thoi han thoi hieu

3 views
Skip to first unread message

hong diep duong

unread,
Mar 21, 2012, 10:33:16 AM3/21/12
to Dansu11
Điều 159Bộ luật tố tụng dân sự. Thời hiệu khởi kiện, thời hiệu yêu cầu
1. Thời hiệu khởi kiện là thời hạn mà chủ thể được quyền khởi kiện để
yêu cầu Toà án giải quyết vụ án dân sự bảo vệ quyền và lợi ích hợp
pháp bị xâm phạm; nếu thời hạn đó kết thúc thì mất quyền khởi kiện,
trừ trường hợp pháp luật có quy định khác.
2. Thời hiệu yêu cầu là thời hạn mà chủ thể được quyền yêu cầu Toà án
giải quyết việc dân sự để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của cá
nhân, cơ quan, tổ chức, lợi ích công cộng, lợi ích của Nhà nước; nếu
thời hạn đó kết thúc thì mất quyền yêu cầu, trừ trường hợp pháp luật
có quy định khác.
3. Trong trường hợp pháp luật không có quy định khác về thời hiệu khởi
kiện, thời hiệu yêu cầu thì thời hiệu khởi kiện, thời hiệu yêu cầu
được quy định như sau:
A) Thời hiệu khởi kiện để yêu cầu Toà án giải quyết vụ án dân sự là
hai năm, kể từ ngày quyền và lợi ích hợp pháp của cá nhân, cơ quan, tổ
chức, lợi ích công cộng, lợi ích của Nhà nước bị xâm phạm;
B) Thời hiệu yêu cầu để Toà án giải quyết việc dân sự là một năm, kể
từ ngày phát sinh quyền yêu cầu.
Điều 155 BLDS. Các loại thời hiệu
1. Thời hiệu hưởng quyền dân sự là thời hạn mà khi kết thúc thời hạn
đó thì chủ thể được hưởng quyền dân sự.
2. Thời hiệu miễn trừ nghĩa vụ dân sự là thời hạn mà khi kết thúc thời
hạn đó thì người có nghĩa vụ dân sự được miễn việc thực hiện nghĩa vụ.
3. Thời hiệu khởi kiện là thời hạn mà chủ thể được quyền khởi kiện để
yêu cầu Toà án giải quyết vụ án dân sự bảo vệ quyền và lợi ích hợp
pháp bị xâm phạm; nếu thời hạn đó kết thúc thì mất quyền khởi kiện.
4. Thời hiệu yêu cầu giải quyết việc dân sự là thời hạn mà chủ thể
được quyền yêu cầu Toà án giải quyết việc dân sự để bảo vệ quyền và
lợi ích hợp pháp của cá nhân, cơ quan, tổ chức, lợi ích công cộng, lợi
ích của Nhà nước; nếu thời hạn đó kết thúc thì mất quyền yêu cầu.
2. Khoảng thời gian nào không được tính vào thời hiệu?
Điều 161 BLDS. Thời gian không tính vào thời hiệu khởi kiện vụ án dân
sự, thời hiệu yêu cầu giải quyết việc dân sự
Thời gian không tính vào thời hiệu khởi kiện vụ án dân sự, thời hiệu
yêu cầu giải quyết việc dân sự là khoảng thời gian xảy ra một trong
các sự kiện sau đây:
1. Sự kiện bất khả kháng hoặc trở ngại khách quan làm cho chủ thể có
quyền khởi kiện, quyền yêu cầu không thể khởi kiện, yêu cầu trong phạm
vi thời hiệu.
Sự kiện bất khả kháng là sự kiện xảy ra một cách khách quan không thể
lường trước được và không thể khắc phục được mặc dù đã áp dụng mọi
biện pháp cần thiết và khả năng cho phép.
Trở ngại khách quan là những trở ngại do hoàn cảnh khách quan tác động
làm cho người có quyền, nghĩa vụ dân sự không thể biết về việc quyền,
lợi ích hợp pháp của mình bị xâm phạm hoặc không thể thực hiện được
quyền hoặc nghĩa vụ dân sự của mình;
2. Chưa có người đại diện trong trường hợp người có quyền khởi kiện,
người có quyền yêu cầu chưa thành niên, mất năng lực hành vi dân sự
hoặc bị hạn chế năng lực hành vi dân sự;
3. Chưa có người đại diện khác thay thế hoặc vì lý do chính đáng khác
mà không thể tiếp tục đại diện được trong trường hợp người đại diện
của người chưa thành niên, người mất năng lực hành vi dân sự, người bị
hạn chế năng lực hành vi dân sự chết.

3. Trường hợp nào không áp dụng thời hiệu?
Điều 160. Không áp dụng thời hiệu khởi kiện vụ án dân sự
Thời hiệu khởi kiện vụ án dân sự không áp dụng trong những trường hợp
sau đây:
1. Yêu cầu hoàn trả tài sản thuộc hình thức sở hữu nhà nước;
2. Yêu cầu bảo vệ quyền nhân thân bị xâm phạm, trừ trường hợp pháp
luật có quy định khác;
3. Các trường hợp khác do pháp luật quy định.

4. Một số loại thời hiệu dân sự tiêu biểu?
BLDS:
Điều 427. Thời hiệu khởi kiện về hợp đồng dân sự
Thời hiệu khởi kiện để yêu cầu Toà án giải quyết tranh chấp hợp đồng
dân sự là hai năm, kể từ ngày quyền và lợi ích hợp pháp của cá nhân,
pháp nhân, các chủ thể khác bị xâm phạm.
Điều 607. Thời hiệu khởi kiện yêu cầu bồi thường thiệt hại
Thời hiệu khởi kiện yêu cầu bồi thường thiệt hại là hai năm, kể từ
ngày quyền và lợi ích hợp pháp của cá nhân, pháp nhân, chủ thể khác bị
xâm phạm.
Điều 645. Thời hiệu khởi kiện về thừa kế
Thời hiệu khởi kiện để người thừa kế yêu cầu chia di sản, xác nhận
quyền thừa kế của mình hoặc bác bỏ quyền thừa kế của người khác là
mười năm, kể từ thời điểm mở thừa kế.
Thời hiệu khởi kiện để yêu cầu người thừa kế thực hiện nghĩa vụ về tài
sản của người chết để lại là ba năm, kể từ thời điểm mở thừa kế.
Điều 777. Thời hiệu khởi kiện
Thời hiệu khởi kiện đối với quan hệ dân sự có yếu tố nước ngoài được
xác định theo pháp luật của nước mà pháp luật nước đó được áp dụng để
điều chỉnh quan hệ dân sự có yếu tố nước ngoài tương ứng.
Điều 149, 153 BLDS 2005 có quy định:

Điều 149. Thời hạn
1. Thời hạn là một khoảng thời gian được xác định từ thời điểm này đến
thời điểm khác.
2. Thời hạn có thể được xác định bằng phút, giờ, ngày, tuần, tháng,
năm hoặc bằng một sự kiện có thể sẽ xảy ra.

Điều 153. Kết thúc thời hạn

1. Khi thời hạn tính bằng ngày thì thời hạn kết thúc tại thời điểm kết
thúc ngày cuối cùng của thời hạn
.....................

6. Thời điểm kết thúc ngày cuối cùng của thời hạn vào lúc hai mươi tư
giờ của ngày đó.

QQ thấy quy định tại khoản 6 điều 153 chưa thực sự hợp lý, theo quy
định như trên thì thời điểm kết thúc là vào lúc 24h (chính xác là
23:59:59)
QQ lấy ví dụ thế này nha:
A thỏa thuận sẽ bán 1 chiếc máy tính cho B và B đặt cọc cho A là 1
triệu, thời hạn thực hiện hợp đồng là 3 ngày, đến ngày cuối cùng đúng
vào lúc 23h 30 phút thì B đến nhà A để tiến hành thực hiện hợp đồng
nhưng khi đến thực hiện hợp đồng thì A lại không thực hiện hợp đồng
với B nữa và nói rằng: “tôi chờ anh cả ngày hôm nay mà anh không chịu
đến, giờ đã khuya rồi không mua bán gì hết, anh về đi, tiền cọc tôi
cũng không trả cho anh đâu bởi anh đã vi phạm hợp đồng.”
Như vậy theo các bạn trong tình huống trên thì chúng ta xử lý thế nào
đây? Nếu như áp dụng theo khoản 6 điều 152 thì A không có quyền từ
chối thực hiện hợp đồng vì thời hạn thực sự là chưa hết. Nếu A không
bán máy tính cho B thì A phải trả lại tiền đặt cọc và bồi thường thiệt
hại (trả cho B 1 khoản tương đương hoặc theo thỏa thuận..) mọi người
xem như vậy liệu có hợp lý hay không?
Theo QQ quy định như trên là chưa hợp lý, chúng ta cần quy định lại 1
cách cụ thể và phù hợp hơn như sau:
6. Thời điểm kết thúc ngày cuối cùng của thời hạn vào lúc mười bảy giờ
(17h00)của ngày đó đối với những giao dịch dân sự cần phải được công
chứng chứng thực mới có hiệu lực và vào lúc hai mươi mốt giờ (21h00)
đối với các giao dịch dân sự còn lại.( Khoản 6 điều 153 )
Thông thường thì cơ quan Nhà nước chỉ làm việc muộn nhất đến 17h30 nên
các giao dịch mà cần có sự chứng nhận của cơ quan Nhà nước thì cần
phải thực hiện trước thời gian trên, để đảm bảo tính có hiệu lực của
giao dịch.
Các giao dịch dân sự còn lại tuy không cần chứng nhận của cơ quan Nhà
nước nhưng ai ai chúng ta cũng có thời gian nghĩ ngơi đúng không ? vì
thế QQ nghĩ cần phải quy định 1 cách cụ thể như vậy sẽ hay hơn khi
chúng ta cứ quy định là 24h thật không phù hợp chút nào cả.
------------------------------------------------------------------------------------------------------------
Khoản 2 Điều 152 BLDS 2005 cũng có 1 quy định thế này:

2. Khi thời hạn tính bằng tuần thì thời hạn kết thúc tại thời điểm kết
thúc ngày tương ứng của tuần cuối cùng của thời hạn

Như vậy 1 tuần ở đây được áp dụng như thế nào đây ? ai ai trong chúng
ta cũng biết rằng là 1 tuần có 7 ngày nhưng với quy định này thì QQ sẽ
chứng minh rằng các nhà làm luật của chúng ta đã cho thêm 1 ngày à 1
tuần có 8 ngày.
Trường hợp cụ thể như sau :

Ngày 3/2 – ngày thứ 3 A và B thỏa thuận với nhau bán 1 chiếc máy
tính, thời hạn là 1 tuần. Như vậy thời điểm kết thúc sẽ là thời điểm
nào ?
Hiện nay vẫn có 2 thời điểm khác nhau :
Thời điểm 1, do ngày thỏa thuận là ngày 3/2 nên ngày đầu tiên không
tính và thời hạn được tính là từ ngày 4/2, thời hạn 1 tuần là 7 ngày
như vậy thời điểm kết thúc sẽ là 24h ngày10/2- ngày thứ 3.
Thời điểm 2, tương tự chúng ta có ngày bắt đầu của thời hạn là
ngày4/2- thứ 4, thời điểm kết thúc thời hạn là ngày kết thúc tương ứng
của tuần cuối cùng của thời hạn, đó là 24h ngày thứ 4 của tuần kế
tiếp, ngày này là ngày 11/2. à(1 tuần = 8 ngày)
Như vậy theo mọi người chúng ta áp dụng quy định nào là đúng đắn ?
Theo QQ thì cách xác định thứ nhất là đúng đắn, hợp lý nhưng không hợp
luật vì thế khoản 2 cần được sửa đổi lại như sau :
2. Khi thời hạn tính bằng tuần thì thời hạn kết thúc tại thời điểm kết
thúc ngày liền trước ngày tương ứng của tuần cuối cùng (khoan 2 dieu
152)

Reply all
Reply to author
Forward
0 new messages