; "tuumngu...@yahoo.com" <tuumngu...@yahoo.com>; Dong Huynh <huan...@yahoo.com>
Kinh Dịch đã được phổ biến rộng rải và ngày nay ai ai cũng thừa nhận đó là một sản phẩm văn hóa của Hán tộc. Sự xác nhận với đầy rẩy chứng cớ trong sách vở khiến khó có ai có thể phủ nhận được. Công việc dẫn chứng để phủ nhận Kinh Dịch không phải của Hán tộc là một việc đội đá vá trời. Chúng tôi không có khả năng cũng như không dám làm công việc vĩ đại ấy mà chỉ nêu dưới đây một vài điểm tương đồng thân thuộc một cách kỳ lạ giữa sự tích Tiên Rồng của Việt tộc với Kinh Dịch của Hán tộc mà thôi.
Một quan niệm căn bản của Kinh Dịch là thái cực sinh lưỡng nghi, lưỡng nghi sinh tứ tượng và biểu tượng rất được phổ biến của Kinh Dịch là Thái cực đồ với hình vòng tròn được chia hai bằng một đường dạng chữ S phân vòng tròn ra làm hai phần đều nhau, nửa đen nửa trắng. Vòng tròn được gọi là vòng thái cực, hai phần trắng đen là hai yếu tố âm dương. Biểu tượng Thái cực đồ nói lên vũ trụ quan của Kinh Dịch là mọi sự vật trong thái cực tức vũ trụ đều do hai yếu tố âm dương chi phối và cấu thành.
Chúng ta ai cũng biết đến sự tích Tiên Rồng nói về nguồn gốc của dân Lạc Việt. Theo chuyện tích này thì dân Lạc Việt khởi nguồn từ sự kết hợp của hai giống Tiên và Rồng. Rồng Lạc Long Quân đã kết duyên cùng Tiên Âu Cơ và do sự kết hợp này mà mẹ Tiên Âu Cơ đã sinh ra một bọc chứa một trăm trứng nở được một trăm người con trai. Cha Rồng, mẹ Tiên sống với nhau một thời gian thì cha Rồng nhớ nguồn cội của mình là Thủy cung nên chia con ra làm hai, 50 con theo cha xuống biển, 50 con ở lại với mẹ Tiên trên non. Trước khi chia tay cha Rồng hẹn mẹ Tiên mỗi năm gẕp nhau ở cánh đồng Tương hoẕc khi cần cứ gọi thì ta về ngay.
Sự tích Tiên Rồng mới nghe có vẻ huyền thoại khó tin nhưng nếu nghiên cứu tường tận ta sẽ tìm thấy rất nhiều ẩn ý mà tiền nhân muốn nhắn nhủ và lưu truyền lại cho hậu thế về nguồn gốc và triết lý của dân tộc Lạc Việt. Có thể cuộc hôn nhân của Tiên Âu Cơ và Rồng Lạc Long Quân cũng bình thường như các cuộc hôn nhân khác, nhưng có lẻ vì muốn câu chuyện được hấp dẫn cho dễ lưu truyền từ đời này sang đời khác mà tổ tiên ta đã huyền thoại hoá chuyện tình Âu Cơ và Lạc Long Quân chăng?
Tiên và Rồng là hai biểu tượng không có thật. Tiên là hình ảnh của con người đã thánh hóa, siêu thóat, tượng trưng cho sự thanh nhã, khoan ái, trường tồn. Rồng theo quan điểm phương đông là rắn thăng hoa biểu trưng cho oai dũng, cho sức mạnh, tính nhẫn nại và tài năng biến hóa vô cùng. Trong khi các chủng tộc khác thường chỉ có một vật tổ, chủng tộc Lạc Việt có hai vật tổ cùng lúc là Tiên và Rồng tức có đủ cả hai yếu tố âm và dương. Tiên là giống cái thuộc âm, Rồng là giống đực thuộc dương. Cuộc hôn nhân của Tiên và Rồng là sự kết hợp sinh động của nét thanh nhã hiền hòa với sức mạnh và tài năng thiên biến vạn hóa. Sự kết hợp đó đã tạo nên giồng giống Việt, một giống dân vừa xinh đẹp, dịu hiền, vừa hùng dũng, cương quyết, vừa tình vừa lý, vừa linh động vừa thường hằng, vừa vật thể vừa siêu phàm. Và đó chánh là ẩn ý mà tiền nhân muốn trao gởi lại cho hậu thế để biết tự hào về đẕc tính của dân tộc Lạc Việt.
Trước tiên, một bọc trăm con tượng trưng cho hình ảnh một nhóm người sống quây quần thành một cộng đồng hay xã hội. Trăm trứng trong cùng một bọc cũng chuyên chở ý nghiã là dân Việt có chung một nguồn gốc và bọc nở ra trăm con là tổ tiên muốn nhắc nhở mọi người dân Việt phải nhớ tới nguồn gốc mà thương yêu đùm bộc nhau. Thêm vào đó, vì cùng sinh ra đồng thời, đồng lúc nên tất cả đều bình đẳng, đều là anh em, đồng thời cũng hàm ý là con người từ khởi thủy đã sống trong cộng đồng và đã có tinh thần xã hội rồi. Một cách tổng quát sự tích Tiên Rồng dạy cho mọi người dân Việt phải biết yêu thương đùm bọc nhau trong tình anh em ruột thịt, trong nghiã đồng bào. Chánh trong ý nghiã này mà tiếng Việt mới có chữ đồng bào để chỉ người dân trong cùng một nước.
Mẕt khác chữ trăm trứng không chỉ có nghiã thuần 100 trong ý nghiã số học. Trăm ở đây còn có nghiã là nhiều như trong câu: ta còn trăm việc phải làm, hoẕc cũng có nghiã là tất cả như trong các từ ngữ trăm họ, trăm hoa đua nở. Với ý nghiã này, tổ tiên Lạc Việt qua sự tích "bọc trăm trứng" đã dạy chúng ta là không chỉ giống giồng Tiên Rồng mà tất cả con người đều cùng một nguồn gốc sinh ra và tất cả các giống dân trên trái đất này đều bình đẳng và phải thân thương nhau trong tình ruột thịt.
Bọc trăm trứng cũng nói lên sự kết hợp âm dương. Cha là đực hay dương, mẹ là cái hay âm, cha mẹ tức âm dương kết hợp đã sinh ra bọc 100 con. Nếu xem bọc tượng trưng cho vũ trụ thì từ lâu ông cha ta đã có một quan niệm khá rõ ràng về vũ trụ. Trăm con được chia làm hai, 50 theo mẹ 50 theo cha, đó là tổ tiên với óc sáng tạo độc đáo đã cụ thể hóa hai ý niệm âm dương vốn trừu tượng không thể thấy bằng mắt sờ bằng tay được. Cái bọc chỉ toàn thể vũ trụ được cấu tạo bởi hai yếu tố âm dương cân bằng nhau. Hình ảnh mẹ Tiên tượng trưng cho âm và cha Rồng tượng trưng cho dương để nói lên nguyên lý âm dương kết hợp và vận hành trong vũ trụ. Hai yếu tố âm dương hiện diện trong mọi vật thể từ nhỏ nhất đến lớn nhứt, hai yếu tố này tuy khác nhau nhưng quyện xoắn lấy nhau, tương giao, tương hợp để tạo thành vũ trụ và muôn loài.
Như vậy ta thấy sự tích Tiên Rồng của giống Lạc Việt đã nói lên một cách dễ hiểu vàtrọn vẹn những điều trong Kinh Dịch diễn tả một cách trừu tượng là: Thái cực sinh lưỡng nghi, lưỡng nghi sinh tứ tượng (Hệ Từ XI). Cái bọc trong sự tích Tiên Rồng là cách nói dễ hiểu để chỉ vòng thái cực; bọc chia làm hai gồm 50 và 50 chính là ý niệm lưỡng nghi của Kinh Dịch. Nhưng tính chất độc đáo trong sự tích Tiên Rồng là cho con người và vạn vật đều do hai yếu tố âm dương kết hợp. Ý niệm này cũng tìm thấy trong Kinh Dịch qua câu: nhất âm nhất dương chi vị đạo (Hệ Từ V) tức Ðạo của trời đất và vũ trụ là phải có âm dương. Nhưng hai yếu tố âm dương trong Kinh Dịch hoàn toàn trừu tượng, thuộc phần suy luận của lý trí, trong khi đó hai yếu tố âm dương trong sự tích Tiên Rồng được diễn tả bằng hai con người sống động và hiện thực là mẹ Tiên Âu Cơ và cha Rồng Lạc Long.
Vấn đề chia con ra làm 50 theo Mẹ và 50 theo cha khiến nhiều người không chịu tìm hiểu tường tận đã vội kết luận rằng bản chất của dân Việt là chia rẻ. Thực ra, hành động Mẹ Âu Cơ dẫn 50 con lên núi nói lên nguyên lý mẹ tức mẹ làm chủ trong văn hóa Lạc Việt. Dẫn con lên núi là ý niệm đi lên cao, đi đến chỗ triệt cùng, triệt để tức là tìm về với minh triết, đi đến chỗ phân cực triệt thượng. Cha Lạc Long dẫn 50 con xuống đáy biển là một sự việc đối nghịch lại với sự dẫn con lên núi nhưng có cùng một mục tiêu là tìm đến sự triệt để mà ở đây là triệt hạ. Triệt thượng thì lên đến cùng cực của siêu thực, triệt hạthì xuống thấp nhứt đến hiện tượng tức là việc làm ăn sinh sống hằng ngày. Khi đạt đến cùng cực thì mọi sự hội thông đúng như châm ngôn của Lý Thái Cực là: "nhất lý minh, vạn lý thông".
Hai hành động lên non, xuống biển nói lên sự phân cực để tiến hóa là một ý niệm hoàn toàn khoa học. Chia nhưng không chia, chỉ đi về hai phiá để làm nổi rõ sự cách biệt thôi. Sự chia tay này còn biểu thị cho cơ cấu của vạn vật trong trời đất đâu đâu cũng phải phân cực như vậy. Cha Rồng đã nói rõ là mỗi năm gẕp nhau ở cánh đồng Tương và khi gọi thì ta về đã nói rõ sự kết hợp giữa Tiên và Rồng dù kẻ lên núi, người xuống biển vẫn còn tồn tại, vẫn là một. Ðiều này cũng nói lên lưỡng nhất tính trong văn hóa của Việt tộc: hai mà một, một mà hai:
Tình đôi ta tuy hai mà một
Ðời chúng mình tuy một mà hai.
Dẫn con lên núi và xuống biển còn nói lên ý niệm núi vươn cao, biển nằm dài, hai hình ảnh ngang dọc chỉ ý niệm trời đất, đồng thời cũng cốt để diễn đạt quan niệm phân cực. Mẹ lên non đứng thẳng chỉ non nhân, cha xuống biển nằm ngang chỉ nước trí. Mẹ non nhân, Cha nước trí, nước non phối hợp hài hòa cho quốc gia vững mạnh, dân tộc trường tồn.
Sự tích Tiên Rồng cũng thể hiện rõ rệt quan niệm về Ðạo của Việt tộc. Ðạo bao gồm ba yếu tố là âm, dương và hóa tức âm dương hòa hợp tạo nên Ðạo. Bình thường người ta chỉ thấy có âm và dương: âm tán dương tụ. Muốn trở thành Ðạo âm dương phải kết tụ, giao hòa. Tán tụ là hai luật căn bản của vạn vật trong vũ trụ vì tán tụ là hai mối liên hệ ràng buộc vạn vật với nhau một cách mật thiết. Nói cách khác là vạn vật phải giao hòa để tạo thành nhất thể như Kinh Dịch có ghi nhận là vạn vật nhất thể. Ðể nói lên cùng một ý niệm sự tích Tiên Rồng chỉ cần dùng hình ảnh bọc mẹ trăm con rất đơn giản và dễ hiểu.
Trống đồng Ðông Sơn là những cổ vật không ai chối cải là di sản văn hóa của Việt tộc cũng đã ghi khắc lại trên mẕt trống những tư tưởng về vũ trụ quan của sự tích Tiên Rồng. Mẕt trống tròn chánh là cái bọc được nhắc đến trong sự tích Tiên Rồng tương đương với ý niệm vòng thái cực của Kinh Dịch. Mẕt trống vẻ toàn các hình tượng người và vật có mang lông chim nói lên ý niệm Tiên và sự kiện 50 con theo Mẹ lên núi. Tang trống thì vẻ hình 6 thuyền rồng đi trên nước hàm ý 50 con theo Cha xuống biển. Mẕt trống cũng được chia ra làm hai với một nửa có các hình tượng số chẳn như nóc nhà 2 chim, đoàn 6 người, chim 4 cẕp, và một nửa có các hình tượng số lẻ như nóc nhà 1 chim, đoàn 7 người, chim 3 cẕp. Sự phân chia này trùng hợp với điều trong Kinh Dịch gọi là Thái cực sinh lưỡng nghi. Vòng ngoài cùng của mẕt trống với 36 con chim là tượng trưng cho 4 hoa hướng dương 9 cánh nói lên ý niệm lưỡng nghi sinh tứ tượng của Kinh Dịch.
Một ý niệm khác của Kinh Dịch là tam tài Thiên Ðịa Nhân cũng được diễn tả trên trống đồng Ðông sơn của Việt tộc. Ngay giữa mẕt trống là hình mẕt trời rõ nét, đó chánh là yếu tố Thiên. Kế đến là hai vòng vẻ hình người múa hát, tượng trưng cho yếu tố Nhân. Hai vòng ngoài cùng vẻ hình chim thú tượng trưng cho đất, chính là yếu tố Ðiạvậy. Tang trống cũng diễn tả ý niệm tam tài bằng ba phần: phần trên chỉ trời, phần thân chỉ người và phần chân trống chỉ đất.
Ngoài ra, nhìn vào mẕt trống ta cũng thấy thấp thóang hình bóng của ngũ hành là Kim, Mộc, Thủy, Hỏa và Thổ. Như trên vừa nói hai vòng ngoài cùng của mẕt trống có hình chim thú, kế đến là hai vòng hình người, trong cùng ở ngay giữa là vòng mẕt trời biểu thị cho hành Thổ trung cung, cọng tất cả các vòng lại ta có con số 5 của ngũ hành với hành Thổ ở giữa và bốn hành Kim, Mộc, Thủy, Hỏa ở bốn phương đông, tây, nam, bắc.
Tóm lại, sự tích Tiên Rồng đã được thể hiện trên trống đồng Ðông Sơn. Và qua trống đồng Ðông Sơn ta thấy hình người và chim muông cùng hợp ca múa hát trong cảnh thái hòa hạnh phúc giữa trời, đất và người. Nếu minh triết là nghệ thuật tối cao sắp đẕt cuộc sống sao cho mọi người đạt được hạnh phúc, thì triết lý của Việt tộc được gói ghém trong sự tích Tiên Rồng và biểu hiện qua trống đồng Ðông sơn đã nói lên được tánh cách ưu việt đó là hội nhập được hai thái cực cùng tột là có với không, chẳn với lẻ, vuông với tròn, âm với dương một cách trọn vẹn và hài hòa.
Những tánh cách ưu việt đó đem đối chiếu với Kinh Dịch nói chung và thái cực đồ nói riêng ta thấy có nhiều điều trùng hợp. Qua các điều dẫn chứng vừa trình bày, ta có thể ghi nhận là sự tích Tiên Rồng và Thái cực đồ của Kinh Dịch là hai ấn bản của cùng một tư tưởng triết học, Tiên Rồng của Việt tộc có tánh cách bình dân dễ hiểu, Kinh Dịch của Hán tộc có tánh cách bác học khó hiểu. Cả hai cùng nêu cao một vũ trụ quan lưỡng nhất tính và quan niệm âm dương vẫn được nền triết học thế giới thừa nhận là hai yếu tố đẕc thù của nền triết học Ðông phương. Ðiều sau cùng tưởng cần ghi nhận là sự tích Tiên Rồng đã có từ hơn năm ngàn năm trong khi Kinh Dịch chỉ mới biết đến khoảng hai ngàn năm trăm năm mà thôi.
Nguyễn Minh Triết
Tài liệu tham khảo:
Kim Ðịnh -- Thái Bình Minh Triết, Thời Ðiểm xuất bản, 1997.
Ðào Văn Dương, et. al. -- Tinh Hoa Tư Tưởng Việt, Tủ Sách Việt Thường xuất bản, 1997.
Nam Thiên -- Kinh Việt, Hoa Tiên Rồng xuất bản, 1993.
Sent: Monday, January 16, 2012 10:34 PM
Subject: Hội Thảo Giáo Lý vào ngày Saturday, January 21, 2012, at 6:00 PM PST - (209) 647-1600
Kính thưa Qúy Huynh Tỷ Đệ Muội,Buổi Hội Thảo Giáo Lý kỳ tới sẽ vào ngày Saturday, January 21, 2012, at 6:00 PM PST.Đề tài thảo luận :" THỬ CHIÊM NGHIỆM VỀ SỨ MẠNG TỐI HẬU CỦA ĐẠO CAO ĐÀI VÀ TƯ DUY TÂM LINH MỚI CHO MỘT NHÂN LOẠI MỚI " sẽ do Hiền Huynh Khâm trình bày.Xin qúy HTĐM chuẩn bị những câu hỏi và phần đóng góp ý kiến để buổi thảo luận của chúng ta được thêm phong phú và hữu ích. Xin thành thật cảm tạ sự tham gia và đóng góp của Qúy HTĐM.
Kính mời Quý HTĐM tham dự và chuyển thư mời này đến Quý HTĐM không có tên trong email list trên.
Số điện thoại của teleconference là: (209) 647-1600(Nếu Qúy HTĐM gặp trở ngại khi vào teleconference, xin vui lòng cúp phone, và gọi lại số điện thoại trên, vẫn theo chỉ dẫn dưới đây.)Chỉ dẫn để vào teleconference:
Free Conference Call (in USA only)-- Conference Dial-in Number: (209) 647-1600-- Participant Access Code: 151076#
-- Dial 1 after dial access code following by #Khi không cần phát biểu ý kiến, chúng ta có thể dùng "mute" bằng cách bấm hai nút *6 trên điện thoại để trong diễn đàn không bị ồn ào, và bấm lại hai nút *6 khi cần đóng góp ý kiến.Kính,
Ghi chú:Email list trên đây chỉ được dùng để thông tin về các buổi Hội Thảo qua điện thoại và/hoặc về các hoạt động Đạo sự của Cao Đài Giáo Hải Ngoại, không ngoài mục đích phổ truyền Giáo Lý Đại Đạo. Nếu Qúy HTĐM nào không muốn tiếp tục nhận email về những sinh hoạt đạo sự của CĐGHN, xin vui lòng cho biết để có thể rút tên ra khỏi email list. Thành thật cáo lỗi nếu đã làm phiền đến Qúy HTĐM.Chế TùngCao Đài Giáo Hải Ngoại------------------------------------------Mục đích của Chương Trình Hội Thảo Giáo Lý qua Điện Thoại: Phổ Thông Giáo Lý Đại ĐạoTạo cơ hội cho các Huynh Tỷ Đệ Muội khắp nơi (đặc biệt là các anh em Thanh Thiếu Niên) có dịp trau đổi học hỏi về Giáo Lý Đại Đạo (Cao Đài và các tôn giáo khác) và về các kiến thức hữu ích cho việc Sống Đạo.Tạo một tình thân, một sợi giây liên lạc và một nhịp cầu thông cảm giữa mọi người (Cao Đài và các tôn giáo khác) với nhau.Nội Qui của Chương Trình Hội Thảo Giáo Lý qua Điện Thoại: Hoà, Nhẫn, Khiêm, Cung, ÁiThảo luận trong tinh thần thương yêu, hoà ái, và tôn trọng tất cả mọi người tham dự hội thảoTránh những đề tài có thể đưa đến tranh cãi hoặc căng thẳng trong buổi hội thảoKhông bàn thảo về các đề tài chính trịKhông đã kích chống đối các đoàn thể, tôn giáo, chi pháiCần qui định một thành viên làm Điều Hợp Viên cho mỗi buổi Hội Thảo.Phần thuyết trình để bắt đầu buổi Hội Thảo nên giới hạn trong vòng 15-20 phút. (Nếu có thề và nếu thời gian cho phép, thuyết trình viên có thể gửi bài viết hoặc sườn bài với những nét đại cương qua email đề mọi người dễ dàng tham khảo, chuẩn bị câu hỏi, và đóng góp ý kiến)Phần thời gian còn lại của buổi Hội Thảo sẽ được dùng cho phần câu hỏi và đóng góp ý kiến. Mỗi câu hỏi, đóng góp ý kiến, và câu trả lời nên giới hạn trong vòng 2-3 phút.Các thành viên tham dự Hội Thảo đồng ý cho phép Điều HợpViên nhắc nhở người phát biểu ý kiến hoặc người trả lời câu hỏi nếu phần trình bày đi quá thời gian ấn định (3 phút), hoặc đi lạc ra ngoài đề tài thảo luận, hoặc đi đến tranh cãi làm mất hoà khí.-----------------------------------------
Đại Ân Xá - Đại xá:
大恩赦 - 大赦
A: General Amnesty of God.
P: Amnistie Générale de Dieu.
Đại: Lớn, trái với Tiểu là nhỏ. Ân: ơn huệ. Xá: tha tội.
Đại Ân Xá hay Đại Xá là Đức Chí Tôn ban ơn huệ lớn lao bằng cách tha thứ tội lỗi cho những kẻ có tội.
Đại Đạo Tam Kỳ Phổ Độ được gọi là Đại Ân Xá Kỳ Ba của Thượng Đế ở phương Đông.
PMCK: Chí Tôn đại xá nhứt trường qui nguyên.
Kể từ ngày khai Đạo Cao Đài, Đức Chí Tôn mở ra một thời kỳ Đại Ân Xá cho các đẳng linh hồn và cho chúng sanh, để chúng sanh tu hành dễ đắc đạo.
Muốn hưởng được sự ân xá nầy, mỗi người phải biết thành tâm hối lỗi, ăn năn sám hối tội tình, cải tà qui chánh, nguyện thề từ bỏ lỗi lầm, chuyên tâm tu hành lập công bồi đức.
"Mỗi lần khai Đạo là mỗi lần Đức Chí Tôn Đại Ân Xá, tức là ban cho những người biết hồi đầu hướng thiện, biết lo tu hành, một ân huệ lớn lao, nghĩa là những tội lỗi của họ đã chồng chất từ mấy kiếp trước được Ơn Trên bôi xóa và cho họ làm một Tân Dân (người dân mới) trong cửa Đạo với một Tư Pháp Lý lịch trong sạch, nhờ vậy người nhập môn hành đạo mới rảnh nợ tiền khiên, chỉ lo trau giồi Đạo hạnh và lập công bồi đức, là đắc đạo trong một kiếp tu.
Hạ nguơn nầy, Đức Chí Tôn lập Đạo Kỳ Ba nên mới có Đại Ân Xá Kỳ Ba. Phép Giải oan, Phép Cắt dây oan nghiệt, Phép Độ thăng và các phép Bí tích khác của ĐĐTKPĐ được đem áp dụng trong sự thi hành Luật Đại Ân Xá đó vậy." (Trích Giáo Lý bài 18, khóa Huấn luyện Giáo Hữu tại TTTN)
Ngày khai Đạo Cao Đài là 15-10 âl năm Bính Dần (1926) là ngày khởi đầu thời kỳ Đại Ân Xá Kỳ Ba.
Đức Chí Tôn ban cho nhơn loại những đặc ân sau đây:
1. Tha thứ tội lỗi ở các kiếp trước của những người biết hồi đầu hướng thiện, nhập môn cầu đạo, lập Minh Thệ với Đức Chí Tôn, có các Đấng chứng minh, nhứt tâm tu hành.
May đặng gặp hồng ân chan rưới,
Giải trái oan sạch tội tiền khiên.
(KGO)Chí Tôn xá tội giải oan,
Thánh, Thần, Tiên, Phật cứu nàn độ căn.
Ơn Tạo hóa tha tiền khiên trước,
Đưa linh phan tiếp rước nguyên nhân.
(KCBCTBCHĐQL)2. Đức Chí Tôn đặc ân cho các tín đồ Cao Đài, khi chết, linh hồn được Cửu vị Tiên Nương hướng dẫn đi lên các từng Trời của Cửu Trùng Thiên, mỗi nơi đều được quan sát các cảnh Trời đẹp đẽ mà dưới thế gian nầy không bao giờ có, đến bái kiến các Đấng Thần, Thánh, Tiên, Phật, đến Minh Cảnh Đài để xem trở lại tất cả hành vi thiện ác của mình đã gây ra trong suốt một kiếp sống nơi cõi trần, đến DTC ở từng Trời Tạo Hóa Thiên để bái kiến Đức Phật Mẫu, đến Ngọc Hư Cung bái kiến Đức Chí Tôn để cây Cân công bình thiêng liêng của Tòa Tam Giáo cân tội phước.
Phước nhiều thì được phong thưởng bằng phẩm vị Thần, Thánh, Tiên, Phật tương xứng. Nếu tội nhiều thì bị đưa đến cõi Âm Quang, vô Tịnh Tâm Xá mà định tâm tịnh trí xét mình, cầu nguyện Đức Chí Tôn độ rỗi. Tại đây có Thất Nương DTC giáo hóa các nữ tội hồn và Đức Địa Tạng Vương Bồ Tát giáo hóa các nam tội hồn.
3. Đức Chí Tôn cho đóng cửa Địa ngục. Các tội hồn không còn bị hành hình thảm khốc nơi Địa ngục như trước nữa, mà được đưa đến cõi Âm Quang để học Đạo, cầu khẩn Đức Chí Tôn cứu rỗi, chờ ngày tái kiếp trở lại cõi trần để trả cho xong nghiệp quả.
4. Đức Chí Tôn cho mở cửa CLTG để rước những người đầy đủ công đức đắc đạo. Nếu người nào quyết chí tu hành, chỉ trong một kiếp tu cũng có thể đắc đạo. Nên Thầy cho một quyền rộng rãi cho cả nhơn loại trong CKVT, nếu biết ngộ kiếp một đời tu, đủ trở về cùng Thầy đặng.
Đóng Địa ngục, mở tầng Thiên,
Khai đường Cực Lạc, dẫn miền Tây phương.
(KGO)5. Những người bị tội Tận đọa Tam đồ bất năng thoát tục hay bị tội Ngũ Lôi tru diệt, cũng nhờ Đại Ân Xá nầy mà được Đức Phật Mẫu huờn lại chơn thần, đặng tái kiếp lập công chuộc tội.
Thời kỳ Đại Ân Xá không phải kéo dài đến thất ức niên (700 000 năm) mà chỉ được giới hạn trong thời gian đầu của thời kỳ Khai Đạo. Đức Chí Tôn và các Đấng thiêng liêng không tiết lộ cho biết thời kỳ Đại Ân Xá kéo dài trong bao nhiêu năm, nhưng theo sự khảo cứu của chúng tôi, thời kỳ Đại Ân Xá của Đức Chí Tôn khởi đầu từ năm Khai Đạo (Bính Dần, 1926) cho đến khi Đức Di-Lạc Vương Phật mở Đại Hội LongHoa là chấm dứt, vì đã bước vào một thời kỳ tiến hóa mới của nhơn loại.
Chúng ta hôm nay gặp Đạo Cao Đài, được làm môn đệ của Thượng Đế, là một duyên may ngàn năm một thuở, nếu không mau bước chân vào cửa Đạo lo tu hành, cứ để dần dà ngày tháng trôi qua, có mong chi đắc đạo trở về ngôi vị cũ.