Lựa chọn nghề nghiệp

1 view
Skip to first unread message

Nguyen Duc Quang

unread,
Apr 29, 2013, 11:28:57 AM4/29/13
to hocbongs...@googlegroups.com
Xin mời cả nhà đọc lại một bài viết cũ nhưng không bao giờ cũ của chú Bằng,mời cả nhà cùng đọc, mong các em đúc kết cho mình những hành trang cần thiết trước khi ra trường
NDQuang
----------------------------------

Thấy mấy cháu, có lẽ vì đang mùa thi bận rộn, không đóng góp nhiều ý kiến, chú xin có một số ý kiến “làm mồi”. Cũng nói trước là vì ở nước ngoài gần 30 năm, tình hình thực tế ở VN chắc chắn chú không rõ bằng mấy cháu, chú chỉ biết qua báo chí, tài liệu thôi.

Nói về việc chọn nghề, theo chú, nếu cháu nào có đam mê thì nên theo đam mê của mình. Thường những người có đam mê đều thành công ở một thời điểm nào đó trong cuộc đời vì họ có động lực mạnh để dốc tòan lực đi theo con đường của mình. Nếu không có những người đi theo sự đam mên của mình thì cũng có lẽ VN mình đã không có những Hoàng Tụy, Trịnh Xuân Thuận, Ngô Bảo Châu… . Nhưng nhớ là đam mê không phải mơ mộng, vọng tưởng.

Còn những cháu không có đam mê gì mạnh thì nên đi theo nhu cầu của xã hội. Nhu cầu thì có những nhu cầu gần, nhu cầu xa, nhu cầu trước mắt và nhu cầu trong tương lai.

Ở các nước phát triễn, vì xã hội và nền kinh tế tương đối ổn định, những kế hoạch dài hạn được đề ra cụ thể, các trường đại học và cao đẳng thường đào tạo theo nhu cầu xã hội, nên sinh viên nếu không “cầu kỳ,” chỉ đơn giản muốn ra trường có việc làm thì việc chọn con đường của họ cũng đơn giản thôi. Như người Việt mình thì thường là kỷ sư, vi tính, kế  tóan, dược sĩ, nếu có khả năng hơn thì nha sĩ, bác sĩ. Lấy đó làm cơ sở “bảo hiểm đời sống” đầu tiên để tiến thêm nếu có chí. Còn người bản xứ thì thường học theo ngành họ thích và thích hợp thông qua các chuyên gia cố vấn chọn nghề, hầu hết họ không học theo sự đánh giá của cộng động hay ý muốn của cha mẹ như người Việt mình. Và trong nền kinh tế tự do, tất cả các ngành nghề liên quan nhau tạo thành một khối nên khi kinh tế khó khăn thì khó khăn chung cho mọi ngành nghề, trừ những nghề tự do như bác sĩ, nha sĩ. Dĩ nhiên có những nghề ít bị mất việc hơn nghề khác như kế tóan so với kỹ sư, nhưng nói chung là ảnh hưởng tương quan rất nhiều.

Những nước mới phát triễn như nước mình thì chú nghĩ ngành gì cũng là nhu cầu, vấn đề làm sao cho kiến thức, khả năng và đạo đức làm việc của mình có chất lượng, đáp ứng những đòi hỏi của công việc. Thêm một điều mà chú nghĩ là một chuyên viên của mình cần nỗ lực hơn một chuyên viên ở nước đã phát triễn vì người ta đã có một cơ chế làm việc đâu ra đó, phần hành rõ ràng, trang bị đầy đủ, người cùng làm và cấp trên đa phần thạo việc và sẵn sàng giúp đỡ, và nhất là họ không phải học thêm một thứ ngoại ngữ như mình, và khi làm việc với công ty nước ngoài, mình phải biết dung hòa giữa văn hóa của họ với văn hóa của mình.

Nói vậy không phải ở những xã hội Tây phương không có những trào lưu. Thế giới luôn thay đổi, kỹ thuật cũng luôn thay đổi, và khi có sự thay đổi mạnh thì sẽ phát sinh một trào lưu. Về việc chạy theo trào lưu thì ở đâu cũng vậy, tuổi trẻ lúc nào cũng chạy theo trào lưu. Theo chú chạy theo trào lưu có điểm mạnh của nó. Nó chứng tỏ sự năng động của tuổi trẻ. Dĩ nhiên trào lưu nào rồi cũng qua đi, không nhanh thì chậm. Nhưng việc chạy theo trào lưu cũng là một lực đẩy để xã hội tiến tới, tạo sự cân bằng mới.

Nói riêng về từng cá nhân thì nếu một người năng động, tự tin, biết uyển chuyển thì dù đi theo con đường nào miễn mình thích và thích hợp với khả năng và bản chất của mình để có động cơ thúc đẩy thì sẽ có lối cho người đó. Và chính việc tự tìm lối đi đó đã mở ra những khám phá mới trong xã hội Tây phương. Có những thứ mà mình chưa thử bước vào thì mình không tài nào đoán được khung trời rộng lớn của chúng.

Về văn hóa làm việc, có một nhận xét của một nhà nghiên cứu về VN, Giáo sư Yoshiharu Tsuboi, trong bài VÀI SUY NGHĨ CHUNG QUANH QUYỂN SÁCH CỦA GS YOSHIHARU TSUBOI của Nguyễn Xuân Xanh, chú ghi ra đây để các cháu nhận xét :

“Chúng tôi chú ý phát triển nguồn tài nguyên con người. Người Nhật rất nỗ lực”. Ông vẫn lo lắng cho mảnh đất đã hóa tâm hồn của ông, mảnh đất ấy có tên là Việt Nam: “Tôi có cảm giác nhiều người Việt dù có vấn đề, nhưng lại không nỗ lực làm việc. Người trẻ tuổi của Việt Nam cần làm việc nhiều hơn nữa. Dân số Nhật Bản chưa bằng 10% Trung Quốc, người Nhật phải cố gắng làm việc nhiều hơn để không bị bỏ lại phía sau. Người Việt Nam cũng phải như thế thôi”.

Nhiều người cho rằng Việt Nam nên nỗ lực phát triển kinh tế, nhưng theo nhà nghiên cứu Yoshiharu Tsuboi, cái Việt Nam cần nhất hiện nay vẫn là phát triển văn hóa. Một nước có thể nhỏ về diện tích nhưng vẫn rất giàu có về mặt văn hóa.

Phát triển văn hóa, chính là phát triển con người. Trước khi chia tay với bạn đọc của ông ở TPHCM, Yoshiharu Tsuboi nói một câu rất ý nghĩa: “Cần phải tạo ra thật nhiều những con người biết sống trong sạch. Chính họ là sức mạnh cho đất nước Việt Nam”.

(Nguyễn Xuân Xanh, VÀI SUY NGHĨ CHUNG QUANH QUYỂN SÁCH CỦA GS YOSHIHARU TSUBOI - http://giaodiemonline.com/2011/09/tsuboi.htm).

Cũng liên quan đến Nhật bản, một người em của chú học ở Nhật nói nhận xét của người Nhật về người VN, đại khái: Một người Việt thì giỏi hơn một người Nhật, hai người Việt thì bằng hai người Nhật, ba người Việt thì thua ba người Nhật.

Về nền giáo dục ở VN, một người ngoại quốc đưa ra một số nhận xét như sau, chú cũng ghi ra đây để các cháu đánh giá nhận xét nầy và tìm một giải pháp cho sự học hỏi trang bị thêm cho mình:

- Sinh viên cố gắng ghi chép tất cả mọi lời giảng của giáo sư một cách tiêu cực và học mọi thứ mà không liên hệ gì đến sự tự tìm tòi của họ.

-  Giáo trình dựa quá nhiều vào lý thuyết, không có kinh nghiệm thực tiễn.

- Các lớp khoa học chỉ dựa vào sách giáo khoa.

- Các lớp lịch sử thì học như vẹt.

- Sách toán thì gồm những bài tập hoặc “quá dễ hay khó một cách kỳ lạ.”

- Giáo viên không muốn thay đổi cách dạy và kỹ thuật dạy…

Và một sinh viên VN du học ban Tiến sĩ ở Mỹ nhận xét:

“Cùng với những đổi thay về kinh tế trong giai đoạn chuyển tiếp, hệ thống giáo dục ở Việt Nam cần thay đổi vì đã lỗi thời và không thể kích thích sự tham gia trọn vẹn của người học và sử dụng hết khả năng tinh thần và sáng tạo của sinh viên. Tiến trình học tập vẫn còn tiêu cực và có khuynh hướng đối thoại một chiều.”

Việt Nam mình là một nước mà dân số đa phần thuộc lớp trẻ, văn hóa VN lại chuộng sự học. Điều nầy là một lợi thế của VN. Tuy nhiên đó cũng là sức ép cho sự phấn đấu của người trẻ. Họ phải cạnh tranh nhiều. Với sự giới hạn trong việc giáo dục ở truờng như đã nói ở trên, để giới trẻ VN hội nhập với sự phát triển của thế giới, vấn đề là những nguồn hay con đường nào để họ có thể bồi bổ kiến thức và khả năng của mình. Dĩ nhiên nhiều sinh viên muốn đi du học. Nhưng nều không có điều kiện? Những nguồn như sách báo, internet, tham gia vào những nhóm chuyên đề thảo luận qua internet, thành lập những nhóm học hỏi, nghiên cứu chung của những người cùng có một tư duy và ý hướng, xin đi làm thêm trong môi trường liên quan đến ngành học, hay xin tham quan học hỏi ở những cơ sở sản xuất liên quan… ? Điều mà chú có thể tin mình đúng là: Học và tập phải là việc làm mọi lúc và suốt đời, nhất là trong thời buổi biến chuyển ngày một như hiện tại và nhu cầu theo kịp thế giới của nước mình. Khó khăn của đất nước là cơ hội của tuổi trẻ. Lấy việc học làm sự nghiệp. Cha ông mình ngày xưa có nói: “Trong sách có mỹ nhân,”  phải chăng ngày nay mình có thể nói “Trong sự học và tập có xe, nhà và mỹ nhân.” ? (-:

Trở lại việc chọn nghề thì ở các nước Tây Phương thường có những cơ sở cố vấn gúp mình chọn một nghề thích hợp. Tiêu chuẩn không phải chỉ đặt trên vần đề lương bỗng mà còn nhiều khía cạnh khác nữa.

Có một số vấn đề mà mình cũng nên lưu ý như sau:

1) Chọn nghề từ danh sách những nghề hot nhất? -Thật ra cái gì cũng có một giai đoạn thôi, nhất là trong bối cảnh ngày nay, cái gì cũng thay đổi nhanh chóng.

2) Kiếm được nhiều tiền sẽ hạnh phúc? -Chưa hẳn. Mới đây có một nghiên cứu về thống kê cho thấy mức trần về tiền lương để có thêm thỏa mãn của người Mỹ là 75,000/năm. Tiền lương cao hơn mức đó không làm tăng thêm thỏa mãn. Do đó sống hạnh phúc thì tiền chỉ là một phần thôi. Còn nhiều thứ nữa.

3) Sau khi chọn nghề thì sẽ dính với nó suốt đời? - Không hẳn. Có rất nhiều người đổi nghề trong đời của họ. Và những kinh nghiệm, học hỏi của nghề trước không hẳn là hoang phí khi đổi nghề. Chúng ta không áp dụng hoàn toàn kiến thức và kinh nghiêm cũ trong công việc mới nhưng những kinh nghiệm đó vẫn giúp chúng ta rất nhiều trong công việc mới. Những kinh nghiêm trãi qua trong đời sống kết nối để làm thành con người chúng ta trong hiện tại, không có gì uổng phí hết.

4) Sau khi chọn cho mình một nghề, chúng ta sẽ như người đã vào được dòng nước để nó đưa mình đi? - Không đâu. Dòng nước rất vô tình, mình phải để trí và tình của mình vào đó, phải phấn đấu và giữ lòng yêu thương, sự ấm áp đối với nghề mình chọn.

5) Nghề nghiệp chỉ học hỏi từ nhà trường? - Không. Học ở trường là căn bản, nhưng cần tham khảo tài liệu, sách vở, bạn bè, người trong nghề. Có thể học suốt đời. Một nghề liên quan đến vô số thứ trên đời, từ vật chất đến phi vất chất và cả đến tinh thần, cho nên có rất nhiều thứ để học.

Có lẽ còn nhiều nữa…

Tóm lại, thời gian học nghề 4 năm (đại học), tìm việc 1 năm, đeo đuổi theo nghề 30 - 40 năm hay hơn. Ở bắc Mỹ như Canada, người ta thống kê một người có việc làm ổn định trong 10 năm thì đời sống tài chánh ổn định (nhà trả gần xong, có kinh nghiệm tay nghề và đủ dày dạn để dễ kiếm việc làm mới khi mất việc v.v…). Sau đó, vấn đề tài chánh không bị lo lắng nhiều nữa, mình còn hơn 20-30 năm sống với nghề. Nếu là nghề mình không thích thì thật là uổng phí đời sống. Do đó, chọn nghề nên cẩn thận. Nếu cần đổi nghề thì mạnh dạn tìm cách để đổi. Chú có đọc một cuốn sách hình như có tên là “Career Success Without a  Real Job”, vị tác giả nói một điều mà ngẫm nghĩ chú thấy có lý: mỗi lần có người quen thân nào bị mất việc, ông ta (tác giả) gởi lời chúc mừng. Thật mâu thuẩn phải không? Nhưng nghĩ cho kỹ thì không mâu thuẩn với những người năng động, có ý chí đâu. Đó là cơ hội để đổi nghề, theo nghề mình thích, hoặc tìm cách tự làm chủ. Chú chứng kiến có nhiều người Việt mình, vốn chịu khó và năng động, sau khi bị mất việc, lợi dụng thời gian lãnh tiền bảo hiểm thất nghiệp, tìm những chương trình giúp vốn của chính phủ hoặc vốn để dành của mình ra mở cơ sở làm ăn (phần lớn là nhà hàng, tiệm nail, sữa nhà, sữa khóa, máy gia dụng v.v…), đa số họ đều khá hơn nhiều so với khi đi làm công nhân. Dĩ nhiên phải phấn đầu nhiều hơn, thức khuya dậy sớm nhiều hơn.

Đời sống có nhiều cơ hội cho mọi người, nhưng bi quan thì cơ hội qua đi mà mình không hay.

Nói với cháu Thu. Nghề dạy học của cháu ở bên nầy thì cũng vậy thôi, khó tìm việc và lương thấp so với những ngành khác. Nhưng theo thống kê thì ngành đó là một ngành mà người theo đuổi có mức sống hạnh phúc cao, nên nhiều người vẫn theo ngành giáo dục, và thường những thầy, cô giáo ít khi bõ nghề. Về việc làm thì có nhiều người không dạy chính thức ở trường mà chỉ chuyên nghiệp dạy kèm. Dạy kèm nếu biết tổ chức lợi tức có thể cao hơn hay cao nhơn nhiều so với đi dạy chính thức mà lại được tự do. Nhu cầu nầy ở Bắc Mỹ đang lên và chú thấy ở VN cũng là một nhu cầu lớn.

Nhân dịp nghĩ cuối năm rảnh rỗi, các cháu có ý kiến gì trao đổi cho vui.

Chúc tất cả quí anh chị em và các cháu một mùa Giáng sinh vui vẻ và năm mới nhiều thành công.

Thân ái,

Chú Bằng.
Reply all
Reply to author
Forward
0 new messages