Ta đem “Phương Pháp Trị Tâm” của Đức Hộ Pháp (ban hành số 209/HP ngày 14 -4 – Đinh Hợi) so sánh thấy phù hợp với “Thập Mục Ngưu Đồ ” (mười bức tranh chăn trâu). Những bức tranh này đã vẽ trong Chánh điện chùa Tam Tông Miếu (tức chi Minh Lý trong Ngũ Chi Đại Đạo).
- “Thập Mục Ngưu Đồ” đánh số La Mã (TMNĐ).
- “Phương pháp Trị Tâm đánh số Á Rập (PPTT)”
Ta thấy cả hai đều có 10 câu, 10 đề tài, nhưng câu đầu PPTT là một câu bao hàm tổng quát:
“Đức tin và khôn ngoan là KHO CHÍ BỬU, ngoài ra là của bỏ, là đồ vô giá trị”.
Kỳ dư lấy ý mà hiểu đều thích hợp hoặc bổ túc cho nhau.
I. TMND :Tìm trâu (tầm ngưu)
1. PPTT: AI CỐ OÁN KẺ THÙ CỦA MÌNH LÀ KHÓ GIỮ THANH TÂM CÔNG CHÁNH CHO ĐẶNG.
II. TMNĐ: Thấy dấu trâu ( kiến tích)
2. PPTT : AI CHẲNG OÁN HẬN MỚI THẮNG ĐẶNG KẺ THÙ NGHỊCH CÙNG MÌNH.
III. TMNĐ: Thấy trâu (kiến ngưu)
3. PPTT: SỰ CỪU HẬN NGƯỜI HIỀN KHÔNG BIẾT ĐẾN HAY LÀ TỪ BỎ CỪU HẬN OÁN GHÉT.
IV. TMNĐ: Được trâu ( đắc ngưu)
4. PPTT: THẮNG ĐẶNG KHÍ NỘ MINH , 5. THÌ KHÔNG ĐƯỢC CHỌC AI GIẬN DỮ.
V. TMNĐ: Chăn trâu (mục ngưu)
6 . PPTT : LẤY THIỆN MÀ TRỪ ÁC.
VI. TMNĐ: Cỡi trâu về (kị ngưu qui gia).
7. PPTT : LẤY NHƠN NGHĨA TRỪ BẠO TÀN.
VII. TMNĐ: Quên trâu còn người (Vong ngưu tồn nhơn).
VIII. TMNĐ: Người trâu đều quên (Nhơn ngưu cầu vong)
8.PPTT : LẤY LÒNG QUÃNG ĐẠI ĐẶNG MỞ TÂM LÝ HẸP HÒI.
IX. TMNĐ: Phản bổn huờn nguyên
10. ẤY LÀ ĐƯỜNG THƯƠNG HUỆ KIẾM
X. TMNĐ: Buông tay vào chợ (đảo ngược số thứ tự).
9. LẤY CHÁNH TRỪ TÀ.
Tranh thiền vẽ trâu (chỉ cái tâm) ý nói : “Bạch ngưu xa” tức Phật thừa, là cái đại giác viên mãn, chủ trương đốn ngộ.
Bức hoạ 1 “Tầm ngưu” : vẽ một mục đồng đi tìm trâu (trâu không có trong hình) và kết thúc bằng bức hoạ “nhập triều thuỷ chủ” (buông tay vào chợ) : vẽ một nhà Sư lẫn lộn trong đời.
Trâu đâu mà tìm? (Trâu chỉ cái tâm). Vì trong phút giây khác thường nào đó, ta nghi ngờ những điều tai nghe mắt thấy, tức nghi ngờ chính cái tâm ta.
Từ bức hoạ 1 đến 6, ta thấy khoảng cách giữa người và trâu (cái tâm) thâu ngắn lại dần, đến lúc kẻ chăn trâu ngồi hẳn lên lưng trâu (bức hoạ 6) : trâu với người làm một.
Khi ta hỏi tâm ở đâu, chẳng khác nào ta hỏi trâu ở đâu. Trong khi chính ta đang cỡi trâu. Ta đi tìm tâm rốt cuộc tâm ở nơi lòng ta. Ta chỉ cần DỪNG LẠI, nó hiện ngay trước mắt trong ánh sáng muôn màu. Nếu loài người thỉnh thoảng biết dừng lại (định tâm suy tưởng) trong vài phút thôi thì thế gian này không đến nỗi quá buồn thảm như ngày nay.
Sau hai giai đoạn ngoại cầu, đến giai đoạn tự trị tự giác. Khi người và trâu đều quên (nhơn ngưu câu vong) thì nơi chân trời hiện lên mặt trời huệ, tượng trưng bằng vòng tròn vô vi viên giác (bức hoạ 8). Đó là TÂM KHÔNG, đạt Đạo rồi.
Trở về ngôi vị cũ với bức hoạ 9 nhan đề : phản bổn huờn nguyên : vẽ cảnh lá rụng về cội, nước chảy về nguồn. Từ nguyên thỉ, con người vốn thanh tịnh, vốn là không, nên chỉ cần hiểu thấu tánh mình là huờn nguyên.
Khi đạt thành chánh quả phải nhập vào thế tục với cái tâm diệu dụng “cư trần bất nhiễm trần”. Tu sĩ buông thỏng hai tay (nhập triền thuỳ thủ, bức tranh 10) đi vào chợ để độ đời.
Mười bức tranh trâu có thể tóm gọn một câu : VÔ TÂM ĐẠO DỄ TẦM
* * *
THẬP MỤC NGƯU ĐỒ
Mười bài thơ dưới đây là của Phổ Minh Thiền Sư , do Trần Đình Sơn dịch
Tranh 1 : CHƯA CHĂN
< < < TÌM TRÂU
Đầu sừng dữ tợn rống hung hăng
Vượt suối xuyên ngàn mãi chuyển băng
Một đám mây đen giăng cửa động
Lúa non dẫm nát biết cùng chăng ?
THẤY DẤU TRÂU > > >
Ta có dây thừng sỏ mũi trâu
Mỗi lần nó chạy, đánh roi đau
Xưa nay tánh xấu, khôn điều chế
Nên kẻ chăn kia phải dãi dầu
Tranh 2 : MỚI DẮT
Tranh 3 : CHỊU PHÉP
< < < THẤY TRÂU
Trâu dần chịu phép thôi lung chạy
Vượt nước qua mây bén gót người
Trẻ nắm dây thừng quên nhọc mệt
Trọn ngày chăm chỉ chẳng hề lơi
ĐƯỢC TRÂU > > >
Lâu ngày chịu phép mới quay đầu
Tâm lực điên cuồng chuyển, chuyển nhu
Người dắt vẫn còn chưa chịu thả
Dây thừng giữ chặt dám lơi đâu
Tranh 4 : QUAY ĐẦU
Tranh 5 : NGOAN NGOÃN
< < < CHĂN TRÂU
Dưới bóng dương xanh khe nước sương
Buông buông, nắm nắm, mặc tình ta
Cỏ thơm, chiếu xuống, vừng mây biếc
Trẻ khỏi cần chăn vẫn tới nhà
CỠI TRÂU VỀ > > >
Thích ý nằm yên giữa đất bằng
Cần chi roi đánh với dây ràng
Cội tùng mọc tử ngồi êm ả
Tiếng sáo thanh bình vui thổi vang.
Tranh 6 : VÔ NGẠI
Tranh 7 : THEO CUỘC
< QUÊN TRÂU CÒN NGƯỜI
Sóng xuân lặng chiếu liễu bên bờ
Khói nhạt cỏ thơm xanh mởn mơ
Ngày tháng, đói ăn, cùng khát uống
Mục đồng trên đá ngủ say sưa.
TÂM KHÔNG >>>
Chẳng thấy người, trâu; dấu mịt mù
Ánh trăng trong suốt, thảy đều không
Muốn tìm ý chính bên trong ấy
Cỏ dại hoa thơm vẫn biếc nồng
Tranh 8 : CẢ HAI ĐỀU VẮNG MẶT
Tranh 9 : QUÊN NHAU
< PHẢN BỔN HUỜN NGUYÊN
Trâu trắng thường trong mây trắng bay
Vô tâm, người ấy lẫn trâu này
Trăng xuyên mây trắng, hình mây trắng
Mây trắng, trăng trong, đông lại tây.
BUÔNG TAY VÀO CHỢ > > >
Trâu kia đã vắng, mục đồng nhàn
Một đám mây đơn chốn núi xanh
Trăng sáng, vỗ tay cao tiếng hát
Quay về còn có một trùng quang
Tranh 10 : RIÊNG CHIẾU
Gui cac HTDM mot cau lien de vua moi design de tuy nghi xu dung .Van