_____________________________
ĐI TÌM NHỮNG GIÁ TRỊ PHỔ QUÁT
Từ khi Đức Chí Tôn khai Đạo, Thầy đã nhiều lần nhắc nhở môn đồ rằng,
Thầy mở Đạo kỳ này là thực hiện đại cuộc Qui nguyên.
Qui nguyên có nghĩa là trở về nguồn gốc sau những thời kỳ vạn sự, vạn
vật được sanh hóa cùng cực, lại đến giai đoạn quay về chỗ khởi sanh.
Gốc chỉ có một, mà ngọn thì thành muôn. Vì thiên hình vạn trạng nên
các loài đều khác nhau về hình thức. Đối với loài người, chẳng những
khác nhau về màu da sắc tóc, mà về tinh thần và tư tưởng lại càng có
nhiều dị biệt. Từ đó nảy sinh khái niệm “Bản thể - hiện tượng” là hai
phạm trù đi đôi như Âm với Dương, nhưng có những mối tương quan mật
thiết.
Để giải thích lý tương quan ấy, các đạo gia nêu lên chủ thuyết “Đạo là
Mẹ của muôn loài” , Nho gia nói “Thiên địa vạn vật đồng nhất thể”,
Phật nói “Nhất thiết chúng sanh giai hữu Phật tánh”. Các triết gia thì
đề cập khái niệm “phổ quát đối ứng với bản sắc đa thù”. Về văn hóa,
một triết gia viết: “Văn hóa nhân loại, trong bất kỳ trường hợp nào
cũng không thể quy gọn ở mức là tổng số của những nền văn hóa riêng
biệt. Bởi vậy, Goethe kêu gọi các nhà thơ, các nghệ sĩ và các nhà tư
tưởng hãy ra khỏi cái khung dân tộc mà Herder và các đồ đệ của ông
khuôn họ vào.”
Thời nay, sự phân hóa tư tưởng con người ngày càng phức tạp, dẫn đến
những mâu thuẫn ý thức hệ, chia rẽ giữa nội bộ các dân tộc, giữa các
quốc gia. Chiến tranh và bạo lực liên tiếp bùng nổ, thế giới đang đứng
trên bờ vục thẳm, lòng người hoang mang . . . Người ta đang đi tìm chỗ
dựa tinh thần nơi các tôn giáo; nhưng lại thất vọng vì nạn kỳ thị tín
ngưỡng. Giữa lúc ấy, Đấng cứu tinh đã đến, trao cho người thời đại
thông điệp “đại đồng qui nguyên”:
Thầy sắp cuộc dinh hoàn tái tạo,
Dụng huyền linh Đại Đạo vận hành,
Quyền Thầy hiệp cả vạn sanh,
Đông tây, kim cổ lập thành tương lai.
Đặc biệt, thông điệp này báo hiệu cơ “Thiên nhân hiệp nhất”, giải
quyết cuộc diện bế tắc dựa trên năng lực hiệp đồng vạn sanh và vận
dụng những giá trị phổ quát rút ra từ trong lịch sử văn minh xa xưa-
hiện đại toàn cầu.
Những giá trị phổ quát là những tinh hoa tinh thần nâng cao nhân vị
vượt không gian và thời gian. Đại Đạo Tam Kỳ Phổ Độ khẳng định giá trị
phổ quát ưu việt đều có trong mỗi cá thể con người không phân biệt
giai cấp, chủng tộc hay tôn giáo. Đó là “Đạo tự hữu”. Nên thánh giáo
Cao Đài viết: “Cái bản vị cao quí của con người đối với vạn vật vạn
linh cũng là cái rất quan trọng với chính nó trong cuộc sống toàn diện
là sống theo đúng bản vị của con người trong ý nghĩa bất tử bất
biến.”
Sứ mạng trọng đại của Tam Kỳ Phổ Độ là làm thế nào vạch ra đường lối
phát huy động lực thăng tiến từ bản vị ấy. Nên Đức Giáo Tông vẫn ưu
tư: “Nhưng than ôi! Nào có mấy ai hiểu thấu ý nghĩa đó để chấp nhận
cho mình một đời sống chân chính trong sứ mạng hoằng giáo độ đời.”
Thế nên, Đức Chí Tôn Cao Đài mới gióng lên hồi chuông Khai Minh Đại
Đạo để thức tỉnh những ai quên lãng Bản thể chơn nhơn của mình. Nhờ đó
biết sống lẽ sống đích thực bằng giá trị “thiên hạ tối linh”, và dám
lặp lại tuyên ngôn “Thiên thượng, thiên hạ duy ngã độc tôn” của Đức
Thích Ca Như Lai.
Đại Đạo vận hành trong lẽ Một,
Một mà tất cả phải làm sao?
Làm sao từ huệ được viên dung,
Duy ngã độc tôn biết chỗ dùng,
Thiên thượng bao trùm ơn đức cả,
Nhơn gian nhuần gội nghĩa tình chung.
Vậy những giá trị phổ quát giữa nhân gian là những gì có công dụng đại
đồng; ở đâu, đối với bất cứ ai, đều đem lại sự chuyển hóa thân tâm trở
nên tươi đẹp an vui, và sự nghiệp thăng tiến như Văn ngôn hào Lục ngũ
quẻ Khôn viết: “Quân tử hoàng trung thông lý. Chính vị cư thể. mỹ tại
kỳ trung, nhi sướng ư tứ chi. phát ư sự nghiệp. Mỹ chi chí dã.” Hơn
thế nữa, người sứ mạng lại lấy lòng Trời làm lòng mình, bao dung dưỡng
dục quần sanh vô tư vô kỷ vô công, đó là giá trị phổ quát của thiên
tâm, chân ngã bao trùm vũ trụ vạn vật.
Vi nhân tử tài thành nhân vị,
Phật Thánh Tiên nhất lý do hà,
Vô tư vô dục vô tà,
Từ bi, bác ái, trung hòa lợi sanh.
Tóm lại, giá trị phổ quát gần gũi thiết thân con người nhất là “tấm
lòng”, vì “Tấm lòng của nhân loại mới chính là nơi chân lý cứu rỗi
phát sinh tạo thế an bình cho nhân loại.”
Ban Biên Tập
* * *
Kính Đạo Huynh Thiện Chí và Quí Vị,
Cám ơn Đạo Huynh đã giới thiệu bài viết “Đi tìm những giá trị phổ
quát” của Ban Biên Tập Nhịp Cầu Giáo Lý. Tệ đệ đã đọc, và theo sự nhận
hiểu khiêm tốn của bản thân thì Cái Cội Nguồn, hay Bản Nguyên mà con
người cần nên tìm về nhằm vâng hành đúng Lời Thánh Huấn của Thầy là
Tâm, là Tấm Lòng. Tâm có nhiều tên gọi, Non Bồng Nước Nhược là
Tâm,Tiên Bang Phật Quốc cũng Tâm. Nhưng Tâm là gì, làm sao biết Tâm để
trở về Tâm? Trong Kinh Thánh Đức Chơn Kinh nơi bài Giới Tâm Kinh Ơn
Trên dạy: Chữ Tâm sách giải chưa thông, Nữa ngoài vật dục, nữa trong
Cơ Trời. Vua Nghiêu truyền ngôi cho Vua Thuấn, Vua Thuấn truyền ngôi
cho Vua Vũ cũng nhấn mạnh: Nhơn Tâm duy nguy, Đạo Tâm duy vi.. Như
thế, cái Cơ Trời-Đạo Tâm thật nhặc nhiêm tế vi, còn cái phàm tâm-vật
dục thì biến trá khôn lường. Vậy thì, làm sao có cách nào chúng ta
nhận diện cho được cái “duy nguy” đó mà loại bỏ, cái “duy vi” đó mà
bảo trọng? Trong cuộc sống hằng ngày, mọi sinh hoạt ăn uống ngủ nghỉ
giao tiếp với đồng loại và vạn loại chung quanh chúng ta phải làm sao,
có cách gì cụ thể để để chỉ ra một phương thức thực hiện từng bước-
từng bước trên Lộ Trình Trở Về Cội Nguồn nầy?
Một chút suy tư tự hỏi, xin phép được đưa ra và chờ đọc tôn ý của Quí
Vị.
Kính,
Minh Tranh.
Thành tâm kính chúc Quí Vị tâm thể an khang.
Thân Kính
M.Tranh
* * *
2011/11/28 <humho...@aol.com>
Muốn tìm thấy thiên tâm, mình nên lần bỏ cái nhân tâm hay là cái
ngã. Dẹp bỏ được phàm tâm thì thiên tâm hiện.
Thực tế trong cuộc sống hằng ngày, giản dị nhất là thương yêu
(thương chúng thương mình thương tất cả) cả chúng sanh (vì ta và vạn
vật cùng là một) và tôn trọng lẽ công bình tức là đừng là cho kẻ khác
những gì mình không muốn làm cho mình. Muốn được vậy, mình cố dẹp bớt
cái ngã, dục vọng, tham sân si.
Muốn chừa bớt ham muốn, mình nên biết tự đủ. Khi lòng tham nổi
dậy, ta hỏi lòng mình xem nếu ta không có được cái đó cuộc đời ta sẽ
ra sao, ta có bị suy sụp trầm trọng, hay bị hiểm nguy, không thể sống
được? Hoặc ta có thể nghĩ đến biết bao những kẻ khốn cùng ở một phương
trời nào đó đang chịu mọi thiếu thốn, khổ cực, không có đủ miếng ăn,
ta có thể cảm thấy rằng mình đang quá đầy đủ, đầy đủ hơn biết bao kẻ
khác và lòng ham muốn vật chất sẽ bớt đi.
Thương người và phục vụ người trong khả năng của mình. Không nhất
thiết phải giàu có. Một miếng khi đói bằng một gói khi no. Của cho
không bằng cách cho.
Tôn trọng lẽ công bình. Khi ta làm điều gì hại cho kẻ khác và lợi
cho mình ta tự hỏi mình có muốn người khác làm như vậy cho mình không.
Không cần phải tìm kiếm kinh điển đâu xa, cố gắng thực hiện hai
điều giản dị trên mình có thể tìm thấy được thiên tâm.
Kinh sách đầy đầu chưa thoát tục,
Đơn tâm khó định lấy chi mong.
* * *
Kính Hiền huynh Bùi Đắc Hùm,
Thật vậy! đạo lý rất giản dị, đạo lý cũng là lẽ tự nhiên. Nhưng tiếc
thay, đa số người đời do dục vọng mà không chịu sống cái sống tự
nhiên, nên cuộc đời hóa ra phức tạp, thế gian trở nên một trường đau
khổ. Suy ra cái gốc của mọi vấn nạn đều do những chuổi biến hiện của
tâm. Muốn nó dừng lại không phải dễ, nên thánh hiền mới gia công dạy
đạo. Thật ra tâm đạo cũng không nằm trong thiên kinh vạn điển. Kinh
điển cũng chỉ là ngón tay chỉ trăng, mà trăng cũng không phải là Chân
Tâm. Thật ra khi nào nội tâm đã định rồi mới phát sinh ánh sáng phản
chiếu từ ánh sáng mặt trời, là lúc hiển lộ tình thương tiềm ẩn từ lúc
sơ sanh của mỗi người.
Ôi ! nếu tình thương giữa người và người, giữa người và vạn vật đã
chan hòa trên thế gian thì đâu cần có kinh điển chùa thất, thánh kinh,
thánh giáo. Hai chữ Tình Thương thật đơn giản, nó ở trong "tấm lòng"
mà ai cũng có, nhưng trường đời, trường đạo phải ra sức gõ cửa "tấm
lòng", dần dần xã hội mới có cuộc sống thái bình an lạc nhờ công dụng
của Tình thương.
Những điều chúng ta đang bàn luận thật ra cũng chỉ là "tấm lòng" muốn
góp phần khơi dậy Tình thương!
Đây là sự đồng cảm chân thật với những ý kiến của Hiền huynh.
* * *
Kính chư Huynh Tỷ,
Nghe nói đến: "Đạo rất giản dị, đạo lý cũng là lẽ tự nhiên" thì đây là
điều hết sức "lý tưởng" là "giấc mơ" muôn thuở của nhân thế, trong đó
có cá nhân tôi. Nhưng than ôi cái điều "giản dị" cái lẽ "tự nhiên" kia
lại bị con người làm cho nó phức tạp để rồi chỉ còn lại "cái ngón tay"
chứ mặt trăng ở đâu thì chẳng thấy tăm dạng đâu cả!
Nói rằng cái thực của Đạo là "sự thương yêu" nó nằm ngay trong chính
mỗi chúng ta nên chúng ta có sẳn cái kho tàng thương yêu đó thế mà sao
chúng ta không thể hiện được ra bên ngoài? chúng ta không thu hút được
nhân tâm dù đã hao tốn biết bao nổ lực bao hi sinh? Chúng ta có tình
thường mà sao chúng ta không như nam châm thu hút được sắt thép? Tại
sao, hay cái gì đã làm cho cái "giản dị" cái "tự nhiên" cái kho tàng
qúi báu trong chính chúng ta kia biến đi đâu mất chỉ còn lại lòng phàm
chỉ hiện ra phân hóa thay vì thương yêu hòa hiệp?
Cá nhân tôi có chút "cảm nhận" rằng Đạo cũng lắm giản dị vì tôi tin
chắc rằng Đạo có ngay trong bản thân của mình. Nhưng cái cảm nhận với
cái "biết" hay cái "sống thực với nó" thì đối với tôi, ôi thôi nó xa
vời quá! khó khăn quá! Việc nầy đối với tôi nó chẳng đơn thuần chút
nào cả. Có lẽ vì cái khó ấy mà tình thương trong sinh hoạt thực tế chỉ
là những từ ngữ đẹp đẽ và rất nặng ký, nhất là trong giới tu hành nó
được tô thêm son phấn cho thêm hấp dẫn cho thêm kỳ diệu. Xưa nay tôi
chỉ tin vào một điều mà chính bản thân chưa kinh nghiệm được nên còn
nhiều nghi vấn về Đạo hay Tình thương. Rất may khi đọc được ý kiến của
qúy Huynh bàn về Đạo về Tình Thương tôi có được khái niệm chút ít về
"tình thương" tức lẽ "tự nhiên" hay Thượng Đế hay Đạo..., có lẽ muốn
gọi gì thì gọi.
Nếu quả thật tình thương là Đạo là Thượng Đế thì nó rất ĐÚNG như qúy
Huynh đã nói: "Hai chữ tình thương thật dơn giản, nó ở 'trong lòng' mà
ai cũng có, nhưng trường đời trường Đạo phải ra sức gỏ cửa 'tấm lòng',
dần dần xã hội mới có cuộc sống thái bình an lạc nhờ công dụng của
tình thương".
Ôi! Sao mà cái có sẳn nơi chúng ta mà khó khăn quá vậy? Đối với cái có
sẳn nầy Thánh nhân đã bao lần khổ cực chỉ dạy mà thế nhân cũng chưa
thực hành được? Giờ đây Thượng Đế cũng lâm trần để dìu dắt thế mà sao
mà "càng thực hiện thương yêu thì càng xa cách? Trong thực tế càng rao
giảng về thương yêu hòa hợp" thì lại càng phân hóa, càng giận hờn?
Phải chăng vì: "Đời loạn nên đem Đạo cứu đời. Ngờ đâu Đạo cũng thế thì
thôi"?
Phải chăng vì người tu Đạo ngày xưa thì "tu Đạo" rồi mới hành Đạo, còn
ngày nay thì "hành Đạo" rồi mới tu đạo nên hai đường trài nghịch, kết
quả rất ê chề thảm thương như thực tế đã diễn ra. Nếu chúng ta có bình
tâm nhìn vào thực tế thì thiết tưởng cũng nên học nơi gương của người
xưa, học hạnh của Thầy, học: "Vô vi nhi dịch sử quần linh để thấy rằng
Tam Kỳ là tiếp nối và hoàn thành một hành trình mà chưa bao giờ đặt
chân đến, hoàn toàn mới mẻ. Thiển nghĩ rằng, khi thấy được xưa nay
chẳng khác, đời Đạo không hai, tình thương là hành động là việc làm là
công quả chứ không là danh từ, không là ngôn ngữ. Thiển nghĩ rắng, có
làm được như người xưa đã làm, làm thật nhiều mà lại "vô vi", làm theo
cái THẬT CÁI CÓ SẲN TRONG LÒNG như người xưa đã làm đã đem lại thái
bình cho nhân loại thì an lạc sẽ có nơi chính mình và lan tỏa ra bên
ngoài. Xin suy gẩm cách làm của người xưa:
"Đại kỳ tâm dung thiên hạ chi vật
Tiềm kỳ tâm thu thiên hạ chi thiện
Bình kỳ tâm luận thiên hạ chi sự
Hư kỳ tâm ứng thiên hạ chi biến"
Tôi là phận tín đồ tin Thầy học đạo tu thân. Thấy cái làm của người
xưa, thấy cách độ thế của Thầy, thấy những điều chỉ dạy trong Thánh
ngôn Thánh giáo nên có chút mong muốn vậy thôi. Ước gì chúng ta Thương
Hành như Người Xưa từng làm. Có lẽ Thương hành như vậy mới THẬT
THƯƠNG, THẬT HÀNH. Thiết nghĩ rằng làm được như thế thì cái công năng
của tình thương mới bừng dậy trong lòng, ngón tay chính là mặt trăng
muôn đời tỏa sáng. Mong sao được như vậy.
Xin kính chúc qúy vị anh vui để THỰC HÀNH ĐẠO VÀ THỰC HÀNH THƯƠNG YÊU.
Kính chào
Lê Vinh Tuấn
* * *
KG Chư Hiền Huynh Tỹ,
Như vậy những giá trị phổ quát là : TÂM và THƯƠNG YÊU.
Đạo đệ nhớ tới lời THẦY dạy : « Các con hãy nhận thức lòng Thầy để đem
vào lòng các con và tập lần lần để cho lần lần được thành-công trên
quan-điểm Yêu-Thương. Ảnh hưởng ấy sẽ đem đến sự hoằng dương đạo-lý
của Thầy. ».
Chúng ta lưu ý Thầy lặp đi lặp lại hai chữ "lần lần "...