KHÁI LƯỢC TÍNH NHÂN BẢN CỦA VĂN HÓA VÀ VĂN HÓA CAO ĐÀI

14 views
Skip to first unread message

THIEN CHI

unread,
Oct 28, 2011, 6:36:02 PM10/28/11
to DIỄN ĐÀN ĐẠI ĐỒNG
KHÁI LƯỢC TÍNH NHÂN BẢN
CỦA VĂN HÓA VÀ VĂN HÓA CAO ĐÀI

Đức Giáo Tông Vô Vi Đại Đạo từng dạy rằng :
“Văn hóa là sản phẩm tinh thần của xã hội dân tộc. Văn hóa có ảnh
hưởng một phần rất to tát trong xã hội nhân loại. Nó tế nhị mà bao la,
trầm lặng mà mạnh mẽ. Có thể đưa dân tộc từ chỗ đồi trụy trở về cuộc
sống thanh cao.
Bản chất của Văn hóa là đạo đức.
Hình thức của nó là ngôn từ chương cú, giáo dục. Thế nên, chư hiền đệ
muội có trách nhiệm phải ý thức cho sáng suốt....”
Đức Cao Triều Phát cũng dạy thêm :
“Văn hóa đạo đức tích cực xây dựng nhân sinh và tâm linh trên nền
tảng xã hội ngày mai cho đại đồng nhân loại.
Những ý chí sâu rộng mới khơi dậy nguồn mạch rộng sâu trên các đỉnh
đồi khắp cùng sa mạc”.
Vậy, trong khi truyền đạt cho chúng ta giáo lý Đại Đạo, các Đấng
Thiêng Liêng rất chú trọng đến Văn Hóa.
Văn Hóa ấy phải có ảnh hưởng rất to tát trong xã hội nhân loại, và
khơi dậy nguồn mạch rộng sâu trên những mãnh tâm hồn đã cằn cỗi bởi
khói lửa thế gian.
Đó phải chăng là Văn Hóa Nhân Bản.
Cho nên là những người tín đồ Đại Đạo chính là người xây dựng Văn hóa
đạo đức mà yếu tính Nhân Bản của nó cũng là trọng điểm của Giáo lý Đại
Đạo.

I. CÁC KHÁI NIỆM VỀ VĂN HÓA VÀ NHÂN BẢN :

Văn Hóa là gì ?
Theo Federico Mayor, Tổng giám đốc UNESCO : “ Đối với một số người,
văn hóa chỉ bao gồm những kiệt tác tuyệt vời trong các lĩnh vực tư duy
và sáng tạo; đối với những người khác, Văn hóa bao gồm tất cả những gì
làm cho dân tộc này khác dân tộc khác, từ những sản phẩm tinh vi hiện
đại nhứt cho đến tín ngưỡng, phong tục tập quán, lối sống và lao
động”.
“Cách hiểu thứ hai này đã được cộng đồng quốc tế chấp nhận tại Hội
nghị liên chính phủ về các chính sách văn hóa họp năm 1970 tại
Venise”
(Người đưa tin Unesco,11-1989,tr.5)
Theo Trần Ngọc Thêm, (Tìm về Bản sắc Văn hóa Việt Nam,1996) :

Văn Hóa có tính hệ thống : “Mọi hiện tượng, sự kiện thuộc một nền Văn
hóa đều có liên quan mật thiết với nhau”.
Văn hóa có tính giá trị: Văn = Vẻ đẹp = giá trị.
Văn hóa: trở thành đẹp, thành có giá trị.
“Nó là thước đo mức độ nhân bản của xã hội loài người.”
Văn hóa có tính nhân sinh “ Văn hóa là một hiện tượng xã hội, là sản
phẩm hoạt động thực tiễn của con người... nó là cái tự nhiên đã được
biến đổi dưới tác động của con người, là “phần giao” giữa tự nhiên
vàcon người : VĂN HÓA = TỰ NHIÊN ~ CON NGƯỜI
Văn hóa có tính lịch sử : “hình thành trong một quá trình và được
tích lũy qua nhiều thế hệ”.
Định nghĩa :“ Văn hóa là một hệ thống hữu cơ các giá trị vật chất và
tinh thần do con người sáng tạo và tích lũy qua quá trình hoạt động
thực tiễn, trong sự tương tác giữa con người với môi trường tự nhiên
và xã hội của mình”.(Trần Ngọc Thêm)

Theo Bác sĩ Nguyễn Văn Thọ (ít nhiều cảm nghĩ về văn hóa dân tộc) :
“ Văn hóa là tất cả những cố gắng của con người để cải thiện nội tâm,
gia đình, quốc gia, xã hội và hoàn cảnh, để con người có thể sống một
cuộc đời khác biệt với muôn thú, một cuộc đời thanh cao, đầy đủ nhân
cách, nhân vị, và nếu có thể, một đời sống tự do, tự tại, khinh khoát,
thần tiên.
“ Văn hóa nảy sinh do những ước mơ về Chân Thiện Mỹ và là nỗ lực của
con người để vươn lên cho tới Chân Thiện Mỹ, để thực hiện Chân Thiện
Mỹ”
Theo Thánh huấn Đức Giáo Tông Vô Vi Đại Đạo:
“Đừng nên hạn hẹp hai tiếng văn hóa trong khuôn khổ văn chương chữ
nghĩa hay một số môn học đạo đức, mà phải quan niệm cho thật sâu rộng,
đúng nghĩa của nó.
“ Văn Hóa đạo đức có những gì tốt đẹp sâu sắc trong lãnh vực triết
học, đạo lý, thần linh học, từ nhân sinh quan đến vũ trụ quan, sự liên
hệ giữa Trời và con người, sự liên hệ giữa Trời và vạn vật, sự liên hệ
giữa con người và con người, sự liên hệ giữa con người và vạn vật.
“ Văn hóa dân tộc nói lên được những cái gì cao quí tốt đẹp của một
dân tộc từ văn học, triết học, nghệ thuật, phong tục tập quán đến quốc
hồn quốc túy của dân tộc ấy”.

Nhân bản là gì ?
Qua sự tổng hợp đúc kết của triết gia ANDRÉ NIEL (Những tiếng kêu lớn
của Chủ nghĩa nhân bản hiện đại – Mạnh Tường dịch – Cao Dao xuất bản
3/69), có thể rút ra những định nghĩa Nhân Bản của các nhà nhân bản
hiện đại như sau :

Nhân bản là tính chất toàn diện, và hiệu năng phổ quát của con người
phóng khai từ bản vị rốt ráo nhất của con người chính danh ráp thành
cuộc sống hội nhập với thế giới thực tiễn và thúc đẩy sự tiến hóa
không ngừng.
Nhân bản là tính chất sinh động của nhân tính được con người thể hiện
ra trong cuộc sống.
Nhân bản không phải là sự biết con người (tri nhân) mà là sự thể hiện
con người (hành nhân), thực hiện con người tự thân và cả nhân quần.

Nhân bản là chủ hướng thuần khiết hóa nhân tính không ngừng, tạo
điều kiện khai phóng cho con người thăng tiến không ngừng.
Nhân bản là sự thể hiện cuộc sống con người đích thực trong tương quan
hài hòa với cộng đồng nhân loại và gắn bó với cứu cánh là siêu việt
thể của vũ trụ.
Trong giáo lý Đại Đạo, Ơn Trên dạy :
Nhân bản là các căn bản nhân tính; là nhân tính đơn thuần.
Nhân bản là giá trị của con người chính danh; là yếu tố để tạo thế
nhân hòa.
Nhân bản là tình cảm thiêng liêng mà Thượng Đế Chí Tôn dành cho mỗi
con người.
Nhân bản là truyền thống gia tộc và xã hội dân tộc.
Nhân bản là chí hướng đại đồng nhân loại.
Nhân bản là chân dung của con người hoàn thiện.
Qua các định nghĩa từ triết học đến giáo lý trên, có thể phát triển
cơ cấu của Nhân bản gồm :

Nhân tính bẩm sinh
Truyền thống nhân sinh
Chí hướng đại đồng
Lý tưởng tiến hóa.


II. TÍNH NHÂN BẢN TRONG CÁC LOẠI HÌNH VĂN HÓA:

1. Văn hóa cộng đồng :
Cộng đồng là một quần thể con người qui tụ bởi những yếu tố chung về
huyết thống, lịch sử, địa dư, sự sống còn và hoài bão hay lý tưởng.
Tình cảm sâu sắc giữa cộng đồng, đời sống cộng đồng ngày càng phát
triển trên phương diện vật chất lẫn tinh thần, tất cả phát huy thành
văn hóa cộng đồng với bản sắc của nó.
Cộng đồng nhỏ như làng xã Việt Nam có những bản sắc Văn hóa mang
nhiều tính nhân bản.
Về nhân tính : người trong làng đều xem nhau như họ hàng ruột thịt,
gọi nhau là “bà con cô bác”.
Về truyền thống : giữ gìn những phong tục tập quán bảo vệ luân lý đạo
đức chung.
Về ý hướng đại đồng : có lối làm ăn tương trợ “Làm vần công” trong
sản xuất; “nhiều tay vỗ nên kêu” mỗi khi hữu sự, “bà con xa không bằng
láng giềng gần” Những lễ hội như :- Hội vui xuân : - đấu vật – leo
cột mở – Kéo co đều có tính đại đồng và văn hóa nhân bản.
Lễ cúng đình : hội hè ăn uống tập thể, cúng kính thần làng; hát bộ,
một hình thức bảo tồn văn hóa dân tộc . . . là những hình thái sinh
hoạt tập thể và thể hiện niềm tin chung; là những hình thức bảo tồn
văn hóa dân tộc có bản sắc độc đáo.
Cộng đồng lớn như dân tộc :
Huyền thoại “con Rồng, cháu Tiên”, đồng bào “một mẹ trăm con” là nét
văn hóa đặc thù của dân tộc Việt Nam. Nó là niềm tin vào nguồn gốc
siêu nhiên, cao đẹp và uy hùng của giống nòi và tình cảm ruột thịt của
dân tộc.

Tính nhân bản ở đây là văn hóa cộng đồng dân tộc mặc nhiên công nhận
con người Việt Nam bẩm sinh có bản chất phi thường, được chứng minh
qua lịch sử. Từ đó tính nhân bản của cộng đồng phát huy thành lòng quả
cảm, bao dung và đức nhân nghĩa.
Bản sắc văn hóa thứ hai của cộng đồng dân tộc là tiếng nói. Ngôn ngữ
dân tộc trải qua chiều dài lịch sử đã khẳng định bản sắc riêng nhưng
ngày càng phong phú, sâu sắc, hoa mỹ. Người Việt Nam phải dùng tiếng
Việt mới diễn tả hết được tình cảm, tư tưởng của bản thân, của dân
tộc. Và chỉ có người Việt Nam, với tâm hồn người Việt Nam mới rung
cảm đúng mức với lời Việt.
Như thế tiếng Việt thuần túy, tiếng Việt của bản sắc Việt, tiếng Việt
của tình cảm Việt, của tư tưởng Việt là nhân bản của cộng đồng dân tộc
Việt Nam.
Những truyền thống đấu tranh để sinh tồn, những trang sử quật cường
để tự chủ, những sự nghiệp xây dựng tổ quốc lập thành nền văn hóa dân
tộc. Nền tảng luân lý của ông cha; nếp nghĩ, nếp sống theo đạo lý bao
đời tạo nên văn hóa đạo đức. Gọi là văn hóa vì đó là những đức tính
cao đẹp của con người trong đời sống nhân sinh xã hội và đời sống tâm
linh.
Hướng về nhân bản của cộng đồng dân tộc là giữ lấy và noi theo khuôn
mẫu mà cộng đồng đã un đúc qua lịch sử để nhân lên những đức tính ấy.
Như tâm sự này của một tiền bối yêu nước :
“Một dãy giang sơn dệt gấm hoa,
Ngàn năm văn hiến tổ tiên ta;
Nền xưa vun đắp nhờ con cháu,
Cho rạng năm châu, rạng đạo nhà”

2. Văn hóa, văn học, giáo dục, nghệ thuật.
Văn học là phương tiện phong phú để phát huy văn hóa. Nhưng muốn nó
là thứ Văn hóa có thể “đưa dân tộc từ chỗ đồi trụy đến chỗ thanh cao”,
phải có tính nhân bản.
Văn học phải lấy con người làm trung tâm.
Phải nêu lên được giá trị con người.
Đề cao tình người, mối liên hệ tốt đẹp bình đẳng có tình thương giữa
người và người.
Văn chương bình dân như ca dao, hát ru, hò vè, hát quan họ, hát bài
chòi... Thi văn đơn giản như Gia huấn ca của Nguyễn Trãi, Châm biếm
như Ngụ ngôn của La Fontaine, do tính nhân bản đã trở thành bất hủ.
Những tác phẩm đồ sộ của các văn hào, thi hào ca tụng những anh hùng,
vĩ nhân hay nói lên ước vọng làm người đúng nghĩa của kẻ nô lệ, của
người cùng khổ... đều có tính nhân bản.
Ở nước ta từ đầu thế kỷ 15 (1442) Vua Lý Thánh Tông đã cho lập Văn
miếu. Nơi đây đã dựng bia 80 vị tiến sĩ. Đây là một di tích đánh dấu
truyền thống quí trọng văn học văn hóa của dân tộc Việt Nam.
Giáo dục : Giáo dục là công tác đào tạo con người, tức là truyền đạt
kiến thức và xây dựng nhân cách.
Tính nhân bản của giáo dục đòi hỏi phải giúp cho đối tượng có óc sáng
tạo trong lãnh vực tri thức và một nhân cách tự do linh hoạt.
Đó là những điều kiện để mỗi cá nhân có thể tự phát huy tiềm năng và
nhân tính.

Nhưng sáng tạo và tự do lại phải được đặt trên bệ phóng nhân bản của
cộng đồng là văn hóa dân tộc và văn hóa đạo đức nhân loại.
Một điển hình giáo dục có nhân bản là chủ trương giáo dục vì hòa bình
của giáo sư Johan Galtung, một giáo sư người Na Uy đã sáng lập Viện
nghiên cứu quốc tế về hòa bình tại Oslo (Prio) năm 1959.
Vào cuối những năm 60 và đầu những năm 70 ông đã đưa chương trình
giáo dục vì Hòa bình vào các trường đại học và cao đẳng, cho đến nay
lên đến 500 trường ở khắp thế giới.
Ông cho biết “Giáo dục vì hòa bình là dạy cho người ta biết xử lý một
cách sáng tạo hơn và ít hung bạo hơn những tình huống xung đột và
cung cấp cho họ những phương tiện để làm việc đó” (Có thể nói là dạy
phương pháp tạo thế Nhân hòa)
Trong giáo lý Đại Đạo, công tác giáo dục đào tạo được Đức Giáo Tông
Vô Vi Đại Đạo nhấn mạnh mục tiêu đào tạo nhân sự “phẩm” và nhân sự
“hợp nhất”. Ngài dạy :
“Giá trị phẩm của từng cá thể phải được rèn đúc và xây dựng thường
xuyên. Giá trị đức tin, giá trị nhơn ái, giá trị tri thức, và giá trị
dũng mãnh của tinh thần, tất cả phải được nung nấu và cải thiện luôn
luôn.... Ngoài ra, trí năng và thể năng là hai năng lực bổ sung nhau,
giúp đở sự thực thi trọn vẹn đức tin và lòng nhân ái của chính mình”

Chúng ta thấy, Ơn Trên đã vạch ra một đường lối giáo dục hết sức
nhân bản.
Nghệ thuật là loại hình văn hóa đa dạng đem lại nhiều rung động và mỹ
cảm cho xã hội. Nhưng nếu nghệ thuật không dựa trên nhân bản sẽ dễ đưa
con người đến chỗ đồi trụy hay thác loạn, không có giá trị hoặc lai
tạp vô nghĩa.
Tập san UNESCO có một sáng kiến rất hay là mở ra trang “gặp gỡ” để
đăng ảnh của những sáng tác nghệ thuật với lời mời gọi như sau :
“Bạn đọc hãy gửi cho chúng tôi những bức ảnh chụp một tác phẩm hội
họa, điêu khắc hay kiến trúc thể hiện một sự pha trộn, giao hòa giữa
nhiều nền văn hóa. Bạn đọc cũng có thể gửi ảnh chụp hai tác phẩm có
xuất xứ văn hóa khác nhau mà bạn đọc nhận thấy có một mối tương liên
hoặc một nét tương đồng”.
Chúng ta hãy để ý những yêu cầu độc đáo trên. Chỉ có tính nhân bản
của nghệ thuật mới đạt được điều kiện cao trổi nầy.

Văn hóa tín ngưỡng và tôn giáo :
Nếu chúng ta đã nhìn nhận :
Văn Hóa là phần “giao” giữa con người và tự nhiên,
Giữa con người và con người, giữa con người và Trời....
Văn hóa là tất cả những cố gắng của con người để cải thiện nội tâm,
gia đình, quốc gia...
Văn hóa nảy sinh do những ước mơ về Chân Thiện Mỹ và nỗ lực của con
người để vươn lên cho đến Chân Thiện Mỹ.
Thì mặc nhiên tín ngưỡng và tôn giáo đã được nhìn nhận là một loại
hình văn hóa.
Dĩ nhiên, “phần giao” nói trên phải là sự mở rộng chiều kích giá trị
vi nhân đến tầm vũ trụ, chứ không phải là tương quan của một hạt bụi
tách từ một thiên thể.
Thứ đến, sự cố gắng và nỗ lực để cải thiện, để vươn lên chính là cái
ý thức tiến hóa không ngừng mà tín ngưỡng và tôn giáo có trách nhiệm
mang đến cho con người. Thiếu nó, tôn giáo hoặc trở nên những sinh
hoạt lễ hội, tầm thường hoặc trở nên một hệ thống cai trị khắc nghiệt.
Thế nên, tín ngưỡng và tôn giáo phải có đủ những điều kiện nói trên
là có tính nhân bản, mới xây dựng được nền văn hóa tâm linh đúng
nghĩa.
Đức Vạn Hạnh Thiền Sư dạy :
“......Tôn giáo là những khuôn vàng thước ngọc để khép con người từ
chỗ sa đọa trở nên hiền Thánh Tiên Phật, ung đúc con người từ chỗ
trọng trược lòng trần được thanh thoát cao siêu. Tôn giáo là mối dây
liên quan, là cửa thông đồng cho vạn dân chủng tộc........”

“Hỡi những ai là người thức tri thời vụ, ai là người đang đi trên
đường đạo học, ai muốn tìm chỗ uyên thâm của đạo lý, ai muốn thoát
khỏi cảnh ràng buộc trí não tâm linh giữa cõi đời hỗn loạn này, hãy tự
tin, tự giác, để tìm hiểu nguyên nhân nào đưa con người vào hoàn cảnh
tối tăm loạn lạc nầy. Có tìm thấy mới biết quay về với nhân bản, với
bản tính chất thuần lương mà từ thuở sơ sinh đã có hằng hữu Thượng Đế
giáng trung”.

III. NHỮNG ĐÓNG GÓP CỦA VĂN HÓA CAO ĐÀI CHO SỨ MẠNG PHỤC HỒI NHÂN BẢN.
1. Đóng góp bằng Văn hóa dân tộc :
Về nguồn gốc giống nòi, Cao Đài ghi nhớ công ơn Quốc Mẫu Au Cơ và
Quốc Tổ Hùng Vương.
Nền đạo Cao Đài được chơn linh các Đấng anh hùng dân tộc, các bậc
chân tu tiền bối đắc đạo âm phò mặc trợ và dìu dắt, như :
Hai Bà Trưng
Đức Thánh Trần
Đức Vạn Hạnh Thiền Sư
Đức Vân Hương Thánh Mẫu
Đức Lê Đại Tiên
Đức Phan Thanh Giản
. . .
Và chơn linh các nhà yêu nước như :
Đức Phan Bội Châu - Phan Chu Trinh - Cao Triều Phát . . .
Kinh điển, thánh giáo Cao Đài là một kho tàng văn thơ tiếng Việt
tuyệt tác về văn chương và siêu mầu về đạo lý. Văn thơ Cao Đài bảo tồn
và phong phú hóa tiếng Việt thuần túy một cách tài tình nhuần nhuyễn.

Văn hóa đời sống cộng đồng Cao Đài mang bản sắc Việt Nam hết sức đậm
đà.
_Đạo phục Cao Đài chính là quốc phục Việt Nam.
_Lễ hội Cao Đài là những sinh họat cộng đồng dung hợp văn hóa tín
ngưỡng truyền thống với văn hóa tâm linh Thiên nhân hiệp nhất đặc biệt
trong Tam Kỳ Phổ Độ.
_Nếp sống bình đẵng – huynh đệ giữa đồng đạo, đồng bào.

Kiến trúc Cao Đài :

_Các thánh thất với cấu trúc tam đài có tính chất đặc thù Cao Đài thể
hiện nền tảng giáo lý và tổ chức Hội thánh Cao Đài. Đặc biệt, các Đền
thánh như Đền thánh Tây Ninh, Trung Hưng Bửu Tòa còn được thiết kế
theo hình đồ Bát Quái Tiên-Hậu Thiên có ý nghĩa đạo học rất huyền
nhiệm.
_Trang trí nội thất và ngoại vi của thánh thất chủ yếu theo mô thức
tứ linh long-lân-qui-phụng mang bản sắc trang trí đền, điện Á Đông.
Lễ nhạc Cao Đài :
_Dàn nhạc với các nhạc cụ dân tộc hợp tấu các bản nhạc cổ truyền dân
tộc Việt Nam trong các buổi hành lễ tại thánh thất...
_Nghi lễ Cao Đài tổng hợp nghi thức tế lễ Tam giáo có từ lâu đời tại
Việt Nam.

2. Đóng góp bằng văn hóa đạo đức :
Phát huy truyền thống Tam giáo đồng nguyên lâu đời của dân tộc bằng
tôn chỉ “Tam giáo qui nguyên, ngũ chi phục nhứt”
Nêu cao tinh thần vạn giáo nhứt lý.
Mục đích “Thế đạo đại đồng, Thiên đạo giải thoát” giải quyết cải tạo
xã hội nhân sinh, xây đời Thánh đức song song với thực hành đạo pháp
để tiến hóa tâm linh.
Yếu tố nhân bản độc đáo nhứt, xuyên suốt nhứt của Đại Đạo Tam Kỳ Phổ
Độ là nguyên lý "“Thiên Nhơn hiệp nhứt”.

Đức Thượng Đế vận dụng yếu tố Nhân Bản ở phần “ Nhơn” để xây dựng cơ
cứu độ Kỳ ba. Đánh thức nhân bản nơi con người, Ơn Trên mới ban trao
sứ mạng để vừa tự độ, độ tha, vừa chuyển đưa các tôn giáo vào thực thể
Đạo cứu thế.
Trong suốt cơ Đạo, mối tương liên Nhân Bản Đại Ngã (Thiên) và Nhân
Bản Tiểu Ngã (Nhơn) lập thành thế “Thiên Nhơn hiệp nhứt” mới đủ quyền
năng xây dựng con người Đại Đạo và biến chuyển thế giới đến Nhân loại
Đại đồng, đó là thành quả của cơ đạo Kỳ Ba mà cũng là tiền đề của con
đường phản bổn hoàn nguyên.

Từ đó suy ra, Đại Đạo Tam Kỳ Phổ Độ có sứ mạng phục hồi Nhân bản từ
chiều kích “Vi Nhơn” đến chiều kích “Vũ trụ”.

IV.KẾT LUẬN
Sau khi nhận thức ý nghĩa của Văn hóa Nhân bản, sau khi nhận định đòi
hỏi bức thiết của yếu tố nhân bản trong các loại hình văn hóa, giờ đây
chúng ta hãy nhìn lại thực trạng xã hội nhơn loại.
Nhân loại đang bị mất thế quân bình giữa văn minh và văn hóa.
Nhân loại chưa nối được nhịp cầu thông suốt giữa Nhân sinh và Tâm
linh.
Vai trò của nền văn hóa đạo đức chính là xây dựng một con người sống
toàn diện nhân sinh lẫn tâm linh ở tầm kích vi nhân.
Vai trò của tôn giáo nhân bản phải xây dựng được con người ở tầm kích
vũ trụ nhờ rèn luyện đạo pháp, nhờ ở đức tin thúc đẩy con người tiến
hóa tâm linh.
Đại Đạo Tam Kỳ Phổ Độ được Đức Chí Tôn khai minh chính là để phục hồi
Nhân bản từ nơi mỗi con người, trong xã hội, đến nhân loại và trên
suốt con đường phản bổn hoàn nguyên của Chơn ngã Tiểu linh quang trở
về Đại linh quang.
Cái giá trị nhân bản ấy không phải chỉ tìm thấy ở tôn giáo hay trong
tôn giáo Cao Đài mà nó còn tiềm ẩn hay đã-đang được khám phá ở bất cứ
lãnh vực văn hóa dân tộc nào, văn hóa đạo đức nào của tất cả các dân
tộc trên thế giới, một khi con người được đặt đúng vào nhân vị.
Bởi vậy từ tôn chỉ qui nguyên phục nhứt của Đạo pháp đến Đại đồng
giải thoát của mục tiêu, từ nguyên lý “Thầy là các con, các con là
Thầy” đến Nguyên lý “Thiên Nhơn hiệp nhứt”, Đại Đạo đã trao cho loài
người chiếc chìa khóa Nhân Bản là phương cách duy nhứt để giải quyết
tất cả những vấn nạn của Thiên hạ và chuyển đưa thiên hạ hiệp nhứt
cùng Thiên thượng.◙

Reply all
Reply to author
Forward
0 new messages