thoi han thoi hieu_tham khao

0 views
Skip to first unread message

TRANG TRINH

unread,
Mar 18, 2012, 11:21:45 AM3/18/12
to Dansu11
Cái này Trang đọc thấy hay hay, mọi người thử tham khảo xem sao! Tui
nghĩ có thẻ tử cái nay để làm tình huống được!
http://danluat.thuvienphapluat.vn/van-de-ve-thoi-han-thoi-hieu-bai-du-thi-vong-2-cua-quyetquyen945-41026.aspx
Thứ nhất về vấn đề thời hạn
Điều 149, 153 BLDS 2005 có quy định:

Điều 149. Thời hạn
1. Thời hạn là một khoảng thời gian được xác định từ thời điểm này đến
thời điểm khác.
2. Thời hạn có thể được xác định bằng phút, giờ, ngày, tuần, tháng,
năm hoặc bằng một sự kiện có thể sẽ xảy ra.

Điều 153. Kết thúc thời hạn

1. Khi thời hạn tính bằng ngày thì thời hạn kết thúc tại thời điểm kết
thúc ngày cuối cùng của thời hạn
.....................

6. Thời điểm kết thúc ngày cuối cùng của thời hạn vào lúc hai mươi tư
giờ của ngày đó.

QQ thấy quy định tại khoản 6 điều 153 chưa thực sự hợp lý, theo quy
định như trên thì thời điểm kết thúc là vào lúc 24h (chính xác là
23:59:59)
QQ lấy ví dụ thế này nha:
A thỏa thuận sẽ bán 1 chiếc máy tính cho B và B đặt cọc cho A là 1
triệu, thời hạn thực hiện hợp đồng là 3 ngày, đến ngày cuối cùng đúng
vào lúc 23h 30 phút thì B đến nhà A để tiến hành thực hiện hợp đồng
nhưng khi đến thực hiện hợp đồng thì A lại không thực hiện hợp đồng
với B nữa và nói rằng: “tôi chờ anh cả ngày hôm nay mà anh không chịu
đến, giờ đã khuya rồi không mua bán gì hết, anh về đi, tiền cọc tôi
cũng không trả cho anh đâu bởi anh đã vi phạm hợp đồng.”
Như vậy theo các bạn trong tình huống trên thì chúng ta xử lý thế nào
đây? Nếu như áp dụng theo khoản 6 điều 152 thì A không có quyền từ
chối thực hiện hợp đồng vì thời hạn thực sự là chưa hết. Nếu A không
bán máy tính cho B thì A phải trả lại tiền đặt cọc và bồi thường thiệt
hại (trả cho B 1 khoản tương đương hoặc theo thỏa thuận..) mọi người
xem như vậy liệu có hợp lý hay không?
Theo QQ quy định như trên là chưa hợp lý, chúng ta cần quy định lại 1
cách cụ thể và phù hợp hơn như sau:
6. Thời điểm kết thúc ngày cuối cùng của thời hạn vào lúc mười bảy giờ
(17h00)của ngày đó đối với những giao dịch dân sự cần phải được công
chứng chứng thực mới có hiệu lực và vào lúc hai mươi mốt giờ (21h00)
đối với các giao dịch dân sự còn lại.( Khoản 6 điều 153 )
Thông thường thì cơ quan Nhà nước chỉ làm việc muộn nhất đến 17h30 nên
các giao dịch mà cần có sự chứng nhận của cơ quan Nhà nước thì cần
phải thực hiện trước thời gian trên, để đảm bảo tính có hiệu lực của
giao dịch.
Các giao dịch dân sự còn lại tuy không cần chứng nhận của cơ quan Nhà
nước nhưng ai ai chúng ta cũng có thời gian nghĩ ngơi đúng không ? vì
thế QQ nghĩ cần phải quy định 1 cách cụ thể như vậy sẽ hay hơn khi
chúng ta cứ quy định là 24h thật không phù hợp chút nào cả.
------------------------------------------------------------------------------------------------------------
Khoản 2 Điều 152 BLDS 2005 cũng có 1 quy định thế này:

2. Khi thời hạn tính bằng tuần thì thời hạn kết thúc tại thời điểm kết
thúc ngày tương ứng của tuần cuối cùng của thời hạn

Như vậy 1 tuần ở đây được áp dụng như thế nào đây ? ai ai trong chúng
ta cũng biết rằng là 1 tuần có 7 ngày nhưng với quy định này thì QQ sẽ
chứng minh rằng các nhà làm luật của chúng ta đã cho thêm 1 ngày à 1
tuần có 8 ngày.
Trường hợp cụ thể như sau :

Ngày 3/2 – ngày thứ 3 A và B thỏa thuận với nhau bán 1 chiếc máy
tính, thời hạn là 1 tuần. Như vậy thời điểm kết thúc sẽ là thời điểm
nào ?
Hiện nay vẫn có 2 thời điểm khác nhau :
Thời điểm 1, do ngày thỏa thuận là ngày 3/2 nên ngày đầu tiên không
tính và thời hạn được tính là từ ngày 4/2, thời hạn 1 tuần là 7 ngày
như vậy thời điểm kết thúc sẽ là 24h ngày10/2- ngày thứ 3.
Thời điểm 2, tương tự chúng ta có ngày bắt đầu của thời hạn là
ngày4/2- thứ 4, thời điểm kết thúc thời hạn là ngày kết thúc tương ứng
của tuần cuối cùng của thời hạn, đó là 24h ngày thứ 4 của tuần kế
tiếp, ngày này là ngày 11/2. à(1 tuần = 8 ngày)
Như vậy theo mọi người chúng ta áp dụng quy định nào là đúng đắn ?
Theo QQ thì cách xác định thứ nhất là đúng đắn, hợp lý nhưng không hợp
luật vì thế khoản 2 cần được sửa đổi lại như sau :
2. Khi thời hạn tính bằng tuần thì thời hạn kết thúc tại thời điểm kết
thúc ngày liền trước ngày tương ứng của tuần cuối cùng của thời hạn.
( Khoản 2 Điều 152)

Trên đây là 2 vấn đề đang chưa phù hợp về những quy định của pháp luật
Dân sự QQ đưa ra để cùng trao đổi với mọi người.
------------------------------------------------------------------------------------------------------------

Thứ hai về thời hiệu

Trong thời gian qua có rất nhiều ý kiến khác nhau về vấn đề thay đổi
những quy định về thời hiệu khởi kiện, có ý kiến nên bỏ hẳn quy định
về thời hiệu khởi kiện này, cũng có ý kiến không nên bỏ mà chỉ nên kéo
dài thời hiệu ra thêm…
Vậy tại sao lại có nhiều ý kiến khác nhau về vấn đề này như vậy? QQ
sẽ cùng các bạn mổ sẻ vấn đề này nhé!
Theo quy định tại điều 159 BLTTDS 2004 thì
Điều 159. Thời hiệu khởi kiện, thời hiệu yêu cầu
“.....
3. Trong trường hợp pháp luật không có quy định khác về thời hiệu khởi
kiện, thời hiệu yêu cầu thì thời hiệu khởi kiện, thời hiệu yêu cầu
được quy định như sau:
a) Thời hiệu khởi kiện để yêu cầu Toà án giải quyết vụ án dân sự là
hai năm, kể từ ngày quyền và lợi ích hợp pháp của cá nhân, cơ quan, tổ
chức, lợi ích công cộng, lợi ích của Nhà nước bị xâm phạm;
b) Thời hiệu yêu cầu để Toà án giải quyết việc dân sự là một năm, kể
từ ngày phát sinh quyền yêu cầu.”

Như vậy, hầu hết thời hiệu khởi kiện là 2 năm kể từ ngày quyền và lợi
ích của cá nhân, cơ quan tổ chức…bị xâm phạm. Theo QQ thì 2 năm không
phải là thời hiệu phù hợp.
Khoản 1 Điều 136 BLDS 2005 quy định : Thời hiệu khởi yêu cầu Tòa án
tuyên bố giao dịch dân sự vô hiệu từ điều 130 đến 134 là 2 năm kể từ
ngày giao dịch dân sự được xác lập.
QQ thấy ở đây có điểm chưa hợp lý :

Điều 132 : Giao dịch dân sự vô hiệu do bị lừa dối, đe dọa mà luật quy
định thời hiệu yêu cầu Tòa án là 2 năm kể từ ngày xác lập thì thật
không hợp lý chút nào cả.
Để dễ hiểu QQ lấy ví dụ thế này.
Ông A do bị ông B (cậy thế, cậy quyền) đe dọa mà buộc phải xác lập 1
giao dịch với ông B. Sau khi xác lập giao dịch thì ông B tiếp tục đe
dọa làm cho ông A không giám khởi kiện ra Tòa cho đến khi hết 2 năm
thì ông B không đe dọa nữa lúc này ông A mới là đơn yêu cầu Tòa án
tuyên bố giao dich vô hiệu thì Tòa án không thụ lý vì thời hiệu khởi
kiện đã hết.
Thử hỏi như vậy luật đã thực sự phù hợp chưa? Đã công bằng chưa? Đã
bảo vệ quyền lợi của người bị đe dọa chưa? Luật đã thực hiện đúng vai
trò của mình là bảo vệ cho người yếu thế chưa? Trong thời đại ngày nay
các hành vi lừa dối, đe dọa ngày càng được thực hiện một cách tinh vi
hơn, nguy hiểm hơn vì thế chúng ta cần phải thay đổi quy định này.
Theo QQ thì đối với điều 132 này thì không nên quy định thời hiệu khởi
kiện nữa mà phải đưa điều này vào khoản 2 điều 136 mới hợp lý
Về thời hiệu khởi kiện quy định là 2 năm thì QQ thấy chưa thật sự phù
hợp. Mặc dù biết nhà làm luật quy định thời gian như vậy là để đảm bảo
cho việc thi hành pháp luật được chặt chẽ hơn và cũng dễ dàng cho Tòa
án trong việc xét xử và thu thập chứng cứ… vì mọi thứ đều bị thay đổi
theo thời gian mà.
Nhưng 2 năm thì không phải thời gian phù hợp bởi lẽ, pháp luật cần
phải dựa trên nền tảng văn hóa –xã hội, tâm lý của nơi mà nó áp dụng,
ai ai trong chúng ta cũng biết được phần nào tâm lý của người Việt
chúng ta là ngại ra Tòa, ngại kiện cáo, sống thiên về tình hơn là về
lý, vì thế họ chỉ đưa nhau ra Tòa khi nào mà họ không thể tự giải
quyết được với nhau.
Đơn cử thế này ;
A cho B vay 50. triệu để làm vốn kinh doanh hẹn 1 năm sau sẽ trả, đến
hẹn B không trả A đòi B nhưng B vẫn lấy lí do này nọ…rồi hẹn lần… tất
nhiên là bạn bè nên việc bạn hẹn chẳng nhẽ A không đồng ý? Và khi đồng
ý chẳng nhẽ lại bắt B viết lại giấy hẹn trả nợ? như vậy nó vô tình làm
mất di tình bạn của 2 người.
Thế là chờ hoài mà không thấy bạn trả tiền A mới miễn cưỡng làm đơn ra
Tòa để đòi nợ, nhưng ôi thôi thời hạn khởi kiện đã hêt mất rồi..
Như vậy thì thật sự luật quy định thời hiệu này là chưa thực sự phù
hợp mà thời hiệu này theo QQ thì cần phải nâng lên là 4 năm.
Để xem xét vấn đề một cách khách quan thì chúng ta có thể tham khảo
thêm ý kiến sau của
PGS-TS-Luật sư Phạm Hoài Hải, ông là người ủng hộ quan điểm bỏ hẳn quy
định thời hiệu khởi kiện

Ông cho rằng quyền khởi kiện là quyền của người dân, được nhà nước,
pháp luật bảo hộ. Do vậy, người dân khởi kiện thì tòa án phải thụ lý.
Một số ý kiến cho rằng nếu không có quy định về thời hiệu khởi kiện
thì sẽ không hạn chế được những tranh chấp đã xảy ra quá lâu khiến cho
việc thụ lý, giải quyết án của tòa không đạt được hiệu quả mà nhiều
khi còn phát sinh tác dụng ngược. Tuy nhiên, hiện nay án tồn đọng của
tòa đã được giải quyết rất tốt. Công tác xét xử của tòa được nâng cao
nên đã giảm đáng kể án tồn, án quá hạn. Vì vậy, việc bỏ thời hiệu khởi
kiện sẽ không thể khiến án chồng án. Từ đó, cần phải sớm bỏ thời hiệu
khởi kiện, đảm bảo nguyên tắc cái gì có lợi cho dân thì làm.
Thêm 1 vấn đề về những quy định về thời hiệu khởi kiện mà QQ thấy cũng
rất bất cập muốn chi sẻ cùng mọi người đó là: “Thời hiệu khởi kiện
thừa kế đang rối”
Theo quy định tại điều 645 BLDS 2005 thì thời hiệu khởi kiện yêu cầu
chia di sản thừa kế, xác nhận quyền thừa kế của mình hoặc bác bỏ quyền
yêu câu thừa kế của người khác là 10 năm kể từ thời điểm mở thừa kế.
Như thế cùng đồng nghĩa với điều là sau 10 năm các đồng thừa kế sẽ mất
đi quyền khởi kiện của mình.

Thế nhưng theo quy định của nghị quyết 02/2004/NQ-HDTP

2.4. Không áp dụng thời hiệu khởi kiện về quyền thừa kế
a. Trường hợp trong thời hạn mười năm, kể từ thời điểm mở thừa kế mà
các đồng thừa kế không có tranh chấp về quyền thừa kế và có văn bản
cùng xác nhận là đồng thừa kế hoặc sau khi kết thúc thời hạn mười năm
mà các đồng thừa kế không có tranh chấp về hàng thừa kế và đều thừa
nhận di sản do người chết để lại chưa chia thì di sản đó chuyển thành
tài sản chung của các thừa kế. Khi có tranh chấp và yêu cầu Toà án
giải quyết thì không áp dụng thời hiệu khởi kiện về quyền thừa kế, mà
áp dụng các quy định của pháp luật về chia tài sản chung để giải quyết
và cần phân biệt như sau:
Tuy nhiên, việc chia tài sản chung này cần phải có sự đồng ý của các
bên mà quan trọng là của bên đang chiếm hữu hợp pháp. Chỉ cần họ không
đồng ý thì xem như là Tòa cũng đành bó tay. Và quy định tại nghị quyết
cũng xem như vô dụng.
Để tháo gỡ vướng mắc này thì đang có 2 luồng quan điểm trái chiều
Luồng thứ nhất cho rằng Hội đồng thẩm phán TAND Tối cao phải sửa đổi
hướng dẫn theo hướng tòa án phải thụ lý, giải quyết yêu cầu chia tài
sản chung nếu các đồng thừa kế chứng minh được đó là di sản mà họ có
phần thừa kế và không có tranh chấp về hàng thừa kế.
Luồng thứ hai được nhiều người đồng tình hơn là nên bỏ hẳn hướng dẫn
về việc chia tài sản chung. Cụ thể, sau khi đã hết thời hiệu khởi kiện
thừa kế, tòa sẽ không thụ lý, giải quyết bất cứ một yêu cầu phân chia
di sản nào nữa.
QQ thì lại có suy nghĩ hơi khác 2 luồng quan điểm trên 1 chút đó là:
Thứ nhất nếu đã hết thời hiệu khởi kiện thì Tòa án không thụ lý nữa,
vì luật đã cho anh 1 thời gian nhất định rồi mà anh không thực hiện
thì coi như anh đã từ bỏ quyền lợi của mình rồi và 1 điều quan trọng
là mọi thứ đều thay đổi theo thời gian trong đó có các chứng cứ chứng
minh, việc này làm cho Tòa án gặp rất nhiều khó khăn trong việc thu
thập chứng cứ và xét xử.
Nhưng nói đi thì cũng phải nói lại đó là chúng ta cần kéo dài thời
hiệu này ra bởi như QQ đã phân tich tâm lý người Việt ở trên rồi họ
ngại ra Tòa và cũng rất nhiều người dân họ không hề biết việc quy định
thời hiệu, nên đôi khi họ cũng bị thiệt thòi.
Vì thế theo QQ thì tới đây khi chúng ta sửa đổi BLDS 2005 thì nên dãn
thời gian này lên 15 năm là phù hợp và sau thời hạn này thì đương
nhiên là họ sẽ mất quyền của mình nếu họ không khởi kiện. Không biết ý
kiến của các bạn thế nào?
Trên đây là một số vấn đề mà QQ muốn trao đổi với anh chị em của diễn
đàn, QQ mới chỉ là 1 sinh viên trình độ và tư duy còn nhiều hạn chế
nên có nhiều chổ QQ chưa nhận ra được, chưa phân tích thật sự sâu
sắc..QQ rất mong đón nhận những ý kiến đóng góp của toàn thể anh chị
em trên diễn đàn để được nâng cao thêm khả năng của mình!

Reply all
Reply to author
Forward
0 new messages