Điều 149, 153 BLDS 2005 có quy định:
Điều 149. Thời hạn
1. Thời hạn là một khoảng thời gian được xác định từ thời điểm này đến
thời điểm khác.
2. Thời hạn có thể được xác định bằng phút, giờ, ngày, tuần, tháng,
năm hoặc bằng một sự kiện có thể sẽ xảy ra.
Điều 153. Kết thúc thời hạn
1. Khi thời hạn tính bằng ngày thì thời hạn kết thúc tại thời điểm kết
thúc ngày cuối cùng của thời hạn
.....................
6. Thời điểm kết thúc ngày cuối cùng của thời hạn vào lúc hai mươi tư
giờ của ngày đó.
Khoản 2 Điều 152 BLDS 2005 cũng có 1 quy định thế này:
2. Khi thời hạn tính bằng tuần thì thời hạn kết thúc tại thời điểm
kết thúc ngày tương ứng của tuần cuối cùng của thời hạn
THỜI HIỆU
Theo quy định tại điều 159 BLTTDS 2004 thì
Điều 159. Thời hiệu khởi kiện, thời hiệu yêu cầu
“.....
3. Trong trường hợp pháp luật không có quy định khác về thời hiệu khởi
kiện, thời hiệu yêu cầu thì thời hiệu khởi kiện, thời hiệu yêu cầu
được quy định như sau:
a) Thời hiệu khởi kiện để yêu cầu Toà án giải quyết vụ án dân sự là
hai năm, kể từ ngày quyền và lợi ích hợp pháp của cá nhân, cơ quan, tổ
chức, lợi ích công cộng, lợi ích của Nhà nước bị xâm phạm;
b) Thời hiệu yêu cầu để Toà án giải quyết việc dân sự là một năm, kể
từ ngày phát sinh quyền yêu cầu.”
Như vậy, hầu hết thời hiệu khởi kiện là 2 năm kể từ ngày quyền và lợi
ích của cá nhân, cơ quan tổ chức…bị xâm phạm. Theo QQ thì 2 năm không
phải là thời hiệu phù hợp.
Khoản 1 Điều 136 BLDS 2005 quy định : Thời hiệu khởi yêu cầu Tòa án
tuyên bố giao dịch dân sự vô hiệu từ điều 130 đến 134 là 2 năm kể từ
ngày giao dịch dân sự được xác lập.
Tham khảo thêm về khái niệm cách xác định,ý nghĩa của thời hạn thời
hiệu ở
http://www.wattpad.com/276434-th%E1%BB%9Di-h%E1%BA%A1n-th%E1%BB%9Di-hi%E1%BB%87u
http://www.wattpad.com/867122-th%E1%BB%9Di-h%E1%BA%A1n-th%E1%BB%9Di-hi%E1%BB%87u
(mí cái này k cho copy nên mình k nêu ra luôn đc)
Một số vấn đề về thời hiệu yêu cầu giải quyết vụ việc dân sự
Việc sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2004,
trong đó có thời hiệu yêu cầu giải quyết vụ việc dân sự là một cơ hội
tốt để đánh giá, xem xét lại quan niệm và thực trạng pháp luật của
chúng ta về một chế định đặc biệt quan trọng và “nhạy cảm”, liên quan
đến sự công nhận và bảo vệ quyền dân sự của các chủ thể trong xã hội
(chủ thể dân sự). Trên cơ sở đó có những nghiên cứu, sửa đổi, bổ sung
cơ bản:[1]
I. QUAN NIỆM VÀ THỰC TRẠNG PHÁP LUẬT VIỆT NAM VỀ THỜI HIỆU YÊU CẦU
GIẢI QUYẾT VỤ VIỆC DÂN SỰ
Ở Việt Nam, thời hiệu yêu cầu giải quyết vụ việc dân sự (bao gồm thời
hiệu khởi kiện vụ án dân sự và thời hiệu yêu cầu giải quyết việc dân
sự) là một chế định được quy định ở nhiều văn bản pháp luật khác nhau,
bao gồm cả văn bản pháp luật chuyên ngành[2] và văn bản pháp luật tố
tụng.[3] Qua các quy định hiện hành, thời hiệu yêu cầu giải quyết vụ
việc dân sự được tiếp cận với hai vai trò cơ bản: (1) nó là thời hạn
luật định cho phép các chủ thể dân sự thực hiện quyền yêu cầu tại Tòa
án để công nhận hoặc bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp về dân sự bị xâm
phạm.[4] Ở vai trò này, thời hiệu yêu cầu giải quyết vụ việc dân sự là
một chế định của pháp luật dân sự và được quy định ở nhiều văn bản
pháp luật chuyên ngành khác nhau mà nòng cốt là Bộ luật dân sự;[5] (2)
nó là căn cứ pháp lý để Tòa án từ chối hay không từ chối giải quyết vụ
việc dân sự. Ở vai trò này, thời hiệu yêu cầu giải quyết vụ việc dân
sự được hiểu là thời hiệu thụ lý và là một chế định trong pháp luật tố
tụng dân sự.[6]
Việc quan niệm thời hiệu yêu cầu giải quyết vụ việc dân sự có hai vai
trò nêu trên đã bộc lộ những vướng mắc về mặt lý luận và thực tiễn sau:
[7]
- Thứ nhất, việc quy định thời hiệu còn mang nặng mục đích tạo căn cứ
pháp lý cho Tòa án từ chối giải quyết vụ việc dân sự khi có yêu cầu
của chủ thể dân sự, biến thời hiệu yêu cầu thành thời hiệu thụ lý
trong thực tiễn tố tụng. Đây là một mâu thuẫn lớn đối với thể chế pháp
lý cho nền kinh tế thị trường, xã hội dân sự và thông lệ quốc tế –
Pháp luật có trách nhiệm đảm bảo được lẽ công bằng trong ứng xử và
trong bảo vệ quyền của chủ thể luật tư khi quyền của họ cần được bảo
vệ. Tòa án không lấy lý do thời hiệu đã hết để từ chối thụ lý đơn khi
có yêu cầu. Tòa án chỉ có quyền căn cứ vào quy định về thời hiệu hưởng
quyền, thời hiệu miễn trừ nghĩa vụ để công nhận hay bác yêu cầu của
chủ thể;
- Thứ hai, pháp luật mới chỉ dừng lại ở việc thừa nhận quyền yêu cầu
của chủ thể dân sự trong thời hạn luật định mà chưa có quan điểm rõ
ràng, thống nhất hậu quả về nội dung quan hệ dân sự khi hết thời hiệu.
Việc hết thời hiệu yêu cầu không đồng nghĩa chấm dứt quyền và nghĩa vụ
của các bên trong quan hệ, bên có nghĩa vụ không được miễn trừ nghĩa
vụ, trong khi bên có quyền không còn quyền yêu cầu Tòa án công nhận,
bảo vệ quyền dân sự. Đây có thể là một trong những nguyên nhân gia
tăng sự phức tạp trong thực tiễn giao lưu dân sự (đặc biệt trong các
tranh chấp liên quan đến sở hữu, hợp đồng và thừa kế);
- Thứ ba, pháp luật đã công nhận quyền của chủ thể dân sự trong việc
yêu cầu Tòa án công nhận, bảo vệ quyền dân sự, nhưng chưa có quy định
hợp lý về tính thời hiệu, thường ấn định một thời điểm xác định mà
không linh hoạt hóa cho phù hợp với các quan hệ dân sự và chủ thể có
tính đặc thù. Quy định như vậy, có thể tạo ra tình trạng không công
bằng trong công nhận, bảo vệ quyền dân sự của chủ thể hoặc áp dụng
pháp luật không thống nhất. Ví dụ, khoản 1 Điều 136 Bộ luật dân sự năm
2005 quy định, thời hiệu Tòa án tuyên bố giao dịch vô hiệu được "tính
từ thời điểm giao dịch được xác lập" mà không phụ thuộc chủ thể dân sự
biết hay buộc phải biết quyền, lợi ích của mình bị xâm phạm hoặc hành
vi vi phạm đã và đang còn tiếp diễn hay không?!
II. BẢN CHẤT PHÁP LÝ CỦA THỜI HIỆU YÊ CẦU GIẢI QUYẾT VỤ VIỆC DÂN SỰ
Pháp luật dân sự của các nước trên thế giới cũng như của Việt Nam có
một nhiệm vụ cơ bản là công nhận địa vị pháp lý, quyền, nghĩa vụ của
các chủ thể trong xã hội về nhân thân và tài sản trong các quan hệ tư;
đồng thời quy định các chuẩn mực pháp lý cho cách ứng xử của các chủ
thể dân sự. Trong trường hợp, việc ứng xử của một chủ thể xâm phạm đến
quyền, lợi ích hợp pháp của các chủ thể dân sự khác, thì chủ thể bị
xâm phạm có thể bảo vệ quyền dân sự của mình bằng nhiều phương thức
khác nhau. Họ có quyền tự bảo vệ hoặc yêu cầu cơ quan, tổ chức có thẩm
quyền (trong đó có quyền yêu cầu Tòa án) công nhận quyền dân sự của
mình; buộc chủ thể xâm phạm quyền chấm dứt hành vi vi phạm, xin lỗi,
cải chính công khai, thực hiện nghĩa vụ dân sự hoặc bồi thường thiệt
hại.
Như vậy, khi chủ thể dân sự yêu cầu Tòa án giải quyết vụ việc dân sự
không phải họ thực hiện một quyền trong tố tụng mà là thực hiện một
quyền dân sự cơ bản được pháp luật công nhận và bảo vệ. Tòa án có
trách nhiệm đảm bảo được lẽ công bằng trong ứng xử và trong bảo vệ
quyền của chủ thể dân sự khi quyền, lợi ích của họ bị xâm phạm.
Tuy nhiên, pháp luật không thừa nhận quyền này của chủ thể là vô hạn
định, việc thực hiện quyền phải nằm trong thời hạn pháp luật quy
định[8] – Thời hiệu yêu cầu. Trong trường hợp hết thời hạn luật định,
chủ thể không thực hiện quyền thì mất quyền yêu cầu bên có nghĩa vụ
thực hiện nghĩa vụ cho mình. Mục đích của việc quy định thời hiệu yêu
cầu không phải để xác định thời hiệu thụ lý đơn, mà không có gì khác
nhằm nâng cao trách nhiệm của chủ thể dân sự trong việc bảo vệ quyền,
lợi ích của mình, hạn chế phức tạp trong giải quyết tranh chấp và bảo
đảm sự ổn định của các quan hệ dân sự.
Xuất phát từ bản chất pháp lý nêu trên, nhiều nước trên thế giới đã
ghi nhận quyền yêu cầu Tòa án giải quyết vụ việc dân sự và thời hiệu
yêu cầu giải quyết việc dân sự là một nội dung trong quan hệ pháp luật
dân sự, được pháp luật dân sự điều chỉnh. Các nước theo hệ thống pháp
luật thành văn (Cộng hòa nhân dân Trung Hoa, Liên bang Nga, Đức, Nhật…)
[9] đều quy định thời hiệu yêu cầu giải quyết vụ việc dân sự trong
pháp luật về nội dung (Cộng hòa Pháp bên cạnh việc quy định chung về
thời hiệu nói chung từ Điều 2219 đến Điều 2227 Bộ luật dân sự cũng đã
ban hành Luật về thời hiệu). Các nước theo hệ thống pháp luật Anh – Mỹ
thường ban hành Luật về thời hiệu, theo đó thời hiệu yêu cầu giải
quyết vụ việc dân sự cũng được quy định như là một nội dung thực hiện
quyền của chủ thể dân sự.[10] Bộ nguyên tắc Unidroit về hợp đồng
thương mại quốc tế (General Principle of Commercial Contracts) tại
Điều 10.9, khoản 1 cũng ghi nhận nguyên tắc“việc hết thời hiệu chỉ có
hiệu lực nếu bên có nghĩa vụ viện dẫn việc hết thời hiệu như là một
biện pháp tự vệ”.
Nhìn chung, qua quy định của pháp luật các nước và theo thông lệ quốc
tế, thời hiệu yêu cầu giải quyết vụ việc dân sự mang hai đặc điểm cơ
bản:
- Thứ nhất, nó là loại thời hạn do pháp luật quy định không phải là
thời hạn do các bên trong quan hệ dân sự thỏa thuận. Việc không tuân
thủ thời hạn đã được pháp luật quy định có thể làm phát sinh các hậu
quả pháp lý nằm ngoài ý chí của chủ thể. Trong đó, bên có quyền có thể
mất quyền yêu cầu bên có nghĩa vụ thực hiện nghĩa vụ cho mình và bên
có nghĩa vụ có thể được miễn trừ nghĩa vụ đối với bên có quyền. Việc
miễn trừ nghĩa vụ cho bên có nghĩa vụ có thể không là đương nhiên mà
phụ thuộc vào ý chí của chính họ; [11]
- Thứ hai, nó là thời hạn cho phép chủ thể thực hiện quyền yêu cầu Tòa
án công nhận, bảo vệ quyền dân sự không liên quan đến các hoạt động tố
tụng của Tòa án trong thụ lý đơn và giải quyết yêu cầu của chủ thể.
Tòa án không được tự viện dẫn đã hết thời hiệu để từ chối giải quyết
vụ việc dân sự.[12]
Pháp luật Việt Nam cũng thừa nhận nguyên tắc luật định về thời hiệu,
không phụ thuộc vào sự thỏa thuận của các bên (Điều 154 Bộ luật dân
sự). Tuy nhiên, nhà làm luật lại xác định thời hiệu này ở cả hai vai
trò: thời hạn thực hiện quyền yêu cầu Tòa án công nhận và bảo vệ quyền
dân sự và thời hạn để Tòa án thụ lý đơn yêu cầu của chủ thể dân sự.
[13] Khi hết thời hiệu yêu cầu, ngoài hậu quả được quy định trong Bộ
luật tố tụng dân sự, cho phép Tòa án từ chối giải quyết vụ việc dân sự
(Điểm a Khoản 1 Điều 168, Điểm c Khoản 1 Điều 192), Bộ luật dân sự năm
2005, Bộ luật tố tụng dân sự năm 2004 và các văn bản pháp luật chuyên
ngành khác chưa thừa nhận nguyên tắc miễn trừ nghĩa vụ cho bên có
nghĩa vụ khi hết thời hiệu yêu cầu. Bộ luật dân sự năm 2005 quy định
thời hiệu khởi kiện và thời hiệu miễn trừ nghĩa vụ như là hai loại
thời hiệu độc lập (Điều 155), trong khi về bản chất việc miễn trừ
nghĩa vụ dân sự phải là hậu quả của việc hết thời hiệu mà chủ thể
không yêu cầu.
Việc không thừa nhận nguyên tắc miễn trừ nghĩa vụ trong trường hợp
này, dường như là sự “vô cảm” của Nhà nước, khi Tòa án từ chối giải
quyết vụ việc dân sự cũng không đồng nghĩa chấm dứt tranh chấp giữa
các bên trong quan hệ dân sự. Mặc dù bên có quyền không còn quyền yêu
cầu Tòa án công nhận, bảo vệ quyền nhưng nghĩa vụ của bên có nghĩa vụ
vẫn còn, tranh chấp vì thế không được giải quyết và đây là “mảnh
đất”tốt cho các hành vi thu hồi nghĩa vụ ngoài pháp luật và không minh
bạch trong thực tiễn giao lưu dân sự, thương mại.
Để đưa thời hiệu về đúng bản chất vốn có của nó, chúng ta cần có những
nghiên cứu cơ bản về những vấn đề sau:
- Thứ nhất, không nên quy định thời hiệu trong Bộ luật tố tụng dân sự
để phù hợp với bản chất pháp lý của thời hiệu và khi thời hiệu là chế
định đã được quy định trong Bộ luật dân sự và các văn bản pháp luật
chuyên ngành khác. Tuy nhiên, Bộ luật tố tụng dân sự cũng cần có điều
khoản viện dẫn về áp dụng thời hiệu trong Bộ luật dân sự và các văn
bản pháp luật chuyên ngành, để đảm bảo thống nhất áp dụng pháp luật
trong các hoạt động tố tụng của Tòa án.
Cũng có ý kiến cho rằng, không phải tất cả các quan hệ pháp luật đều
đã được pháp luật chuyên ngành quy định về thời hiệu. Do vậy, cần tiếp
tục quy định thời hiệu giải quyết vụ việc dân sự trong Bộ luật tố tụng
dân sự để áp dụng cho những quan hệ pháp luật chưa được quy định về
thời hiệu khởi kiện, thời hiệu yêu cầu[14]. Về vấn đề này, thực tế các
quy định về thời hiệu trong Bộ luật dân sự và văn bản pháp luật chuyên
ngành về cơ bản đã bao quát hầu hết các quan hệ pháp luật trong lĩnh
vực dân sự. Trong trường hợp có sự khuyết thiếu về quy định về thời
hiệu thì cần phải đặt ra việc sửa đổi, bổ sung pháp luật về nội dung
chứ không nên bổ sung vào trong pháp luật tố tụng[15];
- Thứ hai, cần thừa nhận nguyên tắc Tòa án không có quyền từ chối giải
quyết vụ việc dân sự vì lý do hết thời hiệu yêu cầu. Dự thảo 4 Luật
sửa đổi, bổ sung một số điều Bộ luật tố tụng dân sự (Dự thảo 4) đã
loại bỏ căn cứ trả lại đơn khởi kiện trong trường hợp hết thời hiệu
khởi kiện (Điểm a Khoản 1 Điều 168). Đây là một quyết định đúng đắn
của cơ quan soạn thảo. Tuy nhiên, Khoản 2 và Khoản 3 Điều 159 của Dự
thảo 4 vẫn ghi nhận nguyên tắc, nếu thời hạn yêu cầu kết thúc thì chủ
thể mất quyền khởi kiện hoặc yêu cầu, đồng thời Điểm c Khoản 1 Điều
192 của Bộ luật tố tụng dân sự (không được sửa đổi lần này) quy định
Tòa án vẫn có quyền ra quyết định đình chỉ giải quyết vụ án dân sự khi
có căn cứ nguyên đơn không có quyền khởi kiện và quy định tại Khoản 2
và Khoản 3 Điều 159 của Dự thảo 4 là một trong các trường hợp nguyên
đơn không có quyền khởi kiện.
Như vậy, Dự thảo 4 mới có sự cải cách một phần đối với quan niệm hiện
tại, coi thời hiệu yêu cầu là thời hiệu thụ lý khi loại bỏ quy định về
từ chối thụ lý nhưng vẫn chưa loại bỏ quy định cho phép Tòa án từ chối
giải quyết vụ việc dân sự;
- Thứ ba, cần có sự nghiên cứu cơ bản và thay thế thời hiệu khởi kiện
theo qui định hiện hành bằng thời hiệu hưởng quyền và thời hiệu miễn
trừ nghĩa vụ trong Bộ luật dân sự và các văn bản pháp luật chuyên
ngành. Đây có thể vấn đề mới với Việt Nam, nhưng nó đã trở thành thông
lệ quốc tế. Ở một chừng mực nào đó, Bộ luật dân sự năm 2005 cũng đã có
sự gắn kết giữa hết thời hiệu yêu cầu với việc miễn trừ nghĩa vụ cho
bên có nghĩa vụ khi qui định về xác lập sở hữu đối với tài sản là vật
vô chủ, vật không xác định được chủ sở hữu (Điều 239), vật đánh rơi,
bỏ quên (Điều 241), gia súc, gia cầm bị thất lạc, vật nuôi dưới nước
(các điều 242, 243, 244), đối với việc chiếm hữu, được lợi về tài sản
không có căn cứ pháp luật (Điều 247).[16]
IV. VỀ XÁC ĐỊNH THỜI ĐIỂM PHÁT SINH THỜI HIỆU YÊU CẦU GIẢI QUYẾT VỤ
VIỆC DÂN SỰ
Việc tính đúng thời điểm phát sinh thời hiệu yêu cầu giải quyết vụ
việc dân sự có ý nghĩa rất quan trọng trong các hoạt động tố tụng của
Tòa án, cũng như trong công nhận và bảo vệ quyền cho chủ thể dân sự.
Thời điểm phát sinh thời hiệu trong pháp luật Việt Nam thường ấn định
thông qua một sự kiện. Việc qui định như vậy cũng có ưu điểm, rõ ràng
cho Tòa án vận dụng tính thời hiệu trong giải quyết vụ việc dân sự.
Tuy nhiên, qui định này không phản ánh đúng thực tiễn quan hệ dân sự
và có phần không công bằng đối với chủ thể có quyền, lợi ích bị xâm
phạm hoặc các bên trong giao dịch.[17]
Thời điểm phát sinh thời hiệu theo pháp luật hiện hành phổ biến được
tính kể từ ngày quyền, lợi ích của chủ thể bị xâm phạm hoặc kể từ thời
điểm giao dịch được giao kết (Điều 159 Bộ luật tố tụng dân sự, khoản 1
Điều 136, Điều 159, Điều 427, Điều 607 Bộ luật dân sự, Điều 319 Luật
Thương mại…). Trên thực tế vì nhiều lý do khách quan, quyền, lợi ích
của chủ thể đã bị xâm phạm, nhưng chủ thể không biết hoặc không thể
biết quyền, lợi ích của mình bị xâm phạm (người bị lừa dối chưa biết
mình bị lừa dối, người bị nhầm lẫn không biết bị nhầm lẫn, người bị
ngộ độc thực phẩm, chịu ô nhiễm môi trường nhưng không biết sức khỏe,
tính mạng bị xâm phạm…). Do đó, cần thiết phải có sự sửa đổi cách tính
thời hiệu dựa vào thời điểm “ngày quyền, lợi ích bị xâm phạm” thành
thời điểm “chủ thể biết hoặc buộc phải biết quyền, lợi ích của mình bị
xâm phạm”. Khoản 3, Điều 159 Dự thảo 4 cũng đã dự liệu thời hiệu khởi
kiện tính từ ngày cá nhân, cơ quan, tổ chức biết quyền và lợi ích của
mình bị xâm phạm. Dự liệu như vậy là hợp lý. Tuy nhiên, Dự thảo cũng
cần bổ sung thêm thời điểm chủ thể buộc phải biết quyền và lợi ích bị
xâm phạm, để tránh trường hợp chủ thể cho rằng mình không biết để trục
lợi về thời hiệu, đồng thời cho phép Tòa án, bị đơn có thể suy đoán
bằng những căn cứ rõ ràng nguyên đơn không thể không biết.[18]
Ngoài ra, trong một số trường hợp, chủ thể dân sự biết quyền, lợi ích
của mình bị xâm phạm, nhưng họ không thể thực hiện quyền yêu cầu vì lý
do, người có hành vi xâm phạm tiếp tục thực hiện các hành vi trái pháp
luật khiến họ không thể thực hiện được quyền yêu cầu (đặc biệt đối với
giao dịch được xác lập do một bên bị đe dọa, cưỡng ép). Đối với những
trường hợp này, quy định thời hiệu yêu cầu tính từ thời điểm quyền,
lợi ích bị xâm phạm hoặc từ thời điểm giao dịch được giao kết (theo
quy định hiện hành) hay tính từ thời điểm chủ thể biết hoặc buộc phải
biết quyền, lợi ích của mình bị xâm phạm (như đã phân tích ở trên và
theo dự liệu của Dự thảo 4) cũng đều không phù hợp, không bảo vệ được
quyền lợi của đương sự. Khi quyền, lợi ích của chủ thể dân sự bị xâm
phạm do bị đe dọa, cưỡng ép thì thời hiệu khởi kiện cần được tính từ
thời điểm bên có hành vi đe dọa, cưỡng ép chấm dứt hành vi đe dọa,
cưỡng ép, không tính từ thời điểm họ biết hoặc buộc phải biết quyền,
lợi ích bị xâm phạm.[19]
IV. THỜI HIỆU YÊU CẦU GIẢI QUYẾT VỤ VIỆC DÂN SỰ TRONG MỘT SỐ TRƯỜNG
HỢP CỤ THỂ
Báo cáo số 4522/BC-UBTP ngày 02/12/2010 của Ủy ban Tư pháp của Quốc
hội khóa XII xin ý kiến Ủy ban Thường vụ Quốc hội một số vấn đề lớn về
Dự thảo Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật tố tụng dân sự,
có nêu ý kiến cần loại trừ thời hiệu giải quyết tranh chấp quyền sở
hữu tài sản và yêu cầu giải quyết việc dân sự về quyền nhân thân cho
phù hợp với tính đặc thù của quan hệ và nhằm tháo gỡ những vướng mắc
trong thực tiễn. Về vấn đề này, chúng tôi xin trao đổi như sau:
1. Đối với thời hiệu về sở hữu
Quan hệ sở hữu là một quan hệ đặc thù và quyền sở hữu là một quyền
tuyệt đối là điều không thể phản bác, Khoản 2 Điều 169 Bộ luật dân sự
năm 2005 quy định“không ai có thể bị hạn chế, bị tước đoạt trái pháp
luật quyền sở hữu đối với tài sản của mình. Chủ sở hữu có quyền tự bảo
vệ, ngăn cản bất kỳ người nào có hành vi xâm phạm quyền sở hữu của
mình, truy tìm, đòi lại tài sản bị người khác chiếm hữu, sử dụng, định
đoạt không có căn cứ pháp luật”. Tuy nhiên, không nên hiểu quyền sở
hữu được bảo vệ tuyệt đối vô hạn định trong mọi trường hợp, việc thực
hiện quyền sở hữu phải đặt trong hoàn cảnh tôn trọng lợi ích chung của
Nhà nước, của xã hội, lợi ích hợp pháp của các chủ thể khác, cũng như
đảm bảo sự ổn định của các quan hệ dân sự.[20] Trong nhiều trường hợp,
việc áp dụng thời hiệu về sở hữu cần được đặt ra để yêu cầu chủ sở hữu
phải tôn trọng các lợi ích nêu trên.
Pháp luật dân sự của các nước trên thế giới cũng không loại trừ thời
hiệu đối với loại quan hệ pháp luật này trong mọi trường hợp. Căn cứ
vào chủ thể, tính chất và đối tượng sở hữu, nhà làm luật các nước có
thể áp dụng thời hiệu và không áp dụng thời hiệu.
Nhà làm luật Việt Nam loại trừ thời hiệu đối với trường hợp tài sản
thuộc hình thức sở hữu Nhà nước, trong trường hợp tài sản của Nhà nước
thuộc sự chiếm hữu của người khác không có căn cứ pháp luật dù ngay
tình, liên tục, công khai thì quyền sở hữu của Nhà nước đối với tài
sản không bị mất đi (Khoản 2 Điều 247 Bộ luật dân sự năm 2005). Pháp
luật của một số bang của Australia loại trừ thời hiệu đối việc kiện
tranh chấp có đối tượng là đất (Luật về thời hiệu của lãnh thổ Thủ đô
Liên bang Australia năm 1985 và Luật về thời hiệu của vùng lãnh thổ
Bắc Australia năm 1981) …
Ngoài một số tranh chấp sở hữu đặc thù được loại trừ về thời hiệu, áp
dụng thời hiệu yêu cầu là sự lựa chọn phổ biến của nhà làm luật trên
thế giới và thường họ có quy định đa đạng về thời hiệu đối với từng
loại tranh chấp sở hữu đặc thù:
- Việc áp dụng thời hiệu yêu cầu có thể được quy định căn cứ vào đối
tượng tranh chấp sở hữu là động sản hay bất động sản. Luật về thời
hiệu của Cộng hòa Pháp quy định thời hiệu yêu cầu là năm năm nếu liên
quan đến động sản và 30 năm đối với bất động sản kể từ ngày người có
quyền sở hữu động sản, bất động sản biết hoặc bắt buộc phải biết những
sự kiện pháp lý xâm phạm đến quyền sở hữu của họ. Bộ luật dân sự của
CHLB Đức năm 2002 (được sửa đổi năm 2007) quy định đối với vụ kiện
liên quan đến chuyển dịch quyền sở hữu đất và xác lập, chuyển dịch
hoặc hủy bỏ một trong các quyền đối với đất thì thời hiệu khởi kiện là
30 năm, thời hiệu khởi kiện là 10 năm áp dụng đối vụ liên quan đến
quyền sở hữu động sản (Điều 196, Điều 197 )… Bộ luật dân sự năm 2005
của Việt Nam cũng có qui định tương tự về trường hợp người chiếm hữu,
người được lợi về tài sản không có căn cứ pháp luật nhưng ngay tình,
liên tục, công khai trong thời hạn mười năm đối với động sản, ba mươi
năm đối với bất động sản thì chủ sở hữu mất quyền yêu cầu Tòa án buộc
người chiếm hữu, người được lợi về tài sản không có căn cứ pháp luật
hoàn trả lại tài sản (khoản 1 Điều 247).[21]
- Việc áp dụng thời hiệu cũng có thể căn cứ vào tình trạng chiếm hữu
tài sản. Điều 194 Bộ luật dân sự Nhật Bản quy định, nếu một người bắt
đầu chiếm hữu động sản một cách ổn định công khai, hành động một cách
ngay tình và không có sơ suất, nhưng vật chiếm hữu là vật bị lấy cắp
hoặc vật bị mất thì bên bị lấy cắp hoặc bị mất có quyền được đòi hỏi
lại từ người chiếm hữu trong vòng 2 năm kể từ ngày vật này bị lấy cắp
hay bị mất. Pháp luật Nhật Bản cũng quy định việc kiện chiếm hữu phải
được tiến hành khi có sự cản trở đang tồn tại hoặc trong vòng một năm,
kể từ khi nó chấm dứt, trong trường hợp vật chiếm hữu đã bị tổn hại do
việc xây dựng, thì vụ kiện chỉ được tiến hành sau một năm, kể từ ngày
bắt đầu công việc và không được sau khi hoàn thành chúng. Kiện bảo vệ
chiếm hữu có thể được tiến hành trong suốt thời gian tồn tại cản trở
hay mối nguy hại. Nếu có bằng chứng cho thấy rằng việc thực hiện các
công việc xây dựng có thể gây tổn hại cho vật chiếm hữu, thì đoạn sau
của phần trên được áp dụng với sự sửa đổi thích hợp. Kiện đòi chiếm
hữu phải được thực hiện trong phạm vi một năm kể từ ngày bị tước chiếm
hữu (Điều 201 Bộ luật dân sự Nhật Bản). Bộ luật dân sự năm 2005 của
Việt Nam cũng đã có nhiều quy định áp dụng thời hiệu về sở hữu đối với
các trường hợp chiếm hữu tài sản không có căn cứ pháp luật nhưng ngay
tình (Điều 247), đối với vật đánh rơi, bỏ quên (Điều 241), đối với gia
súc bị thất lạc (Điều 242), đối với gia cầm bị thất lạc (Điều 243),
đối với vật nuôi dưới nước (Điều 244).
Dự thảo 4 có dự liệu tại Khoản 3 Điều 159 theo hướng không áp dụng
thời hiệu khởi kiện đối với những quan hệ tranh chấp về sở hữu nếu
pháp luật không có quy định khác. Dự liệu như vậy là quá rộng, có thể
gây phức tạp trong thực tiễn áp dụng. Việc quy định thời hiệu yêu cầu
về sở hữu cần thiết phải đặt ra và một nguyên tắc cần được ghi
nhận“không áp dụng thời hiệu yêu cầu về sở hữu nếu pháp luật quy
định”. Để đảm bảo sự ổn định trong các quan hệ sở hữu, sự thống nhất
trong áp dụng pháp luật và nâng cao trách nhiệm của chủ sở hữu, người
chiếm hữu hợp pháp, nhà làm luật phải quy định cụ thể những quan hệ sở
hữu không áp dụng thời hiệu và những quan hệ sở hữu có áp dụng thời
hiệu. Đối với những quan hệ sở hữu có áp dụng thời hiệu, pháp luật cần
có sự sửa đổi, bổ sung bảo đảm tính hợp lý và cụ thể phù hợp với sự đa
dạng và đặc thù của các quan hệ sở hữu. [22]
2. Về thời hiệu yêu cầu giải quyết việc dân sự về quyền nhân thân
Quan điểm loại trừ thời hiệu đối với yêu cầu giải quyết việc dân sự về
quyền nhân thân là đúng đắn, phù hợp với thông lệ quốc tế và quy định
hiện hành của Bộ luật dân sự năm 2005 và Luật hôn nhân và gia đình năm
2000 của Việt Nam[23]. Tuy nhiên, việc áp dụng nguyên tắc vô thời hạn
về quyền yêu cầu trong mọi trường hợp đối với việc dân sự về quyền
nhân thân cũng có thể gây vướng mắc về mặt pháp lý, cũng như sự ổn
định của các quan hệ dân sự. Chẳng hạn, theo Khoản 1 Điều 78 Bộ luật
dân sự năm 2005, kể từ thời điểm biệt tích hai năm không có thông tin
người bị yêu cầu là mất tích còn sống hay đã chết thì người có quyền,
lợi ích liên quan có quyền yêu cầu Tòa án tuyên bố người đó mất tích
mà không bị giới hạn về thời hiệu. Vấn đề đặt ra, khi người có quyền,
lợi ích liên quan yêu cầu tuyên bố một người là mất tích thì người đó
đã biệt tích trong thời gian quá dài, [24] có thể là căn cứ để người
có quyền, lợi ích liên quan lợi dụng để trục lợi, xâm phạm đến quyền,
lợi ích của người thứ ba. Bởi vì, người có quyền, lợi ích liên quan có
thể lựa chọn tuyên bố người đó là đã chết hoặc tuyên bố người đó mất
tích – Hậu quả về nhân thân và tài sản ở hai loại tuyên bố này hoàn
toàn khác nhau.[25] [26]