Vấn đề này đã được hướng dẫn tại nghị quyết số:02/2006/NQ-HĐTP: <span
style="font-size:18px;">
8. Về Điều 169 của BLTTDS viết:
8.1. Khi nhận đơn khởi kiện hoặc sau khi nhận đơn khởi kiện, xét thấy
đơn khởi kiện không có đủ các nội dung quy định tại khoản 2 Điều 164
của BLTTDS, thì tuỳ theo yêu cầu sửa đổi, bổ sung đơn khởi kiện mà Toà
án yêu cầu người khởi kiện sửa đổi, bổ sung đơn khởi kiện trong một
thời hạn do Toà án ấn định, nhưng không quá ba mươi ngày, kể từ ngày
người khởi kiện nhận được văn bản của Toà án yêu cầu sửa đổi, bổ sung
đơn khởi kiện. Trong trường hợp đặc biệt, Toà án có thể gia hạn thêm,
nhưng không quá mười lăm ngày, kể từ ngày kết thúc thời hạn do Toà án
ấn định nêu trên.
Cô giáo lấy 1 ví dụ thế này : ngày 1/1/2010 A nộp đơn khởi kiện đến
ngày 4/1/2010 thì Tòa án gọi A đến và yêu cầu A về bổ sung đơn khởi
kiện(có văn bản đầy đủ). Tòa ấn định cho A là 30 ngày. Cô giáo hỏi
ngày cuối cùng kết thúc thời hạn là ngày nào?
QQ trả lời là ngày 3/2/2010 vì tháng 1 có 31 ngày, thời hạn ở đây là
30 ngày, ngày xác định thời hạn là ngày 4/1/2010 như vậy ngày bắt đầu
thời hạn là ngày 5/1/2010.=> ngày kết thúc thời hạn ở đây là ngày
3/2/2010.
Cô giáo cho rằng ngày kết thúc thời hạn là ngày 2/2/2010 vì cô xác
định ngày bắt đầu ở đây là ngày 4/1/2010.
QQ phản biện lại rằng là, cách tính thời điểm bắt đầu, thời điểm kết
thúc được áp dụng theo quy đinh của BLDS 2005 nên ngày đầu tiên của
thời hạn không được tính mà tính từ ngày tiếp theo của thời hạn.
Cô giáo thì căn cứ vào NQ 02 và bảo là " kể từ ngày người khởi kiện
nhận được văn bản của Tòa yêu cầu sửa đổi, bổ sung đơn kiện," và tính
từ ngày đó.
Xin hỏi cả nhà trong trường hợp trên thời điểm kết thúc là thời điểm
nào? mong nhận được câu trả lời của mọi người!
TRƯỜNG HỢP 2:
http://phapluattp.vn/20120315120856637p0c1063/mot-phan-di-san-het-thoi-hieu-khoi-kien-xu-sao.htm
Một phần di sản hết thời hiệu khởi kiện, xử sao?
Nhiều tòa án địa phương đã đề nghị TAND Tối cao có văn bản hướng dẫn
chính thức nhưng chính TAND Tối cao cũng thấy lúng túng.
Giải quyết tranh chấp di sản thừa kế, các tòa đã gặp nhiều trường hợp
mà một phần di sản còn thời hiệu khởi kiện, một phần di sản hết thời
hiệu và cũng không thuộc trường hợp chuyển sang để chia tài sản chung.
Gặp tình huống này, vì chưa có quy định nên mỗi tòa xử một kiểu...
Ông NQB (Việt kiều Mỹ) và ông NTT ngụ TP Nha Trang vốn là hai anh em
ruột. Năm 1996, cha của họ mất, đến năm 2008, người mẹ cũng qua đời,
để lại di sản thừa kế là nhà đất. Tranh chấp, ông B. đã khởi kiện ông
T. ra tòa.
Tòa chấp nhận chia
Hòa giải không thành, tòa sơ thẩm đã đưa vụ kiện ra xét xử, tuyên chấp
nhận chia di sản thừa kế như yêu cầu của ông B.
Ông T. kháng cáo án sơ thẩm về nhiều nội dung, trong đó có chuyện tòa
sơ thẩm đã sai khi xử chia phần di sản thừa kế mà người cha để lại vì
thời hiệu khởi kiện đã hết (đã quá 10 năm).
Tòa phúc thẩm đã bác kháng cáo của ông T. với nhận định khối di sản
đang tranh chấp là tài sản chung của cha mẹ hai bên đương sự vì vậy
không thể tách rời phần di sản của người cha ra để xác định còn hay
không còn thời hiệu. Mặt khác, tòa lập luận do các đương sự không có
tranh chấp gì về diện, hàng thừa kế, đều xác định tài sản của người
cha chưa chia nên tòa giải quyết theo quan hệ chia tài sản chung. (Đây
là điều khá vô lý vì tên gọi vụ kiện vẫn là tranh chấp di sản thừa kế
và không có các điều kiện để chuyển sang chia tài sản chung như hướng
dẫn trong Nghị quyết 02 ngày 8-10-2004 của Hội đồng Thẩm phán TAND Tối
cao - NV).
Tòa không chia nhưng lúng túng
Trái ngược với hướng giải quyết trên, gặp tình huống tương tự, nhiều
tòa khác lại chọn cách chỉ phân chia phần di sản còn thời hiệu, còn
phần di sản hết thời hiệu thì tách ra để đó. Vấn đề là xử lý phần tách
ra này theo hướng nào thì các tòa còn rất lúng túng.
Cùng chung một lập luận là luật chưa có quy định và phần di sản hết
thời hiệu không đủ điều kiện để chia tài sản chung theo Nghị quyết 02,
có tòa tiếp tục giải quyết rồi bác yêu cầu, có tòa lại tuyên bố đình
chỉ giải quyết. Có tòa “làm lơ” hẳn, không đề cập gì cả nhưng cũng có
tòa lại mạnh dạn tuyên “tạm giao” cho đương sự đang quản lý phần di
sản hết thời hiệu được tiếp tục quản lý…
Phải bổ sung quy định mới
Điều 645 BLDS hiện hành quy định thời hiệu khởi kiện thừa kế là 10 năm
nhưng lại không có điều luật nào quy định đối với phần di sản đã hết
thời hiệu khởi kiện thì giải quyết như thế nào.
Vì thiếu quy định nên một số trường hợp người dân khởi kiện đòi chia
di sản thừa kế (chủ yếu là nhà đất) thì tòa trả lại đơn với lý do đã
hết thời hiệu, kiện đòi chia tài sản chung thì cũng không có đủ điều
kiện theo hướng dẫn của Nghị quyết 02. Nếu có thụ lý thì mỗi tòa lại
xử một kiểu như đã nói ở trên. Khi đương sự đi đăng ký quyền sở hữu
nhà, quyền sử dụng đất thì văn phòng đăng ký quyền sử dụng đất yêu cầu
phải có sự đồng ý của tất cả đồng thừa kế hoặc bản án của tòa giao
quyền sở hữu cho họ nên mọi việc bế tắc.
Trước tình hình này, nhiều tòa án địa phương đã đề nghị TAND Tối cao
có văn bản hướng dẫn chính thức để áp dụng pháp luật thống nhất. Tuy
nhiên, chính TAND Tối cao cũng thấy lúng túng. Vì vậy, từ hai năm
trước (tháng 3-2010), Chánh án TAND Tối cao Trương Hòa Bình đã từng
phải kiến nghị Quốc hội khi sửa đổi BLDS thì cần có quy định về việc
giải quyết tranh chấp về thừa kế quyền sử dụng đất đối với trường hợp
đã hết thời hiệu chia thừa kế mà các đồng thừa kế không thỏa thuận
được.
Quan điểm của Tòa Dân sự TAND Tối cao
Theo báo cáo tham luận từ năm 2007 của Tòa Dân sự TAND Tối cao, đối
với các trường hợp đương sự tranh chấp di sản thừa kế mà trong đó có
một phần di sản đã hết thời hiệu khởi kiện, còn một phần di sản vẫn
trong thời hiệu khởi kiện thì tòa án có thẩm quyền phải nhận đơn khởi
kiện, thụ lý vụ án nếu đương sự thực hiện đúng quy định tại các điều
164, 165, 166 BLTTDS và đã nộp tiền tạm ứng án phí (đối với trường hợp
phải nộp). Thời hiệu khởi kiện được tính từ khi đương sự có đơn khởi
kiện tại tòa chứ không phải từ thời điểm tòa thụ lý vụ án.
Khi giải quyết, tòa án chỉ phân chia theo yêu cầu của các bên đương sự
đối với phần di sản còn thời hiệu khởi kiện, còn phần di sản hết thời
hiệu thì không giải quyết.