Trả lời:
Chị Mai thân mến!
Câu hỏi chị đặt ra là một vấn đề rất phổ biến trong các quan hệ pháp
luật dân sự, kinh doanh thương mại. Đó là vấn đề về thời hiệu khởi
kiện.
Theo quy định của pháp luật dân sự, “thời hiệu khởi kiện là thời hạn
mà chủ thể được quyền khởi kiện để yêu cầu Tòa án giải quyết vụ án dân
sự bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp bị xâm phạm; nếu thời hạn đó kết
thúc thì mất quyền khởi kiện, trừ trường hợp pháp luật có quy định
khác”.
Điểm a khoản 3 Điều 159 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2004 quy định:
“Thời hiệu khởi kiện để yêu cầu Tòa án giải quyết vụ án dân sự là hai
năm, kể từ ngày quyền và lợi ích của cá nhân, cơ quan, tổ chức, lợi
ích công cộng, lợi ích của Nhà nước bị xâm phạm”.
Trường hợp của chị cho bạn hàng vay kể từ tháng 08/2006, thời hạn vay
là 01 năm. Do vậy, bên vay có nghĩa vụ trả tiền cho chị cả nợ gốc và
nợ lãi khi hết tháng 08/2007. Theo quy định viện dẫn ở trên, thời điểm
quyền và lợi ích hợp pháp của chị bị xâm phạm được xác định là thời
điểm khoản vay đến hạn nhưng bên vay không trả nợ, tức thời điểm tháng
08/2007.
Thời hiệu khởi kiện vụ án dân sự là 02 năm, do đó, trong thời hạn từ
tháng 08/2007 đến tháng 08/2009, nếu chị gửi Đơn khởi kiện đến Tòa án
có thẩm quyền thì Đơn khởi kiện của chị sẽ được thụ lý giải quyết.
Tháng 02/2010 chị mới nộp Đơn khởi kiện, tức đã quá thời hiệu khởi
kiện là 05 tháng, nên Tòa án không thụ lý vụ án và trả lại Đơn khởi
kiện là đúng pháp luật.
Như vậy, rõ ràng chị đã bị thiệt hại rất lớn về kinh tế, nhưng đã
không thể đòi lại được vì hết thời hiệu khởi kiện. Trên thực tế, nhiều
“con nợ” muốn chiếm đoạt tiền đã lợi dụng sự thiếu hiểu biết pháp luật
của chủ tài sản, hứa hẹn nhiều lần cho đến khi vụ việc hết thời hiệu
khởi kiện thì lại “trở mặt” ngay, không trả tiền vì biết chủ nợ không
còn quyền khởi kiện đòi nợ. Đây là một bài học kinh nghiệm để mọi
người lưu ý khi cho vay tiền, hoặc có nợ khó đòi trong các quan hệ dân
sự, kinh tế.
Tuy nhiên, pháp luật cũng có quy định về các trường hợp khôi phục thời
hiệu khởi kiện, tức là khi xảy ra các tình tiết này thì thời hiệu khởi
kiện được xác lập lại từ đầu. Đây là giải pháp hiệu quả nhất mà khách
hàng có thể hy vọng. Qua quá trình hoạt động thực tiễn, chúng tôi đã
khôi phục thời hiệu khởi kiện cho nhiều khách hàng cũng rơi vào trường
hợp tương tự. Điều này phải căn cứ vào hồ sơ vụ việc cụ thể của từng
khách hàng. Nếu có nhu cầu, chị hãy liên hệ, cung cấp hồ sơ vụ việc để
chúng tôi có thể tư vấn, đưa ra giải pháp đúng đắn, kịp thời để thu
hồi lại tài sản cho chị.
Trân trọng!
Công ty Luật TNHH Minh Tín
Thời hiệu khởi kiện yêu cầu chia di sản thừa kế?
(Dân trí) - Bố mẹ tôi mất, tôi ở cùng ông nội. Ông Nội tôi mất
đi, không để lại di chúc, tài sản của ông nội tôi để lại là
một thửa đất, trong thời gian 10 năm tôi không sử dụng diện tích
đất của ông nội tôi.
Hiện nay tôi được biết người cùng xóm đến xây dựng nhà và được chính
quyền địa phương công nhận cho người đó có đúng không? (Nguyễn Đình,
Hà Giang)
Trả lời:
Tại Điều 645 Bộ luật dân sự 2005 quy định: “Thời hiệu khởi kiện
để người thừa kế yêu cầu chia di sản, xác nhận quyền thừa kế của mình
hoặc bác bỏ quyền thừa kế của người khác là mười năm, kể từ thời điểm
mở thừa kế.
Thời hiệu khởi kiện để yêu cầu người thừa kế thực hiện nghĩa vụ về tài
sản của người chết để lại là ba năm, kể từ thời điểm mở thừa kế”.
Như vậy, theo quy định nêu trên thì đã quá thời hiệu 10 năm mà
bạn không tiến hành thủ tục kê khai cũng như yêu cầu Tòa án
chia di sản thừa kế, do vậy đã hết thời hiệu chia thừa kế.
Mặt khác, tại mục 2.4 phần I Nghị quyết số 02/2004/NQ – HĐTP
ngày 10 tháng 8 năm 2004 hướng dẫn áp dụng pháp luật trong
việc giải quyết các vụ án dân sự, hôn nhân và gia đình có
quy định: “Không áp dụng thời hiệu khởi kiện về quyền thừa kế
a. Trường hợp trong thời hạn mười năm, kể từ thời điểm mở thừa kế nếu
các đồng thừa kế không có tranh chấp về quyền thừa kế và có văn bản
cùng xác nhận là đồng thừa kế hoặc sau khi kết thúc thời hạn mười năm
mà các đồng thừa kế không có tranh chấp về hàng thừa kế và đều thừa
nhận di sản do người chết để lại chưa chia thì di sản đó chuyển thành
tài sản chung của các thừa kế. Khi có tranh chấp và yêu cầu Toà án
giải quyết thì không áp dụng thời hiệu khởi kiện về quyền thừa kế, mà
áp dụng các quy định của pháp luật về chia tài sản chung để giải quyết
và cần phân biệt như sau:
a.1. Trường hợp có di chúc mà các đồng thừa kế không có tranh chấp và
thoả thuận việc chia tài sản sẽ được thực hiện theo di chúc khi có nhu
cầu chia tài sản, thì việc chia tài sản chung đó được thực hiện theo
di chúc..
a.2. Trường hợp không có di chúc mà các đồng thừa kế thoả thuận về
phần mỗi người được hưởng khi có nhu cầu chia tài sản, thì việc chia
tài sản chung đó được thực hiện theo thoả thuận của họ.
a.3. Trường hợp không có di chúc và các đồng thừa kế không có thoả
thuận về phần mỗi người được hưởng khi có nhu cầu chia tài sản, thì
việc chia tài sản chung đó được thực hiện theo quy định của pháp luật
về chia tài sản chung.
b. Trường hợp người chết để lại di sản cho các thừa kế nhưng các thừa
kế không trực tiếp quản lý, sử dụng mà di sản đó đang do người khác
chiếm hữu bất hợp pháp hoặc thuê, mượn, quản lý theo uỷ quyền... thì
các thừa kếcó quyền khởi kiện người khác đó để đòi lại di sản”.
Đối chiếu quy định nêu trên thì trường hợp bạn thuộc điểm b
tiểu mục 2.4 phần I Nghị quyết nêu trên. Do vậy, bạn có quyền
khởi kiện người hàng xóm để đòi lại di sản.
Luật sư Vũ Thị Hiên
Chia di sản của mẹ khi đã hết thời hiệu khởi kiện
Hỏi: Tôi ở Hưng Yên. Mẹ tôi sinh được 5 chị em gái, tôi là lớn nhất.
Năm 1999, mẹ tôi mất. Trước khi mất mẹ tôi có để lại di chúc cho chị
em tôi là : Nhà xây 4 gian (bà nội tôi cho đất) và 10 xuất đất (2.000
m2) do bố mẹ tôi mua.
Năm 2000, bố tôi lấy vợ và sinh được cậu con trai. Đến năm 2009, bố
tôi đã bán 5 xuất đất (1000m2). Hiện nay còn 5 xuất đất bố tôi đang
quản lý và sử dụng. Vì sợ bố tôi lại bán tiếp số đất còn lại do vậy
chị em tôi đã gửi bố tôi bản di chúc của mẹ và đòi bố chia tài sản
chung cho chúng tôi. Nhưng bố tôi không chia và nói tài sản đó là của
bố, chúng tôi không có quyền đòi chia tài sản.
Tôi được biết là thời hiệu để khởi kiện về thừa kế đã hết. Xin luật sư
tư vấn cho chị em tôi phải làm cách nào để có thể được hưởng một phần
trong số tài sản của mẹ tôi để lại không ? Tôi cảm ơn rất nhiều ! (Vu
T. D).
Luật sư Võ Đình Khinh trả lời :
Hoàn cảnh của chị em bạn làm chúng tôi suy nghĩ rất nhiều và dù ở thật
xa, chúng tôi cũng “cố nghĩ” xem có cách nào giúp được bạn hay không.
Trong trường hợp của bạn, di sản thừa kế ở đây chính là tài sản của mẹ
bạn để lại. Theo qui định, thời hiệu khởi kiện về chia di sản thừa kế
là 10 năm. Vì mẹ bạn đã mất từ năm 1999, nên nay nếu có tranh chấp và
khởi kiện về di sản thừa kế thì quả thật đã hết thời hiệu rồi.
Tuy nhiên không chỉ có vậy, vẫn còn khá nhiều vấn đề cần phải làm sáng
tỏ trước khi tính chuyện chia di sản của mẹ bạn.
Trước hết, di sản của mẹ bạn để lại là gì ? Ở đây, theo bạn nói thì mẹ
bạn có để lại bản Di chúc. Nhưng theo tôi nghĩ căn nhà 4 gian và
2.000m2 đất có lẽ là tài sản chung của bố mẹ bạn (hai vợ chồng) chứ
không hẳn là của riêng mẹ bạn, đúng không ? (Vì nếu là tài sản riêng
của mẹ bạn thì mẹ bạn phải có giấy tờ riêng (chỉ ghi tên mẹ bạn).
Trong như vậy thì chị em bạn chỉ cần liên hệ với Chính quyền địa
phương để “kê khai và xin hưởng di sản” do mẹ để lại. Nếu bố bạn không
đồng ý thì chị em bạn có quyền kiện bố ra Tòa án để “đòi” tài sản của
mình).
Về nguyên tắc, người có tài sản (mẹ bạn) có quyền viết di chúc để lại
tài sản của mình cho bất kỳ ai (ở đây là 5 người con gái). Tuy nhiên,
đó phải là tài sản của chính mình. Ở đây, do là tài sản chung của hai
vợ chồng – nên mẹ bạn chỉ có quyền cho các con phần tài sản của mình
mà thôi. Hay nói cách khác, giả sử bản di chúc của mẹ bạn là hợp pháp
– thì cũng bị “vô hiệu” một phần. Tức là mẹ bạn không có quyền cho
“hết” căn nhà 4 gian và 2.000m2 đất mà chỉ được cho ½ giá trị tài sản
này mà thôi.
Thứ hai, chúng tôi khá băn khoăn về tính pháp lý bản di chúc của mẹ
bạn qua lời bạn kể. Theo qui định của pháp luật thì Di chúc phải bảo
đảm một số điều kiện nhất định mới được xem là di chúc hợp pháp. ( Bạn
tham khảo thêm thuật ngữ “di chúc” trong website này, và có thể xem
thêm trong Bộ luật dân sự - cũng có trong Website này). Theo đó, bạn
có thể tự đánh giá là di chúc của mẹ bạn có hợp pháp hay không. Vì chỉ
có di chúc hợp pháp thì mới có giá trị pháp lý, mới có thể dùng làm
căn cứ (bằng chứng) để đòi quyền được hưởng di sản.
Tuy vậy, ngay cả trong trường hợp bản di chúc của mẹ bạn không có giá
trị pháp lý đi nữa thì bạn và các chị em của mình, và cả bố bạn nữa –
vẫn được hưởng mỗi người một phần bằng nhau trong khối di sản (tức ½
giá trị nhà đất nói trên) mà mẹ bạn qua đời đã để lại. Trường hợp này
pháp luật gọi là trường hợp “chia theo pháp luật”.
Thứ ba, cũng là điều nan giải nhất : là có còn thời hiệu để khởi kiện
chia di sản hay không?
Ý kiến đánh giá của tôi chia làm 2 tình huống như thế này:
- Nếu bản di chúc của mẹ bạn hợp pháp, thì chỉ có 5 người con gái được
hưởng mà thôi (bố bạn không được hưởng). Mà 5 người con thì không có
tranh chấp với nhau – do vậy vẫn có thể đưa ra tòa giải quyết theo
dạng gọi là “chia tài sản chung”. ( Bạn đọc thêm bài : muốn chia di
sản thừa kế khi đã hết thời hiệu khởi kiện để hiểu thêm nhé).
- Nếu bản di chúc không hợp pháp thì quả thật là khá nan giải. Vì
trường hợp này sẽ giải quyết di sản theo dạng “chia theo pháp luật” –
như nói ở trên. Mà thời hạn khởi kiện thì đã hết, nên trong trường hợp
này bạn cần “mưu mẹo” một chút. Đó là làm sao để chị em bạn và bố bạn
không có “tranh chấp” với nhau và nay đưa ra Tòa án nhờ tòa giải quyết
theo dạng “chia tài sản chung”. Dĩ nhiên, nói ra ở đây thì có vẻ đơn
giản, nhưng thực tế cần phải thật linh hoạt, khôn khéo và uyển chuyển.
Tôi cho rằng tốt nhất là bạn nên tìm tới một văn phòng luật sư để nhờ
tư vấn và lập hồ sơ “chia tài sản chung” thì mới hy vọng kết quả tốt
được.
Nói tóm lại là do thời hiệu khởi kiện đã hết, nên phải né tránh đối
đầu trực tiếp với bố bạn mà chuyển theo hướng thỏa hiệp. Trong Đơn
kiện chia tài sản chung cứ nói là giữa chị em bạn và bố không có gì
tranh chấp cả, mà chỉ là bố bạn đòi phần nhiều. Khi Tòa đã thụ lý rồi
thì xem như khả năng được hưởng tài sản là khá cao.
Trên thực tế Văn phòng chúng tôi đã và đang giải quyết một vụ án cũng
đã hết thời hiệu như vậy và đã thành công. Chúng tôi sẽ đăng Đơn kiện
chia tài sản chung trong mục “Mẫu văn bản” trong vài ngày tới để bạn
tham khảo nhé.
Thời hiệu khởi kiện vụ án lao động 04/08/2010
Hôm nay chuyên mục Gõ cửa Luật sư sẽ tư vấn một tình huống pháp lý
sau
Vừa rồi giữa tôi và giám đốc Công ty tôi làm việc có xảy ra
xung đột và công ty quyết định chấm dứt hợp đồng lao động
với tôi trước thời hạn. Tôi tính làm đơn khởi kiện công ty ra
Tòa nhưng đợt này tôi bận công việc ở chỗ làm mới nên tôi
tính để từ từ hãy kiện, tuy nhiên tôi nghe nói tranh chấp lao
động có thời hiệu, nếu tôi vượt quá thời hiệu thì tôi sẽ
không được khởi kiện nữa, không biết điều này có đúng không.
Xin chuyên mục Gõ cửa luật sư cho tôi biết rõ hơn về thời
hiệu khởi kiện đối với những vụ án về lao động.
(Mai Thanh – Quận 3, TP. HCM)
Trả lời :
Theo quy định tại Bộ luật lao động và Luật sửa đổi bổ sung một số điều
của Bộ luật lao động, thời hiệu yêu cầu giải quyết tranh chấp lao động
cá nhân được quy định như sau:
1. Một năm, kể từ ngày xảy ra hành vi mà mỗi bên tranh chấp cho rằng
quyền, lợi ích của mình bị vi phạm đối với các tranh chấp lao động quy
định tại các điểm a, b và c khoản 2 Điều 166 của Bộ luật Lao động, gồm
có:
a) Tranh chấp về xử lý kỷ luật lao động theo hình thức sa thải hoặc về
trường hợp bị đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động;
b) Tranh chấp về bồi thường thiệt hại, trợ cấp khi chấm dứt hợp đồng
lao động;
c) Tranh chấp giữa người giúp việc gia đình với người sử dụng lao
động;
Thời hiệu yêu cầu giải quyết tranh chấp lao động cá nhân là Một năm,
kể từ ngày phát hiện ra hành vi mà mỗi bên tranh chấp cho rằng quyền,
lợi ích của mình bị vi phạm đối với tranh chấp về bảo hiểm xã hội quy
định tại điểm b khoản 2 Điều 151 của Bộ luật Lao động (tranh chấp giữa
người lao động nghỉ việc theo chế độ với người sử dụng lao động hoặc
với cơ quan bảo hiểm xã hội, giữa người sử dụng lao động với cơ quan
bảo hiểm xã hội nếu hai bên không thoả thuận được);
Thời hiệu yêu cầu giải quyết tranh chấp lao động cá nhân là Ba năm,
kể từ ngày xảy ra hành vi mà mỗi bên tranh chấp cho rằng quyền, lợi
ích của mình bị vi phạm đối với tranh chấp về bồi thường thiệt hại
giữa người lao động với doanh nghiệp, tổ chức sự nghiệp đưa người lao
động đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng.
Thời hiệu yêu cầu giải quyết tranh chấp lao động cá nhân là Sáu
tháng, kể từ ngày xảy ra hành vi mà mỗi bên tranh chấp cho rằng quyền,
lợi ích của mình bị vi phạm đối với các loại tranh chấp khác
Như vậy tùy thuộc vào loại tranh chấp lao động mà thời hiệu
yêu cầu giải quyết tranh chấp lao động có khác nhau, bạn Mai
Thanh cần phải kiểm tra lại thời hiệu và gửi đơn yhêu cầu
giải quyết tranh chấp lao động trong thời hạn luật quy định
để được giải quyết theo luật định và bảo vệ quyền và lợi
ích chính đáng của bản thân.