LÒNG TRẮC ẨN VÀ SỰ HỔ THẸN
Hoàng Ngọc Diệp sinh ở Nha Trang, trong một gia đình đông anh chị em, trưởng thành ở Úc, từng làm việc tren 28 nước. Năm 1991 về Việt Nam và ở luôn tại đây. Ông làm giám đốc và Trưởng đại diện của khá nhiều công ty nước ngoài. Giúp thành lập 7 công ty tại Việt Nam có 5 công ty khá thành công, nhất là ở lĩnh vực viễn thông và công nghệ thông tin. Nguyên là GĐ Cao cấp của Qualcomm (Mỹ) tại Việt Nam.
"Lòng trắc ẩn và sự hổ thẹn" là bài viết cho các con của ông, được đăng trên facebook cá nhân vào năm 2011, đã được chia sẻ trên nhiều website cũng như các blog cá nhân khác. Tuy thời gian cũng khá lâu kể từ ngày được viết, nhưng nó vẫn còn nguyên tính thời sự, và cũng là đôi lời tâm sự của một lớp người thành công đi trước, gửi đến thế hệ trẻ của Việt Nam. Wegreen xin được trân trọng giới thiệu cùng quí bạn đọc.
MỘT CÂU CHUYỆN VỀ LÒNG TRẮC ẨN
Vào các năm cuối thập niên 1990 và đầu thập niên 2000, bố có dịp cùng đi hoặc tổ chức đưa các phái đoàn cấp lãnh đạo nhà nước thăm và làm việc ở các nước trong khu vực. Có lần đến Hong Kong cùng một số vị bên Bộ Lao Động và Bộ Kế Hoạch Đầu Tư, bố cố tình sắp xếp để sáng Chủ Nhật, ngày cuối của chuyến đi, đưa họ đi ăn sáng; để đến nhà hàng, mọi người phải đi bộ qua hai công viên nhỏ từ khách sạn.
Khi đi ngang qua hai công viên này, phái đoàn thấy lạ vì sao có quá nhiều phụ nữ da ngâm đen, như họ đến từ Việt Nam hay Philippines, đang tụ tập tại đó với nhau. Phái đoàn dừng lại chụp hình với những người này, hỏi ra thì quả là họ đến từ Philippines để làm người ở đợ (còn gọi một cách nhẹ nhàng là người giúp việc nhà) cho các gia đình tại Hong Kong.
Trong khi ăn sáng, bố kể cho phái đoàn biết hoàn cảnh của những người đi làm người giúp việc nhà này, bố cho biết họ may mắn hơn những phụ nữ Việt Nam đi làm người ở đợ tại các nước khác, vì Hong Kong, qua gần một thế kỷ dưới sự quản lý của Anh Quốc, đã xây dựng được hệ thống theo dõi và quản lý những người giúp việc tại Hong Kong; tất nhiên vẫn xảy ra một số vụ hành hạ và xâm phạm tình dục, nhưng ít hơn rất nhiều so với các nước khác như Hàn Quốc hay Đài Loan. Bố còn cho họ biết, qua nghiên cứu của Hiệp Hội Bảo Vệ Phụ Nữ Thế Giới, thì hầu hết những phụ nữ này sẽ không thể tìm được một gia đình hạnh phúc nếu họ đi ra khỏi nước và trở về khi còn trẻ, và gia đình sẽ đổ vỡ chia ly, hoặc không thể lập gia đình nếu họ đi và về khi ở tuổi trên 30.
Sau đó bố hỏi họ một loạt câu hỏi như “Tại sao chúng ta xuất khẩu những người đi ở đợ mà báo chí ca ngợi các kỷ lục xuất khẩu lao động?, “Quý vị có sẵn sàng đưa chị em gái hay con gái của mình đi làm người giúp việc nhà tại Đài Loan không”, “Nhà nước và quý vị có thấy việc xuất khẩu phụ nữ Việt Nam đi ở đợ là một sự hổ thẹn của đất nước không?” v.v… mọi người đều tỏ ra rất buồn; vài người thì giận dữ với bố vì cho rằng bố không biết gì về hoàn cảnh đất nước và đã xúc phạm họ! Tất nhiên, bữa ăn sáng không còn vui, rồi mọi người ra về trong im lặng.
Mười mấy năm qua, số người đi xuất khẩu lao động theo diện này vẫn cứ tiếp tục, mặc dù những bài báo nói về chuyện này đã giảm, nhưng vẫn chưa có một kế hoạch gì để bảo vệ cho họ; mặc dù như vậy, bố vẫn hằng mong nhà nước sớm xây dựng được các kế hoạch đào tạo và tìm công việc làm cho họ tại chính đất nước Việt Nam mình.
Cho đến nay bố vẫn cứ lo lắng, băn khoăn, thỉnh thoảng mất ngủ về những số phận này! Bố tin chắc trong mấy trăm ngàn người đang đi ở đợ, hay lao động chân tay cấp thấp nhất, ở nước ngoài, phải có những người bà con của bố và của các con trong số này!
Với bố, đây là một trong vô vàn điều trắc ẩn cần phải có trong mỗi công dân Việt Nam, từ cấp lãnh đạo cao nhất xuống tới ngay những người có số phận đen tối này! Các con có lòng trắc ẩn cho những số phận này hay những số phận khác còn đáng thương hơn nữa đang sống ngay tại đất nước mình không? Có đủ lòng trắc ẩn để chuyển nó thành năng lực để nhắc nhở, thúc đẩy các con phát triển và dấn thân mỗi ngày không? Các con phải luôn nhắc nhở bản thân mình nhé!
MỘT CÂU CHUYỆN VỀ SỰ HỔ THẸN
Tại các thành phố lớn trên khắp nước, giờ đây, nơi nào cũng nhiều nhà lầu, nhiều chung cư trung bình hay cao cấp; hầu hết các công chức nhà nước từ cấp trưởng phòng trở lên, nhất là các cấp phó giám đốc sở trở lên, đều có nhà riêng, cho con đi du học nước ngoài, có vài cái nhà hay miếng đất thêm để làm của cho con. Trên đường phố thì đầy xe hơi các loại, trong đó có khá nhiều xe vô cùng đắt tiền, nhất là ở Hà Nội, Sài Gòn, và vài thành phố lớn khác. Có luôn cả những chiếc xe mà chính các bạn nước ngoài của bố phải ngạc nhiên là người Việt Nam mình làm sao mua nổi, vì ngay cả chính họ, những doanh nhân triệu phú USD, cũng chưa dám nghĩ tới!
Mỗi ngày chi tiêu của rất nhiều “thiếu gia”, “trung gia” hay “đại gia” thường lên đến vài chục triệu đồng, nhưng hình như họ không phải làm gì vất vả hay nặng nhọc hết!
Quả thật đời sống của người dân nói chung ở chừng mức nào đó rất phát triển, nhất là so với thập niên 1980s hay đầu thập niên 1990s. Còn đời sống của các vị lãnh đạo cấp quốc gia thì khỏi phải bàn! Bố đã gặp nhiều trường hợp kinh lắm. Cái cách họ cho con đi học, cách mua sắm nhà cửa, xe hơi để phục vụ cho các con của họ ở nước ngoài, thì các gia đình trung lưu, và ngay cả thượng lưu từ các nước khác cũng gửi con đi du học cùng trường không thể nào sánh nổi!
Mặt khác, nhìn chung xã hội Việt Nam mình thì những người nghèo lại còn quá nhiều! Sự cách biệt giữa những gia đình giàu có, chức quyền và đại đa số người dân còn lại càng ngày càng xa! Chỉ cần một trong những chiếc xe hơi của một gia đình giàu có là dư sức để cho cả một đại gia đình nghèo đang sống trong cùng thành phố có thể có nhà ở và con cái được đi học cả đời! Các con có bao giờ thắc mắc về điều này không? Các con có nhìn thấy sự vô tâm hay vô tình và bất bình đẳng của tầng lớp cao, tầng lớp lãnh đạo, đối với đa số nhân dân không?
Điều làm cho bố hổ thẹn nhất, phẫn nộ nhất, đó là chuyện xảy ra cách đây vài ngày!
Khi có những dấu hiệu thế giới sẽ đưa Việt Nam mình ra khỏi danh sách các nước nghèo, thì ngay lập tức lãnh đạo nhà nước, ông Thủ tướng, đã phát biểu, giải thích với thế giới rằng “Việt Nam vẫn còn là nước nghèo”,[*] nhằm để thế giới tiếp tục giữ nước mình trong danh sách các nước nghèo.
Lý do là vì họ muốn vẫn tiếp tục được NHẬN VIỆN TRỢ !
Hình như họ cho rằng Việt Nam mình làm ăn mày thế giới là chuyện tốt chăng? Trời ạ, hay còn tệ hơn nữa, có khi họ cho việc cố gắng thuyết phục thế giới để Việt Nam mình nằm trong danh sách các nước ăn mày là một công lao lớn của họ đối với đất nước?
Các con hãy cùng bố thử đánh giá đất nước mình vào thời điểm 2011 này nhé: Việt Nam đã thống nhất hơn 36 năm, không còn phân tranh, chia rẽ, nội chiến hay bị xâm lược nữa nhé, ngoại trừ một cuộc chiến nhỏ ngắn ngày với Trung Quốc (cái đất nước láng giềng mà ngày nay người ta còn gọi một cách giễu cợt, để cười ra nước mắt, là Nước Lạ) vào năm 1979, nhưng cuộc chiến đó cũng đã 32 năm rồi. Như thế không thể lấy mãi lý do vì chiến tranh mà nước mình nghèo đói, phải không nào?
Việt Nam hiện là một trong vài nước xuất khẩu nông thuỷ sản dẫn đầu thế giới. Việt Nam còn có các nguồn tài nguyên quan trọng khác đang được khai thác. Như vậy, trên nguyên tắc Việt Nam không thể đói và nghèo được!
Ai cũng biết chúng ta có rất nhiều người tài giỏi trong gần 90 triệu người Việt ở trong nước và ở nước ngoài, từ chiến lược gia cho EU, các khoa học gia trong gần như mọi lĩnh vực làm việc tại các trung tâm khoa học thế giới, các nhà quản trị, kinh tế, giáo sư đại học, bác sĩ, luật sư… v.v…, nhiều vô số kể. Như vậy, trên nguyên tắc, không thể bảo Việt Nam không có nguồn nhân lực nòng cốt để tiếp tục nằm trong tình trạng lạc hậu và quản lý quốc gia yếu kém nữa.
Như vậy tại sao Việt Nam mình vẫn còn lạc hậu, vẫn còn có thể — theo lời ông Thủ tướng — được chứng minh là nghèo đói?
Vì tham nhũng chăng?
ĐÚNG!
Nhưng gốc của tham nhũng từ đâu ra?
Do trời sinh, do người dân thiếu lòng tự trọng và tham lam, hay do tính đặc quyền từ một lối “cơ cấu” và “cơ chế” bởi guồng máy quyền lực?
Đừng đổ cho ông Trời nhé! Cũng đừng đổ cho nhân dân, vì người dân của hầu hết mọi quốc gia đều rất đơn giản, họ chỉ làm theo những gì guồng máy lãnh đạo làm và chính quyền cho phép hay lỏng lẻo trong quản lý mà thôi!
Thế thì còn lại là vấn đề “cơ cấu” và “cơ chế” của guồng máy lãnh đạo!
Vì thiếu nhân tài chăng?
Sai, nhưng thực tế thì Đúng!
Sai là vì mình có rất nhiều nhân tài, nhưng Đúng trên thực tế vì guồng máy lãnh đạo chỉ sử dụng những người trong “cơ cấu” cho dù họ yếu kém, bất tài hơn những người bên ngoài cơ cấu!
Phải chăng guồng máy quyền lực hiện nay không có ý định thay đổi để tận dụng nguồn lực bên ngoài này cho dù họ đã cho thấy sự bất lực của “cơ cấu” mà họ tạo ra?
Vì thiếu sản phẩm sản xuất trong nước chăng?
Sai, nhưng thực tế thì có khác! Sai vì mình là một trong vài nước dẫn đầu sản xuất và xuất khẩu nông thuỷ sản và nhiều mặt hàng khác, nhưng trên thực tế hầu hết đều chỉ là cung cấp ở mức nguyên liệu thô hay gia công với giá thành thấp nhất!
Phải chăng là vì các công ty không có khả năng? Hay guồng máy nhà nước không biết quản lý để giúp họ khắc phục và nâng cao giá trị sản phẩm?
Như vậy, nếu ta nghiêm túc đặt Việt Nam mình là nước nghèo đói và lạc hậu, thì phải tự mình nghiêm túc tìm hiểu tạo sao và tự khắc phục nó!
Ngay sau khi chiến tranh, thế giới cho nước mình là nghèo đói thì có thể chấp nhận được. Nhưng sau mấy chục năm thống nhất, khi thế giới dự tính đưa nước mình ra khỏi danh sách các nước nghèo đói, thì lãnh đạo nước lại đại diện cho đất nước tự biện giải để tiếp tục nằm trong danh sách các nước nghèo đói, hầu tiếp tục làm một đất nước ăn mày!
Như vậy thì làm sao công dân Việt Nam mình có thể có một niềm tự tin, niềm hãnh diện để góp sức và tận lực phát triển?
Đúng ra, khi nhận được dự tính đưa nước mình ra khỏi danh sách các nước nghèo đói, chúng ta nên xem nó là một tin vui; mọi người dân Việt Nam mình phải hoan nghênh và hãnh diện về khả năng tự phát triển thoát nghèo để tiếp tục thay đổi, tiếp tục chuyển mình! Như vậy mới là một quốc gia có danh dự, có lòng tự trọng và có khả năng tự lực phát triển, phải không nào?
Trong lịch sử nước Việt Nam mình đã có nhiều lần chịu nhục! Nhưng những lần đó đều là vì sự áp chế của bọn xâm lăng nước ngoài.
Nhưng lần này thì khác, các con nhớ dùm bố, đây sẽ là lần nhục nhã nhất trong lịch sử của Việt Nam!
Vì lãnh đạo nước mình tự nguyện chịu nhục với thế giới bằng cách tự nguyện xin làm một đất nước ăn mày, một dân tộc ăn mày, chứ không chịu chấp nhận sự kiện Việt Nam đã có khả năng thoát nghèo đói, hay chấp nhận sự kiện guồng máy lãnh đạo yếu kém trong khả năng lãnh đạo đất nước!
Họ đã chứng tỏ rằng họ không còn lòng tự trọng để là những đại diện và lãnh đạo đất nước Việt Nam mình!
Và bố, thế nào đi nữa, bố vẫn xem mình là một người Việt Nam, một con dân của dân tộc Việt Nam trong huyết thống, thì bố đau khổ và nhục nhã quá!
Nay bố già rồi, không còn nhiều sức lực và thời gian nữa; bố cũng không còn là công dân Việt Nam về mặt pháp lý, để đóng góp nhiều như mong muốn và khả năng cho phép, nhưng các con là công dân Việt Nam, các con còn cả một tương lai lâu dài, các con phải hứa với bố là khi trưởng thành các con sẽ luôn có lòng trắc ẩn cho những người dân đen, và đóng góp hết sức mình làm thay đổi guồng máy đần độn, thối nát và vô liêm sỉ này, để Việt Nam mình không còn là dân tộc ăn mày thế giới nữa nhé!
Bố thương các con lắm!
Hoàng Ngọc Diệp
7:53 AM
Cám ơn bạn hiền HP đã gửi
bài viết có tình, có lập luận, hay, ý nghĩa.
Mong thế hệ đàn em biết được sự thật về
chiến tranh VN.
Riêng về DVT, tôi đề nghị các bạn không nhắc
tới, không liên lạc.... Gần 10 năm qua đã qua rõ
ràng, anh ta độc diễn ở WEbside cũ và bây
giờ cũng vậy. Không ai muốn nói
tới, rồi sự việc sẽ tự động chìm
xuống. Liên lạc với anh ta chỉ mất thì giờ và
chuốc lấy sự bực mình. Mỗi người có
một hướng đi. Các bạn hiểu nhiều
hơn tôi.
Chúc vui và khỏe,
Hiếu
MỘT PHÓNG VIÊN NGƯỜI ĐỨC VỀ VIỆT NAM...-------------------------------------------
Cuốn sách Đức: "A reporter's love for a wounded
people" của tác giả Uwe Siemon-Netto đã được
viết xong và đang chờ một số người viết
"foreword" và endorsements.
Bản dịch cũng đã xong, được phép của tác
giả chúng tôi xin giới thiệu đoạn kết rất
xúc động mà tác giả đã nói lên ước muốn
cùng với người Việt Nam nuôi dưỡng niềm hy
vọng một ngày không xa Tự Do Dân Chủ sẽ trở
lại với quê hương khốn khổ của chúng ta:
>> Đoạn kết
>>
>> Hậu quả của khủng bố và đức hạnh
của hy vọng
>>
>> Hơn 40 năm đã trôi qua kể từ khi tôi giã
biệt Việt Nam. Vào năm 2015, thế giới sẽ chứng
kiến kỷ niệm lần thứ 40 chiến thắng của
Cộng sản và nhiều người sẽ gọi đó là ngày
"giải phóng."
>>
>> Ga xe lửa Huế, nơi một đầu máy và một
toa hành lý khởi hành chuyến tầu tượng trưng
500 thước mỗi buổi sáng vào lúc 8 giờ sẽ
không còn đáng đi vào kịch trường của sự phi
lý nữa. Nó đã được phục hồi đẹp đẽ và
sơn phết lại mầu hồng. Một lần nữa, tương
tự như những ngày dưới sự thống trị của
người Pháp, nó là nhà ga xe lửa đẹp nhất vùng
Đông Dương và tài xế tắc-xi không phải chờ
đợi vô ích bên ngoài. Mười chuyến tầu thong
dong chạy qua mỗi ngày, năm chuyến xuôi Nam và
năm chuyến ra Bắc. Gộp chung lại chúng được
mệnh danh một cách không chính thức là Tàu Tốc
Hành Thống Nhất.
>>
>> Chẳng lẽ nào tôi lại không mừng vui?
Chuyện này có khác nào bên Đức khi bức tường
Bá Linh đổ xuống và những bãi mìn biến mất,
và nay những chuyến tầu cao tốc phóng ngược
xuôi giữa hai xứ nguyên là Cộng sản bên Đông
và Dân chủ bên Tây với tốc độ lên tới 200
dặm một giờ?
>>
>> Hiển nhiên là tôi rất vui khi chiến tranh
kết thúc và Việt Nam được thống nhất và phát
triển, những chuyến xe lửa đã hoạt động trở
lại và các bãi mìn đã được tháo gỡ. Nhưng
đến đây thì sự tương đồng với nước Đức
chấm dứt.
>>
>> Nước Đức hoàn thành sự thống nhất,
một phần nhờ người dân tại Đông Đức đã
lật đổ chế độ độc tài toàn trị bằng
những cuộc biểu tình và phản kháng ôn hòa,
một phần nhờ vào sự khôn ngoan của các nguyên
thủ quốc tế như các vị Tổng thống Ronald
Reagan và George G.W. Bush, của Thủ tướng Helmut
Kohl, của lãnh tụ Sô Viết Mikhail Gorbachev, và
cũng phần khác vì sự sụp đổ có thể đoán
trước được của hệ thống xã hội chủ nghĩa
sai lầm trong khối Sô Viết. Không có ai bị
thiệt mạng trong tiến trình này, không một ai
bị tra tấn, chẳng có ai phải vào trại tù và
cũng không có ai bị buộc phải trốn chạy.
>> Có một khuynh hướng khó hiểu, ngay cả
trong số các vị học giả đáng kính của phương
Tây đã diễn tả sự kiện Cộng sản cưỡng
chiếm miền Nam như là một cuộc "giải phóng."
Điều này đặt ra một câu hỏi: giải phóng cái
gì và cho ai?
>>
>> Có phải miền Nam đã được "giải phóng"
khỏi sự áp đặt một nhà nước độc đảng
toàn trị được xếp hạng chung với những chế
độ vi phạm tồi tệ nhất thế giới về các
nguyên tắc tự do tôn giáo, tự do phát biểu, tự
do ngôn luận, tự do hội họp và tự do báo chí?
>>
>> Một cái thứ giải phóng gì đã làm chết
3,8 triệu người dân Việt từ 1954 đến 1975 và
đã buộc hơn một triệu người khác phải trốn
ra khỏi đất nước, không những từ miền Nam
bại cuộc mà cả từ những bến cảng miền Bắc
và làm từ 200.000 đến 400.000 người gọi là
thuyền nhân bị chết đuối?
>> Có phải là hành động giải phóng không
khi xử tử 100.000 người lính miền Nam và viên
chức chính phủ sau ngày Sài Gòn thất thủ? Phải
chăng chỉ là một màn trình diễn nhân đạo của
bên thắng cuộc bằng cách lùa từ một triệu
đến 2 triệu rưỡi người miền Nam vào các
trại tù cải tạo, trong đó có khoảng 165.000
người mất mạng và hàng ngàn người khác đã
bị tổn thương sọ não lâu dài và bị các vấn
đề tâm thần do hậu quả của tra tấn, theo một
cuộc nghiên cứu của một nhóm học giả quốc
tế do Bác sĩ tâm thần Richard F. Molina của đại
học Harvard dẫn đầu?
>> Từ giữa những năm 1960, những tay bịa
đặt chuyện huyền thoại về chính trị và lịch
sử của phương Tây, hoặc ngây thơ hoặc bất
lương, đã chấp nhận lời giải thích của Hà
Nội rằng cuộc xung đột là một cuộc "chiến
tranh nhân dân." Cũng đúng thôi nếu chấp nhận
định nghĩa của Mao Trạch Đông và Võ Nguyên
Giáp về cụm chữ đó. Nhưng theo luật văn phạm
về sở hữu tự theo cách Saxon Genitive qui định
thì "chiến tranh nhân dân" phải được hiểu là
cuộc "chiến tranh của nhân dân."
>>
>> Thực tế không phải như vậy. Ðã có
khoảng 3,8 triệu người Việt Nam đã bị giết
giữa các năm 1954 và 1975. Khoảng 164.000 thường
dân miền Nam đã bị thủ tiêu trong cuộc tru
diệt bởi Cộng sản trong cùng thời kỳ, theo nhà
học giả chính trị Rudolf Joseph Rummel của
trường Đại học Hawaii. Ngũ Giác Ðài ước tính
khoảng 950.000 lính Bắc Việt và hơn 200.000 lính
VNCH đã ngã xuống ngoài trận mạc, cộng thêm
58.000 quân Hoa Kỳ nữa. Đây không thể là một
cuộc chiến tranh của nhân dân mà chính là chiến
tranh chống nhân dân.
>>
>> Trong tất cả những lập luận đạo đức
giả về cuộc chiến Việt Nam ta gặp quá thường
trong vòng 40 năm qua, cái câu hỏi quan trọng nhất
đã bị mất dấu hay AWOL, nếu dùng một từ ngữ
viết tắt quân sự có nghĩa là "vắng mặt không
phép," câu hỏi đó là: Dân Việt Nam có mong muốn
một chế độ Cộng sản hay không? Nếu có, tại
sao gần một triệu người miền Bắc đã di cư
vào Nam sau khi đất nước bị chia cắt năm 1954,
trong khi chỉ có vào khoảng 130.000 cảm tình viên
Việt Minh đi hướng ngược lại?
>> Ai đã khởi đầu cuộc chiến tranh? Có
bất kỳ đơn vị miền Nam nào đã hoạt động
ở miền Bắc hay không? Không. Có du kích quân
miền Nam nào vượt vĩ tuyến 17 để mổ bụng và
treo cổ những người trưởng làng thân cộng,
cùng vợ và con cái họ ở đồng quê miền Bắc
hay không? Không. Chế độ miền Nam có tàn sát
cả một giai cấp hàng chục ngàn người trên
lãnh thổ của họ sau năm 1954 bằng cách tiêu
diệt địa chủ và các đối thủ tiềm năng khác
theo cách thống trị theo lối Sô Viết của họ
hay không? Không. Miền Nam có thiết lập chế độ
độc đảng toàn trị hay không? Không.
>>
>> Với cương vị một người công dân
Đức, tôi không can dự gì đến cuộc chiến này,
hay nói theo lối người Mỹ là "I have no dog in this
fight" (tôi chẳng có con chó nào trong vụ cắn
lộn này cả). Nhưng, nhằm chú giải cho cuốn
sách "Lời nguyện của nhà báo", tương tự như
các phóng viên kỳ cựu có lương tâm, lòng tôi
đã từng và vẫn còn đứng về phía dân tộc
Việt Nam nhiều đau thương. Lòng tôi hướng về
những người phụ nữ tuyệt vời với tính tình
rất thẳng thắn và vui vẻ; hướng về những
người đàn ông Việt Nam khôn ngoan và vô cùng
phức tạp đang theo đuổi giấc mơ tuyệt hảo
theo phong cách Khổng giáo; hướng về các chiến
binh giống như trẻ con đi ra ngoài mặt trận mang
theo cái tài sản duy nhất là một lồng chim hoàng
yến; hướng về các góa phụ chiến tranh trẻ
với cơ thể bị nhào nặn méo mó chỉ vì muốn
bắt một tấm chồng lính Mỹ nhằm tạo một
ngôi nhà mới cho con cái và có thể cho chính họ,
còn hơn là đối mặt với độc tài Cộng sản;
hướng về nhóm trẻ em bụi đời trong thành thị
cũng như ngoài nông thôn săn sóc lẫn nhau và
những con trâu đồng. Với trái tim chai cứng còn
lại, lòng tôi thuộc về những người trốn
chạy khỏi lò sát sinh và vùng chiến sự, luôn
luôn đi về hướng Nam mà không bao giờ về
hướng Bắc cho đến tận cùng, khi không còn một
tấc đất nào vắng bóng Cộng sản nữa để mà
trốn. Tôi đã chứng kiến họ bị thảm sát hay
bị chôn sống trong những ngôi mồ tập thể và
mũi tôi vẫn còn phảng phất mùi hôi thối của
những thi thể đang thối rữa.
>>
>> Tôi không có mặt vào lúc Sài Gòn thất
thủ sau khi toàn bộ các đơn vị Quân Lực VNCH,
thường xuyên bị bôi bẩn một cách ác độc
bởi truyền thông Hoa Kỳ, giờ đây bị những
đồng minh người Mỹ của họ bỏ rơi, đã
chiến đấu một cách cao thượng, biết rằng họ
không thể thắng hay sống sót khỏi trận đánh
cuối cùng này. Tôi đang ở Paris, lòng sầu thảm
khi tất cả những chuyện này xẩy ra và tôi
ước gì có dịp tỏ lòng kính trọng năm vị
tướng lãnh VNCH trước khi họ quyên sinh lúc mọi
chuyện chấm dứt, một cuộc chiến mà họ đã
có thể thắng: Lê Văn Hưng (sinh năm 1933), Lê
Nguyên Vỹ (sinh năm 1933), Nguyễn Khoa Nam (sinh năm
1927), Trần Văn Hai (sinh năm 1927) và Phạm Văn Phú
(sinh năm 1927).
>>
>> Khi tôi viết đoạn kết này, một ký giả
đồng nghiệp và một loại học giả sinh năm 1975
khi Sài Gòn bị thất thủ, đã tự tạo cho bản
thân một thứ tên tuổi bằng cách bêu xấu tội
ác chiến tranh của Mỹ tại Việt Nam. Vâng, họ
thật đáng bị bêu xấu. Đúng, đó là sự thật.
Mỹ Lai có thật. Tôi biết, tôi đã có mặt trong
phiên tòa mặt trận khi Trung úy William Calley bị
kết án là có tội. Tôi biết cái tiêu chuẩn
đếm xác chết được tôn sùng bởi đầu óc méo
mó của các cấp chỉ huy quân sự cũng như dân
sự thời đại Mc Namara tại Washington và bản
doanh Hoa Kỳ tại Sài Gòn đã làm tổn hại hàng
ngàn mạng sống của người dân vô tội.
>> Nhưng không có hành vi tàn ác nào của các
đơn vị rối loạn Hoa Kỳ và VNCH có thể sánh
bằng cuộc tàn sát do lệnh nhà nước giáng
xuống đầu người miền Nam nhân danh Hồ Chí
Minh. Những tội ác mà cho đến ngày nay những
kẻ kế thừa thậm chí vẫn không thừa nhận vì
không ai có cái dũng cảm hỏi họ: Tại sao các
anh thảm sát tất cả những người vô tội mà
các anh rêu rao là đi chiến đấu để giải phóng
họ?
>>
>> Với tư cách một người Đức, tôi xin
được thêm một đoạn chú thích như sau: tại sao
các anh giết người bạn của tôi là Hasso Rüdt
von Collenberg, tại sao lại giết các bác sĩ
người Đức ở Huế, và anh Otto Söllner tội
nghiệp mà "tội ác" duy nhất là dạy trẻ em
Việt Nam cách điều khiển một ban nhạc hòa
tấu?
>>
>> Tại sao các anh bắt cóc những thanh niên
thiện nguyện Knights of Malta, làm cho một số bị
chết trong rừng rậm và số khác thì bị giam
cầm tại Hà Nội?
>>
>> Tại sao các anh không bao giờ tự xét
lương tâm về những hành động đó, theo cách
những người Mỹ chính trực trong khi họ đã
được xác định một cách đúng đắn là họ
thuộc về phía lẽ phải trong cuộc Đại Chiến
Thứ Hai, vẫn bị dằn vặt bởi cái di sản
khủng khiếp để lại vì đánh bom rải thảm
những khu dân cư trong nước Đức và tấn công
bằng bom nguyên tử xuống Hiroshima và Nagasaki?
>> Hồi tưởng lại cuộc thử thách trên con
đường mòn Hồ Chí Minh trong tạp chí Der Spiegel,
cô y tá Tây Đức Monika Schwinn nhớ lại cuộc
gặp gỡ với các đơn vị chiến đấu Bắc Việt
trên đường xuống phía Nam như là một trong
những kinh nghiệm khủng khiếp nhất. Cô diễn
tả cái cường độ của mối hận thù trên khuôn
mặt của những tên lính đó và cô viết chính
những tên Việt Cộng canh chừng phải khó khăn
lắm mới ngăn chận họ không giết những người
Đức ngay tại chỗ. \
>>
>> Không có ai sinh ra là biết hận thù cả.
Sự thù hận chỉ có thể có được do dậy dỗ.
Nuôi dưỡng tính giết người trong lòng thanh niên
là một khuôn phép huấn luyện chỉ có trường
phái chủ nghĩa toàn trị là giỏi nhất. Trong
cuốn tiểu sử rất hay nói về tay chỉ huy SS
Heinrich Himmler, sử gia Peter Longerich diễn tả là
ngay cả gã sáng lập viên cái lực lượng tàn
độc gồm những tên côn đồ mặc đồ đen cũng
khó lòng buộc thuộc hạ vượt qua sự kiềm chế
tự nhiên để thi hành lệnh thảm sát Holocaust
(Longerich. Heinrich Himmler. Oxford: 2012).
>>
>> Chính cái ánh mắt thù hận của những
tên sát nhân Bắc Việt tại Huế làm ám ảnh
những người tôi phỏng vấn hơn cả. Nhưng dĩ
nhiên phải dành nhiều thời gian với họ, chịu
sự đau khổ cùng họ, tạo niềm tin và trò
chuyện với họ thì mới khám phá ra cái cốt lõi
của một phần nhân tính con người, một hiểm
họa về mặt chính trị và quân sự vẫn còn
quanh quẩn bên chúng ta từ bốn thập niên qua.
Chỉ phán ý kiến về nó từ trên tháp ngà đài
truyền hình New York hay các trường đại học Ivy
League thì không bao giờ đủ cả.
>> Trong một cuốn sách gây chú ý về đoàn
quân Lê Dương Pháp, Paul Bonnecarrère đã kể lại
cuộc gặp gỡ lịch sử giữa Đại tá đầy
huyền thoại Pierre Charton và Tướng Võ Nguyên
Giáp sau khi Pháp thất trận tại Điên Biên Phủ
(Bonnecarrère. Par le Sang Versé. Paris: 1968). Charton
là tù binh trong tay Cộng sản Việt Minh. Giáp
đến thăm Charton nhưng cũng để hả hê. Cuộc
gặp gỡ xẩy ra trong một lớp học trước mặt
khoảng 20 học viên đang tham dự một buổi tuyên
truyền chính trị. Cuộc đối thoại giữa hai
nhân vật đối chọi nhau đã xẩy ra như sau:
>> Giáp: "Tôi đã đánh bại ông, thưa Đại
tá!"
>> Charton: "Không, ông không đánh bại tôi,
thưa Đại tướng. Rừng rậm đã đánh bại chúng
tôi... cùng sự hỗ trợ các ông đã nhận được
từ người dân bằng các phương tiện khủng
bố."
>> Võ Nguyên Giáp không ưa câu trả lời này
và cấm các học viên không được ghi chép nó.
Nhưng đó là sự thật, hay chính xác hơn: đó là
một nửa của sự thật. Cái nửa kia là các nền
dân chủ như Hoa Kỳ đúng là không được trang
bị về chính trị và tâm lý để theo đuổi một
cuộc chiến trường kỳ. Sự nhận thức này,
cùng với cách sử dụng các phương tiện khủng
bố đã trở thành trụ cột trong chiến lược
của Võ Nguyên Giáp. Hắn đã đúng và hắn đã
thắng. Thậm chí nguy hiểm hơn nữa là ngày nay
các chế độ toàn trị đang chú ý đến điểm
này.
>> Cho đến tận ngày hôm nay tôi vẫn còn
bị ám ảnh bởi cái kết luận tôi bắt buộc
phải rút ra từ kinh nghiệm về Việt Nam là: khi
một nền văn hóa bê tha hủ hóa đã mệt mỏi
về lòng hy sinh, nó sẽ có khả năng vứt bỏ
tất cả. Nó đã chín mùi để bỏ rơi một dân
tộc mà đáng lẽ nó phải bảo vệ. Nó còn thậm
chí sẵn sàng xóa đi những mạng sống, sức
khoẻ về thể chất và tinh thần, nhân phẩm, trí
nhớ và danh thơm của những thanh niên đã được
đưa ra mặt trận.
>>
>> Điều này đã xẩy ra trong trường hợp
các cựu chiến binh Việt Nam. Tác động của sự
khiếm khuyết đã ăn sâu trong các nền dân chủ
tự do này rất đáng sợ vì cuối cùng nó sẽ
phá hỏng chính nghĩa và tiêu diệt một xã hội
tự do.
>> Tuy nhiên tôi không thể kết thúc câu
chuyện ở đây bằng điều tăm tối này được.
Là một người quan sát về lịch sử, tôi biết
là lịch sử, mặc dù được khép kín trong quá
khứ, vẫn luôn luôn mở rộng ra tương lai. Là
một Ki-Tô hữu tôi biết ai là Chúa của lịch
sử.
>>
>> Chiến thắng của Cộng sản dựa vào
những căn bản độc ác: khủng bố, tàn sát và
phản bội. Hiển nhiên tôi không biện minh cho
chuyện tiếp tục đổ máu nhằm chỉnh lại kết
quả, cho dù có khả thi đi chăng nữa. Nhưng là
một người ngưỡng mộ tính kiên cường của
dân tộc Việt Nam, tôi tin là họ sẽ cuối cùng
tìm ra phương cách ôn hòa và các lãnh tụ chân
chính để họ có thể thoát khỏi những tay bạo
chúa. Có thể sẽ phải mất nhiều thế hệ,
nhưng điều đó sẽ xẩy ra.
>> Trong ý nghĩa này, tôi bây giờ chỉ muốn
xếp hàng vào đoàn xích-lô bên ngoài ga xe lửa
Huế vào năm 1972, nơi chẳng có người khách nào
quay trở lại. Chỗ của tôi ở đâu bây giờ?
Tôi còn lại gì nữa ngoài niềm hy vọng?