Điều kiện hưởng lương hưu (Điều 50 – Luật BHXH)
- Có đủ 20 năm đóng BHXH trở lên
- Nam đủ 60 tuổi, nữ đủ 55 tuổi;
Hoặc Nam từ đủ 55 tuổi, nữ từ đủ 50 tuổi và có đủ 15 năm làm nghề hoặc công việc nặng nhọc, độc hại, nguy hiểm hoặc có đủ 15 năm làm việc ở nơi có phụ cấp khu vực hệ số 0,7 trở lên.
Điều kiện hưởng lương hưu khi suy giảm khả năng lao động (Điều 51 – Luật BHXH)
(hưởng lương hưu với mức thấp hơn so với người đủ điều kiện hưởng lương hưu quy định tại Điều 50)
- Đã đóng BHXH đủ 20 năm trở lên,
- Bị suy giảm khả năng lao động từ 61% trở lên
- Nam đủ 50 tuổi, nữ đủ 45 tuổi trở lên
Hoặc có đủ 15 năm trở lên làm nghề hoặc công việc đặc biệt nặng nhọc, độc hại, nguy hiểm
Mức lương hưu hằng tháng (Điều 52 – Luật BHXH)
- Bằng 45% mức bình quân tiền lương, tiền công tháng đóng BHXH tương ứng với 15 năm đóng BHXH, sau đó cứ thêm 01 năm đóng BHXH thì tính thêm 2% đối với nam và 3% đối với nữ; mức tối đa bằng 75%.
- Mức lương hưu hằng tháng của NLĐ tại Điều 51 được tính như trên, sau đó cứ mỗi năm nghỉ hưu trước tuổi quy định thì giảm 1%.
- Mức lương hưu hằng tháng thấp nhất bằng mức lương tối thiểu chung.
Trợ cấp một lần khi nghỉ hưu (Điều 54 – Luật BHXH)
NLĐ đã đóng BHXH trên 30 năm đối với nam, trên 25 năm đối với nữ, ngoài lương hưu còn được hưởng trợ cấp một lần tính từ năm thứ 31 đối với nam và năm thứ 26 đối với nữ. Cứ mỗi năm đóng BHXH được tính bằng 0,5 tháng tiền lương.
BHXH 1 lần đối với người không đủ điều kiện hưởng lương hưu (Điều 55)
- Khi đủ tuổi hưởng lương hưu (Điều 50) mà chưa đủ 20 năm đóng BHXH;
- Khi suy giảm khả năng lao động từ 61% trở lên mà chưa đủ 20 năm đóng BHXH;
- Sau 01 năm nghỉ việc nếu không tiếp tục đóng BHXH và có yêu cầu nhận
- Hay ra nước ngoài để định cư.
Mức hưởng BHXH 01 lần (Điều 56 – Luật BHXH): Cứ mỗi năm đóng BHXH tính bằng 1,5 tháng mức bình quân tiền lương, tiền công tháng đóng BHXH.
Mức bình quân tiền lương, tiền công tháng đóng bảo hiểm xã hội để tính lương hưu, trợ cấp một lần
Đối với NLĐ tham gia BHXH trước ngày 01/01/1995 (Điều 58 – Luật BHXH)
1. NLĐ thuộc đối tượng thực hiện chế độ tiền lương do Nhà nước quy định có toàn bộ thời gian đóng BHXH theo chế độ tiền lương này thì tính bình quân của 05 năm cuối trước khi nghỉ hưu.
2. NLĐ có toàn bộ thời gian đóng BHXH theo chế độ tiền lương do NSDLĐ quyết định thì tính bình quân của toàn bộ thời gian.
3. NLĐ vừa có thời gian đóng BHXH thuộc đối tượng thực hiện chế độ tiền lương do Nhà nước quy định, vừa có thời gian đóng BHXH theo chế độ tiền lương do NSDLĐ quyết định thì tính bình quân chung của các thời gian; trong đó thời gian đóng theo chế độ tiền lương do Nhà nước quy định thì tính theo quy định tại khoản 1 Điều này.
Đối với NLĐ tham gia BHXH từ 01/01/1995 đến trước ngày Luật BHXH có hiệu lực [1/1/2007] (Điều 59 – Luật BHXH)
1. NLĐ thuộc đối tượng thực hiện chế độ tiền lương do Nhà nước quy định có toàn bộ thời gian đóng BHXH theo chế độ tiền lương này:
- Tham gia BHXH từ 01/01/1995 đến 31/12/2000: Tính bình quân của 06 năm cuối trước khi nghỉ hưu;
- Tham gia BHXH từ 01/01/2001 đến 31/12/2006: Tính bình quân của 08 năm cuối trước khi nghỉ hưu.
2. NLĐ có toàn bộ thời gian đóng BHXH theo chế độ tiền lương do NSDLĐ quyết định thì tính bình quân của toàn bộ thời gian.
3. NLĐ vừa có thời gian đóng BHXH thuộc đối tượng thực hiện chế độ tiền lương do Nhà nước quy định, vừa có thời gian đóng BHXH theo chế độ tiền lương do NSDLĐ quyết định thì tính bình quân chung của các thời gian; trong đó thời gian đóng theo chế độ tiền lương do Nhà nước quy định thì tính bình quân theo quy định tại khoản 1 Điều này.
Đối với NLĐ tham gia BHXH từ ngày Luật BHXH có hiệu lực [1/1/2007] (Điều 60 – Luật BHXH)
1. NLĐ thuộc đối tượng thực hiện chế độ tiền lương do Nhà nước quy định có toàn bộ thời gian đóng BHXH theo chế độ tiền lương này thì tính bình quân của 10 năm cuối trước khi nghỉ hưu.
2. NLĐ có toàn bộ thời gian đóng BHXH theo chế độ tiền lương do NSDLĐ quyết định thì tính bình quân của toàn bộ thời gian.
3. NLĐ vừa có thời gian đóng BHXH thuộc đối tượng thực hiện chế độ tiền lương do Nhà nước quy định, vừa có thời gian đóng BHXH theo chế độ tiền lương do NSDLĐ quyết định thì tính bình quân chung của các thời gian; trong đó thời gian đóng theo chế độ tiền lương do Nhà nước quy định thì tính bình quân theo quy định tại khoản 1 Điều này.
Điều chỉnh tiền lương, tiền công đã đóng BHXH (Điều 61 – Luật BHXH)
1. Tiền lương đã đóng BHXH để làm căn cứ tính mức bình quân tiền lương tháng đóng BHXH đối với NLĐ thực hiện chế độ tiền lương do Nhà nước quy định được điều chỉnh theo mức lương tối thiểu chung tại thời điểm hưởng chế độ hưu trí.
2. Tiền lương, tiền công đã đóng BHXH để làm căn cứ tính mức bình quân tiền lương, tiền công tháng đóng BHXH đối với NLĐ thực hiện chế độ tiền lương do NSDLĐ quyết định được điều chỉnh trên cơ sở chỉ số giá sinh hoạt của từng thời kỳ theo quy định của Chính phủ.
Tạm dừng hưởng lương hưu, trợ cấp bảo hiểm xã hội hằng tháng (Điều 62 – Luật BHXH)
NLĐ đang hưởng lương hưu, trợ cấp BHXH hằng tháng bị tạm dừng khi:
1. Chấp hành hình phạt tù nhưng không được hưởng án treo;
2. Xuất cảnh trái phép;
3. Bị Toà án tuyên bố là mất tích.
(HaiLúa)