thời hiệu

8 views
Skip to first unread message

thuylinh nguyen

unread,
Mar 18, 2012, 12:53:57 PM3/18/12
to Dansu11

THỜI HIỆU KHỞI KIỆN - NHỮNG ĐIỀU CẦN BIẾT

Nhiều bạn đọc rất quan tâm quan tâm đến những thông tin về vấn đề thời
hiệu khởi kiện trong tranh chấp dân sự. Trong bài viết này chngs tôi
sẽ phân tích rõ hơn những vấn đề pháp lý xung quanh thời hiệu khởi
kiện.
Nghị quyết số 32/2004/QH11 về thi hành Bộ luật Tố tụng dân sự (TTDS)
có quy định đối với những tranh chấp về dân sự, hôn nhân gia đình, lao
động, kinh doanh- thương mại phát sinh trước ngày 1.1.2005 (ngày Bộ
luật TTDS có hiệu lực) thì thời hiệu khởi kiện là 2 năm (áp dụng theo
điều 159 Bộ luật TTDS). Như vậy, vào thời điểm này (ngày 18.12.2006),
thời hiệu khởi kiện chỉ còn... 13 ngày nữa. Nhiều người lo ngại về
quyền lợi chính đáng của nguyên đơn sẽ bị mất trắng nếu áp dụng theo
điều 159 này.
Trước đây, người dân đã quen theo tập quán cũ là các hợp đồng dân sự
được xác lập từ ngày 1.7.1996 mà có vi phạm thì đương sự không bị
hạn chế thời gian khởi kiện. Nay bị luật hạn chế về thời hiệu như vậy
mà công tác tuyên truyền phổ biến chưa đến nơi đến chốn, nhiều người
sẽ bị bất ngờ và có nguy cơ bị tòa án từ chối thụ lý những vụ kiện
loại này. Ngoài ra, những lo ngại như các tranh chấp về hôn nhân gia
đình như việc xin truy nhận cha cho con, nếu áp dụng thời hiệu chỉ có
2 năm thì thời điểm được tính từ khi nào? Có quy định ngoại lệ cho
loại kiện này không?
Trong thực tế, những trường hợp cho vay, mượn rất phổ biến trong nhân
dân vì tình cảm, vì quan hệ họ hàng, bạn bè... nên những quan hệ giao
dịch này đến hạn (hoặc quá hạn) vẫn được gia hạn, hứa hẹn với nhau
nhiều lần. Đến khi cần giải quyết tranh chấp thì thời hiệu khởi kiện
đã hết. Tuy nhiên, "Những giao dịch có tranh chấp xảy ra trước ngày
1.1.2005, người khởi kiện không có nguy cơ mất trắng tài sản nếu vận
dụng đúng quy định trong điều 162 - Bộ luật Dân sự (BLDS)". Đó là ý
kiến của thẩm phán Đình Thanh - TAND huyện Sông Cầu (Phú Yên). Lý giải
như sau: Những giao dịch này nếu đã được gia hạn mà đủ điều kiện theo
quy định thì vẫn được giải quyết. Đó là áp dụng theo quy định: Bắt đầu
lại thời hiệu khởi kiện (điều 162- BLDS). Theo đó, thời hiệu khởi kiện
vụ án dân sự được bắt đầu lại trong các trường hợp: Bên có nghĩa vụ đã
thừa nhận một phần hoặc toàn bộ nghĩa vụ đối với người khởi kiện; hoặc
thực hiện xong một phần nghĩa vụ của mình đối với người khởi kiện; các
bên đã tự hòa giải với nhau.
Quan điểm của thẩm phán Đình Thanh như sau: Về phía đương sự: nếu rơi
vào trường hợp trên (theo điều 159 Bộ luật TTDS) nên thương lượng
(hoặc bằng mọi biện pháp) để người có nghĩa vụ thực hiện một trong 3
trường hợp quy định tại điều 162-BLDS. Hoặc cho đến trước ngày
31.12.2006, nên tiến hành khởi kiện; hoặc tiến hành yêu cầu người có
nghĩa vụ xác nhận bằng văn bản thừa nhận nghĩa vụ đối với mình; hoặc
thực hiện trước một phần nghĩa vụ cho mình và xác nhận thời điểm thực
hiện nghĩa vụ này; hoặc cả hai bên thương lượng xác nhận nghĩa vụ và
ấn định thời hạn thực hiện nghĩa vụ sau ngày 31.12.2006.
Đối với cơ quan có thẩm quyền là tòa án nhân dân các cấp, nhận đơn
khởi kiện loại việc này sau ngày 31.12.2006 thì không nên trả lại mà
giải thích hướng dẫn đương sự thực hiện đúng nghĩa vụ cung cấp chứng
cứ và vận dụng điều 162 - BLDS để được xem xét thụ lý. Trường hợp họ
đã thực hiện, nhưng người có nghĩa vụ không đồng ý (như một trong 3
trường hợp của điều 162 - BLDS) thì giải thích cho họ biết điều 159 Bộ
luật TTDS; đồng thời tiến hành thụ lý và hướng dẫn người khởi kiện làm
đơn yêu cầu tòa án thu thập chứng cứ, nếu người có nghĩa vụ đồng ý thì
xác định lại thời hiệu khởi kiện để giải quyết. Nếu người có nghĩa vụ
không thừa nhận thì tòa án đình chỉ vụ án.
Theo chúng tôi, đây là một ý kiến hay, cần được các cơ quan pháp luật,
nhất là ngành tòa án nghiên cứu xem xét. Nên chăng vấn đề này cần có
sự hướng dẫn thống nhất của ngành bảo vệ pháp luật ở trung ương mà cụ
thể là TAND tối cao để đích cuối cùng là bảo vệ được quyền lợi hợp
pháp của đương sự, tránh nguy cơ mất trắng vì thiếu thông tin về pháp
luật.

Thời hiệu khởi kiện về thừa kế: Mốc để tính là khi nộp đơn kiện
21:17' 13/1/2007
(TuoiTre) Thời gian qua, nhiều tòa án địa phương đã lúng túng, thậm
chí xử lý sai những vụ án tranh chấp di sản thừa kế liên quan đến
hướng dẫn trong nghị quyết 02 của Hội đồng Thẩm phán TAND tối cao (về
thời hiệu khởi kiện và cách phân chia di sản). Cạnh đó, Nghị quyết
1037 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về giao dịch dân sự về nhà ở được
xác lập trước ngày 1/7/1991 có người VN định cư ở nước ngoài tham gia
cũng đã gây ra những cách hiểu khác nhau.
Bên lề hội nghị toàn quốc của ngành tòa án, chúng tôi đã trao đổi với
lãnh đạo TAND tối cao để làm rõ các nội dung này.
1.Hai trường hợp không tính thời hiệu
Phó Chánh án TAND tối cao Nguyễn Như Bích cho biết tại Nghị quyết 02
của Hội đồng thẩm phán hướng dẫn có hai trường hợp không áp dụng thời
hiệu khởi kiện về quyền thừa kế.
Thứ nhất là trong thời hạn mười năm kể từ thời điểm mở thừa kế mà các
đồng thừa kế không có tranh chấp về hàng thừa kế và có văn bản cùng
xác nhận là đồng thừa kế thì tài sản thành di sản chung. Khi xảy ra
tranh chấp thì không tính thời hiệu và tòa sẽ tiến hành chia tài sản
theo di chúc hoặc chia theo thỏa thuận của các đồng thừa kế.
Thứ hai là di sản người chết để lại nhưng do người ngoài quản lý, còn
các thừa kế không quản lý, không biết gì về di sản. Thực tế có những
trường hợp do nhiều nguyên nhân khác nhau mà sau một thời gian dài
đương sự mới phát hiện đó là tài sản của cha mẹ và chưa chia, nay họ
muốn đòi lại thì không tính thời hiệu khởi kiện. Một số tòa án thời
gian qua đã không nhận thức rõ vấn đề này nên vẫn tính thời hiệu khởi
kiện là sai.
2. Còn thời hiệu phần nào, làm phần đó
Một vấn đề khác là nếu đương sự khởi kiện đòi chia di sản thừa kế mà
trong khối di sản này có cả phần tài sản còn thời hiệu lẫn phần tài
sản hết thời hiệu thì các tòa có thụ lý, giải quyết?
Theo Chánh tòa dân sự TAND tối cao Tưởng Duy Lượng, tòa án có thẩm
quyền phải nhận đơn khởi kiện, thụ lý vụ án nếu như đương sự thực hiện
đúng quy định tại Điều 164, 165, 166 Bộ luật Tố tụng dân sự và nộp
tiền tạm ứng án phí (với trường hợp phải nộp)
Mốc để tính thời hiệu khởi kiện về thừa kế còn hay hết là vào lúc
đương sự có đơn khởi kiện tại tòa án chứ không phải từ thời điểm thụ
lý như một số tòa vẫn áp dụng. Khi giải quyết, tòa chỉ phân chia theo
yêu cầu của các bên đương sự đối với phần di sản còn thời hiệu khởi
kiện, phần di sản hết thời hiệu thì không “đụng” tới.

3. Không cần chờ hướng dẫn
Việc kiện tụng liên quan đến giao dịch dân sự về nhà ở được xác lập
trước ngày 1/7/1991, có người Việt Nam định cư ở nước ngoài tham gia:
Tòa phải thụ lý, không cần chờ hướng dẫn của TAND tối cao!
Nghị quyết 1037 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về giao dịch dân sự về
nhà ở được xác lập trước ngày 1/7/1991 có người VN định cư ở nước
ngoài tham gia đã gây ra một số cách hiểu khác nhau. Một số tòa án địa
phương đã từ chối thụ lý các vụ án dạng này với lý do chưa có hướng
dẫn của TAND tối cao. Người dân thì hoang mang vì sợ hết thời hiệu
khởi kiện (hai năm) theo Bộ luật Dân sự.
Theo ông Tưởng Duy Lượng, những quy định trong Nghị quyết 1037 đã khá
rõ, các tòa án địa phương hoàn toàn có thể giải quyết được mà không
phải đợi hướng dẫn của TAND tối cao. Việc chậm hướng dẫn Nghị quyết
1037 không ảnh hưởng đến thời hiệu khởi kiện theo BLDS vì thời hiệu
hai năm này cũng được xác định còn hay hết với mốc là lúc tòa nhận đơn
của đương sự.
Ông Lượng giải thích cụ thể: Nếu người khởi kiện đã thực hiện đúng quy
định tại Điều 164 Bộ luật Tố tụng dân sự thì tòa án phải nhận đơn kiện
và tiến hành xử lý theo quy định. Đối với các trường hợp tòa án đã tạm
đình chỉ theo Nghị quyết của Quốc hội khóa IX, Kỳ họp thứ 8 và Nghị
quyết 58 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội thì phải tiếp tục giải quyết
ngay. Tòa án các cấp không chỉ áp dụng Nghị quyết 1037 mà còn phải áp
dụng quy định của Bộ luật Tố tụng Dân sự tương ứng với giai đoạn tạm
đình chỉ để giải quyết.
4. Tòa đã thụ lý: Không cần thông báo!
Ngoài ra, theo ông Lượng, đối với một số loại việc như thuê nhà ở,
mượn nhà ở, ở nhờ nhà ở theo quy định của Nghị quyết 1037, khi chủ nhà
muốn lấy lại nhà phải thực hiện thủ tục thông báo bằng văn bản theo
đúng hạn định của pháp luật. Do đó, gặp trường hợp các đương sự mới
bắt đầu khởi kiện mà chưa thực hiện việc thông báo cho phía bên kia
theo đúng Nghị quyết 1037 thì tòa án trả lại đơn kiện.
Tuy nhiên, đối với tòa án các cấp đã thụ lý hoặc đã chuẩn bị xét xử sơ
thẩm, chuẩn bị xét xử phúc thẩm…, sau đó phải tạm đình chỉ theo nghị
quyết của Quốc hội, nay lý do tạm đình chỉ không còn (Nghị quyết 1037
có hiệu lực), tòa án tiếp tục đưa vụ án ra giải quyết thì không yêu
cầu đương sự phải tiến hành thủ tục thông báo. Trường hợp tòa án cấp
phúc thẩm, giám đốc thẩm huỷ các bản án, giao hồ sơ về cho tòa án cấp
sơ thẩm hoặc cấp phúc thẩm giải quyết lại thì cũng không yêu cầu đương
sự phải tiến hành thủ tục thông báo!

Hậu quả của hết thời hiệu khởi kiện
10:11' 18/7/2006


Thời hiệu khởi kiện là thời hạn mà chủ thể được quyền khởi kiện để yêu
cầu toà án giải quyết vụ án dân sự bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp bị
xâm phạm; nếu thời hạn đó kết thúc, thì mất quyền khởi kiện.
Theo Thông tư liên ngành số 03/TTLN của Toà án nhân dân tối cao
(TANDTC) và Viện kiểm sát nhân dân tối cao ngày 10/08/1996, "Bộ luật
Dân sự không có quy định về thời hiệu khởi kiện đối với vi phạm hợp
đồng dân sự, do đó, các hợp đồng dân sự được xác lập từ ngày 1/7/1996
mà có vi phạm, thì bên bị vi phạm không bị hạn chế thời gian khởi kiện
trước Toà án, nếu pháp luật không có quy định khác". Nhưng theo Điều
159 Bộ luật Tố tụng dân sự (BLTTDS) năm 2004, trong trường hợp pháp
luật không có quy định khác thì thời hiệu khởi kiện để yêu cầu tòa án
giải quyết vụ án dân sự là hai năm. Như vậy, thời hiệu khởi kiện này
rất ngắn. Do đó, những tranh chấp về hậu quả của việc hết thời hiệu sẽ
tăng. Với thực tiễn pháp lý ở Việt Nam, chúng tôi phân tích hậu quả
của hết thời hiệu khởi kiện trong lĩnh vực hợp đồng.
1. Hết thời hiệu làm mất quyền yêu cầu tòa án giải quyết
Mất quyền khởi kiện
Trong thực tiễn pháp lý, khi thời hiệu khởi kiện không còn, quyền yêu
cầu tòa án của các chủ thể chấm dứt. Ví dụ: Ngày 20/12/1995, vợ chồng
bà Bé làm tờ thế chấp tài sản với nội dung đồng ý thế chấp căn nhà ở
thôn H. để vay bà Xuân 178 triệu đồng với lãi suất 3%/tháng, thời hạn
trả là cuối tháng 12/1996 (âm lịch). Năm 2002, hai bên có tranh chấp
và yêu cầu tòa án can thiệp. Tại bản án sơ thẩm số 119/DSST ngày
15/10/2002, Toà án nhân dân (TAND) huyện S nhận định: "kể từ năm 1997
đến nay bà Xuân không còn chứng cứ nào khác để chứng minh do khách
quan nên không thể đòi số nợ trên, từ đó căn cứ vào Nghị quyết của
Quốc hội thông qua ngày 28/10/1995 tại điểm b, Khoản 3 và điểm a,
Khoản 6; Khoản 2, Điều 36 Pháp lệnh Thủ tục giải quyết các vụ án dân
sự; Khoản 1, Điều 56 Pháp lệnh Hợp đồng dân sự năm 1991 thì thời hiệu
khởi kiện đã hết, bà Xuân đã mất quyền khởi kiện nên vụ kiện sẽ được
đình chỉ theo quy định của pháp luật". Tại Quyết định giám đốc thẩm số
136 ngày 18/11/2004, Toà dân sự TANDTC xét: "Hợp đồng vay nợ giữa bà
Xuân với vợ chồng bà Bé được xác lập ngày 20/12/1995, thời hạn thanh
toán hết tháng 12 (âm lịch) năm1996. Căn cứ vào Khoản 1, Điều 56 Pháp
lệnh Hợp đồng dân sự năm 1991… Đến năm 2002, bà Xuân mới khởi kiện đòi
nợ vợ chồng bà Bé là đã quá thời hạn khởi kiện. Về phía bà Xuân không
chứng minh được từ thời điểm bên vay tiền vi phạm hợp đồng (tháng
12/1996 âm lịch) đến năm 2002 giữa hai bên có thoả thuận kéo dài thêm
thời hạn trả nợ nên không có cơ sở để tính lại thời hiệu. Do đó, tại
bản án sơ thẩm số 119 ngày 15/10/2002, TAND huyện S xác định bà Xuân
hết quyền khởi kiện và đình chỉ giải quyết vụ kiện là đúng pháp
luật".
Như vậy, theo thực tiễn pháp lý Việt Nam, khi hết thời hiệu khởi kiện,
bên có quyền mất quyền yêu cầu tòa án can thiệp, bảo vệ. Tuy nhiên,
vấn đề đặt ra là ai có thể viện dẫn việc mất quyền khởi kiện?
Chủ thể viện dẫn mất quyền khởi kiện
Trong thực tiễn, việc viện dẫn mất quyền yêu cầu tòa án do hết thời
hiệu khởi kiện có thể xuất phát từ một bên trong tranh chấp hợp đồng,
ví dụ: tranh chấp giữa ông Phát và bà Hoa liên quan đến hợp đồng
chuyển nhượng quyền sử dụng đất. Mặc dù chưa được uỷ ban nhân dân giao
đất, bà Hoa vẫn chuyển giao đất cho ông Phát với giá 50 lượng vàng và
ông Phát đã giao cho bà Hoa 45 lượng vàng. "Tháng 8-2000, ông Phát
khởi kiện đòi lại số vàng đã giao cho bà Hoa nhưng bà Hoa cho rằng,
phía ông Phát đã vi phạm hợp đồng và thời hiệu khởi kiện đã hết nên
không đồng ý trả vàng cho ông Phát" (Quyết định giám đốc thẩm số 16/
GĐT-DS ngày 28/1/2003 của Tòa dân sự TANDTC).
Hoặc viện dẫn mất quyền yêu cầu tòa án do hết thời hiệu khởi kiện cũng
có thể xuất phát từ cơ quan tiến hành tố tụng. Ví dụ: năm 1995, Công
ty A bán cho Công ty B 64 tấn dầu. Khi có tranh chấp, TAND TP. Hà Nội
buộc B bồi thường cho A một khoản tiền. Sau đó, tại bản án số 134 ngày
20/9/1997, Tòa phúc thẩm TANDTC buộc B phải thanh toán cho A một khoản
tiền nhỏ hơn. Như vậy, TAND TP Hà Nội và Tòa phúc thẩm TANDTC thụ lý
vụ việc và không đề cập đến vấn đề thời hiệu khởi kiện trong bản án.
Tuy nhiên, trong Kháng nghị số 01/KT-TK ngày 23/3/1998, theo Chánh án
TANDTC, "thời điểm phát sinh tranh chấp hợp đồng được tính từ ngày
5/10/1995. Theo quy định tại Điều 31 Pháp lệnh Thủ tục giải quyết các
vụ án kinh tế thì thời hiệu khởi kiện là 6 tháng kể từ ngày phát sinh
tranh chấp. Trong thời hiệu khởi kiện (từ ngày 5/10/1995 đến hết ngày
5/4/1996) A đã không làm đơn khởi kiện… Do đó, kể từ ngày 6/4/1996, A
không còn quyền khởi kiện ra tòa án đối với B về việc vi phạm hợp đồng
kinh tế nêu trên". ở ví dụ này, chính Chánh án TANDTC đã viện dẫn việc
mất quyền khởi kiện của bên A. Trong thực tiễn, việc cơ quan tố tụng
tự viện dẫn mất quyền khởi kiện của một bên trong tranh chấp hợp đồng
diễn ra không ít.
Như vậy, khi hết thời hiệu khởi kiện, quyền yêu cầu tòa án giải quyết
tranh chấp của một bên trong hợp đồng bị mất. Điều đó là hợp lý để bảo
vệ quyền và lợi ích chính đáng của một bên trong hợp đồng bởi thời
gian càng lâu thì họ càng gặp khó khăn trong việc đưa ra biện pháp
phòng vệ. Tuy nhiên, việc cơ quan tiến hành tố tụng tự viện dẫn việc
hết thời hiệu để không giải quyết vụ án dân sự thì thực tiễn pháp luật
Việt Nam khác với nhiều hệ thống pháp luật trên thế giới. Theo Điều
2223 Bộ luật Dân sự Pháp, thẩm phán không thể tự viện dẫn việc hết
thời hiệu khởi kiện. Pháp luật của các nước Bỉ, Lúc-xăm-bua, ý, Tây
Ban Nha cũng quy định tương tư. Trong thực tiễn của nước Pháp, Tòa án
tối cao Pháp thường xuyên hủy bản án sơ thẩm hay phúc thẩm trong đó
thẩm phán tự mình viện dẫn việc mất quyền khởi kiện của một bên trong
hợp đồng do hết thời hiệu trong khi không được bên kia của hợp đồng
yêu cầu.
Thực tiễn trên của Việt Nam cũng khác với một số bộ nguyên tắc về hợp
đồng được đánh giá cao trên bình diện quốc tế. Ví dụ, Bộ nguyên tắc
châu Âu về hợp đồng chỉ cho phép bên có nghĩa vụ của hợp đồng được
viện dẫn việc hết thời hiệu và quy định là khi hết thời hiệu khởi
kiện, "bên có nghĩa vụ được quyền từ chối thực hiện nghĩa vụ". Và theo
Điều 10.9, Khoản 1 Bộ nguyên tắc Unidroit về hợp đồng thương mại quốc
tế, "việc hết thời hiệu chỉ có hiệu lực nếu bên có nghĩa vụ viện dẫn
việc hết thời hiệu như là một biện pháp tự vệ". Như vậy, trong các hệ
thống luật nêu trên, việc hết thời hiệu không có hiệu lực tự động mà
nó chỉ có hiệu lực khi một bên viện dẫn điều đó như một biện pháp tự
vệ. ở đây, cơ quan tố tụng không được tự viện dẫn việc hết thời hiệu
để từ chối quyền yêu cầu của một bên trong hợp đồng nếu không được bên
kia yêu cầu.
Mặc khác, việc cơ quan tiến hành tố tụng tự viện dẫn việc một bên mất
quyền khởi kiện khi không được bên kia trong hợp đồng yêu cầu dường
như đi ngược lại với tinh thần của nguyên tắc tự do quyết định, định
đoạt của đương sự được ghi nhận tại Điều 5 BLTTDS, trong khi đó, quan
hệ hợp đồng là loại quan hệ mà quyền định đoạt và quyết định của các
bên là rất cao. Theo đó, điểm a, Khoản 1, Điều 168 BLTTDS quy định
chung chung rằng, tòa án trả lại đơn khởi kiện trong trường hợp thời
hiệu khởi kiện đã hết là không hợp lý.
Thiết nghĩ, để pháp luật Việt Nam phù hợp với thông lệ quốc tế và để
tôn trọng quyền tự do quyết định, định đoạt của các bên trong tranh
chấp hợp đồng, không nên cho phép cơ quan tiến hành tố tụng tự viện
dẫn việc mất quyền khởi kiện của một bên khi không được bên kia yêu
cầu. Đồng thời, để giải pháp này được áp dụng hài hòa thì điểm a,
Khoản 1, Điều 168 BLTTDS nên quy định là: trong lĩnh vực hợp đồng, tòa
án chỉ trả lại đơn khởi kiện vì thời hiệu khởi kiện đã hết nếu được
một bên trong tranh chấp yêu cầu việc đó.
2. Hết thời hiệu không làm mất quyền phát sinh quyền yêu cầu tòa án
Quyền yêu cầu tòa án can thiệp phát sinh từ quyền mà một bên được yêu
cầu bên kia thực hiện. Ví dụ, quyền của một bên yêu cầu tòa án buộc
bên kia thanh toán một khoản tiền phát sinh từ quyền bên này được yêu
cầu bên kia thanh toán khoản tiền cho vay. Chẳng hạn, A cho B vay 100
triệu đồng. Vậy, A có quyền yêu cầu B thanh toán khoản tiền này và
quyền này làm phát sinh quyền của A yêu cầu tòa án giải quyết buộc B
thanh toán. Khi hết thời hiệu khởi kiện, quyền khởi kiện bị mất. Vấn
đề đặt ra là liệu việc mất quyền yêu cầu tòa án có dẫn đến mất quyền
làm phát sinh quyền yêu cầu tòa án không? Pháp luật Việt Nam không quy
định rõ ràng về vấn đề này. Vụ tranh chấp giữa bà Bé và bà Xuân nêu
trên là một ví dụ minh hoạ.
Chấm dứt hay không chấm dứt quyền phát sinh quyền yêu cầu toà án?
Trong tranh chấp giữa bà Bé và bà Xuân, bên cạnh việc xét rằng bà Xuân
mất quyền khởi kiện, Tòa sơ thẩm còn nêu "bà Xuân đã mất quyền khởi
kiện nên mặc nhiên bà Bé không còn phải có nghĩa vụ thanh toán số nợ
đã vay". Như vậy, theo Tòa sơ thẩm, việc mất quyền yêu cầu tòa án giải
quyết do hết thời hiệu làm mất quyền đòi nợ của bà Xuân và làm biến
mất nghĩa vụ thanh toán nợ của bà Bé.
Giải pháp của Tòa sơ thẩm không được Chánh án TANDTC chấp nhận. Trong
Kháng nghị số 72/KNDS ngày 03/9/2004, Chánh án TANDTC có nêu: việc
giải quyết như trên "là không chính xác, vì pháp luật hiện hành chỉ
xác định hết thời hiệu khởi kiện vụ án dân sự thì Toà án không thụ lý
giải quyết". Quan điểm trên của Chánh án TANDTC được Tòa dân sự TANDTC
chấp nhận. Tại Quyết định giám đốc thẩm số 136 ngày 18/11/2004 Toà dân
sự TANDTC nhận định: "Toà án cấp sơ thẩm tuy đã đình chỉ việc giải
quyết vụ kiện là đúng pháp luật nhưng trong phần nhận định của bản án,
Toà án cấp sơ thẩm cho rằng bà Xuân đã mất quyền khởi kiện nên mặc
nhiên bà Bé không còn phải có nghĩa vụ thanh toán số nợ đã vay là
không chính xác, vì pháp luật hiện hành chỉ xác định hết thời hiệu
khởi kiện vụ án dân sự thì toà án không thụ lý giải quyết".
Như vậy, trong lĩnh vực hợp đồng, theo thực tiễn pháp lý Việt Nam,
việc mất quyền khởi kiện không dẫn đến mất quyền làm phát sinh quyền
yêu cầu tòa án. Với giải pháp trên, thực tiễn pháp lý Việt Nam làm cho
pháp luật Việt Nam phù hợp với pháp luật nhiều nước trên thế giới.
Theo pháp luật Đức, khi thời hiệu khởi kiện hết, quyền làm phát sinh
quyền yêu cầu tòa án không chấm dứt. Quy định đó tương tự như pháp
luật của Hy Lạp, Hà Lan, Đan Mạch, Anh, Ailen, Bồ Đào Nha và Khoản 1,
Điều 10.9 Bộ nguyên tắc Unidroit về hợp đồng thương mại quốc tế rằng
"việc hết thời hiệu không chấm dứt quyền".
Hậu quả của việc không mất quyền
Theo thực tiễn pháp lý Việt Nam, quyền làm phát sinh quyền yêu cầu tòa
án không chấm dứt khi thời hiệu khởi kiện đã hết. Chúng tôi cho rằng,
giải pháp này là hợp lý và phù hợp với nhiều hệ thống luật trên thế
giới như đã nêu.
Giải pháp này dẫn đến hậu quả là nếu bên có nghĩa vụ đã tự giác thực
hiện nghĩa vụ thì không được đòi lại. Trong ví dụ trên, nếu bà Bé tự
thanh toán cho bà Xuân mặc dù thời hiệu đã hết thì không được đòi lại
khoản tiền đã trả. Vì quyền đó vẫn tồn tại nên bên có quyền vẫn có thể
sử dụng để bù trừ nghĩa vụ của mình với bên kia. Ví dụ, nếu bà Xuân
cũng phải trả bà Bé một khoản tiền thì bà Xuân có thể sử dụng khoản
tiền mà mình cho vay để bù trừ với món nợ mà mình phải trả cho bà Bé.
Cũng cần phải thấy rằng, giải quyết hậu quả của giải pháp trên không
đơn giản. Ví dụ, vì món nợ hết thời hiệu vẫn tồn tại thì liệu món nợ
đó có tiếp tục làm phát sinh lãi suất không? Trong ví dụ liên quan đến
tranh chấp giữa bà Xuân và bà Bé, các bên thỏa thuận là lãi suất 3%/
tháng, liệu lãi suất trên có tiếp tục được tính không? Còn nữa, những
biện pháp bảo đảm cho món nợ đó có chấm dứt không? Trong ví dụ trên,
bà Bé đã thế chấp một bộ đơn xin hợp thức hóa nhà và một bộ hộ khẩu,
số phận những tài liệu thế chấp này được giải quyết ra sao? Trong
trường hợp không thể nhận lại những giấy tờ đó, bà Bé có thể yêu cầu
cơ quan nhà nước có thẩm quyền cấp lại không? Câu trả lời vẫn đang bỏ
ngỏ và cần sự bàn luận của nhiều nhà luật học, nhà nghiên cứu và của
bạn đọc Hiến kế Lập pháp.

Reply all
Reply to author
Forward
0 new messages