Chuyện kể ở quán nhậu

1 view
Skip to first unread message

phong hong

unread,
Aug 1, 2012, 2:44:05 AM8/1/12
to cni...@googlegroups.com, doan...@yahoo.com, min...@yahoo.com, songa...@yahoo.com, binha...@yahoo.com, duongc...@gmail.com, mauvah...@yahoo.com, hoa2...@yahoo.com, huyn...@yahoo.com, qua...@yahoo.com, phucta...@yahoo.com.vn, mrn...@gmail.com, uyvpp...@yahoo.com, tangu...@yahoo.com

Chuyện kể ở quán nhậu

 

Vương Văn Quang

 

 

 

Ba đứa chúng tôi ngồi trong một quán nhậu nhỏ, không tên. Trời mưa rả rích, mồi dở, bia hơi chua loét, tất cả điều đó khiến cho độ nhậu không được hào hứng. Chỉ là những câu chuyện bâng quơ với tiết tấu nhát gừng. Bữa nhậu đó sẽ “thất bại hoàn toàn”, nói theo cách của thằng Chính, nếu như thằng Đông “heo” không kể một câu chuyện. Câu chuyện đó lại được kể ra với sự khơi mào một cách vô tình của tôi.

 

“Bọn đàn ông, nói chung, thường nói xấu phụ nữ”, tôi nói, “thậm chí có thằng còn độc miệng gọi họ là quái vật”. Nhấp ngụm bia, tôi tiếp: “Nhưng thực tế là tao chưa thấy thằng đàn ông thuần túy nào có thể sống bình thường nếu thiếu phụ nữ”

 

“Phụ nữ là hiện thân của cái đẹp”, thằng Chính, với một vẻ điềm đạm triết gia rất nhà quê, từ tốn nói, “họ là biểu hiện của sự sống. Sẽ không tồn tại thế giới nếu không có họ. Không có đàn ông ư? Thế giới vẫn tồn tại và phát triển. Đàn ông, thực ra chỉ có chức năng truyền giống. Mà thời buổi này, con người đã thành công trong việc nhân bản
vô tính, thụ tinh trong ống ngiệm”.

 

“Vớ vẩn”, thằng Đông phản bác, “Kẻ phát minh ra cái trò thụ tinh trong ống nghiệm là một đàn ông đấy nhá. Thượng đế là một người đàn ông đẹp trai, còn đàn bà chỉ là vai phụ, hơn thế, một vai phụ phản diện”

 

Lại im lặng. Mưa vẫn rả rích. Cuối cùng, thằng Đông phá tan bầu không khí tẻ nhạt bằng câu chuyện của nó.

 

***

 

Chếch cổng cơ quan tôi, có một quán càfe cóc. Tôi và các đồng nghiệp, có thói quen tới cơ quan từ tám giờ, nhưng phải tới mười giờ mới vào làm việc. Thời gian hai tiếng đó, bọn tôi ngồi ở quán càfe đọc báo và tán phét. Cách đó vài bước chân, có một thằng ăn mày, nó xuất hiện ở đó chừng vài tháng nay. Hình như nó tá túc luôn tại đó, dưới hàng hiên rộng của một cơ quan khác. Thằng này thu hút sự chú ý của tôi, bởi vì nó không giống những đứa ăn mày khác, tức là kêu khóc hay níu kéo người đi đường. Nó ngồi đó, im lặng, mặt hướng ra đường, vô cảm. Nó bị mù. Mù, nhưng thỉnh thoảng nó lại lúi húi ghi chép gì đó. Chính điều này đã kích thích tính tò mò của tôi.

 

Một hôm, do thiếu đối tượng hàn huyên (không hiểu sao mấy ông bạn cùng cơ quan, mấy ông hay tán phét với tôi, hôm đó tới muộn thế), tôi lân la lại chỗ thằng ăn mày đó. Đứng gần nó, tôi ngắm nghía một lúc. Trông nó rất khó đoán tuổi, nhưng chắc có lẽ nó cũng trạc tuổi tôi. Cặp mắt nó hỏng, nhưng trông lạ lắm, tôi không thấy nó giống với những đôi mắt của những người mù khác. Mặc dù rất bẩn thỉu, nhưng nếu trừ cặp mắt ra, có thể bảo rằng nó đẹp trai. Rất đẹp nữa là khác. Đặc biệt, đôi môi nó trông rất ướt át, điệu đàng, chả kém gì mấy tay diễn viên điện ảnh. Tôi ngồi xuống bên cạnh và bỏ vào cái ống bơ trước mặt nó hai nghìn. Không thấy nó phản ứng gì. Thấy trong túi áo ngực nó có điếu
thuốc lá quăn queo, đoán nó hút thuốc, nên tôi chìa bao “ba số” ra mời, chợt nhớ là nó mù, nên tôi gắn một điếu vào mồm nó; nó ngậm và có vẻ hơi ngơ ngác. Tôi bật lửa. Nó bập bập mấy cái và rít một hơi dài, vẻ khoan khoái, rồi bảo:

 

- Thơm quá! Cám ơn ông.

 

Tôi nói mấy câu vớ vẩn lấy lòng, tôi hỏi nó hay viết cái gì? Nó không trả lời. Tôi bảo, có thể cho tôi xem cuốn vở được không? Nó vẫn im lặng, nhưng tỏ vẻ không đồng ý. Ngồi thêm một lúc, tôi vỗ vai nó rồi trở vào làm việc.

 

Từ sau đó, hôm nào tôi cũng dành một chút thời gian trong cái khoảng hai tiếng ăn cắp của cơ quan để ra với nó. Hôm nào cũng thế, tôi tốn cho nó hai nghìn và điếu ba số. Dần dần, nó đã chịu mở mồm nhiều hơn với tôi. Tôi cảm giác, nó chịu nói chuyện với tôi là vì nó đã quen với sự có mặt của tôi, chứ chưa hẳn là vì hai nghìn và điếu thuốc. Một hôm, tôi lại gạ gẫm nó cho tôi xem cuốn vở. Lần này nó đồng ý. Cuốn vở của nó là thứ vở kẻ ô-li của học sinh, nhưng dầy gấp đôi. Chắc nó đóng ghép hai cuốn làm một. Cuốn vở viết đã gần hết, chữ khá đẹp, nhưng những trang đầu rất khó đọc, vì nó cứ viết chồng hàng nọ lên hàng kia. Đến già nửa về sau thì dễ đọc hơn vì chữ viết đã khá ngay ngắn. Tôi nghĩ đây là cuốn nhật kí. Vì những trang đầu khó đọc, nên tôi chỉ xem lướt mấy trang cuối. Mấy trang này, tôi thấy nó chỉ ghi cảm xúc, toàn là những cảm xúc nhớ nhung, yêu thương về một ai đó, không thấy ghi sự kiện gì. Tôi không hiểu có phải cảm xúc của nó không. Tới giờ phải vào, tôi trả nó cuốn vở và trở vào cơ quan.

 

Ngày hôm sau, tôi lại tới với nó. Bây giờ, hàng ngày tôi ra chỗ nó rất đúng giờ, như đã trở thành thói quen, và cứ việc thoải mái soi mói cuốn vở của nó. Nó đã trở nên cởi mở với tôi, tin cậy và coi tôi là bạn. Những trang đầu, vừa đọc, tôi vừa đoán. Chỗ nào khó đọc quá, tôi hỏi nó. Tôi chỉ việc đọc mấy câu sát trên và sát dưới của đoạn không hiểu là nó sẽ giải thích cho tôi. Phải nói nó có một văn phong khá lưu loát, cho nên cuốn nhật kí khá hấp dẫn. Trong quá trình đọc tôi hỏi thêm nó rất nhiều chuyện bên lề …, nó cũng tỏ ra không quá kín đáo. Vì vậy, sau khoảng nửa tháng tôi có được một câu chuyện khá đầy đủ về nó.


Một hôm tôi bảo:

 

- Truyện của cậu hấp dẫn đấy. Để tớ mang về xào nấu, nêm nếm chút nữa rồi đăng báo, cậu kiếm tí nhuận bút.

 

Thấy nó im lặng, tôi tưởng nó đồng ý nên cầm cuốn vở đứng dậy quay vào. Tôi vừa bước đi hai bước thì nó chợt chồm theo túm lấy chân tôi đòi lại quyển vở. Mặt nó méo xệch vì giận dữ. Tôi không sao hiểu nổi tâm trạng của nó lúc đó.

 

***

 

Nó là con một gia đình khá giả ở thành phố này. Bố mẹ và người chị nó đã định cư tại nước ngoài. Nhưng nó không đi theo họ. Nó ở lại thành phố một mình, không họ hàng. Khi gia đình nó đi, nó đang học năm thứ hai đại học mỹ thuật. Thời gian này, nó mới gặp và yêu vợ nó (tôi gọi là “vợ”, nhưng thực ra, chúng nó chưa cưới và chưa phải là vợ chồng hợp pháp). Vợ nó khi đó cũng đang là học sinh, sinh viên gì đó. Hàng ngày vào buổi chiều tối cô ta ra phụ mẹ bán hàng, một quán cóc, bán nước giải khát trước cổng trường mỹ thuật. Nó hay uống nước ở cái quán đó, nên gặp cô ta, và lập tức nó yêu đắm say mê mệt ngay, (theo mô tả của nó trong cuốn nhật kí thì cô ta là một cô gái có sắc đẹp “nghiêng nước nghiêng thành”) và cũng được cô gái kia đáp lại. Chúng nó yêu nhau được một năm, thì nó kéo cô kia về chung sống như vợ chồng. Gia đình cô gái không hề phản đối, bởi vì họ đã nhờ vả nó nhiều (nó có điều kiện kinh tế, do bố mẹ bên kia gửi về). Nó giúp đỡ họ, không tính toán. Hai đứa sống trong ngôi nhà do bố mẹ nó để lại. Một ngôi nhà vừa phải, xinh xắn, trước có sân nhỏ và trồng rất nhiều hoa. Từ khi về ở với nhau, cô gái bỏ học ở nhà chăm sóc nó. Hai năm sau, nó tốt ngiệp ra trường. Thời gian này là quãng thời gian đẹp nhất trong cuộc tình của nó. Nó bảo cảm xúc trong thời gian đó tuyệt vời, đẹp hơn bất cứ một tiểu thuyết nào viết về tình yêu. Ra trường, nó làm công việc chép tranh (những tác phẩm kinh điển của hội hoạ), công việc tiến triển tốt, vì loại tranh này tiêu thụ được - các cửa hàng bán tranh chép mọc lên như nấm để phục vụ một bộ phận mới phất do chuyển đổi cơ cấu kinh tế. Tiền nó làm ra thừa cho nhu cầu hai đứa, thậm chí nó không cần tới cả khoản viện trợ của bố mẹ. Vợ nó vẫn ở nhà cơm nước và tiêu hoá phim bộ Hồng Kông, thỉnh thoảng buồn thì về nhà mẹ đẻ hoặc thăm thú bạn bè.

Từ ngày nó đi làm, vợ nó thỉnh thoảng đi theo tới xưởng vẽ chơi. Ở xưởng, có một hoạ sỹ - nó gọi người này bằng anh, chắc hơn nó cả tuổi đời lẫn tuổi nghề. Trong xưởng, bọn hoạ sỹ trẻ cũng đều cung kính anh ta, và nó không là ngoại lệ. Đã nhiều lần nó mời anh ta về nhà nhậu nhẹt. Mỗi lần anh ta xuất hiện vợ nó rất vui, mặc dù phải cung phụng cơm nước rượu chè.

 

Thông thường, nó đi làm từ sáng đến chiều. Buổi trưa, nó nghỉ lại xưởng. Nhưng hôm đó nó bị váng đầu nên về nhà vào buổi trưa. Về tới nhà, không thấy vợ ngồi ở sa-lon phòng khách xem ti vi như mọi khi. Vì váng đầu nên nó đi thẳng lên phòng ngủ. Lên tới nơi, nó thấy vợ đang cưỡi trên bụng anh hoạ sỹ kia. Nó đúng chết trân nhìn hai đứa mặc quần
áo. Rồi cái phản xạ bản năng của thằng đàn ông bị cắm sừng cũng khiến nó bừng tỉnh. Nó nhẩy bổ vào tay kia, nhưng vợ nó đã đúng chen vào giữa.

 

Như thế cũng may cho nó, bởi có lao vào được thì cũng chả làm gì nổi, vì tay họa sĩ đàn anh kia không chỉ hôi, nhiều râu, mà còn rất lực lưỡng.

 

Tay kia, được vợ nó che, bình thản ra về. Khi anh ta về rồi, nó vò đầu bứt tai, rồi nó quyết định giải toả bằng rượu. Nó ngồi ở quán rượu, bần thần, uống. Uống rất nhiều. Tới đêm, khi đã say khướt, nó mới ngật ngưỡng về nhà. Về tới nhà, nó thấy vợ khóc sưng húp mắt, đang ngồi chờ nó. Nhìn thấy vợ trong tình trạng như thế, bao nỗi uất hận trong lòng như tan biến hết cả. Vợ nó quì xuống và xin nó tha thứ. Cô ta lạy van, xin lỗi, thề thốt, và bảo rằng, nếu không tha thứ thì cứ việc đuổi cô ta ra khỏi nhà. Nghe vợ nói thế, nó thấy thương quá, nó cảm thấy chính nó là người có lỗi. Nó nghĩ, chắc do mình ham việc quá không để ý chăm sóc vợ chu đáo, không tâm lý, lãng mạn …v.v; mà phụ nữ thường yếu
đuối, dễ bị lợi dụng… Nghĩ thế, nó liền … quì xuống để xin lỗi vợ.

 

Hai đứa chúng nó làm lành. Nó nghỉ hẳn ở nhà mấy ngày để cùng vợ đi đó đây chơi bời. Hai đứa lại xoắn xuýt, chúng tỏ ra hạnh phúc như chưa từng có chuyện gì xẩy ra.

 

Sau khi đi làm lại, nó chuyển sang một xưởng khác để tránh mặt tay hoạ sỹ kia. Làm việc ở xưởng mới, nó không nghỉ trưa tại xưởng nữa mà về ăn trưa và nghỉ cùng vợ ở nhà. Được tuần lễ, thì nó lại bắt gặp vợ và tay hoạ sỹ. Lần này là buổi chiều. Hôm đó, ngẫu nhiên nó về sớm hơn thường lệ. Mọi việc diễn ra y hệt như lần trước. Và nó lại đi uống
rượu, lại say, lại ngật ngưỡng về nhà vào nửa đêm. Nhưng lần này kịch bản hơi khác, cô vợ không khóc chờ nó nữa. Cô ta đã bỏ đi. Không biết đi đâu.

 

Ba ngày sau đó, nó ngập đầu trong men rượu. Nhưng rượu không làm nó say nữa. Càng uống, nó càng nhớ vợ và lo lắng cho cô ta. Sang ngày thứ tư, nó bổ đi tìm. Nó tới nhà mẹ đẻ cô ta. Nó tới nhà các bạn gái cô ta… Không ai biết cô ta đi đâu, ở đâu. Lúc này, nó mới nghĩ tới việc thử tìm vợ ở chỗ tay hoạ sỹ kia.

 

Tay hoạ sĩ thuê nhà trong một con hẻm nhỏ bên quận Tân Bình, chủ nhà ngăn buồng cho thuê, diện tích mỗi ngăn chỉ nhỉnh hơn chiếc giường đôi một chút. Trong nhà trống lốc, ngoài chỗ ngả lưng, chỉ toàn vỏ chai rượu. Nó tới nhà tay hoạ sỹ vào lúc nhập nhoạng tối. Nó gọi vợ ra ngoài nói chuyện. Nó khuyên nhủ, van xin cô ta trở về. Nó lo lắng cho vợ, nhất là thấy cảnh vợ sinh hoạt có vẻ thiếu thốn như thế. Ban đầu cô ta không chịu, sau nó năn nỉ quá và còn hứa là không can thiệp vào chuyện riêng của vợ, miễn sao vợ nó về ở nhà cho nó yên tâm là được. Vì vậy, vợ nó đồng ý trở về.

 

Từ đó không phải nó bắt gặp vợ ngoại tình nữa, mà là nó tránh bắt gặp. Nó sợ, bắt gặp sẽ làm vợ nó khó xử và bản thân nó thì đau lòng. Nhưng càng tránh, nó càng gặp. Bởi vợ nó ngày càng lấn, gần như công khai đưa tay kia về nhà. Có những hôm, nó ngồi ở phòng khách nhà dưới, thì trên buồng ngủ hai đứa kia ngang nhiên hành sự.

 

Rồi nó đi đến một quyết định quái gở. Để đi tới quyết định này nó suy nghĩ nhiều lắm. Những suy nghĩ ấy đều được nó ghi lại trong cuốn nhật ký. Những suy nghĩ vô cùng khó hiểu. Nếu tôi kể những suy nghĩ của nó ra đây, sợ sẽ không thể diễn đạt cho đủ ý. Đại khái là nó không muốn nhìn thấy vợ mình trên giường với đứa khác. Mỗi lần nhìn thấy, nó vô cùng đau đớn, nhưng không có cách nào ngăn cản mà vẫn giữ được vợ. Nó chế ra một cái kẹp có thể kẹp hai lọ thuốc đau mắt và nhỏ cùng một lúc. Trong hai lọ thuốc đau mắt, nó đổ vào một loại a-xit loãng. Làm thế, nó nghĩ vẫn giữ được vợ mà lại không bao giờ phải nhìn thấy cái cảnh đau buồn kia nữa. Sau khi thực hiện cái điều điên khùng dại dột ấy nó phải vào nằm viện một tháng. Mắt nó hỏng hẳn. Nhưng nó vui. Nó tưởng tượng ra cái cảnh vợ, chồng lại vui vẻ hạnh phúc như ngày xưa. Hay ít ra, nó sẽ không bao giờ còn phải nhìn thấy cái cảnh khiến nó còn đau hơn cái vết thương nó tự gây ra cho nó.

 

Về nhà, mọi việc lại không xẩy ra như nó tính toán. Tay hoạ sỹ gần như tới ở hẳn nhà nó. Mặc dù đã mù, nhưng nó không được hưởng một chút âu yếm nào của vợ. Ngược lại, nó chỉ được hưởng sự chì chiết, nặng nhẹ. Tuy nó không còn nhìn thấy cảnh vợ nó âu yếm hay làm tình với tay hoạ sỹ, nhưng tai nó lại nghe rõ hơn những tiếng hổn hển trong phòng ngủ, mũi nó ngửi rõ hơn cái mùi khét lẹt thuốc lào thuốc lá của tay hoạ sỹ, mà giờ đây, lúc nào cũng ngột ngạt trong nhà nó. Tính toán của nó phá sản. Hành động của nó không đem lại cho nó sự thanh thản nào, mà hoàn toàn ngược lại. Thậm chí, nó nghĩ đến việc huỷ hoại nốt hai giác quan nghe và ngửi. Nhưng nó vẫn muốn nghe tiếng nói vợ nó, vẫn thèm được ngửi cái mùi hương mái tóc cô ta. Mà huỷ hoại hai giác quan này không
đơn giản như huỷ cặp mắt. Huỷ chúng thì gần như tự tử. Vì vậy, nó vẫn phải nghe cái nó không muốn nghe, ngửi cái mùi mà nó ghê tởm. Nó cứ sống như thế, trong sự bức xúc khiến nó gần như điên dại. Nó chịu đựng như thế được gần một tháng. Rồi một hôm nó bỗng như hoá điên. Không hiểu cặp tình nhân kia, hôm đó mặn nồng hơn thường lệ, hay nó tưởng như vậy. Thế là nó đập phá hú hét, chửi bới…, rồi nó rơi vào trạng thái như hôn mê. Đến lúc tỉnh lại, thấy nhà im ắng khác thường, cái mùi khét lẹt nồng nặc dường như loãng bớt ra. Nó gọi vợ. Gọi một câu, rồi nhiều câu…, không có ai trả lời. Và nó đã đoán ra, vợ nó lại bỏ đi.

 

Tuyệt vọng, đau đớn và cô đơn, hơn tháng nay nó hầu như chỉ sống bằng rượu. Nhưng vẫn thế, rượu không làm nó say mà chỉ làm nó thêm nhớ và thương vợ. Nó nhớ vợ cồn cào, nhớ điên dại. Cả ngày, nó chỉ nghĩ về cô ta. Từ khi nó gặp và yêu cô ta, hình như nó đã quên mất bản thân. Nó biết, tay hoạ sỹ kia nghèo kiết, đã thế lại nghiện ngập. Nó thương và lo lắng cho vợ lắm. Theo tay kia, hẳn cô ấy sẽ rất khổ sở. Càng nghĩ nó càng thương, càng lo lắng. Nó nghĩ đủ cách để làm sao giúp đỡ vợ nó. Và nó đã tìm ra cách. Cái cách này, cũng điên rồ không kém sự điên rồ lần trước.

 

Nó nhờ người tìm và nhắn vợ về để giải quyết công việc. Phải năm lần bẩy lượt, vợ nó mới chịu về. Nó nói:

 

- Cái nhà này thuộc về em, tôi đã hoàn tất thủ tục sang tên. Em về đây sống cho đàng hoàng, không phải đi ở chui rúc cho khổ. Để tiện cho em, tôi sẽ đi chỗ khác. Mong rằng đến một lúc nào đó, em sẽ nghĩ lại. Lúc đó, tôi sẽ về với em.

 

Nó giắt theo số tiền mặt còn lại trong nhà và ra đi.

 

Thời gian đầu, nó lang thang lục tỉnh như kiểu du lịch ba-lô. Sau, tiền bắt đầu cạn, nó mò về thành phố. Khi về đến thành phố, nó trở nên thân tàn ma dại. Những người từng quen nó, nay không ai có thể nhận ra. Nhưng nó cũng không có ý định nhờ vả ai. Tiền hết, không có khả năng lao động, nó ngồi ăn xin. Thỉnh thoảng, nó có gọi điện về nhà. Nó
chỉ muốn nghe thấy tiếng vợ. Nhưng nó chỉ gọi và chờ người bên kia nhấc máy, nó nghe, chứ không bao giờ nói gì. Hôm nào gặp được vợ, nó đều ghi rất kỹ cảm xúc trong cuốn nhật kí. Nói chung, nó vẫn yêu vợ say đắm như thưở ban đầu.

 

***

 

Bẵng đi vài tuần không qua lại (thời gian sau này tôi không thường xuyên ra chỗ nó, vì chẳng còn gì gây tò mò nữa. Mọi bí mật của nó, tôi đã biết hết rồi), một hôm chợt để ý, tôi không thấy nó ngồi dưói hàng hiên đó nữa. Mấy hôm sau cũng không thấy. Cả tuần sau cũng vậy. Bữa nọ, tôi vẫy một thằng bán vé số vẫn thường xuyên bán ở khu vực này,
sau khi mua cho nó mấy tờ, tôi hỏi:

 

- Mày có biết, thằng mù vẫn hay ngồi dưới hàng hiên kia không?

 

- Biết chớ, nó là “bạn” tui mờ

 

- Thế nó đi đâu rồi?

 

- Chít rồi

 

- Sao chết? - tôi trợn mắt, hỏi dồn - chết bao giờ?

 

- Gần tuần lễ rồi. Nó hoá điên, uống bả chuột

 

- Chuyện thế nào, mày kể tao nghe

 

- Thôi, mất thời giờ quá, tui còn đi bán - Vừa nói nó vừa vẫy vẫy tập vé số

 

- Mày đếm xem còn bao tờ, tao mua hết cho, rồi kể chuyện tao nghe.

 

Thằng cu bán vé số kể cho tôi biết, một bữa, vào tầm sẩm tối, thằng mù nhờ tui dắt tới một căn nhà mà nó đưa cho tui địa chỉ. Tới nơi, nó bấm chuông. Đi ra mở cửa là một phụ nữ. Khi bà ta giáp mặt thằng mù, nó nắm ngay lấy tay bà ta. Nó bảo, anh đây, cho anh nắm tay em, cho anh hôn lên tóc em, chỉ một chút thôi rồi anh đi ngay. Nếu em không muốn thấy anh, thì anh hứa đây là lần cuối cùng.

 

Tui nghĩ thằng này hoá điên rồi, nên tui lảng ra xa. Tui thấy bà kia mắng nó té tát rồi quay vào nhà. Bà ta đóng cửa cái rầm. Khi bà ta đóng cửa rồi, tui chạy lại bảo nó, có về để tui dắt về. Nó bảo không cần. Hôm sau đi bán qua khu đó tui thấy người ta kháo chuyện, thằng mù uống bả chuột chết rồi.

 

- Nó chết ở đâu? Ngay ở cổng căn nhà đó à? Tôi hỏi

 

- Không, nó mò ra cách đó mấy khu phố cơ. Cách nhà đó xa.

 

- Mày chỉ tao tới đó được không?

 

Nó nhe răng cười tinh quái. Tôi dụ nó:

 

- Rồi mai tao lại mua vé số cho mày.

 

Cuối cùng thì nó cũng cho tôi địa chỉ căn nhà đó.

 

Chiều hôm đó, sau giờ tan sở tôi ghé tới địa chỉ mà thằng nhóc vé số cho tôi. Ngôi nhà đúng như thằng mù mô tả. Xinh xắn, một trệt, hai lầu, phía trước có khoảng sân nhỏ và rất nhiều hoa, chậu kiểng. Mở cửa cho tôi là một phụ nữ trẻ. Nếu đây là vợ nó thì hoàn toàn không giống với sự hình dung của tôi. Trông cô ta chỉ trên mức bình thường một
chút, không có vẻ gì là “nghiêng nước nghiêng thành”.

 

- Xin lỗi, cô cho tôi hỏi, đây có phải nhà cô Vân (tên vợ thằng mù)

 

- Dạ đúng rồi, ông hỏi ai?

 

- Tôi hỏi cô Vân

 

- Tôi là Vân, có việc gì thế ạ?

 

Tôi ấp úng, đang định giải thích thì từ trên lầu có tiếng quát lè nhè, nhưng âm lượng rất lớn:

 

- Cái lẩu sôi chưa, làm ăn cà rầm, cà rề như sên … đù má của nợ.

 

Cô gái tên Vân cuống quít:

 

- Dạ… dạ… được rồi đây…, em bê lên liền.

 

Rồi cô quay phắt vào trong nhà, để tôi đúng trơ khấc.

 

Tôi định chờ cô quay lại, nhưng chợt nhận ra rằng, nếu cô quay lại thì tôi cũng không biết nói chuyện gì. Tôi bèn quay xe ra về

 

***

 

Nghe xong câu chuyện, cả ba chúng tôi đều lặng đi. Lặng đi vì sự khó tin hay vì lẽ gì của câu chuyện đó, tôi không biết. Cả thằng Đông, chủ nhân của câu chuyện cũng vậy. Thậm chí, nó còn tỏ ra xúc động nữa kia. Tôi chợt nhớ ra, tháng trước nó đi tảo mộ và rủ tôi đi cùng, hình như là một người bà con xa gần nào đó.


 

Reply all
Reply to author
Forward
0 new messages