Chén Cơm Trong Ngày - Fw: Cha Pio - 40 Nam Xac Cha Van Con Nguyen

19 views
Skip to first unread message

doantrang nguyen

unread,
Sep 26, 2011, 11:36:47 AM9/26/11
to Chen Com Trong Ngay, TVS

Hôm nay nhà bếp xin được tiếp tục gửi đến quý thực khách thân thương
một chứng tích khác đặc biệt về vị thánh mà giáo-hội kính nhớ ngày 23 Tháng 9 vừa qua,
Thánh Padre Pio.  

 
 
 
Subject:'Cha Pio - 40 Nam Xac Cha Van Con Nguyen"
let us all seek the intercession of st. padre pio.
he is a powerful intercessor.
In Memoriam J.S.
The following quotes of Padre Pio tell how he looked after and loved his spiritual family:
~ I love my Spiritual Children as much as my own soul and even more.~
~ Once I take a soul on, I also take on their entire family as my spiritual children.~
~ To my Spiritual Children, my prayers for you will never be lacking.~
~ If one of my spiritual children ever goes astray, I shall leave my flock and seek him out.~
http://photos.msn.com/Viewing/Album.aspx?PST=8nK2AN1B!1J7krJeGuxwhYuVVpmNn2d4YWjka9e*fYIQJ*ax7A1PjDvCLJbVQ4y1mXyrsPFULXJz8dAdv*GW8g$$
 
About Padre Pio
Padre Pio, a humble Capuchin priest from San Giovanni Rotondo, Italy , was blessed by God in many wonderful and mysterious ways. The most dramatic was the stigmata. Padre Pio bore the wounds of Christfor fifty years!
Among his other gifts were perfume, bilocation, prophecy, conversion, reading of souls, and miraculous cures. People are still being cured through his intercession in ways that cannot be explained by medicine or science.
More important, if less spectacular, are the spiritual healingsthat take place in all parts of the world! Padre Pio is a powerful intercessor!!
 
Padre Pio's incorrupt body!
To see him resting so peacefully
it's hard to believe that he died 40 years ago!
 
 
 
http://photos.msn.com/Viewing/Album.aspx?PST=8nK2AN1B!1J7krJeGuxwhYuVVpmNn2d4YWjka9e*fYIQJ*ax7A1PjDvCLJbVQ4y1mXyrsPFULXIRsgurNAy5Qg$$
 
 
http://photos.msn.com/Viewing/Album.aspx?PST=8nK2AN1B!1J7krJeGuxwhYuVVpmNn2d4YWjka9e*fYIQJ*ax7A1PjDvCLJbVQ4y1mXyrsPFULXInwwUu*rzIng$$
 
 
http://photos.msn.com/Viewing/Album.aspx?PST=8nK2AN1B!1J7krJeGuxwhYuVVpmNn2d4YWjka9e*fYIQJ*ax7A1PjDvCLJbVQ4y1mXyrsPFULXKWiDg3VU!2CA$$
 
 
http://photos.msn.com/Viewing/Album.aspx?PST=8nK2AN1B!1J7krJeGuxwhYuVVpmNn2d4YWjka9e*fYIQJ*ax7A1PjDvCLJbVQ4y1mXyrsPFULXLQXgjvvx9IWg$$
 
 
http://photos.msn.com/Viewing/Album.aspx?PST=8nK2AN1B!1J7krJeGuxwhYuVVpmNn2d4YWjka9e*fYIQJ*ax7A1PjDvCLJbVQ4y1mXyrsPFULXINjYUxoaMEfA$$
 
 
http://photos.msn.com/Viewing/Album.aspx?PST=8nK2AN1B!1J7krJeGuxwhYuVVpmNn2d4YWjka9e*fYIQJ*ax7A1PjDvCLJbVQ4y1mXyrsPFULXKFpVGu2N!UHA$$
 
 
http://photos.msn.com/Viewing/Album.aspx?PST=8nK2AN1B!1J7krJeGuxwhYuVVpmNn2d4YWjka9e*fYIQJ*ax7A1PjDvCLJbVQ4y1mXyrsPFULXJPtYKZ3q1z!A$$

A Prayer to Padre Pio

Beloved Padre Pio, today I come to add my prayer to the thousands of prayers offered to you every day by those who love and venerate you in Jesus' name. They ask for cures and healings, earthly and spiritual blessings, and peace for body and mind. And because of your friendship with the Lord, he heals those you ask to be healed, and forgives those you ask be forgiven in Jesus' name.
Through your visible wounds of the Crucified Jesus, which you bore for 50 years, you were chosen in our time to glorify the crucified Jesus. Because the Cross has been replaced by other symbols, please help us bring back the veneration of the wounds of Jesus Christ, for we acknowledge His Precious Blood as true a sign of salvation, cleansing and purification.
As we lovingly recall the wounds that pierced your hands, feet and side, like  beloved Jesus Christ, we not only remember the blood He shed as you also shed in pain, along with your smile, and the invisible halo of sweet smelling flowers that surrounded your presence, certainly the Scent of The Lord, symbolic as the perfume of Sanctity.
Padre Pio, may the healings of the sick become the testimony that the Lord has invited you to join the holy company of Saints. In your kindness, please help me with my own special request: (mention here your petition, and make the sign of the Cross).
Bless me and my loved ones. In the name of the Father, the Son and the Holy Spirit. Amen.
 
 
 
 
 
 
 
image001.gif
image002.jpg
image003.jpg
image004.jpg
image005.jpg
image006.jpg
image007.jpg
image008.jpg
image009.jpg

doantrang nguyen

unread,
Sep 27, 2011, 4:34:26 PM9/27/11
to chen_com_...@googlegroups.com, TVS
Thánh Vicentê Phaolô, Linh Mục
 
Gia đình Đệ Phaolô là những nông dân tại Pouy, gần Dax. Vicentê sinh năm 1581, là con thứ ba trong gia đình sáu người con.  Trong những ngày còn thơ ấu, ngài lo chăn cừu cho cha. Giữa miền đồi lộng gió này, Vicentê đã trải qua nhiều giờ trong ngày để chiêm ngắm cảnh đồng quê và hướng lòng lên cùng Chúa.  Thời gian này cũng cho ngài những kinh nghiệm đầu tiên về số phận của người dân quê.  Từ đó, lòng bác ái sớm nẩy nở trong tâm hồn Vicentê.  Có lần thu góp được 30 xu, số tiền đáng kể đối với ngài, nhưng ngài đã tặng tất cả cho những người cùng khốn.  Lần khác trên đường tới nhà máy xay ngài âm thầm lấy một số bột bố thí cho người nghèo.
Thấy con mình có lòng bác ái lại thông minh, ông Gioan đệ Phaolô quyết hy sinh cho Vicentê theo ơn gọi làm giáo sĩ. Vicentê theo học các cha dòng Phanxicô tại Dax.  Nhưng để tiếp tục chương trình đại học của Vicentê, cha ngài đã phải bán bầy cừu lo cho tương lai của con.  Dầu vậy, khi học thần học tại Toulouse, Vicentê cũng vừa lo học vừa lo dậy kèm tư gia kiếm tiền bớt gánh nặng cho gia đình .
Sau khi thụ phong linh mục, trong hai năm trời Vicentê biến mất.  Cho đến ngày nay người ta vẫn không biết rõ trong thời gian này Vicentê ra sao.  Người ta kể lại rằng có một góa phụ tại Toulouse đã công đức tất cả tài sản của bà cho ngài. Trên đường từ Marseille tới Narbonne để nhận gia tài ngài đã bị bọn cướp bắt bán cho một ngư phủ. Không quen nghề ngài lại bị bán cho một người hồi giáo làm thợ kim hoàn.  Sau cùng ngài lại bị rơi vào tay một người phản đạo tên là Gautier.  Nhờ đời sống thánh thiện ngài đã cải hóa được ông. Chính ông đã đưa ngài trở lại đất Pháp.  Năm sau, ông theo ngài đi Roma và vào hội bác ái để đền tội cho đến ngày qua đời.
Từ đây, cha Vicentê bắt đầu thi hành chức vụ linh mục của ngài.  Ngài được chỉ định làm tuyên úy cho nữ hoàng Marguerrite de Valois.  Lúc này, cha Vicentê có dịp quen biết cha Phêrô Berulle, Đấng sáng lập dòng giảng thuyết và sau này làm Hồng y.  Dưới ảnh hưởng của cha Phêrô Bérulle, cha Vicentê bắt đầu nhiệt tình sống đời hy sinh.  Theo lời khuyên của ngài, cha Vicente nhận làm tuyên úy cho gia đình Gondi.  Hướng dẫn một số nông dân trong vùng này, Vicentê đã khám phá ra tình trạng phá sản về tôn giáo và luân lý.  Chính sự dốt nát và biếng nhác của nhiều giáo sĩ là duyên cớ gây nên tình trạng này.  Ngài quyết tâm sửa đổi thực trạng.
Vicentê đã trở nên bạn của người nghèo và dùng mọi phương tiện khả năng có được để hoạt động nhằm tái tạo cuộc sống luân lý và tôn giáo của họ.  Một thử nghiệm nhỏ như một linh mục quản sở tại Chatillon les Dober cho ngài thấy rõ vấn đề còn rộng lớn hơn nhiều.  Dầu nỗ lực cải tiến họ đạo, ngài vẫn ưu tư cho việc bác ái được bành trướng rộng rãi hơn. Trở lại Paris với sự trợ giúp của bà Gondi ngài bắt đầu công cuộc nâng đỡ cảnh khốn cùng bất cứ ở nơi đâu, ngài tổ chức “hội bác ái” trên khắp đất Pháp cung cấp áo xống thuốc men cho người nghèo khổ; hết sức trợ giúp những nô lệ bị bắt chèo thuyền từ Paris tới Marseille.  Ngài thành lập một hội dòng Lazarits với mục đích truyền đạo cho dân quê và đào tạo giáo sĩ.  Từ hội dòng bác ái ấy còn mọc lên hội nữ tử bác ái mà y phục của họ toàn thế giới biết đến như là biểu tượng của lòng bác ái nối liền với danh hiệu Vicentê.
Một linh mục nhà quê đã trở nên quan trọng đối với toàn quốc từ căn phòng tại xứ thánh Lazane.  Ngài bành trướng ảnh hưởng ra khắp nước Pháp, tới Balan, Ý, Hebrider Madagascar và nhiều nơi khác nữa.  Nữ hoàng Anne d‘Austria nhiếp chính cho tới khi vua Luy lên cầm quyền đã hỏi ý ngài trong việc đặt giám mục chống lại Mazania, ngài đã không ảnh hưởng được tới đường lối của vị giám mục này lại còn bị khổ vì ông khi nội chiến xảy ra.  Ngài quyên góp để hàn gắn những tàn phá do cuộc chiến xảy ra tại Loraine.  Ngài lo chuộc các nô lệ tại Bắc Phi.  Các nỗ lực trên cùng với các nhu cầu và việc quản trị hội dòng ngày càng mở rộng đã giam ngài tại phòng riêng xứ thánh Lazane.  Ngày lại ngày bận bịu viết thơ cho các Giám mục lẫn Linh mục nghèo khổ, cho biến cố vị vọng lẫn nhu cầu nghèo khổ trong nước.  Các thư tín của ngài hợp thành một tuyển tập làm say mê người đọc vì trong đó pha trộn những ưu tư cho nước Chúa lẫn đức bác ái ngập tình người.
Các thư tín và các bài giảng thuyết của Vicentê cho thấy ngài là một trong những nhà phục hưng của Giáo hội Pháp thế kỷ XVI.  Những cuộc tĩnh tâm ngài tổ chức tại St. Lazane cho các tiến chức và những cuộc tĩnh tâm hàng tháng ngài tổ chức cho các giáo sĩ tại Paris (có cả những khuôn mặt lớn tham dự như De Rotz, Bossuet...) cho thấy ảnh hưởng sâu rộng của ngài trong cuộc chấn hưng đạo đức .
Năm 1660, cha Vicentê ngã bệnh liệt giường và đau đớn vì bệnh tật nhưng ngài vẫn vui tươi tin tưởng:   “Chúa còn phải chịu hơn tôi gấp bội.”
Đối diện với cái chết ngài bình tĩnh:  “18 năm qua, mỗi tối tôi vẫn dọn mình chết.”
Ngày 27 tháng 9 năm 1660, cha Vicentê từ trần và được phong thánh năm 1737.
 
Thánh Vicentê Phaolô đã để lại cho chúng ta gương sáng về lòng đạo đức, tinh thần bác ái hy sinh.
Xin Chúa cho chúng ta cũng luôn biết dấn thân vì Chúa và vì người nghèo.
 
(Sưu Tầm)

-- To unsubscribe from this group, send email tochen_com_trong_...@googlegroups.com To subscribe from this group, send email tochen_com_trong...@googlegroups.com
image001.gif
image002.jpg
image003.jpg
image004.jpg
image005.jpg
image006.jpg
image007.jpg
image008.jpg
image009.jpg

doantrang nguyen

unread,
Sep 28, 2011, 8:32:37 AM9/28/11
to chen_com_...@googlegroups.com, TVS

Ngọn Lửa Không Hề Tắt
 
Trong tác phẩm Ðại Học Máu, văn sĩ Hà Thúc Sinh cũng giống như văn hào Nga Solzenitzyn ghi lại thân phận tù đày của các tù nhân Việt Nam trong các trại học tập.
Nhưng giữa những đọa đày cùng cực của kiếp người, Hà Thúc Sinh vẫn có cái nhìn lạc quan về thân phận con người.  Con người bị bạo hành ở những mức độ vô nhân nhất mà vẫn khôi hài, cười đùa, bỡn cợt được.
Trong tác phẩm đầu tay của ông có tựa đề "Hai chị em", Hà Thúc Sinh đã nêu bật được hình ảnh con người tranh đấu lạc quan, chẳng còn biết gì để sợ, sẵn sàng kịch liệt chống lại định mệnh để tự thắng và tự cứu mình...
Hai chị em Lan và Trực bị đắm tàu trong một cuộc vượt biên đầy nguy hiểm.  Là hai người duy nhất còn sống sót, họ trôi dạt và tấp vào một hoang đảo giữa Thái Bình Dương.  Trong nguyên một tuần lễ, tác giả đề cao sức chịu đựng, tinh thần tháo vát của hai chị em.  Sau một tuần lễ chịu đựng, người chị ngã bệnh, Trực bèn kết bè để ra khơi mong tìm lại được chiếc ghe đắm trên đó còn chút ít lương thực, thuốc men và quần áo.  Khi ra đi, anh đã nhóm đã nhóm được một ngọn lửa trên núi cao vừa làm dấu hiệu để kêu gọi sự chú ý của thuyền bè qua lại trong vùng, vừa lấy đó như ngọn hải đăng để còn có thể quay lại đảo...  Nhưng anh đã ra đi và không bao giờ trở lại hoang đảo... Sóng to gió lớn có lẽ đã chôn vùi anh giữa lòng đại dương. Người chị tất tả chạy ra bãi cát giữa cơn giông bão để réo gọi tên em.
Tác giả đã kết thúc câu chuyện như sau: "Nếu có thuyền bè chạy qua eo biển, một vùng hoang đảo trên Thái Bình Dương những ngày biển lặng sau đó, chú mục, người ta có thể nhìn thấy một ngọn lửa.  Ngọn lửa ấy đốt bập bùng trên một triền núi, khi lớn, khi nhỏ, khi tỏ, khi mờ. Nhưng có điều chắc chắn là nó chưa hề tắt".
 
Sống là một cuộc chiến đấu không ngừng.
Chiến đấu chống lại với những khắc nghiệt của thiên nhiên, chống lại không biết bao nhiêu kẻ thù, chống lại với chính bản thân đầy ươn hèn, xấu xa.
Nhưng người Kitô hữu không phải là một thứ anh hùng khắc kỷ, tự chiến đấu một mình và tin ở sức mạnh vô song của ý chí. Chúa Giêsu đã chiến đấu, nhưng Ngài không là một anh hùng của một ý chí sắt đá.
Sức mạnh duy nhất của Ngài chính là Thiên Chúa.  Lương thực của Ngài chính là Thánh ý Chúa Cha. Khí giới của Ngài là sự kết hiệp với Chúa Cha.
Qua ba cơn cám dỗ, Chúa Giêsu đã luôn luôn qui chiếu vào Lời Chúa. Lời của Chúa là khí giới, là thuẫn đỡ của Ngài.
Tôi sống nhưng không phải là tôi sống, mà chính là Ðức Kitô sống trong tôi.
Ðó phải là ý lực sống của chúng ta. Chúng ta cũng hãy nói: tôi chiến đấu, nhưng không phải là tôi chiến đấu, mà chính Ðức Kitô chiến đấu trong tôi.  Sức mạnh của Kitô giáo, bản chất của Kitô giáo không phải là tổng số của các tín hữu, mà chính là Sự Sống của Ðức Kitô đang châu lưu trong từng người tín hữu.
 
 
Đức Ông Phêrô Nguyễn Văn Tài
 
 
 

doantrang nguyen

unread,
Sep 29, 2011, 12:35:48 PM9/29/11
to chen_com_...@googlegroups.com, TVS
CÁC TỔNG LÃNH THIÊN THẦN
 
Giáo huấn của Giáo hội về thế giới thần thiêng rất giản dị và không thay đổi, là có một thế giới như vậy, trong đó gồm có cả thần lành và thần dữ và ảnh hưởng đến thế giới chúng ta.
Trong kinh Tin Kính, chúng ta vẫn tuyên xưng rằng việc tạo dựng được thể hiện gồm có “muôn vật hữu hình và vô hình”.
Còn về ảnh hưởng của thế giới vô hình, của các thần thiêng đối với chúng ta, chỉ cần nhớ lại biến cố cám dỗ Eva tại vườn địa đàng và biến cố truyền tin cho Đức Mẹ.
Trong lịch sử như Thánh kinh trình bày, thế giới thần thiêng được tỏ lộ trong bối cảnh những thiên thể đến thế giới này để thi hành thánh ý Thiên Chúa hay để truyền đạt lời Chúa cho loài người.  Thiên thần theo nguyên ngữ là “sứ giả”.
Thánh Grêgôriô thu nhặt nhiều đoạn khác nhau để xếp các thiên thần thành 9 phẩm.  
Riêng phẩm tổng lãnh được (1Tx 4:16) nhắc đến: “Vì khi hiệu lệnh ban ra, khi tiếng tổng lãnh thiên thần và tiếng kèn của Thiên Chúa vang lên, thì chính Chúa sẽ từ trời ngự xuống…”.  Nhưng Thánh kinh chỉ nêu tên 3 vị tổng lãnh là: Micae, Gabrie, và Raphae mà thôi.  
Nhắc đến tên các Ngài, chúng ta cũng cần phải ghi nhớ lời dặn dò của thánh Grêgôriô Cả: “tên các thiên thần là danh xưng chỉ các chức phận chứ không chỉ bản tính”:
1.      Micae có nghĩa là “ai bằng Thiên Chúa”.
2.      Gabrie có nghĩa là “uy lực của Thiên Chúa”.
3.      Raphae có nghĩa là “thầy thuốc của Thiên Chúa”.
 
Lần dở lại Thánh-kinh, chúng ta sẽ thấy rõ phận vụ mỗi đấng thực hiện và dĩ nhiên các phận vụ ấy liên quan đặc biệt đối với loài người chúng ta.  Cả người Do-thái lẫn người Kitô-hữu đều tôn kính ba vị tổng lãnh thiên thần này.
¨      Người Do-thái vẫn coi tổng lãnh thiên thần Micae là đấng bảo trợ đặc biệt.  Trong Kitô giáo, Ngài cũng là đấng bảo trợ đặc biệt Giáo hội.  Chúng ta coi Ngài là đấng thống soái đạo binh trên trời, dựa theo lời kể của thánh Gioan:  “Một cuộc chiến dữ dội xảy ra trên trời, tổng lãnh thiên thần Micae cùng với các đồng bạn giao chiến cùng con rồng, con rồng và các đồng đảng chống lại mãnh liệt.  Song chúng không sao thắng nổi và chúng mất địa vị trên trời.  Con rồng lớn tức là con rắn xưa kia, thường gọi là ma quỉ hay là satan, kẻ lừa dối thiên hạ, bị quăng xuống đất cùng với đồng đảng của nó” (Kh 12:7-9).   Ngài là đấng bảo vệ của dân Do-thái (Dn 12:1)
¨      Tổng lãnh thiên thần Gabrie được sai đến với Đức trinh nữ Maria ở Nazareth để nói rõ cho Mẹ biết định mệnh của Mẹ (Lc 1:23).  Ngài cũng đến với Zacaria để nói cho biết việc sinh hạ của Gioan tẩy giả (Lc 1:11-19). Chính Ngài đã tiên báo cho Daniel biết việc Đấng thiên sai đến (Dn 9:21).  Ngày nay Ngài được nhận làm đấng bảo trợ của nhân viên bưu-điện và điện-thoại.
¨      Tổng lãnh thiên thần Raphae là một trong bẩy vị tổng lãnh hầu cận trước nhan Thiên Chúa.  Ngài đã thực hiện phận vụ này trong câu chuyện Tobia sau khi Ngài giữ gìn trẻ Tobia trong một cuộc hành trình xa và khi được chữa lành cho Tobia cha được sáng mắt (Tb 5:4-12).  Trong Tân-ước, tổng lãnh thiên thần Raphae được đồng hoá với vị thiên thần đã khuấy nước trong hồ gần Gierusalem và lại xuống hồ trước tiên khi nước mới sủi lên, thì bất cứ mắc bệnh tật gì đều được khỏi (Ga 5:1-4).
 
Hôm nay Giáo-hội Công-giáo kính nhớ Ba tổng lãnh thiên thần Micae, Gabrie, Raphae.  Chúng ta cũng nên suy nghĩ đến ơn gọi mà Chúa muốn chúng ta trở nên các chiến sĩ chống lại thần dữ, loan báo Tin mừng và bảo trợ giúp đỡ cho những người khác.... 
Nguyện xin các thiên thần, nhất là thiên thần bản mệnh của mỗi người, luôn nhắc nhở ta, để ta luôn tiến bước trong tin yêu và hy vọng nơi Thiên Chúa là tình yêu.
 
(Sưu Tầm và Tổng Hợp)

doantrang nguyen

unread,
Sep 30, 2011, 8:19:18 AM9/30/11
to chen_com_...@googlegroups.com, TVS
Thánh Jerome, Linh Mục Tiến Sĩ Hội Thánh
 
Thánh St. Jerome sinh năm 340 tại Stridon miền Dalmatia thuộc Nam Tư.
Ngài sang Rôma học tiếng La-tinh và Hy-lạp.  Tại đây ngài được Đức Giáo-hoàng Liberius ban Phép thánh Tẩy năm 366.
Học xong chương trình, cụ thân sinh bắt ngài về làm việc cho triều đình tại Trêve, nhưng ngài tìm cách từ chối.  Vì lòng mộ đạo, ngài đã rảo khắp Palestina và sau cùng ẩn mình trong sa mạc ở Syria, chuyên nghiên cứu Thánh Kinh và chiêm ngắm phần phúc Thiên Ðàng.  Cũng trong thời kỳ ẩn mình này ngài học tiếng Do-Thái cổ.
 Sau khi rời sa mạc, ngài thụ phong linh mục tại Antiokia năm 377.
Năm 382, ngài cùng Ðức Giám Mục Paulinô sang dự công đồng tại Rôma và được nhiều người ái mộ.  Ðức Giáo Hoàng Đamasô (Damasus) đã chọn ngài làm bí thư và trao cho ngài việc nghiên cứu, phiên dịch Thánh Kinh sang La ngữ.  Ngài không những thông thạo tiếng La-Tinh, Hy-Lạp mà còn cả tiếng Do Thái và Chaldée nữa.  Ngài sửa chữa các bản dịch La-Tinh theo nguyên bản Hy Lạp.  Bản dịch La ngữ này vẫn còn dùng trong phụng vụ Giáo Hội.  Ðó là bản Vulgate. 
Tài hùng biện và tính khí nóng nảy của ngài thường lôi cuốn ngài vào những cuộc tranh luận.  Ngài mạnh dạn đả phá những thái độ quá khích, những quan niệm sai lầm của một số tu sĩ.
Ngài chủ trương đề cao đức trinh khiết và lấy Thánh Kinh làm nền tảng cho đời sống tu đức.
Dù thành công nhiều, nhưng ngài cũng bị một số ganh ghét.  Năm 385, sau khi Ðức Giáo Hoàng Ðamasô qua đời, ngài trở lại Palestina và sống quãng đời còn lại tại Bêlem.  Năm 393, ngài phải đương đầu với một thầy dòng Giovêmê về vấn đề trinh khiết, đồng thời ngài cũng tranh luận với ông Origène qua những vụ án sai lầm về tín lý, về tinh thần Phúc Âm.
Khoảng năm 420, quân Hung-nô xâm chiếm Palestina, phá hủy nhà dòng của ngài tại Bêlem và ngài đã chết tại đây.  Xác ngài được đem về Rôma và được đặt trong đại giáo đường Ðức Bà Cả. 
Ðức Giáo-hoàng Bonifaciô VII suy tôn ngài lên bậc Tiến Sĩ Hội Thánh.
 
Theo gương Thánh Jerome chúng ta cũng tôn quý và dùng Kinh-thánh làm nền tảng cho đời sống tu đức,
vì "không hiểu biết Kinh-thánh là không hiểu biết Chúa Kitô".

doantrang nguyen

unread,
Oct 3, 2011, 3:10:33 PM10/3/11
to chen_com_...@googlegroups.com, TVS

 
Tháng 10 : Kính Đức Mẹ Mân Côi
 
 
Tháng 10 được dành để tôn kính Đức Mẹ Mân Côi.
Theo miêu tả của tu sĩ Alan de la Roch, Dòng Đa Minh (Dominic) thế kỷ XV, Đức Mẹ đã hiện ra với thánh Đa Minh năm 1206 sau khi thánh nhân cầu nguyện và sám hối vì đã không thành công trong việc chống tà thuyết Albigensianism (*).
Đức Mẹ đã khen ngài về sự chiến đấu anh dũng của ngài chống lại tà thuyết và trao cho ngài Chuỗi Mân Côi làm vũ khí phi thường, đồng thời giải thích cách sử dụng và hiệu quả của Chuỗi Mân Côi.  Đức Mẹ bảo thánh Đa Minh rao truyền Chuỗi Mân Côi cho những người khác.
Kinh Mân Côi có nguồn gốc từ chính Thiên Chúa, từ Kinh thánh, và từ Giáo hội.  Không lạ gì khi Chuỗi Mân Côi gần gũi với Đức Mẹ và mạnh mẽ đối với Nước Trời.   Rất nhiều lần Đức Mẹ hiện ra đều cho thấy tay Mẹ cầm chuỗi tràng hạt Mân Côi.
Rất nhiều người đã được ơn từ việc lần Chuỗi Mân Côi.
Chân phước GH Gioan Phaolô II cũng thường xuyên lần Chuỗi Mân Côi khi ngài đi bách bộ.  Nếu xem lại lịch sử, chúng ta thấy có nhiều chiến thắng nhờ Chuỗi Mân Côi.  Truyền thống ban đầu đã có chiến thắng tà thuyết Anbi tại trận Muret năm 1213 nhờ Chuỗi Mân Côi.
Dù không muốn chấp nhận truyền thống đó thì cũng phải chân nhận rằng thánh Giáo-hoàng Piô V đã góp phần chiến thắng đội quân Thổ Nhĩ Kỳ vào Chúa Nhật đầu tháng 10 năm 1571.  Ngay thời điểm đó có Hội Mân Côi (Rosary confraternities) tại Rôma và những nơi khác.  Do đó, thánh Giáo-hoàng Piô V đã truyền phải tôn kính Kinh Mân Côi vào chính ngày đó.
Năm 1573, Đức Giáo-hoàng Grêgôriô XIII công bố việc mừng lễ Đức Mẹ Mân Côi tại các nhà thờ có bàn thờ dâng kính Đức Mẹ Mân Côi.
Năm 1671, Đức Giáo-hoàng Clêmentô X mở rộng lễ này trên toàn cõi nước Tây Ban Nha sau chiến thắng anh dũng lần thứ hai trên người Thổ Nhĩ Kỳ, những người đã có lần (cũng như người Nga) đe dọa phá hủy văn minh Kitô giáo, xảy ra vào ngày 5-8-1716, khi hoàng tử Eugene đánh bại họ tại Peterwardein (Hungary).
Do đó, Đức Giáo-hoàng Clêmentô XI mở rộng lễ Đức Mẹ Mân Côi trong toàn Giáo hội.  Từ ngày ấy đến nay, giáo-hội hoàn vũ đặc biệt kính Đức Mẹ Mân Côi vào tháng 10 và tất cả mọi tín hữu có thói quen đua nhau đọc kinh Mân-Côi trong tháng này. 
Lm. William G. Most đã viết trong cuốn “Đức Maria trong Đời sống Chúng ta” (Mary in Our Lives) như sau :
“Ngày nay, các mối nguy hiểm còn lớn hơn người Thổ Nhĩ Kỳ, không chỉ đe dọa Kitô giáo mà đe dọa cả nền văn minh, Đức Mẹ thúc giục chúng ta trở lại với Chuỗi Mân Côi để được giúp đỡ.  Nếu nhân loại đủ số người làm vậy, đồng thời thực hiện các điều kiện khác mà Đức Mẹ đã đưa ra, chúng ta có lý do chính đáng để tin rằng chúng ta sẽ thoát khỏi mọi mối nguy hiểm”.
Nhưng thiết nghĩ chúng ta cần tích cực lần Chuỗi Mân Côi hàng ngày không những vì mong được lợi cho mình, cho gia đình, cho giáo-hội và cho thế giới…mà trước tiên vì lòng yêu mến Chúa và Mẹ Maria chân thành. 

Sưu Tầm
(Thánh Linh Net)

doantrang nguyen

unread,
Oct 4, 2011, 11:42:52 AM10/4/11
to chen_com_...@googlegroups.com, TVS

Sứ Giả Hòa Bình
 
Thánh Phanxico Assisi, vị sứ giả Hòa Bình, không những đã có một tình bác ái cao độ đối với con người, ngài còn trải dài tình yêu thương ấy đến cả muôn vật, cỏ cây.
Cây cỏ gợi lại cho thánh nhân chính cây thập giá của Chúa Giêsu, do đó, thánh nhân cảm thấy thương tâm vô cùng mỗi khi có người hành hạ cây cỏ.  Ngài nói với người làm vườn như sau:  “Anh hãy để lại một góc vườn nguyên vẹn.  Ðừng sờ đến cây cỏ, hãy để cho chúng sinh sôi nảy nở và lớn lên, ngay cả cỏ dại và hoa dại.”
Mỗi lần đi qua góc vườn ấy, Ngài bước đi nhẹ nhàng và cẩn thận để không sát hại bất cứ một loại sâu bọ, côn trùng nào.
Gặp người ta mang chiên và chim rừng ra chợ bán, Ngài mua hết để rồi phóng sinh chúng.
Ngài nói với chim chóc như sau:  "Hỡi những người anh em nhỏ bé của tôi, anh em phải ca ngợi Ðấng Tạo Hóa hơn ai hết, vì Ngài đã ban cho anh em bộ lông đẹp, giọng hát hay cũng như lúa thóc anh em ăn thỏa thuê mà không phải gieo vãi”.
Với chú chó sói, thánh nhân nhắn nhủ:  "Anh sói ơi, anh quả thật đáng chết, vì anh đã cắn xé trẻ em.  Anh hãy làm hòa với loài người.  Từ nay, anh hãy ăn ở hiền lành và mọi người sẽ cung cấp đầy đủ cho anh”.  Chú sói ấy đã cùng với thánh nhân lên tỉnh và trở thành người bạn thân của các trẻ em ở Gubbio.
  
Hôm nay giáo-hội kính nhớ thánh Phanxicô thành Assisi, còn gọi là Phanxicô Khó Nghèo và cũng được gọi là Phanxicô Năm Dấu vì ngài được phúc lãnh nhận năm dấu thánh của Chúa Giêsu vào thân thể một cách siêu nhiên.  Một con người có tâm hồn như thế quả thực xứng đáng được chọn làm sứ giả Hòa Bình qua mọi thời đại.
Năm 1979, Ðức Gioan Phaolô II đã công bố Thánh Phanxicô là quan thầy của những người khởi xướng phong trào của những người bảo vệ môi sinh.  
Ngài nói trong phần mở đầu sứ điệp Hòa Bình năm 1990 như sau: "Ngày nay, con người mỗi lúc một ý thức rằng Hòa Bình của thế giới không những chỉ bị đe dọa vì cuộc chạy đua võ trang, vì các xung đột giữa các vùng và những bất công liên tục giữa các dân tộc và quốc gia, nhưng còn bởi vì thiếu tôn trọng đối với thiên nhiên nữa".
Ðức Gioan Phaolô II đã nói đến việc bảo vệ và tôn trọng môi sinh như một nghĩa vụ luân lý.
Người Kitô nhận thức được nghĩa vụ ấy, bởi vì Thiên Chúa đã tạo dựng nên muôn vật tốt đẹp và để con người hưởng dụng một cách hợp lý.  
Trong phần kết thúc sứ điệp, Ðức Thánh Cha đã nhắc đến Thánh Phanxicô Assisi như mẫu gương của sự tôn trọng đối với thiên nhiên vạn vật.  Thánh nhân đã mời gọi vạn vật dâng lời chúc tụng và thờ lạy Thiên Chúa.  Trong sự bình an của Thiên Chúa, thánh nhân kiến tạo ngay cả sự hòa hợp với thiên nhiên và sự hòa hợp ấy cũng là điều kiện tiên quyết để được hòa bình với tha nhân.

doantrang nguyen

unread,
Oct 5, 2011, 8:19:49 AM10/5/11
to chen_com_...@googlegroups.com, TVS, LienDuc VA KimLien Nguyen, Cuong CAN, Minh Nga Nguyen Con a/c Thọ
Chợ Hoa
 
Trong những thập niên vừa qua, đã có rất nhiều hội chợ hoa được tổ chức khắp nơi.  Người ta không thể quên hội chợ hoa vĩ đại tại Osaka, Nhật Bản, khai mạc đầu tháng Tư và kết thúc ngày cuối tháng Chín năm 1990 .
Hội chợ hoa này được tổ chức tại thị xã Tsurumi, một vùng đất phát triển theo kế hoạch xây dựng cho thế kỷ 21.  
Trên một khoảng đất rộng 140 mẫu tây, 3 triệu loại hoa và thảo mộc khác nhau trên khắp thế giới đã tề tựu về để khoe sắc tranh hương chào đón du khách.
Vừa bước vào trung tâm hội chợ, một bức tường lớn đan bằng đủ loại hoa, màu sắc rực rỡ đập ngay vào mắt du khách.  Khuôn viên phía tây dành cho các loại hoa cần chăm sóc trong nhà kiếng, cùng với các loại hoa điện tử nhân tạo.  Khách được xem các loại hoa lớn nhất thế giới từ Nam Dương đưa sang.  Du khách cũng có thể say mê với những loại hoa nhân tạo mà hình dạng và màu sắc biến đổi không ngừng, tạo nên hình ảnh của thế giới thần tiên.
Vắng người hơn, ở phía đông, là khuôn viên dành cho các loại hoa: tất cả các loại hoa đều được trồng giữa núi rừng thiên nhiên hùng vĩ.
Giữa hai khuôn viên là một con sông nhỏ, dưới lòng sông có thiết kế những vòi phun nước.  Nước lên mạnh yếu tùy thuộc theo điệu nhạc phát ra từ dàn âm thanh nổi tuyệt hảo ở hai bờ sông.  Cứ nửa tiếng đồng hồ, có một câu chuyện thần thoại được dòng sông kể lại bằng hệ thống phun nước, hòa với tiếng nhạc và ánh đèn màu về đêm, tạo nên một khung cảnh rất nên thơ và thanh bình.
Hoàng đế Nã Phá Luân của nước Pháp đã có lần phát biểu như sau: "Nơi nào hoa tàn, nơi đó con người không thể sống...".
Ai trong chúng ta cũng yêu hoa, ai trong chúng ta cũng thích sống với sự hiện diện của hoa.  Vui, chúng ta thích ngắm hoa, buồn, chúng ta cũng thích nhìn hoa.  Hoa dường như gần gũi và thông cảm với con người...
Nhìn hoa sen, chúng ta tưởng tượng ra cảnh gió mát trên bờ hồ.
Ngắm hoa mai, chúng ta như muốn đi vào mùa Xuân bất tận.
Nhìn hoa hồng, chúng ta như thấy dậy lên những tình cảm thanh cao.
Ngắm hoa huệ giữa đồng, chúng ta chợt nghĩ đến cảnh đời sớm nở tối tàn...
 
Tháng Mười hằng năm, cùng với những cánh hoa dâng lên Mẹ Maria, chúng ta chiêm ngắm Mẹ.  
¨      Mẹ Maria là đóa hoa đẹp nhất của vũ trụ.  Nhìn lên Mẹ, chúng ta hưởng nếm được tất cả mọi hương sắc của thánh thiện...
¨      Mẹ Maria là đóa hoa luôn gần gũi và cảm thông với chúng ta.  Lúc nào Mẹ cũng có thể nở nụ cười của khích lệ, cổ vũ cho chúng ta.  Lúc nào Mẹ cũng có thể hướng ánh mắt cảm thông, tha thứ về phía chúng ta...
Chạy đến với Mẹ Maria, chiêm ngắm hương thơm thánh thiện của Mẹ, chúng ta hãy xin Mẹ biến chúng ta thành những cánh hoa để giúp cho đời thêm tươi thắm.
¨      Giữa sa mạc khô cằn tình người, xin Mẹ Maria luôn làm nở lên trong chúng ta những cánh hoa của yêu thương, bác ái, cảm thông, tha thứ, phục vụ...
¨      Giữa sa mạc khô cằn niềm tin và hy vọng, xin Mẹ Maria làm nở lên trong chúng ta những cánh hoa của tin tưởng, phó thác, cậy trông...

doantrang nguyen

unread,
Oct 6, 2011, 8:49:38 PM10/6/11
to chen_com_...@googlegroups.com, TVS
Quý thực khách thân thương,
Xin quý vị cho nhà bếp được nghỉ phép vài ngày,
đến thứ Ba 11 October 2011 sẽ trở lại phục vụ hầu quý vị. 
Chân thành cám ơn.

doantrang nguyen

unread,
Oct 12, 2011, 9:27:04 AM10/12/11
to chen_com_...@googlegroups.com, TVS
Quý thực khách thân thương,
Xin cám ơn một số vị đã email hỏi thăm và chúc nhà bếp nghỉ phép bình an.
Hôm nay đt trở lại bếp với một tâm tình vui tươi, phấn khởi...
 
Trong tình thương của Mẹ Maria,
đt
 
~^~
 
Báu Vật Cuối Cùng
 
Ngày 3 tháng 10 năm 1615, tại Glasgow bên Tô Cách Lan (Scotland), một vị thừa sai lừng danh là cha Ogilvie bước lên máy chém vì tội rao giảng Phúc Âm.
Trong giây phút cuối đời, đứng trên đoạn đầu đài thấy hàng ngàn người đứng coi, muốn để lại cho họ một kỷ niệm và một bảo đảm đức tin, vị tử đạo lấy ra vật cuối cùng còn lại trong mình: đó là một cỗ tràng hạt...  Ngài cố sức ném tràng chuỗi vào giữa biển người...
 Tràng chuỗi đã rơi xuống trúng một ông hoàng xứ Hungary đang trên đường chu du học hỏi, tình cờ ghé qua Glasgow.  Chuỗi tràng hạt này đã bám riết ông khắp nơi, mãi đến ngày ông quyết định rời bỏ giáo phái Calvin để quay trở lại với Công Giáo.
Những mẩu chuyện trên đây không phải là ít trong lịch sử Giáo Hội.
Việc sám hối luôn gắn liền với kinh Mân Côi.  Ðó là mệnh lệnh mà Mẹ Maria đã ban bố tại Fatima năm 1917: "Hãy năng lần hạt Mân Côi".
Thánh Grêgoriô thành Nysse thường dùng thí dụ sau đây để nói về ảnh hưởng của kinh Mân Côi trong đời sống Kitô của chúng ta:
"Mỗi người chúng ta được ví như một họa sĩ, linh hồn chúng ta là một khung vải còn nguyên vẹn, màu sắc được dùng là các nhân đức Kitô giáo, hình ảnh phải họa theo là chính Chúa Giêsu Kitô, hình ảnh sống động của Chúa Cha.  Họa sĩ nào càng muốn hình ảnh họa lại được giống hình mẫu, càng phải năng ngắm nhìn mẫu khi đặt bút vẽ".
 
Mẹ Maria là mẫu gương của đời sống Kitô.
Qua kinh Mân Côi, chúng ta chiêm ngắm các biến cố trong cuộc đời của Chúa Giêsu và Mẹ Maria.  Nhờ ôn đi, đọc lại nhiều lần, các biến cố đó sẽ thấm nhập tâm hồn chúng ta để dần dần biến chúng ta theo khuôn mẫu của các Ngài.
Kinh Mân Côi không những là hình thức đạo đức có tính cách cá nhân, nhưng còn là chất keo nối kết mọi người trong gia đình lại với nhau.  Còn hình ảnh nào được ghi đậm trong tâm khảm chúng ta cho bằng những giờ kinh Mân Côi đọc chung trong gia đình... Gần đây, người ta phát động việc đọc kinh Mân Côi trong gia đình với khẩu hiệu: "Một gia đình cầu nguyện chung với nhau là một gia đình đứng vững".
"Nơi nào có hai hay ba người ngồi lại với nhau vì danh Ta, Ta sẽ ở giữa họ".  Mà nơi nào có Thiên Chúa, nơi đó cũng sẽ có Tình Yêu.  Vì Tình Yêu là chất men liên kết mọi người trong gia đình lại với nhau.
Việc cầu nguyện trong gia đình, nhất là với kinh Mân Côi, là yếu tố bảo đảm sự bền vững của hôn nhân và khơi dậy ơn gọi trong gia đình.
Trong tông huấn về việc tôn kính Mẹ Maria, Ðức Phaolô VI đã nhắn nhủ chúng ta như sau:
"Những điều kiện sinh sống đổi thay của ngày nay khiến việc hội họp gia đình không được dễ dàng và dù khi sum họp được thì nhiều hoàn cảnh lại làm cho cuộc họp mặt khó biến thành một dịp nguyện cầu. Các gia đình muốn sống trọn vẹn ơn gọi và tinh thần của gia đình Công Giáo phải tận lực lướt thắng những áp lực cản trở gia đình không thể hội họp và cầu nguyện chung".
Tinh thần đạo đức của các phần tử trong gia đình được thể hiện và tăng triển trong những giờ cầu nguyện chung, gồm cả việc đọc kinh hay đọc sách Thánh, chia sẻ lời Chúa, nhưng thuận lợi hơn cả đối với các gia đình Việt Nam đó là việc đọc kinh Mân Côi.  
Cũng chính Ðức Cố Giáo Hoàng VI khuyên nhủ chúng ta: "Sau việc đọc kinh Nhật Tụng thì việc đọc kinh Mân Côi được coi như một trong những kinh cầu nguyện chung tốt đẹp nhất, hữu hiệu nhất mà gia đình Công Giáo được khuyến khích đọc".

doantrang nguyen

unread,
Oct 13, 2011, 2:06:47 PM10/13/11
to chen_com_...@googlegroups.com, TVS

Bưu Ðiện Lớn Nhất Thế Giới
 
Có lẽ bưu điện lớn nhất thế giới phải là bưu điện trước cổng Thiên đàng...
Mỗi ngày có không biết bao nhiêu thư viết bằng không biết bao nhiêu ngôn ngữ được gửi đến... Tất cả đều là những lời cầu xin.  Theo sự phân loại của các thiên thần, thì ba vị nhận được nhiều thư nhất đó là Ðức Maria, rồi đến thánh Antôn Pađua và thánh nữ Rita Cascia.
Một ngày kia, không còn cầm được tính tò mò, các thiên thần không những đã mở thư gửi cho các thánh, mà ngay cả các lá thư gửi đến cho Ðức Mẹ, các vị cũng không tha.  Nhưng các vị thiên thần đã thất vọng bởi vì nội dung và cách viết thư đều giống nhau.  
Ðại khái thì cũng chỉ là: Lạy Mẹ, xin chữa cho con chóng lành bệnh... Xin cho con của con được khỏe mạnh... Xin cho con tìm được việc làm... Xin giúp con thi đỗ... Xin cho con tìm lại được chồng con...
Cả một loạt kinh cầu mà các vị thiên sứ cũng đành phải nhàm chán, đến độ các vị phải thốt lên: dường như Thiên Chúa chỉ tạo dựng con người có một cái miệng, một cái bụng.  Họ không có linh hồn, bởi vì tất cả những lời cầu xin của họ đều qui về hai bộ phận ấy.
Ðức Maria ngày nào cũng như ngày nào đều phải đọc lại những lá thư có cùng nội dung và một công thức.  Tình cờ, có một lá thư làm Mẹ chú ý.  Lá thư đó viết như sau: "Lạy Trinh Nữ rất thánh, con chỉ xin Mẹ một điều mà thôi, xin Mẹ cho con mỗi ngày được nên giống Chúa Giêsu hơn".
Ðọc xong lá thư, Ðức Maria bật khóc vì cảm động.  Ngài nói với các thiên sứ phục vụ tại bưu điện: "đây là lá thư mà Mẹ mong đợi từng ngày".
 
Theo sự thăm dò của nhiều tờ báo lớn trên thế giới, thì tước hiệu "Người đàn bà của năm 1987" đã được dành cho thủ tướng nước Anh là bà Margueret Thatcher, người đã đắc cử vào chức vụ này liên tiếp trong ba nhiệm kỳ.
Ðứng hàng thứ hai trong danh sách những người đàn bà trong năm đó là nữ tổng thống Aquinô của Phi Luật Tân, người đã phải đương đầu với không biết bao nhiêu xáo trộn trong nước.
Người thứ ba trong danh sách năm ấy là Mẹ Têrêsa thành Calcutta (người đã được lãnh giải thưởng Nobel về hòa bình năm 1979).
Kế đó là nữ hoàng Elizabeth II của nước Anh, bà Simone Veil, chủ tịch quốc hội Âu Châu v.v...
Ðối với chúng ta, những người Kitô, thì người đàn bà trong năm và nhất là trong tháng Mười này phải là Mẹ Maria, người Mẹ không phải của một gia đình, một dân tộc mà là của tất cả nhân loại.  Mẹ là vị Nữ hoàng không phải của một dân tộc, nhưng là của tất cả hoàn cầu...
Mẹ đang lắng nghe chúng ta trong suốt tháng 10 này.  
Chúng ta hãy thưa với Mẹ tất cả những gì chúng ta đang cần.  Nhưng điều mà Mẹ luôn chờ đợi để trợ giúp chúng ta: đó là mỗi ngày chúng ta nên giống Chúa Giêsu con Mẹ.  Bởi vì, trong tất cả mọi ơn cần cho chúng ta, đó là ơn cao trọng nhứt.
Càng nên giống Chúa Giêsu, chúng ta càng nên giống Mẹ và được đến gần Mẹ.

doantrang nguyen

unread,
Oct 14, 2011, 12:44:49 PM10/14/11
to chen_com_...@googlegroups.com, TVS

Tôi Biết Chạy Ðến Với Ai?
 
Sau khi phản bội Chúa bằng một cái hôn, Giuda cảm thấy thất vọng đến độ không còn nghĩ rằng mình có thể được tha thứ nữa. Ông cầm 30 đồng bạc là giá của sự phản bội và đi vào Ðền thờ để trả lại cho các thượng tế và kỳ lão. Sau đó, ông ra ngoài lấy dây thắt cổ tự vận.
Câu chuyện ấy đã được xen vào vở tuồng thương khó nổi tiếng của dân làng Oberammergau bên Ðức.
Cứ 10 năm một lần, theo một lời thề hứa mà ông cha đã để lại từ mấy trăm năm qua, người dân làng diễn ra cuộc tử nạn của Chúa giêsu.  Vở kịch thu hút khán giả từ khắp nơi trên thế giới.
Người ta kể lại rằng lần kia, một em bé gái 7 tuổi ngồi cạnh mẹ để xem vở tuồng.  Người đóng vai Giuda, trong cơn thất vọng não nề đã thốt lên: "Tôi biết đi đến với ai bây giờ?  Tôi đã phản bội Thầy tôi.  Thế là hết!  Tôi không biết phải chạy đến với ai nữa".
Em bé ngồi bên cạnh mẹ cảm thông cho số phận của kẻ chìm đắm trong thất vọng.  Em muốn tìm cách để cứu vớt con người khốn khổ ấy.  Em bèn quay sang mẹ và nói lớn đến độ tất cả mọi khán thính giả có mặt trong hội trường đều nghe được: "Má ơi, sao ông ta không chạy đến với Mẹ Maria?".
 
Chúa Giêsu cũng có một người Mẹ như mọi người, và nhất là Ngài cũng trải qua một thời thơ ấu như mọi người.
Kỷ niệm của những giây phút ngồi trên gối Mẹ, những lần sà vào lòng Mẹ, những lần mếu máo khi lạc mất Mẹ, hay những lần vòi vĩnh Mẹ... hẳn phải luôn đậm nét trong ký ức của Chúa Giêsu.  Có lẽ chính kinh nghiệm của bản thân ấy đã trở thành bài học về hồn nhiên trong trắng, tin tưởng, phó thác của tuổi thơ mà Chúa Giêsu luôn đề ra cho chúng ta khi Ngài nói: "Nếu các ngươi không nên giống như trẻ nhỏ, các ngươi không được vào nước Trời".
Tuổi thơ thường gắn liền với mẹ.  Còn âm thanh nào bộc phát, tự nhiên, quen thuộc và êm dịu trên môi của trẻ thơ cho bằng tiếng "Mẹ".  
Khi vui, trẻ thơ kêu mẹ, lúc đói, trẻ thơ cũng kêu mẹ.
Khi tỉnh thức, trẻ thơ cũng kêu mẹ, lúc ngái ngủ, trẻ thơ cũng kêu mẹ...
Mẹ là tất cả của trẻ thơ.
Mời gọi chúng ta mặc lấy tâm tình của trẻ thơ để được vào nước Trời, hẳn Chúa Giêsu cũng muốn nhắn gửi chúng ta cho Mẹ của Ngài.  
Trở nên trẻ thơ trong nước Trời cũng có nghĩa là biết chạy đến với Mẹ Ngài.  
Trở nên trẻ thơ trong nước Trời cũng có nghĩa là mặc lấy tâm tình của chính Mẹ Ngài, bởi vì còn ai trong trắng, tin tưởng, phó thác cho bằng Mẹ.

doantrang nguyen

unread,
Oct 17, 2011, 8:21:30 AM10/17/11
to chen_com_...@googlegroups.com, TVS
Hôm nay nhà bếp xin gửi đến quý vị một chén cơm
mà có thể quý vị đã thưởng thức rồi nhưng xin xem lại để tâm hồn, nghị lực và trái tim được bồi dưỡng.
Xin click vào links dưới đây để nhận CCTN.
Xin cám ơn người đã gửi cho dt xem lại để có hứng khỏi chia sẻ với thực khách khắp nơi.
Xin cùng cầu nguyện cho tất cả những bệnh nhân trên toàn thế giới,
nhất là những bệnh nhân nghèo.
Đt xem hoài, xem đi xem lại ... nhung vidéo clips về Nick Vujicic...
mà nước mắt vẫn rơi ...
Theo thiển ý của dt, người này đáng gọi là thánh sống. 
Nick Vujicic không làm phép lạ chữa bệnh nhãn tiền,
không phát minh những việc vĩ đại cống hiến hoà bình cho thế giới,
cũng chẳng phải là một tu sĩ đi loan báo Tin Mừng ở những nơi nguy hiểm…
Nhưng quả thực anh đã chữa lành hàng triệu bệnh nhân tâm hồn
(thứ bệnh ghê gớm hơn bệnh đau thân xác).  
Anh đã và đang tiếp tục góp phần lớn cho việc phát minh ra tình thương
(một sản phẩm vô hình)
nối kết con người với Thiên Chúa.  
Và anh đúng là một nhà truyền giáo đại tài,
là một tông đồ của Chúa Giêsu Kitô.
Cảm tạ Chúa về cuộc đời và sức sống của Nick Vujicic.
 
 
 
:x lovestruck
 
 

doantrang nguyen

unread,
Oct 18, 2011, 10:50:50 AM10/18/11
to chen_com_...@googlegroups.com, TVS
Lòng Ðầy Miệng Mới Nói Ra
 
Người ta thường bảo: "Lòng đầy miệng mới nói ra",  hay nói cách khác, "Văn tức là người".
Hai câu nói này có thể áp dụng rất đúng vào vị thánh Giáo Hội mừng kính hôm nay: Thánh Luca, vị thánh viết Phúc-Âm Chúa Giêsu.
Chúng ta không có được những sử liệu để biết về cuộc đời của thánh Luca ngoài danh hiệu thánh Phaolô nói về ngài:  "Luca, vị y sĩ rất thân mến của chúng tôi...".
Vì thế, chúng ta phải tìm hiểu về con người của thánh Luca qua hai tác phẩm ngài biên soạn, nhất là qua sách Phúc Âm, thường được trao tặng những biệt hiệu sau đây:
1.      Phúc Âm thánh Luca là Phúc Âm của Lòng Thương Xót:
Thánh Luca đặc biệt nêu bật lòng ưu ái và sự kiên nhẫn của Chúa Giêsu đối với những tội nhân và những kẻ đau khổ.  Ngài luôn mở rộng đôi tay để đón nhận họ: những người xứ Samaria, những kẻ bị bệnh phong hủi, những người thu thuế, những kẻ phạm tội công khai, những người nghèo cũng như các mục đồng thất học.
Ngụ ngôn về người phụ nữ ngoại tình, về một con chiên lạc, một đồng tiền bị đánh mất, về đứa con hoang đàng và người trộm lành được ngòi bút của thánh Luca ghi lại rất linh động và xúc tích.
2.  Phúc Âm thánh Luca là Phúc Âm của Ơn Cứu Rỗi phổ quát và đại đồng:
Chúa Giêsu dang rộng đôi cánh tay, chết treo trên thập giá là cho tất cả mọi người.  Trong luồng tư tưởng này, thánh Luca ghi lại gia phả của Chúa Giêsu ngược lại đến nguyên tổ Ađam chứ không phải chỉ ghi lại Chúa Giêsu là con vua Ðavit, con ông Abraham như thánh sử Matthêu.  Và trong lúc Chúa Giêsu hoạt động rao giảng Tin Mừng, nhiều người dân không phải là Do Thái cũng được Ngài ân cần tiếp đón và thi ân.
3.  Phúc Âm thánh Luca là Phúc Âm của những người nghèo, trong đó những người đơn sơ, nhỏ bé, đóng một vai trò quan trọng, như: ông Giacaria và bà Ysave, Ðức Maria và thánh Giuse, những người mục đồng, ông Simêon và bà góa Anna.
4.  Phúc Âm thánh Luca là Phúc Âm của sự cầu nguyện và của Chúa Thánh Thần:
 Luca thường mở đầu đoạn Phúc Âm với lời ghi nhận: "Chúa Giêsu đang cầu nguyện" và Thánh Thần mang Giáo Hội đến chỗ hoàn hảo cuối cùng.
5.  Phúc Âm thánh Luca là Phúc Âm của niềm vui:
Thánh Luca thành công trong việc phác họa hình ảnh Giáo Hội sơ khai tràn đầy niềm hân hoan vì cảm nghiệm được mầu nhiệm Phục Sinh, sự hiện diện của Chúa Thánh Thần và Ơn Cứu Rỗi.
 
Mừng lễ kính thánh Luca, chúng ta hãy cùng nhau đọc đoạn cuối của Phúc Âm, gồm những dòng có thể so sánh như chiếc gạch nối liên kết sách Phúc Âm với sách Tông Ðồ Công Vụ để diễn tả một sinh hoạt rất quan trọng của Giáo Hội và của mọi tín hữu Kitô:  "Ðoạn Chúa dẫn các môn đệ đi về phía làng Bêtania. Chúa giơ tay chúc phúc cho họ.  Ðang khi Chúa phán, Chúa rời khỏi họ mà lên trời.  Các môn đệ thờ lạy Chúa rồi trở về Giêrusalem, lòng đầy hân hoan.  Họ có mặt luôn luôn trong đền thờ để ca tụng và cảm tạ Thiên Chúa".
Dõi theo gương của các môn đệ tiên khởi của Chúa Giêsu, chúng ta hãy luôn dâng lời ca tụng và cảm tạ Thiên Chúa.

doantrang nguyen

unread,
Oct 20, 2011, 11:29:25 AM10/20/11
to chen_com_...@googlegroups.com, TVS
Hãy Mai Táng Chính Mình
 
Một vị linh mục nọ đã có một sáng kiến rất ngộ nghĩnh để đánh động giáo dân trong giáo xứ.
Một buổi sáng Chúa Nhật nọ, dân chúng bỗng nghe một lời rao báo như sau: "Một nhân vật trong giáo xứ vừa qua đời.  Tang lễ sẽ được cử hành vào sáng thứ Tư tới".  Nghe lời loan báo ấy, cả giáo xứ nhốn nháo lên.  Người nào cũng muốn biết con người quan trọng ấy là ai.
Ðúng ngày tang lễ, mọi người trong giáo xứ nườm nượp kéo nhau đến nhà thờ.  Từ cung thánh cho đến cuối nhà thờ, không còn một chỗ trống.  Người ta đến không phải để cầu nguyện cho người quá cố cho bằng để nhìn mặt lần cuối cùng con người mà ai cũng muốn biết.
Sau thánh lễ, vị linh mục đến mở nắp quan tài để cho mọi người đến chào từ biệt lần cuối cùng người quá cố.  Ai ai cũng sắp hàng để nhìn cho kỳ được người chết.  Nhưng ai ai cũng đều ngạc nhiên, bởi vì thay cho thi hài của người chết, mỗi người chỉ nhìn thấy trong quan tài một tấm gương và dĩ nhiên, khi cúi nhìn vào quan tài, mỗi người chỉ nhìn thấy dung nhan của mình mà thôi.
Chờ cho mọi người làm xong nghi thức từ biệt ấy, vị linh mục mới giải thích: "Như anh chị em đã có thể nhận thấy, tôi đã cho đặt vào trong quan tài một tấm kính.  Con người mà anh chị em nhìn thấy trong quan tài không ai khác hơn là chính mỗi người trong chúng ta.  Vâng, đúng thế, thưa anh chị em, mỗi người chúng ta cần phải mai táng chính mình... Thánh lễ vừa rồi đã được cử hành cho tất cả chúng ta".
 
Bắt đầu sứ mệnh công khai của Ngài bằng cử chỉ dìm mình xuống dòng nước sông Giodan, Chúa Giêsu muốn loan báo cho mọi người thấy rằng Ngài đã vâng phục ý Chúa Cha để đi vào Cái Chết và nhờ đó cứu rỗi nhân loại.  Một cách nào đó, mầu nhiệm của Sự Chết và Sống lại đã được diễn tả qua việc Chúa Giêsu dìm mình trong dòng nước.
Thiết lập Phép Rửa như cửa ngõ để đưa chúng ta vào cuộc sống trường sinh, Chúa Giêsu cũng muốn chúng ta tham dự vào mầu nhiệm chết và sống lại của Ngài.  Dìm mình trong nước của Phép Rửa, chúng ta khởi đầu cuộc sống Kitô hữu bằng chính cái chết.  Sống đối với chúng ta có nghĩa là chết:
¨      chết cho những khuynh hướng xấu,
¨      chết cho những đam mê xấu,
¨      chết cho tội lỗi, chết cho ích kỷ,
¨      chết cho hận thù…
Cuộc sống do đó đối với chúng ta cũng là một cuộc mai táng liên lỉ.  Cũng như hạt lúa rơi xuống đất phải thối đi, cũng thế chúng ta phải chấp nhận chôn vùi con người cũ tội lỗi của chúng ta.
 
Đức Ông Nguyễn Văn Tài


 

doantrang nguyen

unread,
Oct 21, 2011, 10:46:17 AM10/21/11
to chen_com_...@googlegroups.com, TVS, ha vietnam nguyen ngoc ha

Thiên Chúa Không Thất Vọng Về Con Người
 
 
Văn hào Nga Dostoievski, với những tác phẩm nổi tiếng như “Tội ác và Hình phạt”, “Anh em nhà Karamazov”,  là người đã trải qua một cuộc đời đầy sóng gió.
Sau một thời gian dài bị giam cầm vì lý do chính trị, ông bị kết án tử hình.  Nhưng, như một phép lạ, vào giữa lúc sắp sửa bị hành quyết, ông bỗng nhận được lệnh tha.  Người viết tiểu sử của ông kể lại như sau:
Thời gian trong tù đã in đậm nét trên quãng đời còn lại của ông.  Từ trên chiếc máy chém nhìn xuống đám người đang đứng dưới chân mình, ông chỉ còn thấy họ là những người bị áp bức, những người nô lệ đáng thương.  Dù họ có phạm tội ác tày trời đi nữa, tâm hồn họ vẫn là tâm hồn của những con người vô tội, do đó đáng được sự tha thứ.
Khi bước xuống khỏi máy chém, Karamazov thấy mọi sự như vô nghĩa.  Ðiều duy nhất còn có ý nghĩa đối với ông chính là tình yêu, và cho dù trong suốt 30 năm sau, cuộc đời của ông đắm chìm trong bùn nhơ của tội lỗi, của khốn khổ, của ô nhục, ông luôn nhìn mọi sự qua lăng kính của yêu thương.  Một lần bị đưa lên máy chém ấy cho ông hiểu rằng con người đau khổ, tất cả mọi người đều đáng cảm thông, thương mến.  Ðó là sứ điệp mà Karamazov công bố suốt cuộc đời của ông.
Cả cuộc đời của ông là một cố gắng không ngừng để diễn đạt câu nói: "Hỡi người anh em, không có gì có thể ngăn cản tôi yêu thương bạn".
 
Nếu có những lúc chúng ta cảm thấy thất vọng về con người đốn mạt của chúng ta, nếu có những lúc chúng ta không còn tin tưởng ở tình người nữa, chúng ta hãy nhìn lên Chúa Giêsu.  Chúng ta thấy ngay ánh mắt nhân từ, cảm thông của Ngài.
¨      Khi Zakêu, thủ lãnh của phường thu thuế, leo lên cây cao để thấy Ngài, Chúa Giêsu đã ôn tồn nói với ông: "Hôm nay, tôi đến thăm nhà ông".
¨      Khi người đàn bà bị bắt quả tang phạm tội ngoại tình được dẫn ra trước mặt Ngài, Chúa Giêsu nhỏ nhẹ nói với bà: "Chị hãy về đi, tôi không kết án chị".
¨      Khi Maria Madalêna đến quỳ dưới chân Ngài, Chúa Giêsu đã không hắt hủi cô.
¨      Khi Phêrô phản bội Ngài, Chúa Giêsu nhìn ông với tất cả trìu mến, thông cảm.
¨      Khi tên trộm cừu bị treo trên thập giá hướng về Ngài, Chúa Giêsu đã hứa với anh: "Hôm nay, anh sẽ ở cùng Ta trên Thiên Ðàng".
¨      Ngài đã ngồi cùng bàn với phường thu thuế, bọn đĩ điếm, kẻ tội lỗi.
¨      Ngài tha thứ những kẻ đóng đinh Ngài vào thập giá.
¨       
Qua cách cư xử của Chúa Giêsu, Thiên Chúa muốn nói với chúng ta rằng: Ngài yêu thương con người, bởi vì Ngài không thể chối bỏ hình ảnh của Ngài nơi con người.  Chính ánh lửa ấy khiến cho Thiên Chúa vẫn luôn nhận ra được hình ảnh của mình nơi con người, để không bao giờ thất vọng về con người.

doantrang nguyen

unread,
Oct 24, 2011, 3:33:37 PM10/24/11
to chen_com_...@googlegroups.com, TVS, ha vietnam nguyen ngoc ha
Ngày Liên Hiệp Quốc
 
Vào năm 1945, ba quốc gia gây chiến Ðức, Italia, Nhật mang bộ mặt tan tác tả tơi của những nước bại trận.
Ða số những thành phố lớn tại Ðức, cũng như hai thành phố Hiroshima và Nagasaki tại Nhật chỉ còn là những đống gạch vụn, những thành phố chết.
Hình ảnh của thế giới, nhất là tại các quốc gia bị chiến tranh tàn phá trong những năm "39-45" có lẽ không khác gì bộ mặt của trái đất sau trận lụt Ðại Hồng Thủy, khi trận lụt vĩ đại gây ra do những trận mưa lũ kéo dài 40 ngày đêm đã giết hại mọi sinh vật, như tác giả sách Khởi Nguyên viết: "Mọi loài xác thịt động đậy trên đất đều tắt thở: chim chóc, thú vật, mãnh thú... tất cả các vật trên cạn đều bị xóa sạch trên mặt đất từ người cho đến xúc vật, côn trùng và chim trời...".
Từ đống tro tàn của thế chiến thứ hai, một ý nghĩa đã được manh nha và Liên Hiệp Quốc đã thành hình với mục đích bảo vệ an ninh và xây dựng hòa bình. Vì như một chính trị gia đã phát biểu: "Nếu con người không hủy diệt chiến tranh, chiến tranh sẽ hủy diệt con người".
Nhưng từ ngày tổ chức Liên Hiệp Quốc được thành lập vào năm 1945 đến nay không biết bao nhiêu cuộc chiến song phương cũng như nội bộ đã xảy ra.
Những bàn tay con người vẫn được dùng để giơ gươm, để lảy cò, để bấm nút nhữntg khí giới giết người. Vì thế súng vẫn nhả đạn và máu tươi vẫn tuôn rơi, lòng đất mẹ vẫn thấm máu con người.
 
Ngày 24 tháng 10 hằng năm, bao nhiêu lá cờ của mọi quốc gia đã được trưng lên trong những buổi lễ kỷ niệm ngày Liên Hiệp Quốc được thành lập, bao nhiêu sinh hoạt đã được tổ chức để nhắc nhở con người, không phân biệt màu da, tiếng nói, không phân biệt tín ngưỡng hay quan niệm về thể chế chính trị, ý nghĩa của tổ chức mang mục đích bảo vệ an ninh và xây dựng hòa bình.
Nhưng thiết nghĩ, hòa bình thế giới không thể được thiết lập nếu lòng người chưa đạt được sự an bình, vì nếu những tâm tình ganh ghét, ghen tuông, nghi kỵ, nếu những tư tưởng lợi dụng, đàn áp, bóc lột vẫn còn âm ỉ cháy trong lòng chúng ta, thì ngọn lửa chiến tranh vẫn còn có thể bùng cháy bất cứ lúc nào.

doantrang nguyen

unread,
Oct 25, 2011, 7:49:04 AM10/25/11
to chen_com_...@googlegroups.com, TVS, ha vietnam nguyen ngoc ha

Hãy Ðến Với Ta
 
Tại Roma có một ngôi thánh đường cổ tên là Dominus Sub Aquis, nghĩa là Chúa ở dưới nước...
Du khách đến Roma thường đến viếng thăm ngôi thánh đường này, vì phía trên bàn thờ, có một tượng thánh giá rất đặc biệt: bất cứ ai đến quỳ trước tượng thánh giá và cầu nguyện với tất cả thành tâm đều nhận được sức mạnh và niềm an ủi thâm sâu...
Người ta kể lại rằng tác giả của tượng thánh giá bằng cẩm thạch này đã mất rất nhiều năm mới hoàn thành được tác phẩm.  Hơn hai lần, mỗi khi treo bức tượng lên để ngắm nhìn, ông lại cho kéo xuống và đập phá đi vì ông cho rằng tác phẩm vẫn chưa diễn đạt được điều ông mong muốn...
Sau nhiều năm bỏ dở, ông lại bắt tay vào công trình lần thứ ba.  Nhưng chính lúc ông miệt mài chú tâm vào công việc thì cũng là lúc ông gặp nhiều thử thách nhất.  Nhiều người ganh tỵ nên tìm cách hạ uy tín của ông.  Vợ con ông qua đời trong những hoàn cảnh thật đau thương.  Người nghệ sĩ chỉ còn biết kêu cầu xin Chúa giúp ông chịu đựng được mọi gian lao thử thách.
Ai cũng tưởng rằng cơn thử thách đã khiến ông bỏ cuộc.  Trái lại, ông càng miệt mài chú tâm vào công trình.  Người nghệ sĩ dồn tất cả niềm đau của mình lên khuôn mặt của Ðức Kitô.  Bức tượng của Chúa Giêsu trên thập giá không là một phiến đá lạnh lùng, xa lạ, mà trở thành niềm đau đậm nét của một tâm hồn.
Bức tượng đã trở nên sống động và có sức thu hút do chính tâm tình mà người nghệ sĩ đã muốn tháp thập vào đó.
 
"Hỡi tất cả những ai gồng gánh nặng nề, hãy đến với Ta và Ta sẽ nâng đỡ bổ sức cho".
Lời mời gọi trên đây của Chúa Giêsu hẳn phải đem lại cho chúng ta an ủi đỡ nâng, nhất là trong những lúc chúng ta gặp đau khổ, thử thách.  Chúa Giêsu như muốn nói với chúng ta rằng Ngài đang có đó, Ngài có mặt trong từng phút giây của cuộc sống chúng ta,  Ngài mang lấy tất cả những sầu đau, buồn tủi của chúng ta.  
Mãi mãi, Ngài vẫn là Ðấng Cứu Chuộc chúng ta.  
Mãi mãi, Ngài đến với chúng ta như đến với những người phong hủi, những kẻ bệnh tật, kẻ tội lỗi, phường thu thuế...
Ngài đón nhận tất cả mọi khổ nhọc, khó khăn của chúng ta.
Và bởi vì Ngài mang lấy mọi khổ đau của con người, cho nên Ngài cũng tự đồng hóa với con người, nhất là những người nghèo khổ, bất hạnh.  Trên những khuôn mặt gần như không còn hình tượng của con người nữa, chúng ta phải nhận diện được chính Ngài.  Ngài đã từng nói với chúng ta: "Ai cho những kẻ bé mọn nhất, dù chỉ một chén nước lã thôi, họ đã cho chính Ta vậy".
Trút lên Ngài tất cả gánh nặng của khổ đau, được ngài nâng đỡ bổ sức, chúng ta cũng hãy mang lại an ủi đỡ nâng cho mọi người xung quanh.
Sự đau khổ nào cũng có sức liên kết con người.
Kết hiệp với Ðức Kitô trên thập giá, chúng ta cũng dễ dàng liên đới, cảm thông với mọi người đang đau khổ...

doantrang nguyen

unread,
Oct 26, 2011, 1:01:56 PM10/26/11
to chen_com_...@googlegroups.com, TVS, ha vietnam nguyen ngoc ha

Chữ Thập Ðỏ
 
Buổi sáng ngày 24/6/1859, Henri Dunant, một thương gia trẻ tuổi người thụy Sĩ, thức giấc với nhiều bận tâm.
Từ mấy ngày nay, anh đang trọ tại một lữ quán nghèo thuộc miền Castiglione delle Stiviere bên Italia.  Anh đến Italia với một công tác rất táo bạo, đó là gặp cho kỳ được Hoàng Ðế Napoleon đệ tam của nước Pháp để xin cấp cho anh giấy phép được thiết lập một số nhà máy xay lúa tại Algerie, lúc bấy giờ đang là thuộc địa nước Pháp...
Từ trong quán trọ nhìn ra, anh thấy từng đoàn binh sĩ Pháp di chuyển về cánh đồng Solferino...
Và những gì phải xảy ra đã xảy ra... 300 ngàn con người từ hai phía đã giáp chiến.  Tiếng súng nổ, tiếng người la hét giãy giụa. Khi màn đêm xuống, tiếng súng thưa dần, người ta chỉ còn nghe thấy tiếng rên la của các thương binh từ hai phía... Giờ phút này Henri Dunant không còn nghĩ gì đến dự án thiết lập các nhà máy xay lúa tại Algerie nữa.  Thay vào đó, nỗi oán ghét chiến tranh và sự cảm thông với các thương binh mỗi lúc một xâm chiếm tâm hồn anh, nhất là khi người ta bắt đầu di chuyển các thương binh vào các làng mạc...
Một người lính Pháp vừa lê lết vừa xin nước uống.  Nguyên một bàn chân đã bị cắt đi khỏi thân thể.  Dunant dìu anh vào quán trọ. Cùng với các y sĩ của các phe đang tham chiến, Henri Dunant đã động viên tất cả dân làng để mang thực phẩm và thuốc men đến cho các thương binh, bất kể họ thuộc bên nào.
Trong những ngày ấy, thay cho dự án kinh doanh, Henri Dunant đã dành thời giờ đê viết lại hồi ký về trận Solferino.
Anh mô tả lại tất cả những gì anh đã chứng kiến và kêu gọi tất cả những người thiện chí trên thế giới hãy giúp anh để chấm dứt thảm cảnh ấy.  Không mấy chốc, cuốn sách đã được dịch ra nhiều thứ tiếng và được gửi đến các Chính Phủ trên thế giới.  Ngay tức khắc, một tổ chức nhân đạo tại Génève đã thỏa thuận trợ giúp cho công tác của Dunant.  Anh đi khắp các thủ đô Âu Châu để thuyết phục các nhà cầm quyền ký vào một quy ước nhìn nhận quyền bất khả xâm phạm của các thương binh, các y tá và tất cả những ai phục vụ trong ngành quân y...
Ngày 26/10/1963, đại diện của 16 nước đã gặp nhau tại Genève.
Tổ chức do Henri Dunant khai sinh được chính thức chào đời ngày hôm đó.  Người ta gọi tổ chức này là Hội Chữ Thập Ðỏ, do biểu tượng của một chữ thập đỏ in trên nền trắng... Dấu hiệu này đã được treo trên các lều, các nhà cửa thuộc về phong trào này...
Ðó là món quà lớn nhất mà Henri Dunant đã tặng cho nhân loại.
Trong tập hồi ký trận Solferino, Henri Dunant đã ghi lại như sau: Có nhiều binh sĩ Áo dưới quyền chỉ huy của Hoàng Ðế Prancois Joseph bị bắt làm tù binh.  Henri Dunant đã săn sóc họ tận tình.  Thấy thế, một bà cụ già trong làng đã phản đối vì cho rằng người Áo là kẻ thù.  Henri Dunant đã nói với bà cụ già như sau: "Trong sự đau khổ, không còn khác biệt giữa bạn và thù nữa... Tất cả chúng ta đều là anh em với nhau".
 
Nhìn mọi người như anh em của mình, một cái nhìn như thế hẳn phải xuất phát từ một niềm tin rất sâu sắc...
Năm 1901, lần đầu tiên, giải thưởng Nobel hòa bình đã được trao tặng và người được danh dự ấy chính là vị sáng lập ra Hội Chữ Thập Ðỏ.
Mười năm sau, con người đã trao tặng cho thế giới một món quà cao quý như thế đã qua đời trong một bệnh viện dành cho những người hành khất nghèo nàn bên Thụy Sĩ.  Gia tài của ông để lại là vài cuốn sách, năm ba lá thư và một di chúc thiêng liêng như sau:  "Hoặc tôi là một môn đệ của Ðức Kitô giống như các tín hữu của những thế kỷ đầu tiên hoặc tôi không là gì hết".
Ðặc biệt của các tín hữu sơ khai và cũng là lý tưởng của Henri Dunant chính là lòng mến.  Lòng mến đã biến họ nhận ra mọi người như là anh em, con cùng một Cha trên Trời...
Mỗi người Kitô chúng ta cũng có thể lập lại lời di chúc của vị sáng lập Hội Chữ Thập Ðỏ: "Hoặc tôi tôn trọng và yêu thương tha nhân hoặc tôi không là gì hết".

doantrang nguyen

unread,
Oct 27, 2011, 1:59:19 PM10/27/11
to chen_com_...@googlegroups.com, TVS, ha vietnam nguyen ngoc ha
NGÀY CẦU NGUYỆN CHO HOÀ BÌNH THẾ GIỚI
 
Ngày 27 tháng Mười năm 2011, kỷ niệm 25 năm ngày Á-thánh Gioan Phaolô II thành lập “Ngày Cầu Nguyện Cho Hoà Bình Thế Giới” đã tổ chức tại thành phố Assisi, nước Ý vào năm 1986.
Assisi là quê hương của Thánh Phanxicô Năm dấu, còn gọi là Phanxicô Khó Nghèo, Vị Sứ giả hoà-bình của thế kỷ thứ 13.
Ngày hôm nay, rất nhiều vị lãnh đạo Kitô-giáo các nhánh và các tôn giáo Không-Kitô trên toàn thế giới đã đến quảng trường thánh Phanxicô ở Assisi để trân trọng đọc lời cam kết nỗ lực làm việc và tranh đấu cho hoà bình toàn cầu.
Tiếp nối công việc hữu ích cho nhân loại này, người Kitô-hữu phải kiến tạo và duy trì hoà bình khắp nơi, đặc biệt là ngay trong gia đình của chính minh.
Tháng Mười sắp kết thúc nhưng lời kêu gọi cầu nguyện cho hoà bình của Đức Mẹ Fatima và thói quen đọc Kinh Mân-Côi của người tín hữu Kitô cần phải được duy trì và nhắc nhở trong các gia đình, trong các hội-đoàn, trong các xứ đạo… và nếu được, tinh thần và thói quen tốt này cần được phổ biến rộng rãi hơn nữa…
 
KINH HOÀ BÌNH
(Lời của thánh Phanxicô Assisi; Nhạc của linh mục Kim-Long)
 
Lạy Chúa từ nhân,
Xin cho con biết mến yêu và phụng sự Chúa trong mọi người.
Lạy Chúa,
Xin hãy dung con như khí cụ bình an của Chúa.
Để con đem yêu thương vào nơi oán thù,
đem thứ tha vào nơi lăng nhục.
Đem an hoà vào nơi tranh chấp,
đem chân lý vào chốn lỗi lầm.
Để con đem tin kính vào nơi nghi nan,
chiếu trông cậy vào nơi thất vọng.
Để con dọi ánh sáng vào nơi tối tăm,
đem niềm vui đến chốn u sầu.
Lạy Chúa, xin hãy dậy con,
 Tìm an ủi người hơn được người ủi an.
Tìm hiểu biết người hơn được người hiểu biết,
Tìm yêu mến người hơn được người mến yêu.
Vì chính khi hiến thân là khi được nhận lãnh,
Chính lúc quên mình là lúc gặp lại bản thân.
Vì chính khi thứ tha là khi được tha thứ,
Chính lúc chết đi là khi vui sống muôn đời.
Ôi Thần-linh thánh ái, xin mở rộng lòng con,
Xin thương ban xuống những ai lòng đầy thiện chí:
ƠN AN BÌNH.
 
 
 

doantrang nguyen

unread,
Oct 28, 2011, 11:45:45 AM10/28/11
to chen_com_...@googlegroups.com, TVS, ha vietnam nguyen ngoc ha
THÁNH SIMON VÀ THÁNH GIUĐA TÔNG ĐỒ
 
THÁNH SIMON
Tân ước ngoài việc đặt thánh Simon vào danh sách nhóm 12, đã không cung ứng một chỉ dẫn trực tiếp nào liên quan đến vị tông đồ này.
Ngài được phân biệt với Simon Phêrô bằng danh hiệu “nhiệt thành” (Lc 6,15; Cv 1,13), một danh hiệu không có ý nói rằng:  ngài là phần tử thuộc nhóm quá khích Do thái mang tên này, nhưng chỉ cho biết nhiệt tâm của ngài đối với lề luật.  Theo tiếng Aram, nhiệt thành có nghĩa là “Cana”.  Điều này giải thích tại sao các thánh sử nhất lãm gọi ngài là người xứ Cana (Mt 10,4; Mc 3,18).  Có người cho rằng sinh quán của ngài là Galilêa.  Một truyền thống còn nói thánh Simon là chàng rể phụ trong tiệc cưới tại Cana (Ga 2,1-12).  Sách các thánh tử đạo kể rằng Simon sau khi chứng kiến phép lạ của Chúa Kitô, đã “bỏ rượu”, bỏ lễ cưới để theo Chúa Kitô và được liệt vào số các tông đồ.  Thực sự, chẳng có chứng cớ lịch sử nào nói tới việc này.
Cũng như thánh Giacôbê Hậu, có lẽ thánh Simon là một trong các “anh em của Chúa” (Mc 6,3).  Nhưng người ta không thể đồng hóa thánh tông đồ với thánh Simon, mà theo truyền thống, là đấng kế vị anh mình làm giám mục Giêrusalem.
Chúng ta không thu lượm được gì nhiều về hoạt động và cái chết của vị tông đồ này.  Có những tường thuật cho rằng:  ngài đi truyền giáo ở Phi Châu và các đảo Britania.  Nhưng những tường thuật này không có nền tảng.  Một truyền thống khác cho rằng ngài đi truyền giáo ở Ai cập và cuối cùng ở Batư.  Truyền thống này đáng tin cậy hơn.  Nhiều nguồn tài liệu đồng ý cho rằng ngài chịu tử đạo ở Batư.  Một số ít hơn nói rằng ngài cùng chịu tử đạo với thánh Giuda.  
Dầu vậy, vì không có tài liệu nào đủ tính cách cổ kính nên khó có thể nói rõ về nơi chốn và hoàn cảnh thánh nhân qua đời.
 
THÁNH GIUĐA
Vị tông đồ này mang nhiều tên khác nhau như Tađêo (Mt 10,3; Mc 3,18) hay Giuđa con ông Giacôbê (Lc 6,16; Cv 1,13).
Chính ngài là vị tông đồ trong cuộc đàm luận sau bữa tiệc ly đã hỏi Chúa Giêsu:
- Thưa Thầy, tại sao Thầy tỏ mình ra cho chúng con mà không cho thế gian ? (Ga 14:22)
Chúng ta có thể đồng hóa ngài với tác giả của một bức thư, trong đó có trình bày ngài là: “Giuđa, nô lệ của đức Giêsu Kitô, anh em với Giacôbê” không?  Thực sự theo tiếng Hy-lạp, phải đọc câu văn này như ở (Lc 6,16) là: “Giuđa, con ông Giacôbê”.  Hơn nữa câu 17 của bức thư, tác giả như tách mình ra khỏi số 12.  Dĩ nhiên, điều này không làm giảm giá sự chính lục của bức thư.  Có thể nói, tác giả “anh em với Chúa” (Mc 6,3) không phải là tông đồ nhưng có thế giá trong Giáo hội sơ khai như Giacôbê (Cv 15,13).
Thánh Giuđa tông đồ, theo truyền thống, đã đi rao giảng Tin Mừng ở Mesopotamia và chịu tử đạo ở đó.  Ngài được tôn kính như đấng bảo trợ cho các trường hợp “vô vọng” (patron saint of impossible causes).  Lòng sùng kính này được tỏ hiện trong các nhà thờ có tượng tháng Giuđa (St. Jude), trên đầu ngài có hình ngọn lửa.
 
Mừng kính hai thánh Simon và Giuđa Tông Đồ,
 xin Chúa cho mỗi người chúng ta biết hoàn thành ơn gọi của mình theo đúng ý Chúa.
 

Sưu Tầm và Tổng Hợp

doantrang nguyen

unread,
Oct 31, 2011, 9:38:40 AM10/31/11
to chen_com_...@googlegroups.com, TVS, ha vietnam nguyen ngoc ha
Một Ngày Ðể Nhớ Ðến Thần Dữ
 
Hôm nay ngày cuối tháng 10.
Buổi chiều ngày cuối tháng 10 được người Mỹ và các nước chịu ảnh hưởng của Mỹ gọi là Halloween, nghĩa là vọng lễ các thánh.
Có lẽ do những rơi rớt còn lại của một ngày lễ ngoại giáo bắt nguồn từ thời những người Celtic trước Công nguyên, ngày vọng lễ các thánh mang màu sắc ảm đạm ma quái.
Trong các cửa tiệm, hàng hóa được trưng bày một khung cảnh quái dị: những hình nộm được tô vẽ với một bộ mặt của thần chết, những màng nhện trắng xóa giăng mắc khắp nơi, những đồ chơi trẻ em cũng được khoác lên những nét kinh hãi quái dị.  Trên màn ảnh truyền hình cũng như tại các rạp chiếu bóng, đa số các phim trình chiếu đều mang nội dung quái đản, kinh dị.  Buổi tối ngày Halloween, thanh niên thiếu nữ thường cải trang thành ma quái để đi từng nhà ca hát và kể cho nhau nghe chuyện ma quái.
Phải chăng mỗi năm người ta dành một ngày để nhắc nhở về sự hiện hữu và tác quái của thần dữ ?
Nhưng liệu con người ngày nay còn ý thức được tội lỗi và sự tác động của thần dữ không?
 
Thi sĩ Baudelaire của Pháp đã có lần nói: "Sự thành công của ma quỷ là thuyết phục được con người rằng nó không hiện hữu".
Với những khám phá mới trong ngành tâm lý học cũng như bệnh lý học, người ta cho rằng tất cả những vụ quỷ ám mà Kinh thánh nói đến chỉ là những hiện tượng tâm lý bệnh hoạn mà ngày nay khoa học có thể tìm ra nguyên nhân.  Với luận điệu ấy, con người ngày nay tự hào đã loại trừ ma quỷ ra khỏi cuộc sống.
Có lẽ ngày nay, người ta ít có dịp chứng kiến những vụ quỷ ám nhãn tường như Thánh kinh đã ghi lại.  Tuy nhiên, dù muốn dù không, không ai có thể chối cãi được một sức mạnh luôn cày xéo tâm hồn con người, luôn lôi kéo con người đến chỗ tự hủy và hủy diệt lẫn nhau.
Mãi mãi câu nói của thánh Phaolô vẫn đúng cho kinh nghiệm của mỗi người: "Ðiều thiện tôi muốn làm thì tôi không làm, điều ác tôi không muốn làm, thì tôi lại làm" (Rm 7:15).  Có một sức mạnh vô hình nào đó luôn khuyến dụ, luôn lôi kéo con người vào tội ác...
Thánh Phêrô hẳn không thể nào quên được lời cảnh cáo của Chúa Giêsu: "Hỡi Satan, hãy tránh khỏi mặt Ta" (Mt 16:23).  Trong lá thư đầu tiên gửi cho các tín hữu, vị Giáo Hoàng đầu tiên đã nhắn nhủ: "Hãy tỉnh thức luôn. Kẻ thù của anh em là ma quỷ như sư tử luôn gầm thét lượn quanh, tìm mồi để cắn xé.  Anh em hãy chống cự và kiên vững trong Ðức Tin"  (1Pr 5:8-9a).
Là người tín hữu, chúng ta không ngừng cầu nguyện bằng chính lời Kinh của Chúa Giêsu: "Xin cứu chúng con khỏi ác thần".
Ước gì lời Kinh ấy luôn nhắc nhở chúng ta về sự tác động liên lỉ của ma quỷ trong cuộc sống của từng người chúng ta.  Nhưng chúng ta không phải hãi sợ bởi vì chúng ta không chiến đấu một mình mà cùng với Ðấng đã nói: "Ðừng sợ hãi, vì Ta đã thắng thế gian" (Ga 16:33b), và bằng chính sức mạnh của Ngài.
 
Đức Ông Nguyễn Văn Tài
 
PHỤ CHÚ:
      Những năm gần đây ở một số các cửa hàng bán trang phục Halloween người ta đã thấy bầy bán những trang phục ít kinh hãi hơn, như những nhân vật nổi tiếng trên thế giới; thậm chí có cả các kiểu trang phục của những nhân vật trong Kinh-thánh: Môsê, Nữ hoàng Sabah  Các tổ chức tôn giáo cũng thi nhau tham gia ngày vui này bằng cách hoá trang thành các thiên thần, các thánh nam nữ đủ kiểu, áo các dòng tu…

doantrang nguyen

unread,
Nov 1, 2011, 11:46:32 AM11/1/11
to chen_com_...@googlegroups.com, TVS, ha vietnam nguyen ngoc ha
Giòng Giống Vĩ Nhân
 
Cách đây mười năm, một người Pháp tên là Alfred de Pierrecourt để lại gia tài của ông là 2 triệu Mỹ kim với lời di chúc là phải sử dụng số tiền ấy để gây giống cho những người khổng lồ.
Người thi hành di chúc của ông đã trích ra 1/4 số tiền để tìm và mang những người cao lớn vượt tầm mức về sống ở gần thành phố Rouen, khuyến khích họ lập gia đình với nhau.  
Nhưng chương trình gây giống những người khổng lồ này bị thất bại vài năm sau đó.
 
Cách đây non hai ngàn năm có một người cũng để lại một di chúc, một chương trình, nhưng không phải để gây giống cho những người khổng lồ về phương diện hình vóc mà là về phương diện tinh thần.
Chương trình quen được gọi là "8 mối phúc thật" do Chúa Giêsu biên thảo.  
Trải qua bao thế hệ mãi cho đến thời đại chúng ta, vô số những tín hữu Kitô nhờ áp dụng chương trình này mà trở thành vĩ nhân.
Mừng kính những vĩ nhân ấy trong ngày lễ các thánh nam nữ hôm nay, chúng ta hãy noi gương các ngài đem ra thực hành mỗi mối phúc thật trong cuộc sống, để càng sống chúng ta càng phát triển, tiến bộ trên con đường thánh thiện mà Chúa Giêsu đã vạch ra cho mỗi người chúng ta.

doantrang nguyen

unread,
Nov 2, 2011, 6:14:43 AM11/2/11
to chen_com_...@googlegroups.com, TVS, ha vietnam nguyen ngoc ha

BÊN KIA SỰ CHẾT
 
Trên giường hấp hối, thánh Monica đã nhắn nhủ con ngài là Augustino như sau: "Mẹ chỉ xin con một điều là hãy nhớ đến mẹ khi tới bàn tiệc thánh”.
 Có lẽ nhiều người trong chúng ta cũng đã được nghe nhiều lời van xin tương tự phát ra từ môi miệng của những người thân của chúng ta, trước khi từ giã cõi đời... 
Nhưng xa mặt cách lòng, nhiều người trong chúng ta lãng quên những lời van xin thống thiết ấy.  Cần được thương, cần được nhớ: đó là khát vọng tự nhiên của con người.  Không ai muốn là một hoang đảo cô đơn.  Dưới cái nhìn Đức Tin, lời van xin kẻ khác cầu nguyện cho, còn chứng tỏ một lòng khiêm tốn, một thái độ chấp nhận cái giới hạn mỏng manh bất lực của mình.
Để giúp chúng ta có dịp đáp lại thỉnh cầu của những người đã đi vào thế giới bên kia và để thể hiện mối tình thông hiệp "các thánh thông công", Giáo Hội ngay từ buổi đầu kỷ nguyên Kitô đã cổ động việc tưởng nhớ cầu nguyện cho những người quá cố.  Những thế kỷ gần đây đã dành tháng 11 hằng năm cho việc đạo đức ấy.  Hai ngày lễ mừng kính các thánh và cầu cho các linh hồn được ấn định vào hai ngày mùng một và mùng hai đầu tháng 11 với những kinh nguyện rất ý nghĩa, nhắc chúng ta về sự hiệp thông trong Giáo Hội. 
Công đồng Vatican II trong hiến chế về Mầu Nhiệm Giáo Hội đã viết như sau: "Giáo Hội lữ hành hết lòng kính nhớ, dâng lời cầu cho những người đã chết, vì cầu nguyện cho họ được giải thoát khỏi tội lỗi là một việc lành thánh…”. 
Nói về sự bầu cử của các đẳng linh hồn, Công Đồng viết như sau: "Khi được về quê Trời và hiện diện trước nhan Chúa, nhờ Người, với Người và trong Người, các thánh lại không ngừng cầu bầu cho chúng ta bên Chúa Cha...” 
Sự trao đi nhận lại đó vừa là một việc bác ái vừa là một bổn phận thảo hiếu đáp đền, đã thực sự củng cố Giáo Hội thêm vững bền trong sự thánh thiện. 
 
Quỳ cầu nguyện một mình trong nhà thờ, hay ngậm ngùi đốt lên một ngọn bạch lạp tại một nghĩa trang nào đó, có lẽ ai trong chúng ta cũng cảm thấy bùi ngùi xúc động khi nghĩ đến những người chết và đến chính cái chết.
Chúng ta đang đứng giữa biên giới vô hình của sự sống và sự chết.  Và một cách vô cùng huyền nhiệm và sống động, những người chết đang hiện diện với chúng ta bằng một sợi dây liên kết thâm sâu, thắm thiết... 
Cái chết không còn là một chấm hết cuối cùng đối với chúng ta nữa.  Tình yêu mạnh hơn sự chết.  Chính Tình Yêu đã làm cho những người đã chết được sống và cũng chính Tình Yêu liên kết chúng ta với những người chết. 
Vâng, chỉ có Tình Yêu mới làm cho con người được bất tử. 
Chỉ có Tình Yêu mới làm cho con người liên kết với những người đã chết. 
Chỉ có Tình Yêu mới mặc cho những nghĩa cử của con người sự bất diệt. 
¨      Mỗi lần chúng ta hy sinh cho một người nào đó,
¨      mỗi lần chúng ta săn sóc một người đau yếu,
¨      mỗi lần an ủi một người đau khổ,
¨      bênh vực một người cô thế,
¨      hay cùng với những người khác dấn thân để canh tân cuộc sống...
… là chúng ta đang tiến dần đến sự bất tử. 
Yêu thương chính là tái sinh, là thông dự vào sự sung mãn của cuộc sống.  Đó phải là niềm tin của chúng ta trong ngày hôm nay khi chúng ta tưởng nhớ và cầu nguyện cho người quá cố. 
Xin Chúa nâng đỡ Đức Tin yếu kém của chúng ta, xin Ngài ban thêm niềm hy vọng cho chúng ta.

doantrang nguyen

unread,
Nov 3, 2011, 7:13:17 AM11/3/11
to chen_com_...@googlegroups.com, TVS, ha vietnam nguyen ngoc ha

Con Chỉ Là Một Tên Mọi Ðen
 
Hôm nay Giáo Hội kính nhớ thánh Martinô Porres.
Nhắc đến thánh nhân, người ta thường liên tưởng đến những ơn lạ lùng như xuất thần ngất trí trong khi cầu nguyện, như hiện diện ở hai nơi cùng một lúc, hoặc như có thể trò chuyện và điều khiển cả thú vật.
Vị thánh có lòng bác ái cao độ này lại xuất thân từ một hoàn cảnh vô cùng bi đát và đắng cay.
Là con của một thiếu nữ da đen đã từng bị đem bán làm nô lệ vào một nhà quý tộc người Tây Ban Nha, Martinô đã được vị linh mục Rửa Tội ghi trong sổ bộ của giáo xứ là "con không cha".  Quả thật, con không cha như nhà không nóc.  Martinô đã lớn lên trong cảnh thiếu vắng tình cha mãi cho đến năm 8 tuổi.  Nhưng sau khi được chính thức thừa nhận không bao lâu, thì người cha lại bỏ rơi gia đình.  Một lần nữa, cậu bé Martinô lại rơi vào cảnh khốn khổ như đa số các em bé nghèo của thành phố Lima, Pêru vào giữa thế kỷ thứ 16.
Nhưng cảnh nghèo ấy đã không gieo vào lòng cậu bé mang hai dòng máu này chút đắng cay nào.  Trái lại, cậu tiếp nhận mọi biến cố xảy đến trong cuộc sống như một thách đố, như một ân sủng. 
Năm 12 tuổi, Martinô đã được học nghề hớt tóc và đôi chút xảo thuật của ngành giải phẫu.  Vừa hành nghề như một người thợ hớt tóc, vừa như một y tá, Martinô đã đem hết sự hăng say và tận tụy của mình để phục vụ những người nghèo đồng cảnh ngộ.
Nhưng nhận thấy chỉ có thể sống trọn Ðức Ái trong một tu viện, Martinô đã đến gõ cửa một nhà dòng Ðaminh để xin được làm trợ sĩ trong nhà.  Bí quyết nên thánh của thầy Martinô là sám hối cầu nguyện và phục vụ, nhất là phục vụ trong những công việc vô danh nhất.
Lần kia, nhà dòng mang nợ đến độ không thể bảo đảm được các nhu cầu của các tu sĩ, thầy Martinô đã đến thưa với Bề trên như sau: "Thưa cha, con chỉ là tên mọi đen. Xin hãy bán con đi".
 
Sẵn sàng hy sinh mạng sống của mình cho người khác, thầy Martinô cũng luôn nhận tất cả phần lỗi về mình. 
Ôn lại gương hy sinh, cầu nguyện và bác ái của thánh Martinô, không những chúng ta chỉ chạy đến xin ngài bầu cử trong những lúc gặp gian nan thử thách, nhưng quan trọng hơn cả vẫn là lòng tin thác vào Chúa quan phòng của thánh nhân mà chúng ta cần học hỏi, nhất là trong giai đoạn gặp khó khăn này. 
Thiên Chúa không bao giờ bỏ rơi con người. Ðó phải là niềm xác tín của chúng ta.
Một Thiên Chúa quan phòng là Ðấng có thể biến tất cả những đắng cay, buồn phiền, thất bại, khổ đau trong cuộc sống con người thành khởi đầu của một nguồn ơn cao quí hơn.  Cũng như loài ong chỉ rút mật ngọt từ bao nhiêu vị đắng cay của cánh hoa, cũng thế, người có niềm tin luôn có thể rút tỉa được những sức đẩy mới từ những thất bại rủi ro trong cuộc sống.  
Thánh Martinô đã không hận đời đen bạc vì bị người cha bỏ rơi, mà trái lại xem đó như một dịp may để cảm thông, để học hỏi và để phục vụ người khác hữu hiệu hơn.
"Hạt lúa rơi xuống đất có mục nát đi mới trổ sinh được nhiều bông hạt".  Ðó là định luật của cuộc sống.
Thập giá trong cuộc sống thường là khởi đầu và cơ may cho một vươn lên cao hơn. 
Chúng ta thường chạy đến khẩn cầu với thánh Martinô trong cơn hoạn nạn thử thách, chúng ta cũng hãy noi gương ngài để phó thác cho Tình Yêu quan phòng của Chúa, và nhất là xin ngài cũng giúp chúng ta luôn biết lấy Tình Thương để thắng vượt những ngược đãi của người đời, cũng luôn biết sẵn sàng phục vụ và phục vụ bằng chính mạng sống của mình.

doantrang nguyen

unread,
Nov 4, 2011, 10:38:33 AM11/4/11
to chen_com_...@googlegroups.com, TVS, ha vietnam nguyen ngoc ha

doantrang nguyen

unread,
Nov 7, 2011, 7:24:12 AM11/7/11
to chen_com_...@googlegroups.com, TVS, ha vietnam nguyen ngoc ha, Bich Thuan
Ðời Vẫn Có Ý Nghĩa
 
Một tác giả người Thụy Ðiển đã tưởng tượng ra một cuộc tranh luận sôi nổi diễn ra giữa các dân cư sinh sống tại một khu rừng nọ.
Ðề tài của cuộc tranh luận là : Ðâu là ý nghĩa của cuộc sống?...
Kẻ lên tiếng phát biểu ý kiến đầu tiên không ai khác hơn là chú chim họa mi suốt ngày chỉ biết ca hát líu lo.  Chú khẳng định rằng: "Ðời là một cuộc ca hát không ngừng".
Một chú chuột chũi phản pháo tức khắc.  Theo chú: "Ðời là một cuộc tranh đấu không ngừng để chống lại bóng tối".
Con bướm có đôi cánh sặc sỡ thốt lên: "Ðời là vui chơi và hạnh phúc".
Con ong đang miệt mài tìm mật bên mấy cánh hoa không tán thành ý kiến ấy chút nào. Nó bảo rằng: "Ðời là một cuộc lao động vất vả".
Con kiến cũng nhất trí với con ong để chỉ thấy rằng đời là lao động.
Từ trên cao, một con phượng hoàng cũng góp ý kiến: "Ðời là tự do".
Ðó là ý kiến của động vật.  Các thảo mộc cũng không thiếu ý kiến để đóng góp.
Cây thông cao sừng sững giữa rừng hoàn toàn tán thành ý kiến của con phượng hoàng: "Ðời là tự do".
Một cánh hoa dại giữa rừng thì lại hùa theo con ong và con kiến để khẳng định rằng đời chỉ là lao động vất vả.
Cánh hoa hồng thì lại đồng quan điểm với con bướm để cho rằng đời là hạnh phúc và vui tươi.
Thế giới vô tri cũng lên tiếng phát biểu.
Một đám mây đen ngao ngán thốt lên: "Ðời chỉ là đắng cay và nước mắt".
Một dòng sông hiền hòa trôi chảy cũng nhận định: "Ðời là một dòng nước chảy không ngừng". 
Lời phát biểu cuối cùng nhưng cũng là ý kiến tổng kết của cuộc tranh luận là tiếng chuông từ một giáo đường bên cạnh khu rừng.  Thật thế, tiếng chuông ấy ngân lên những lời như sau : "Tất cả những lời phát biểu của quí vị đều đúng cả.
Ðời là hòa bình, đời là ca hát, đời là vui tươi, đời là tranh đấu, đời là bể khổ, đời là đắng cay, nhưng tất cả đều tươi nở trong lòng người nhờ quyền lực của Chúa Thánh Thần".
 
·        Tôi bởi đâu mà đến?
·        Tôi sẽ đi về đâu?
·        Tại sao tôi đau khổ?
Ðó là những câu hỏi lớn nhất mà một lúc nào đó trong cuộc sống, chúng ta không thể tránh né được.
Cám ơn Chúa vì đã cho chúng ta giải đáp trong chính Chúa Giêsu Kitô.  Chính Ngài là Ánh Sáng chiếu rọi trên bí ẩn của cuộc đời cũng như trên chính Mầu Nhiệm của con người.  Công đồng Vatcican II trong hiến chế Vui Mừng và Hy Vọng đã nói với chúng ta rằng huyền nhiệm của con người chỉ có thể được sáng tỏ trong chính Mầu Nhiệm của Ngôi Hai Nhập Thể.
Chúng ta chỉ có thể tìm thấy câu trả lời cho những câu hỏi lớn của cuộc sống bằng cách nhìn vào Ðức Giêsu Kitô.  Quả thật, Ngài đã sống kiếp con người như mọi người.  Nhưng chính khi tiếp nhận mọi mùi vị của cuộc sống, Ngài đã mặc lấy cho cuộc sống một ý nghĩa, một hướng đi.
Cuộc sống có ngọt bùi, đắng cay, chua sót, cuộc sống có lao động, tranh đấu hay thảnh thơi... Tất cả đều mang lấy một ý nghĩa.
Trong Chúa Giêsu, mất mát trở thành thắng lợi, thua thiệt trở thành cơ may, đau khổ trở thành dịu ngọt, cái chết trở thành khởi đầu của sự sống.
Nếu chúng ta đón nhận cuộc đời này bằng với cái nhìn ấy, thì quả thực không một thử thách, mất mát, đau khổ nào khiến chúng ta thất vọng.  Với Quyền Lực của Thánh Thần mà Chúa Giêsu đã ban cho chúng ta, những bể khổ, những đắng, cay chua xót của cuộc sống đều có thể nở hoa, những niềm vui nhỏ ấy sẽ mang lấy chiều kích vĩnh hằng, những việc làm vô danh thường ngày sẽ mang lấy giá trị vĩnh cửu.

doantrang nguyen

unread,
Nov 8, 2011, 7:04:43 AM11/8/11
to chen_com_...@googlegroups.com, TVS, ha vietnam nguyen ngoc ha, Bich Thuan
Tạ ơn Chúa
 
Thi sĩ Lamartine của Pháp có kể lại một giai thoại như sau:
Một hôm, tình cờ đi qua một khu rừng, ông nghe một âm thanh kỳ lạ.  Cứ sau mỗi tiếng búa gõ vào đá lại vang lên một tiếng "Cám ơn".  Ðến gần nơi phát ra âm thanh, thi sĩ mới nhận thấy một người thợ đá đang miệt mài làm việc.  Cứ mỗi lần gõ vào phiến đá, ông lại thốt lên "Cám ơn'.
Thi sĩ Lamartine mới nấn ná đến trò chuuyện, người thợ đập đá giải thích: "Tôi cảm ơn Chúa".
Ngạc nhiên về lòng tin của một con người mà cuộc sống hẳn phải lầm than lam lũ, thi sĩ mới nói: "Giả như bác được giàu có, thì tôi hiểu tại sao bác không ngừng thốt lên hai tiếng cám ơn.  Ðằng này, Thiên Chúa chỉ nghĩ tới bác có mỗi một lần duy nhất đó là lúc Ngài tạo nên bác.  Sau đó, Ngài ban cho bác có mỗi cái búa này để rồi không còn ngó ngàng gì đến bác nữa.  Thế thì tại sao bác lại mỏi miệng để cám ơn Ngài?".
Nghe thế, người đập đá mới hỏi vặn lại thi sĩ: "Ngài cho rằng Chúa chỉ nghĩ đến tôi có một lần thôi sao".
Thi sĩ Lamartine bèn thách thức: "Dĩ nhiên, Chúa chỉ nghĩ đến bác có mỗi một lần mà thôi".
Người thợ đá nghèo, nhưng đầy lòng tin, mới mếu máo thốt lên: "Tôi nghĩ rằng điều đó không có gì đáng ngạc nhiên cả.  Ngài nghĩ rằng Thiên Chúa đã đoái thương đến một người thợ đá thấp hèn như tôi, dù chỉ một lần thôi.  Vậy không đủ cho tôi cám ơn Ngài sao?  Vâng, cám ơn Chúa, cám ơn Chúa".
Nói xong, ông bỏ mặc cho thi sĩ đứng đó và tiếp tục điệp khúc quen thuộc của ông, vừa đục đá vừa tạ ơn Chúa.
 
Thiên Chúa yêu thương con người.
Ðó là bài ca mà chúng ta không chỉ hát lên trong mùa Giáng Sinh, mà phải được lập lại trong từng khoảnh khắc của cuộc sống.  Nhưng khi chúng ta nói: Thiên Chúa yêu thương con người, điều đó trước hết phải có nghĩa là Ngài yêu thương tôi.  Thiên Chúa không yêu thương con người bằng một cách chung chung. Thiên Chúa yêu thương mỗi người bằng một tình yêu cá biệt, riêng rẽ.  Ðiều đó cũng có nghĩa là mỗi người là một chương trình trong trái tim của Thiên Chúa.
Ðối với Thiên Chúa, không có đám đông vô danh, cũng không có những con số.
Ngài gọi mỗi người bằng tên gọi riêng...
Chúng ta không thể đo lường Tình Yêu của Thiên Chúa bằng thước đo hẹp hòi, thiển cận của chúng ta.  Trong Tình Yêu Quan Phòng của Ngài, mỗi một con người là một chương trình và mỗi một chương trình đều cao cả.  Thiên Chúa không tạo dựng chúng ta theo một khuôn mẫu, mà theo một chương trình riêng cho mỗi người.  Mỗi một biến cố xảy đến đều được Ngài sử dụng để đem lại điều thiện hảo cho chúng ta.  
Nói như thánh Phaolô, Thiên Chúa quy mọi sự về điều thiện cho những kẻ Ngài yêu thương.  Cũng chính vị thánh này đã nói: "Tất cả mọi sự đều là ân sủng của Chúa".

doantrang nguyen

unread,
Nov 9, 2011, 10:39:45 AM11/9/11
to chen_com_...@googlegroups.com, TVS, ha vietnam nguyen ngoc ha

Lễ cung hiến Thánh đường Latêranô

 

Thánh đường là nơi qui tụ dân Chúa, là nơi các tín hữu tới cầu nguyện và lãnh nhận các bí tích.  Thánh đường là nơi Chúa ngự, là nơi Mình Máu Thánh Chúa luôn hiện diện, là nơi dân Chúa lãnh nhận muôn vàn ơn huệ, muôn vàn hồng ân của Chúa.
 
ĐỀN THỜ LATÊRANÔ
Đền thờ Latêranô là nhà thờ chánh toà của Đức Giáo Hoàng
Với tư cách là Giám Mục Rôma,  ĐGH đặt ngai tòa của mình tại nhà thờ chánh tòa này.  Đền thờ này được xây dựng vào năm 320 khi Giáo Hội Chúa Kitô vừa thoát khỏi một thời kỳ cấm cách, bắt bớ khủng khiếp.
Đền thờ này do công của Hoàng đế Constantinô xây dựng để tôn vinh danh Chúa và để dân Chúa có nơi tụ tập, đọc kinh cầu nguyện và lãnh nhận các bí tích.  Đền thờ này đã được cung hiến vào khoảng thời gian nói trên.  Lịch sử thuật lại rằng khi hoàn tất ngôi thánh đường này, nhiều đoàn người khắp trong thành phố Rôma đã tuôn đến để dự lễ khánh thành và hiệp ý trong nghi lễ cung hiến ngôi thánh đường dùng đặt ngai tòa của Đức Giáo Hoàng, với tư cách là Giám Mục Rôma.
Ngôi đền thờ Latêranô đã trải qua biết bao nhiêu biến cố, biết bao nhiêu thăng trầm của đạo giáo, biết bao nhiêu thử thách, khó khăn của các thời Hoàng đế Rôma trị vì. Biết bao nhiêu người đã tới thánh đường Latêranô để xin rửa tội, gia nhập dân thánh Chúa trong những đêm Phục Sinh và mừng lễ Vượt Qua tại đây.
 
ĐỀN THỜ LATÊRANÔ NGÀY NAY
Ngày nay, đền thờ Latêranô vẫn vút cao, vẫn đứng sững như muốn nói với mọi người Thiên Chúa luôn yêu thương dân Người.  Đoàn đoàn lớp người vẫn tới dự thánh lễ và lãnh nhận các bí tích.  Hàng năm, ngày thứ năm Tuần Thánh Đức Giáo Hoàng vẫn tới cử hành lễ với hàng linh mục Rôma, với các Hồng y, Giám mục và Ngài diễn tả lại hành động, cử chỉ của Chúa Giêsu xưa nơi nhà tiệc ly là rửa chân cho các tông đồ.
 
Lạy Chúa Giêsu,
xin giúp chúng con luôn biết kính yêu Đức Giáo Hoàng,
cầu nguyện cho Ngài và cho Giáo Hội
luôn trung tín với sứ mạng rao giảng Tin Mừng.
 
Lm. Giuse Nguyễn Hưng Lợi, DCCT
 

doantrang nguyen

unread,
Nov 10, 2011, 8:24:43 AM11/10/11
to chen_com_...@googlegroups.com, TVS, ha vietnam nguyen ngoc ha
Ðồng Bạc Nhân Nghĩa
 
Một câu chuyện ngụ ngôn của Nga kể rằng:
Có một nhà phú hộ kia khi gần chết lòng trí vẫn chỉ nghĩ đến tiền của là động lực đã thúc đẩy ông lao lực không biết mệt mỏi suốt cả cuộc đời.  Dùng chút sức tàn, ông cố gỡ chiếc bao nhỏ đeo ở cổ, lấy ra chiếc chìa khóa trao cho người đầy tớ trung tín nhất của ông.  Ông phú hộ ra dấu chỉ chiếc rương nằm trong góc nhà và ra lệnh cho cô ta lấy những túi tiền vàng ở trong đó bỏ vào quan tài.
Khi chết xong, ông bắt đầu sống cuộc đời mới.
Ðứng trước chiếc bàn dài trưng bày đủ thứ cao lương mỹ vị, ông ta hỏi: "Món này giá bao nhiêu vậy?".
Người bán hàng trả lời: "Một xu".
Ông phú hộ chỉ một món khác kém giá trị hơn và hỏi: "Còn hộp cá mòi kia giá bao nhiêu?".
"Cũng một xu", người bán hàng nhã nhặn trả lời.
Thấy người bán hàng vui tính ông phú hộ tiếp tục hỏi: Còn miếng bánh này?".
"Tất cả các vật trưng bày ở đây đều được bán với giá một xu", người bán hàng cho biết.
Ông phú hộ mỉm cười thỏa mãn.  Rẻ thật, ông nghĩ thầm.  Rồi sau một hồi ngắm nghía, ông chọn một đĩa thức ăn lớn.  Nhưng khi ông lấy một đồng tiền vàng mang theo lúc từ giã cõi đời ra trả, cô thu tiền không nhận
Cô ta vừa lắc đầu vừa nói: "Ông đã học được quá ít trong cuộc sống".
Nghe nói thế ông phú hộ không khỏi ngạc nhiên, gặn hỏi: "Thế nghĩa là gì? Ðồng tiền vàng của tôi không đủ để trả cho đĩa thức ăn này sao?".
Bấy giờ người thu tiền mới cho ông biết: "Ở đây chúng tôi chỉ nhận những đồng tiền mà trong cuộc sống trước đây ông đã dùng để giúp đỡ cho những người nghèo túng, đói khổ".
 
Tại những vùng chịu ảnh hưởng của Phật Giáo đến từ Trung Hoa, vào những ngày giỗ hay ngày tư, ngày tết, các phật tử có thói quen đốt những giấy tiền vàng bạc với niềm tin là qua đó họ có thể gửi tiền ấy cho ông bà, cha mẹ đã quá cố để họ có thể tiêu xài nơi chốn suối vàng.
Những người Công Giáo cũng thể hiện lòng hiếu thảo của mình đối với những thân nhân đã qua đời bằng cách dâng những hy sinh và kinh nguyện đặc biệt trong tháng 11 mỗi năm.  Cộng vào đấy, là những hành động bác ái, chia sẻ, làm thay cho những người đã từ biệt cõi đời.
Lúc rao giảng Tin Mừng, Chúa Giêsu đã nêu bật thật rõ ràng ý nghĩa của biến cố "Nhập Thể" của Ngài: Ngài không những "làm người" trong một thân xác duy nhất, ngài còn đồng hóa mình với tất cả mọi người để nếu chúng ta yêu thương bất kỳ ai, đó là chúng ta cũng yêu mến Ngài.
Ðể sống trọn ý nghĩa của tháng 11, tháng các đẳng linh hồn, chúng ta không chỉ dâng lời cầu nguyện cho những người đã khuất bóng, nhưng cũng hãy gia tăng những việc từ thiện bác ái, chia cơm sẻ áo với những anh chị em thiếu thốn đang sống bên cạnh, để dâng các công đức ấy cho các đẳng, đồng thời cũng để thâu nhập cho chính chúng ta những công nghiệp có giá trị vĩnh cửu trong cuộc sống mai hậu.

doantrang nguyen

unread,
Nov 14, 2011, 3:41:59 PM11/14/11
to chen_com_...@googlegroups.com, TVS, ha vietnam nguyen ngoc ha, Bich Thuan, CHIEU NJ VU
Tôi Tiếp Tục Cuộc Chơi!
 
Mới đây, tại Thụy Sĩ, người ta đã dùng điện thoại để phỏng vấn 1,200 người tại 20 thành phố khác nhau về việc chuẩn bị chết.  Câu hỏi được đặt như sau: "Nếu bạn chỉ còn một ngày nữa để sống, bạn sẽ làm gì?".
Kết quả của cuộc thăm dò được phân chia như sau:
- 57% những người được phỏng vấn trả lời rằng họ sẽ sống ngày cuối cùng với gia đình.
- 12% muốn ở một mình hoặc với bạn bè.
- 26% người đàn ông được hỏi cho biết họ sẽ sống ngày cuối cùng đó với gia đình.
- 42% khác thích ở một mình hoặc cùng với bạn bè.
- 32% đàn ông lẫn đàn bà muốn được sống với gia đình trong những giây phút cuối đời.
- 6% người đàn ông muốn được sống bên vợ...
Trên đây có lẽ chỉ là những con số không đại diện cho ước muốn hay suy nghĩ của tất cả mọi người. Nhưng xuyên qua kết quả đó, chúng ta cũng có thể đọc được một thái độ chung của con người khi đứng trước sự chết: đó là sự cô đơn...
Cái chết là một chia lìa vĩnh viễn, nhất là với những người thân của chúng ta.
Nếu câu hỏi trên đây được đặt ra cho bạn giây phút này đây, bạn sẽ làm gì?
 
Có lẽ chúng ta còn nhớ chuyện của một vị thánh trẻ khi được hỏi về cách thế chuẩn bị chết...
Giữa một đám trẻ đang chơi đùa, viên giám thị đặt câu hỏi: nếu ngay bây giờ, chúng con biết mình sắp chết, chúng con sẽ làm gì?
Một số trả lời rằng sẽ đi vào nhà thờ cầu nguyện, một số cho biết sẽ đi xưng tội để dọn mình chết lành v.v...  Chỉ có một cậu bé điềm nhiên trả lời: "Nếu trong giây lát tôi có chết, tôi cũng sẽ tiếp tục cuộc chơi".
Có lẽ đó là câu trả lời làm cho viên giám thị ưng ý nhất, bởi vì nếu giải trí lành mạnh là một bẩn phận, thì việc thánh hóa trước tiên phải nằm trong bổn phận hằng ngày.
¨      Nếu chúng ta biết lắng nghe tiếng Chúa trong từng biến cố,
¨      nếu chúng ta biết gặp gỡ Chúa trong từng sinh hoạt,
¨      nếu chúng ta tiếp xúc với Chúa trong từng giây phút...
… thì cái chết chỉ là một nối dài của cuộc gặp gỡ đó.  
Người luôn trung thành với những gặp gỡ trong giây phút hiện tại, sẽ không phải hãi sợ trong cuộc gặp gỡ tối hậu là cái chết.
Chúng ta đang cầu cho các đẳng linh hồn.
Giáo Hội kêu mời chúng ta dâng các việc đạo đức và hy sinh để cầu cho họ.  Ðó là những việc làm không thể thiếu sót trong nghĩa vụ liên đới của người Kitô.  Nhưng còn có một việc làm khác không kém giá trị: đó là sự trung thành của chúng ta trong những bổn phận hằng ngày.  Người có niềm tin trưởng thành thực sự, luôn nhìn thấy ý nghĩa và giá trị của những bổn phận vô danh và nhàm chán hằng ngày...

doantrang nguyen

unread,
Nov 15, 2011, 8:07:38 AM11/15/11
to chen_com_...@googlegroups.com, TVS, ha vietnam nguyen ngoc ha, Bich Thuan, CHIEU NJ VU
Học Bạ Giêsu
 
Cậu Giêsu, học sinh trường Nazaret, đem học bạ về nhà.
Thật tình mà nói, kết quả không mấy tốt.
Mẹ cậu biết thế nhưng không nói gì, bà chỉ ghi nhớ mọi sự trong lòng mà suy đi nghĩ lại.
Nhưng điều gay go nhất bây giờ là phải trình học bạ này cho ông Giu-se.
 
~^~^~^~^~
 
 
Người gửi:      Trường Simêôn tại Nazaret
Người nhận:   Ông Bà Giuse và Maria David
Nội dung:       Học bạ của Giêsu
 
 
1. Toán học: Hầu như chẳng làm được bài toán nào, ngoại trừ nhân bánh và cá lên nhiều lần.  Không biết làm toán cộng: cậu khẳng định rằng mình cộng với Cha thành một.
 
2. Tập Viết: Không bao giờ mang tập vở bút viết đến lớp, đành phải viết trên cát.
 
3. Địa Lý: Không có khái niệm về phương hướng. Cậu khẳng định rằng chỉ có mỗi một con đường để về nhà Cha thôi.
 
4. Hóa Học: Không chịu làm các bài tập thí nghiệm gì cả, nhưng có lần Cậu đã làm cho nước hóa ra rượu nho khiến người ta cự nự nhau trong đám cưới.
 
5. Thể Dục: Thay vì học bơi như mọi người, lại ngang nhiên biểu diễn đi trên nước.
 
6. Văn Học: Khó có thể nói năng rõ ràng, nói gì cũng bằng dụ ngôn.
 
7. Vấn Đáp: Mới 12 tuổi mà Cậu đã đối đáp với các luật sĩ và kinh sư trong đền thờ khiến họ hết sức ngạc nhiên.
 
8. Kỷ Luật: Đã đánh mất mọi thứ đồ đạc, rồi tuyên bố xoành xoạch rằng mình chẳng có được một viên đá gối đầu!
 
9. Hạnh Kiểm: Có khuynh hướng thích giao du trò chuyện với kẻ lạ, bọn nghèo, hạ cấp và cánh phụ nữ trắc nết.
 
10. Vệ Sinh: Nhổ xuống đất hòa thành bùn rồi bôi lên mắt người ta tức thì họ được sáng mắt.
 
11. Sinh Vật: Dám quả quyết rằng người ta sống không nguyên bởi bánh nhưng còn bởi mọi lời do miệng Thiên Chúa phán ra.
 
12. Thiên Văn: Là người duy nhất đã thấy Sa-tan như một tia chớp từ trời sa xuống.
 
13. Kinh Doanh: Những người được mướn từ sáng sớm Cậu trả cho họ một quan tiền và những người Cậu mướn vào xế chiều, cũng trả một quan tiền.  Chưa hết, bà góa bỏ một xu vào nhà thờ, Cậu nói bà ta bỏ nhiều nhất.
 
14. Tâm Lý: Cậu nói đừng sợ những kẻ giết thân xác mà không giết được linh hồn.  Đúng hơn, hãy sợ Đấng có thể tiêu diệt cả hồn lẫn xác trong hoả ngục.
 
15. Lịch Sử: Cậu sẽ xây Hội Thánh của Cậu và quyền lực tử thần sẽ không thắng nổi vì Cậu đã thắng thế gian.
 
~^~^~^~^~^~
 
 
Đọc xong học bạ của cậu con trai, ông Giu-se tự nhủ rằng tình trạng này không được kéo dài thêm, mà cần phải có biện pháp cứng rắn:
-  Này, Giêsu, đã như vậy thì kỳ Phục Sinh này con đành phải vác thánh giá thôi!
 
Vậy Ngài đã nói gì với Bố Giuse của mình ? 
- Dạ, nếu ý muốn của Cha là như vậy thì con xin vâng, nhưng quả thực là con học hành khá hơn nhiều đó ạ!  Con chỉ còn một viên đá gối đầu thật, nhưng đâu phải là con vứt đi các vật dụng, mà là con cho nhà hàng xóm đó Bố ơi.  Khi Mẹ Maria may cho con áo mới mặc vào mùa xuân.  Con thích lắm, nhưng sáng nay, con đi dạo chơi quanh làng, thấy cậu bé ở cuối xóm, mặc bộ quần áo rách bươm, con nghĩ đồ đạc của con còn nhiều, tốt hơn của bạn ấy, thế nên, về nhà, con gói ghém và tặng bạn ấy.  Lần trước, đôi dép mới bố cho con cũng thế.  Bố thường dạy, chia sẻ như thế là rất tốt, phải không bố?  Con không bao giờ phân biệt kẻ nghèo, người giàu, con thích giao tiếp với những người bị khinh bỉ, bỏ rơi...  Nhiều người nghĩ con là người điên, nhưng bố biết con rất tỉnh táo, phải không bố?  Và con biết bố vui vì điều đó.  Bố cũng dạy con phải luôn luôn biết yêu thương và con đã làm như vậy.  
     Bố ạ, khuya rồi mình đi ngủ được không bố?  Con chúc bố ngủ ngon nhé.  Ngày mai, con sẽ nói tiếp cho các bạn trong lớp con hiểu, con đã học hành như thế nào, bố ạ!
 
 
Mong rằng học bạ của mỗi người chúng ta,
khi thi vào Nước Trời ,
cũng có những phần như vậy.
 
 

doantrang nguyen

unread,
Nov 16, 2011, 11:27:33 AM11/16/11
to chen_com_...@googlegroups.com, TVS, ha vietnam nguyen ngoc ha, Bich Thuan, CHIEU NJ VU, Dung VN Pham

Thánh Magarita Scotia

 
Thánh Magarita sinh ra khoảng năm 1045.  Cha ngài là hoàng tử Edward người Anh, bị lưu đày và cưới một công chúa người Đức, có lẽ là cháu của hoàng hậu vua thánh Stêphanô nước Hungaria.
Magarita lớn lên trong triều đình Hungaria và đã gặp được sự công chính và thánh thiện để làm nên dấu thánh thiện của chính mình.  Khoảng 12 tuổi được trở lại nước Anh, thánh nữ sống trong triều đình của vua thánh Edward.  Trong cuộc chinh phục Norman năm 1066, Magarita cùng với mẹ và anh chị em ngài bị lưu đày một lần nữa.  Họ trốn sang Scotia (Scotland), dù rằng lúc ấy đang có chiến tranh giữa hai nước, vua Scotia là Malcola Cannore cũng đã nhân ái tiếp nhận những kẻ lưu đày.
Vua Malcola Cannore mà tên gọi có nghĩa là “nhà cai trị vĩ đại” là một vị vua uy quyền và có khả năng.  Ông yêu Magarita, còn Magarita thì có ý định đi tu dòng.  Nhưng ông đã khuyên Magarita lập gia đình với ông. Cuộc sống chung của họ được mô tả với vài chi tiết trong một tập hồi ký có lẽ do linh mục giải tội của thánh nữ là Turgot (sau là giám mục) viết.  Đây là một câu chuyện thích thú về sự gặp gỡ giữa một người đàn bà trẻ đẹp, khôn ngoan, thánh thiện với người chồng hung hăng ít được giáo dục nhưng hướng chiều về sự thánh thiện của vợ mình.  Cuộc hoà hợp nhân duyên này mang lại cho họ sáu người con trai và hai người con gái.  Hoàng hậu Magarita chỉ chấp nhận cho những gương lành tới gần các tâm hồn trẻ thơ này và không một người xấu nào dám tới triều đình.  Những hoàng tử công chúa này lớn lên và tham gia vào các công cuộc bác ái của người mẹ thánh thiện và của người cha đã trở thành vị vua gương mẫu.
Thánh Magarita dùng nhiều thì giờ và tiền của cho các công cuộc bác ái.  Chính ngài hầu hạ người nghèo khó, già cả, côi cút và yếu đau.  Ngài giúp đỡ các gia đình phá sản phục hồi, chuộc lại các tù nhân, xây dựng nhà thương, nhà vãng lai cho du khách.  Người lạ đến đây đều biết rằng: họ có thể luôn tìm được chỗ trú ngụ nơi ngài khi họ ra khỏi nhà.  Cả đoàn người bất hạnh vây quanh ngài và đây mới là triều đình thật của ngài. Khi trở về nhà, ngài chỉ muốn ngồi vào bàn ăn sau khi đã hầu bàn cho 300 người nghèo ngồi đầy một phòng ăn lớn.
Nước Scotia đã được cải hoá từ lâu, nhưng sự man rợ còn tồn tại ở đó.  Khi trở thành mẹ của vương quốc này, thánh Magarita biến nó thành một gia đình rộng lớn và dẫn công dân của bà đến với Thiên Chúa.  Ngài trao cho những quan liêm chính tái lập trật tự, sai các nhà giảng thuyết đi loan báo Tin Mừng để Chúa Giêsu được yêu mến khắp nơi.  Ngài giải quyết vấn đề Giáo hội ở Scotia thời đó.  Bị cắt đứt liên lạc do cuộc xâm lăng của người ngoại, Giáo hội Celt đã khác biệt nhiều điểm với Roma và chính thánh Magarita đã hoà giải những yếu tố tranh chấp và đưa Giáo hội Celt ở Scotia về qui phục.  Ngài làm việc này mà vẫn tránh được sự phân ly đau đớn. Cũng thế, những cố gắng đưa văn hóa Âu Châu vào Scotia của ngài rất thành công.  Trong khi bên Anh, cuộc chinh phục Norman đã để lại một di sản cay đắng thì ở Scotia dưới ảnh hưởng của Magarita và các con của ngài, việc lan tràn văn hóa Trung Cổ đã mang lại cho Scotia một thời đại hoàng kim kéo dài gần 1000 năm sau khi thánh nữ qua đời.
Thánh Magarita qua đời năm 1093 tại lâu đài Ediburgh, sáu tháng sau cái chết của chồng và người con cả, vào lúc mà mọi công trình xem ra tiêu tan hết.  
Năm ấy, vua nước Anh xâm chiếm một pháo đài của Scotia.  Vua Malcola Cannore và hai người con cả đi tái chiếm.  Thánh nữ cảm thấy âu lo.  Ngày kia Edgar con ngài trở về, thánh nữ hiểu ngay thực tế khủng khiếp là vua và người con kia đã chết.  Đau đớn, thánh nữ chỉ biết nói:
- Lạy Chúa toàn năng, Chúa đã gửi cho con sự đau đớn lớn lao này để thanh tẩy tâm hồn con, con xin chúc tụng Chúa.
Ngài không than trách, đức tin và lòng dũng cảm không rung chuyển, nhưng sáu tháng sau Ngài đã qua đời.
Ba người con của Ngài tiếp tục cai trị trên ngai vàng, công cuộc của người mẹ được tăng cường và đi tới hoàn thành.
Thánh Magarita được phong thánh năm 1250.
 
Lạy Chúa,
xin vì công nghiệp của thánh nữ Magarita,
ban cho chúng con ơn can đảm sống theo sự thật,
làm chứng cho Chúa trong mọi hoàn cảnh,
và thực thi việc bác ái như Chúa dạỵ
Amen.

doantrang nguyen

unread,
Nov 17, 2011, 2:35:18 PM11/17/11
to chen_com_...@googlegroups.com, TVS, ha vietnam nguyen ngoc ha, Bich Thuan, CHIEU NJ VU, Dung VN Pham

THÁNH ELISABETH NƯỚC HUNGARI
 
Vị công chúa, con vua Andrew II, của nước Hungary này sinh năm 1207.  Công chúa được gửi sang cung điện Thuringia học và lớn lên tại đây cùng với một số trẻ thuộc hoàng gia, trong đó có Luy là vị hôn phu tương lai của Elizabeth.
Elisabeth xem ra đã được tiền định với niềm vui, được cầu nguyện hãm mình và mỗi ngày hy sinh một điều thích thú.  Nếu trong cuộc chơi mà thành công rực rỡ, ngài không quá vui và ngừng lại.  Một phần những cái người ta cho ngài thường là tới tay người nghèo. 
Luy ngây ngất vì vị hôn thê trẻ của mình.  Chàng chọn làm châm ngôn những đức tính: đạo đức, trong sạch và công bình.  Chàng đã cử hành hôn phối sớm hết sức có thể, lúc chàng 21 và nàng 14.  Luy, một lãnh chúa hiệp sĩ hào hùng, rất lịch thiệp, là bạn đời trung thành, hết sức nâng đỡ Elisabeth trong đường thánh thiện vợ đeo đuổi.  Cuộc hôn nhân này gương mẫu cho mọi người biết họ.  Luy yêu vợ của mình, có khuôn mặt và tâm hồn dịu hiền.  Năm sau họ có con đầu lòng và 2 năm sau nữa sinh con thứ hai.  Các đầy tớ của thánh nữ nói về ngài: “Bà kêu đến Chúa trong mọi hành vi, bà sống khiêm tốn, rất bác ái và say mê cầu nguyện”.  Một ngày sống của nữ bá tước được phân phối cho công việc của một chủ nhân lâu đài, cầu nguyện, làm việc bác ái, cùng với các phụ nữ dệt len cho người nghèo rảo quanh các làng quê phân phát các đồ cứu trợ.  Mỗi khi đi nhà thờ Elisabeth lại cởi vương miện bằng đá ra mà nói không muốn mang nó đến trước Thiên Chúa phải đội mão gai.  
Người ta thích kể lại một huyền thoại làm đẹp cuộc đời thánh nữ như sau:
Vào một ngày mùa đông.  Luy đi săn về gặp vợ cong mình xuống dưới sức nặng các đồ ăn giấu trong vạt áo. Ông hỏi:
   - Em mang gì đó?
Vạch áo ra Luy chỉ thấy những bông hoa hồng trắng rất đẹp không mùa xuân nào có được.  Luy xúc động vì phép lạ, ông ưu ái người vợ lý tưởng của mình hơn nữa.  Còn chính thánh nữ thì gia tăng việc bác ái.  Ngài săn sóc các bệnh nhân nghèo, cấp đồ ăn cho họ, băng bó các vết thương.  Vào một ngày thứ Năm Tuần Thánh, ngài đã hôn chân các người cùi ngài tập hợp lại.  Dưới những chiếc áo sang trọng, ngài dấu một chiếc áo nhặm.  Không ai nghi ngờ sự khắc khổ của ngài.  Isentrude, người đầy tớ theo ngài và có nhiệm vụ đánh thức ngài ban đêm để cầu nguyện, làm chứng:
   “Ngài hoàn thành những công trình bác ái trong tâm hồn vui tươi và không đổi nét mặt”.
Chính Elisabeth đã nói về những người nhân đức mà mặt mày ủ dột: “Họ có vẻ muốn làm khiếp đảm Thiên Chúa nhân lành.  Trong khi Ngài yêu thích những kẻ cho một cách vui tươi”.
Luy phải ra trận.  Đây là lúc Elisabeth đau đớn nhất và tăng gấp lời cầu nguyện và đánh tội.  Thánh nữ vẫn thường bối rối lo sợ có những bất công mà các Lãnh-chúa thường gặp phải.  Gặp người nghèo, thánh nữ nhiệt thành nâng đỡ họ.  Phân phát hết lúa gạo dự trữ, ngài hy sinh cả nữ trang và đá quí, ngài thiết lập những nhà thương.  Dân chúng gọi ngài là “mẹ”.  Khi chồng trở về, thánh nữ thường cười nói:
   - Em đã dâng cho Thiên Chúa “cái” thuộc về Ngài để Ngài bảo vệ “cái” của chúng ta.
Nhưng đã đến lúc những thử thách lớn lao đưa Elisabeth tới đỉnh cao thánh thiện.  Luy tham gia đoàn quân Thánh-giá và thiệt mạng năm 1227.  Vài ngày sau thánh nữ sinh hạ người con thứ ba.  Người ta chỉ đưa tin chồng chết cho ngài ít lâu sau đó và họ ghi nhận lời than của thánh nữ :  “Thế giới với tất cả niềm vui của tôi đã chết rồi !”
Sau khi Luy qua đời, người em rể của Luy không cho Elisabeth được thừa hưởng phần gia sản của chồng.   Người em rể còn xua đuổi ngài ra khỏi lâu đài và cấm dân chúng không được cho ngài trú ngụ.  Hình ảnh cổ truyền diễn tả cảnh thánh nữ ôm con nhỏ đi vào đường mòn sỏi đá giữa mùa đông lạnh lẽo với hai người con níu bên tay...  Elisabeth từ chối mọi thỏa hiệp với người em rể và không muốn nhận cấp dưỡng bằng cái mà ngài coi là của cấp dưỡng cho dân nghèo.  Ngài thích được rẫy bỏ hơn và muốn tự kiếm kế sinh nhai.  Như thế với lương tâm Kitô giáo ngài đã chọn được nên nghèo khó.  Thực vậy, ngài đã phải trú ngụ trong một chuồng heo cũ và không lâu sau đó các con của ngài cũng bị đưa đến cho người khác nuôi.
Nhà Dòng Phanxicô Anh Em Hèn Mọn đón tiếp Elisabeth.  Trong một nguyện đường của các Anh Em Hèn Mọn ngài đã đặt tay lên bàn thờ thề hứa từ bỏ tất cả và mặc áo dòng Ba Phanxicô. 
Cậu của Ngài là Giám mục miền Bamberg rất muốn ngài tái giá và còn gọi ngài tới lâu đài Haute Francoine nơi đặt các xương cốt của chồng Ngài.  Nhận xương cốt chồng, ngài nguyện vâng phục Thiên Chúa :
   “Lạy Chúa, con yêu chồng biết bao.  Nhưng Chúa biết con không hối tiếc việc hy sinh người yêu của con cho Chúa.  Anh đã tự hiến mình cho Chúa, con cũng hiến dâng anh con cho Chúa để yểm trợ thánh địa.  Nếu được, con cho thế giới tất cả của cải để đổi lấy anh, rồi chúng con cùng đi ăn xin với nhau.  Nhưng con xin chứng tỏ rằng: nếu trái với ý Chúa, con sẽ không muốn chuộc lại sự sống của anh, cả đến sợi tóc đi nữa... Nguyện ý Chúa thành sự trong chúng con”.
Các bạn hữu của Luy, sau khi tham dự cuộc xuất quân Thánh-giá trở về hay biết lối đối xử thậm tệ của gia đình chồng Elisabeth, đã tranh đấu để phục hồi quyền lợi cho ngài và các con.  Họ đã thắng lợi.   Nhưng người góa phụ trẻ không muốn có phần gì đối với vinh hoa trần thế nữa, ngài đã mặc áo dòng ba Phanxicô và dùng tiền của chồng để lại để điều hành một nhà thương là nơi ngài ngồi ăn chung với các bệnh nhân nghèo khó.  Sau cùng ngài ở trong một ngôi nhà bằng cây vách đất.  Ngài dệt vải để nuôi thân và chịu những hy sinh cực khổ hơn nữa.  Ngài chọn sống với một đứa trẻ vô giáo dục và một bà điếc lác khó chịu nhưng Elisabeth đối xử với họ cách âu yếm như với bạn bè và dành lấy những công việc gớm ghiếc nhất.
Một đứa trẻ bất toại mà ngài săn sóc bắt ngài thức dậy mỗi đêm sáu lần và chính ngài giặt giũ áo quần hôi hám của nó.  Khi đứa trẻ chết, ngài thay vào đó một đứa trẻ phong cùi và nói:
   - Tôi không đáng cởi giây giầy cho em.  Đối với tôi, Chúa Giêsu đang ở vào địa vị của em.
Đứa trẻ phong cùi chết, lại một người bị bệnh trứng tóc sống bên Ngài.  
Khi chiêm niệm, ngài được ơn trải qua những giờ ngây ngất và nét mặt trở nên rực sáng.  Elisabeth chỉ còn sống được ít lâu trong công việc bác ái và cầu nguyện. 
Ngài yếu dần và qua đời lúc mới 24 tuổi, vào ngày 19 tháng 10 năm 1231.
Rất nhiều phép lạ chữa lành xảy ra ngay tại phần mộ của ngài đến nỗi rất nhiều đoàn người lũ lượt hành hương kính viếng mộ thánh nữ.
Bốn năm sau Đức Giáo Hoàng Grêgoriô IX đã tôn phong Ngài lên bậc hiển thánh.
 
Noi gương thánh Elisabeth,
ước gì chúng ta cũng biết sống nhiệm nhặt,
yêu mến thờ phượng Chúa hết lòng,
chia sẻ cơm áo cho người nghềo khổ và
tận tụy với các bệnh nhân.
Sưu tầm và Tổng hợp                      
 
 

 

doantrang nguyen

unread,
Nov 18, 2011, 3:00:49 PM11/18/11
to chen_com_...@googlegroups.com, TVS, ha vietnam nguyen ngoc ha, Bich Thuan, CHIEU NJ VU

Thế Ư?
 
Hakuin là một thiền sư nổi tiếng tại Nhật Bản, ông sống ẩn dật trên núi.
Ngày kia, có một thiếu nữ con nhà gia giáo bỗng thấy mình có thai.  Cô nàng tuyên bố với mọi người rằng chính thiền sư Hakuin là tác giả của bào thai.  Vừa nghe tin này, cả dân làng, do cha mẹ của cô thiếu nữ dẫn đầu, đã giận dữ kéo đến chòi của vị thiền sư.  Họ la hét, chửi rủa vị thiền sư đủ điều...
Nhưng vốn điềm tĩnh, nhà sư chỉ biết mỉm cười thốt lên: "Thế ư?".
Ai cũng nghĩ đó là một cách chịu tội.  Ai cũng nghĩ chính ông là tác giả của bào thai trong lòng người thiếu nữ.  Khi đứa bé chào đời, thiền sư Hakuin lặng lẽ đến nhận nó và đưa về chiếc chòi nghèo nàn của mình.  Ông bồng lấy nó, nâng niu nó và chăm sóc nó như chính đứa con ruột của mình.
Nhưng khoảng 18 năm sau, người thiếu nữ bỗng hối hận về hành vi của mình.  Cô thú nhận rằng người cha của đứa bé chính là chàng ngư phủ trẻ trong làng.
Nghe tin này, ai ai trong làng cũng cảm thấy xấu hổ vì đã nghĩ xấu và nhục mạ một con người đáng kính.
Một lần nữa, dưới sự dẫn đầu của cha mẹ thiếu nữ, cả làng kéo nhau đến chòi của vị thiền sư.  Mọi người sụp lạy tỏ dấu sám hối vì đã xúc phạm đến thanh danh của vị đạo sĩ thánh thiện.  Giữa lúc mọi người đồng thanh tuyên bố sự vô tội và cứu gỡ danh dự cho mình, vị thiền sư chỉ mỉm cười nói: "Thế ư?".
 
Hai tiếng " Thế ư?" của thiền sư Hakuin trên đây xem chừng như cũng cùng một âm điệu với hai tiếng "Xin vâng" của Mẹ Maria.
Thái độ điềm nhiên và chấp nhận không chỉ là kết quả của một sự rèn luyện ý chí, nhưng còn là một thể hiện của niềm tin.
¨      Thưa xin vâng trước tiên có nghĩa là tuyên xưng Tình Yêu không hề lay chuyển của Thiên Chúa.
¨      Thưa xin vâng là chấp nhận đi vào chương trình của Thiên Chúa, trong đó cho dù phải trải qua tăm tối và thử thách, con người vẫn tin ở sự thành toàn.
¨      Thưa xin vâng cũng có nghĩa là nói lên niềm tin nơi chính bản thân: dù có yếu hèn, vấp ngã, con người vẫn luôn là đối tượng của một Tình Yêu chung thủy và là trọng tâm của một chương trình cao cả mà thiên Chúa đang thực hiện.
¨      Thưa xin vâng cũng có nghĩa là nói lên niềm tin vào cuộc đời. Cuộc đời này, dù có đen bạc đến đâu, vẫn luôn có một ý nghĩa và tha nhân, dù có thấp hèn, xấu xa đến đâu, vẫn tiếp tục mang lấy hình ảnh cao vời của Thiên Chúa.

doantrang nguyen

unread,
Nov 21, 2011, 9:24:51 AM11/21/11
to chen_com_...@googlegroups.com, TVS, ha vietnam nguyen ngoc ha, Bich Thuan, CHIEU NJ VU
Vâng ý Cha Dưới Ðất Cũng Như Trên Trời
 
William Barlay, một học giả Kinh Thánh nổi tiếng người Anh đề nghị sửa một dấu trong Kinh "Lạy Cha" như sau:
Giữa những câu "chúng con nguyện danh Cha cả sáng, Nước Cha trị đến" và câu "ý Cha thể hiện dưới đất cũng như trên trời" thay vì dấu phết hay dấu chấm phết nên dùng dấu hai chấm, để nêu bật ý nghĩa:
Nếu chúng ta vâng theo ý Chúa dưới đất, ý Chúa được vâng phục trên trời thì chúng ta sẽ làm cho: danh Chúa cả sáng và Nước Chúa được thống trị mọi nơi.
 
Ðề nghị trên nhằm mục đích nhấn mạnh sứ mệnh xây dựng Nước Trời giữa lòng xã hội trần thế bằng cách hoàn toàn vâng theo ý Chúa của các tín hữu Kitô.
Bởi lẽ đây là một trong những nội dung quan trọng nhất của sứ điệp Chúa Giêsu rao giảng và cũng là mẫu gương nổi bật nhất trong cuộc đời của Ngài.
"Ai vâng theo ý Cha Ta ở trên trời thì kẻ ấy là anh em Ta, là chị em Ta và là Mẹ Ta".
Tuyên bố câu này, Chúa Giêsu không có ý khước từ mối dây liên lạc và tình mẫu tử giữa Ngài với Ðức Maria nhưng Ngài muốn nêu bật một thực tại:
Ðức Maria đã trở nên Mẹ Ngài qua câu trả lời: "Này tôi là nữ tỳ của Thiên Chúa, tôi xin vâng như lời sứ thần truyền" và trong suốt cuộc đời, Ðức Maria đã trung tín giữ trọn lời thưa xin vâng này đến giây phút đứng dưới chân thập giá.
Mừng "Lễ Ðức Mẹ Dâng Mình Vào Đền Thánh" hôm nay, không gì chúng ta có thể làm đẹp lòng Mẹ hơn là học cùng Mẹ để bập bẹ thưa: "Xin vâng!".
 
Đức Ông Nguyễn Văn Tài
 
--
To unsubscribe from this group, send email to
chen_com_trong_...@googlegroups.com
 
To subscribe from this group, send email to
chen_com_trong...@googlegroups.com


doantrang nguyen

unread,
Nov 22, 2011, 11:11:10 AM11/22/11
to chen_com_...@googlegroups.com, TVS, ha vietnam nguyen ngoc ha, Bich Thuan, CHIEU NJ VU

Ai Hơn Ai?
 
Trong một khu vườn tuyệt đẹp kia có nhiều loại hoa đua nhau khoe màu tranh sắc: Hoa Hồng, hoa Hướng Dương, hoa Vạn Thọ, hoa Cúc, kể cả vài cụm bông Móng Tay và bông Mười Giờ.
Một ngày kia, có người đến nhìn ngắm những bông hoa đẹp, rồi lấy một cây thước ra đo chiều cao, chiều dài cũng như đếm số các nụ hoa.  Xong, ông ta bỏ đi.
Ý thức về chiều cao và độ lớn của mình, hoa Hướng Dương càng vươn cổ lên cao và nói: "Trong khắp khu vườn, không hoa nào lớn mạnh như chúng tôi".
Nghe nói thế, hoa Hồng lên tiếng: "Nhưng không hoa nào đẹp và tỏa hương thơm ngát như chúng tôi".
Không chịu thua ai, hoa Vạn Thọ góp lời: "Hai người nói thế nghe sao phải, to lớn và thơm tho nào có ý nghĩa gì.  Hai người làm gì có được nhiều bông hoa như chúng tôi".
Nghe những loại hoa trên tranh luận, các loại hoa Cúc, hoa Móng Tay và hoa Mười Giờ cảm thấy tủi phận. Hoa Móng Tay tìm lời an ủi hoa Mười Giờ: "Bọn mình không đẹp, không thơm, nhưng được cái là dễ trồng nên được nhiều người ưa thích".
Sau đó, khu vườn trở lại yên lặng trong khoảnh khắc.
Nhưng hoa Cúc phá tan sự im lặng nặng nề với những phát biểu sau đây: "Sao các anh, các chị lại có thể suy nghĩ thế? Bởi đâu các anh các chị lại tranh nhau về chiều cao, về độ lớn, về vẻ đẹp, về hương thơm.  Anh chị quên rằng: Dù lớn hay nhỏ, dù mạnh hay yếu, dù đỏ hay vàng, mọi bông hoa đều nhận lãnh hình hài, vẻ đẹp và hương thơm từ bàn tay của Ðấng Tạo Hóa và dưới mắt Người chúng ta đều như sau.  Mỗi chúng ta đều được Người ban cho đồng đều ánh sáng và hơi ấm của mặt trời.  Mỗi bông hoa đều được Người cho mưa rơi xuống gốc và sương sa trên mình như nhau.  Ðó là Mầu Nhiệm của lòng quảng đại và khoan nhân của Thiên Chúa".
Sự phân bì, ghen tuông đã và đang làm khổ đau cho con người cũng bằng tính tự cao, tự đại hay ít ra tính phân bì, ghen ghét cũng làm cho chúng ta không được thư thái, bình an. Vì thế, có người đã đề ra những phương pháp sau đây như những điều kiện để được hưởng sự bình an trong tâm hồn:
-         Nếu tôi không muốn so sánh mình với người khác, tôi sẽ cảm thấy hạnh phúc với những gì tốt đẹp nơi tôi.
-         Nếu tôi không làm nô lệ cho sự thành công, tôi có thể sản xuất những thành quả tốt đẹp kẻ khác chờ đợi nơi tôi.
-         Nếu tôi không để mình bị vướng vào mạng lưới của sự cạnh tranh, tôi sẽ thông phần và chia sẻ được những cái tốt đẹp hàm ẩn trong tất cả mọi người.

doantrang nguyen

unread,
Nov 25, 2011, 1:03:46 PM11/25/11
to chen_com_...@googlegroups.com, TVS, ha vietnam nguyen ngoc ha, Bich Thuan, CHIEU NJ VU
Nhân Danh Thiên Chúa Ba Ngôi
 
Christopher Columbus, người đã khám phá ra Châu Mỹ vào những thập niên cuối cùng của thế kỷ 15 (1492), có lòng sùng kính Chúa Ba Ngôi cách đặc biệt. Trước mọi hoạt động, ông đều kêu cầu Chúa Ba Ngôi cũng như ông luôn khởi đầu những gì mình viết bằng dòng chữ: "Nhân danh Chúa Ba Ngôi cực thánh".
Lần kia, khi Columbo trình bày về thuyết "Trái đất tròn" trước một nhóm học giả được gọi là Hội Ðồng Salamanca, một tổ chức quy tụ những nhà khoa học và thần học danh tiếng nhất thời bấy giờ, ông đã khởi đầu như sau: "Hôm nay tôi được hân hạnh đứng trước mặt các ngài nhân danh Chúa Ba Ngôi cực thánh, vì hoàng đế đã truyền lệnh cho tôi đệ trình lên sự khôn ngoan của quý vị một dự án mà tôi xác tín là Chúa Thánh Thần Ba Ngôi Thiên Chúa đã gợi hứng cho tôi".
Trong cuộc hành trình thứ ba của ông khởi hành năm 1498, Columbo đã thề hứa sẽ hiến dâng cho Chúa Ba Ngôi phần đất nào ông khám phá ra đầu tiên, vì thế hòn đảo ông đặt chân xuống đầu tiên trong cuộc hành trình thám hiểm Tân thế giới ấy cho đến nay vẫn được gọi là "Trinidad", tức là Chúa Ba Ngôi.
 
Trong suốt cuộc đời, người Kitô hữu chúng ta luôn kinh nghiệm sự gần gũi của Ba Ngôi Thiên Chúa: lúc vừa mở mắt chào đời, chúng ta được nhận lãnh Phép Rửa nhân danh Chúa Ba Ngôi.
Trong suốt ngày sống, chúng ta thường ghi dấu thánh giá trên mình với lời chúc tụng nhân danh Cha và Con và Thánh Thần, cũng như mỗi lần chúng ta dùng bữa hay khi khởi đầu mọi sinh hoạt.
Cộng vào đấy mỗi lần chúng ta vấp ngã và khiêm nhượng đi xưng thú những lỗi lầm trong tòa cáo giải, chúng ta được giao hòa lại với Thiên Chúa và cộng đoàn nhân danh Thiên Chúa Ba Ngôi.
Cũng nhân danh Người các đôi trai gái yêu nhau được nối kết để chung sống đời hôn nhân.
Rồi cả các bệnh nhân cũng được ban ơn sức mạnh nhờ danh Thiên Chúa Ba Ngôi để khi nhắm mắt xuôi tay, các Kitô hữu chúng ta cũng được tiễn đưa vào cuộc sống đời sau và được chôn cất nhân danh Cha và Con và Thánh Thần.
Mặt khác, Chúa Ba Ngôi cũng là trung tâm và mục đích mọi hoạt động của những kẻ tin kính Người. Bởi thế chúng ta thường kết thúc nhiều Kinh và những sinh hoạt bằng câu: "Sáng danh Ðức Chúa Cha và Ðức Chúa Con và Ðức Chúa Thánh Thần".

doantrang nguyen

unread,
Nov 29, 2011, 12:08:05 AM11/29/11
to chen_com_...@googlegroups.com, TVS, ha vietnam nguyen ngoc ha, Bich Thuan, CHIEU NJ VU

TÂM TÌNH MÙA VỌNG


Mùa Vọng có ý nghĩa gì?
Mùa Vọng dịch từ tiếng La tinh "Adventus", có nghĩa là "đến".  Vọng là mong đợi, mong chờ điều sắp đến.  Mùa vọng được Giáo Hội ấn định 4 tuần lễ trước lễ Giáng Sinh (25 tháng 12) để các tín hữu Công giáo chuẩn bị Mừng ngày Ngôi Hai Thiên Chúa Giáng trần.  Như vậy mùa Vọng bắt đầu vào Chúa Nhật cuối tháng 11 cũng là ngày đầu của Năm Phụng Vụ mới.
Mùa Vọng nhắc nhở cho mọi Tín Hữu Công giáo ý nghĩa sau đây:
Mùa Vọng nhớ lại thời gian dân Do thái mong đợi Đấng Messia (Chúa Kitô) đến để "giải phóng" dân Israel khỏi ách tội lỗi.  Ngài "đã đến" lần thứ nhất cách đây hơn 2 ngàn năm.  Ngài đã giải phóng họ khỏi ách tội lỗi bằng giáo lý và cái chết của Ngài.
Mùa Vọng còn có ý nghĩa chuẩn bị đón Chúa Kitô "sẽ đến" lần thứ hai vào ngày tận thế.  Không ai biết được ngày giờ nào.
Ngày nay, mùa Vọng để dọn lòng mừng kỷ niệm lễ Chúa Giáng sinh vào ngày 25 tháng 12.
Điều quan trọng nhất là nhắc nhở mỗi người cần "tỉnh thức, sẵn sàng" đón Chúa đến vào ngày tận thế đời mình (giờ chết), để Chúa đưa mình về Nước Chúa muôn đời.
 
Vòng hoa 4 cây nến, tượng trưng cho điều gì?
Bốn cây nến tượng trưng cho 4 tuần trước lễ Chúa Giáng sinh, mỗi tuần đốt thêm một cây.  Ba cây màu tím tượng trưng cho sám hối và một cây màu hồng dùng cho Chúa nhật thứ 3, nói lên niềm vui như Thánh Phaolô kêu gọi: Hãy vui lên... vì Chúa đang đến!  Vòng hoa mùa vọng với cành lá xanh tượng trưng cho sự sống muôn đời.  Hạt giống, trái hồ đào dùng để trang trí trên vòng hoa tượng trưng cho sự sống lại và những hoa trái tiêu biểu cho lương thực dồi dào của đời sống Kitô hữu.  Nến tượng trưng cho ánh sáng Chúa Kitô.
Bốn cây nến được phân chia ra theo đúng khoảng thời gian của Mùa Vọng.  Mỗi cây tượng trưng cho một trong 4 ngàn năm mà Thánh Kinh được trao cho chúng ta kể từ thời gian Ông Adong ngã vì tội lỗi cho đến khoảng thời gian Đấng Cứu Chuộc nhân loại được sinh hạ.
Cây nến màu tím (purple) thứ nhất được thắp sáng lên vào ngày Chúa Nhật đầu tiên của Mùa Vọng.  Cây nến màu tím thứ hai được thắp lên vào ngày Chúa Nhật thứ hai mùa Vọng cùng với cây màu tím thứ nhất.  Màu tím tượng trưng cho khoảng thời gian chuẩn bị, và ăn năn hối cải, cũng như tượng trưng cho sự vương giả.
Vào Chúa Nhật Thứ Ba của Mùa Vọng, vốn được biết đến như là Chúa Nhật Gaudete (Gaudete Sunday), thì cây nến màu hồng được thắp sáng lên cùng với hai cây nến màu tím trước.  Màu hồng tượng trưng cho sự mừng rỡ, vui tươi và niềm hân hoan sắp trào dâng của mọi người tín hữu.  Đây là khoảng thời gian đặc biệt khi chúng ta hồ hởi với niềm vui và rạo rực về việc Chúa Kitô sắp sửa đến với chúng ta trong hình hài của một Hài Nhi bé nhỏ.
Cây nến màu tím cuối cùng sẽ được thắp sáng lên trong ngày Chúa Nhật Thứ Tư của Mùa Vọng ám chỉ đến việc chúng ta đã sốt sắng và kiên trì trong việc chuẩn bị cả thể xác, tâm hồn lẫn con tim để đón nhận Thiên Chúa trong Mùa Giáng Sinh.  Như vậy vào ngày Lễ Giáng Sinh nhà thờ nào cũng rực sáng ánh đèn và 4 cây nến của Vòng Hoa mùa Vọng tỏa ánh lung linh trên cung thánh.

Mùa Vọng chính là mùa của Sự Đợi Chờ cùng với niềm Hy Vọng về ánh sáng của Chúa Kitô:
Ánh Sáng của toàn thế giới !

Ý nghĩa của Vòng hoa (Wreath):
Kể từ thời xưa cổ, vòng hoa là tượng trưng cho sự chiến thắng.  Hình tròn của vòng hoa nhắc nhở chúng ta về tình yêu thương trọn vẹn, bất tận của Thiên Chúa dành cho chúng ta.
Màu xanh lá cây chính là màu chỉ năm phụng vụ, diễn tả niềm hy vọng vào tình yêu thương bất diệt của Thiên Chúa.  Cành và lá thông quanh năm suốt tháng đều có màu xanh tươi.  Người ta kết những cành cây lá xanh này thành một vòng hoa là nhắc nhớ cho chúng ta biết rằng:  Thiên Chúa và sự mạc khải của Ngài thì không bao giờ thay đổi, cũng giống như cây thông, lúc nào cũng xanh tươi vậy.
 
Nguyện chúc gia đình quý vị có được một Mùa Vọng thánh thiện,
với lòng đạo đức mới mẻ và sinh động hơn…
so với những Mùa Vọng đã qua!
 
~^~

 

doantrang nguyen

unread,
Nov 29, 2011, 8:20:01 AM11/29/11
to chen_com_...@googlegroups.com, TVS, ha vietnam nguyen ngoc ha, Bich Thuan, CHIEU NJ VU

Quý thực khách thân thương,
Có 1 ý nghĩa nữa của Mùa Vọng mà Đức Giám Mục Nguyễn Văn Khảm đã nói với giới trẻ VN như sau:
 
“Đối với những người trẻ, có lẽ nói đến cái chết cũng còn là điều xa vời…
nên ý nghĩa cụ thể nhất của Mùa Vọng là…
…làm sao để Chúa Giêsu sinh ra được trong lòng mỗi người Kitô-hữu.
Có nghĩa là hãy để Chúa Giêsu chiếm một vị trí quan trọng nhất trong lòng chúng ta
Và hãy để Ngài chi phối toàn bộ tư tưởng và hoạt động của chúng ta trong suốt mùa Vọng.” 
 
~^~
Mang Nặng Ðẻ Ðau
Trong tờ thông tin liên lạc của một giáo xứ nọ, người ta đọc thấy ở trang bìa của số ra tháng 12 như sau:
Mùa Vọng là mùa của thai nghén...
Có lẽ chỉ có những người đàn bà đã hơn một lần kinh nghiệm qua thời kỳ thai nghén và sinh nở mới có thể giúp chúng ta hiểu được thế nào là 9 tháng 10 ngày mang nặng đẻ đau... Trong 9 tháng 10 ngày, ngoài những nôn mửa, đau bụng, nhức lưng, nặng nề, mỏi mệt không ngừng…, người đàn bà mang thai còn thường phải trải qua nhiều tâm trạng khác nhau của vui buồn lẫn lộn...
Vui vì sự sống và niềm hy vọng đang lớn dần trong tâm hồn và thể xác của mình, người đàn bà mang thai cũng lo sợ vì những bất ngờ không lường trước được.  Những đột biến trongcơ thể cũng khiến cho người đàn bà mang thai cảm nhận được sự mỏng dòn, yếu đuối của mình.  
Tất cả mọi cử động, chế độ dinh dưỡng đều được cân nhắc cẩn thận để không phương hại đến bào thai...
Có nên tiếp tục đi nhanh như trước kia không?  
Có được hút một điếu thuốc như trước không?  
Có nên dùng càfê không?  
Có nên dùng một chút bia rượu không?
Có nên thức khuya không?...
Tất cả đều được cân nhắc từng li từng tí.
Bào thai càng lớn dần, niềm vui và nỗi lo lắng cũng tăng thêm... Và khi đến ngày nở nhụy khai hoa, như chúa Giêsu đã nhận xét, niềm vui của người đàn bà khỏa lấp được tất cả những chờ đợi trong khi mang thai và những đớn đau trong khi sinh con.
Sự chào đời của hài nhi không những mang lại niềm vui, nhưng cũng đảo lộn cuộc sống trong gia đình.  
Ðứa bé đã trở thành trung tâm của cuộc sống gia đình.  
Giờ giấc  thay đổi, nhịp sống cũng thay đổi.  
Và có lẽ cái nhìn cũng đổi mới với mọi người trong nhà.
 
Mùa Vọng là mùa của thai nghén...
Do tiếng "Thưa, xin vâng!" đáp trả của Ðức Tin, chúng ta cũng cưu mang chính Chúa.  Như người đàn bà có thể cảm nhận được sự tăng trưởng của bào thai, chúng ta cũng có thể cảm nhận được sự hiện diện mỗi lúc một thêm thân mật và gần gũi của Chúa trong tâm hồn chúng ta.
Cũng như người đàn bà mang thai có thể nhận ra sự mỏng dòn yếu đuối của mình, với sự hiện diện của Chúa trong tâm hồn, chúng ta cũng cảm nhận sâu sắc hơn những bất toàn, khiếm khuyết và tội lỗi của chúng ta.  Ý thức ấy càng mời gọi chúng ta bước đi trong từng cố gắng vươn cao hơn.  Cũng như người đàn bà mang thai cân nhắc từng đường đi nước bước, từng cách ăn mặc đi đứng, người cưu mang Chúa cũng tập trung tất cả suy tư, hành động, cư xử của mình vào chính Chúa.
Lẽ sống là động lực của người có niềm tin vào chính Chúa...
Bào thai càng lớn lên thì sự quên mình của người mẹ càng gia tăng.  Người cưu mang Chúa cũng thế.
Thánh Gioan Tẩy Giả đã diễn tả đúng đòi hỏi ấy khi Ngài nói về chúa Giêsu: "Ngài phải lớn lên, còn tôi phải nhỏ lại"... Càng quên mình, người tín hữu Kitô càng cảm nhận được sự hiện diện của Chúa trong tâm hồn.  Ðó là định luật của đời sống Ðức Tin.  Chính khi quên mình, người Kitô cảm nhận được sự hiện diện của Chúa và càng gặp được chính mình...
Mùa Vọng là mùa của thai nghén:
Chúng ta hãy chuẩn bị cho Chúa Giêsu một máng cỏ trong tâm hồn chúng ta.
Cũng như người đàn bà quên mình vì không biết bao nhiêu chuẩn bị cho con, chúng ta cũng hãy hướng trọn cuộc sống của chúng ta về với Chúa Giêsu.  Hãy để cho Ngài lớn lên bằng những nhỏ lại của chúng ta:
¨      nhỏ lại trong tham vọng,
¨      nhỏ lại trong những ước muốn  bất chính,
¨      nhỏ lại trong những đố kỵ, ghen ghét, ích kỷ,
¨      nhỏ lại trong muôn vàn những đớn hèn, nhỏ nhặt trong cuộc sống...
... Và rồi, với Chúa ngự trị trong ta, tình mến sẽ lớn mãi trong trái tim.

doantrang nguyen

unread,
Nov 30, 2011, 6:24:49 AM11/30/11
to chen_com_...@googlegroups.com, TVS, ha vietnam nguyen ngoc ha, Bich Thuan, CHIEU NJ VU, thunguy...@yahoo.com
Quý thực khách thân thương,
Hôm nay nhà bếp lại xin lòng quảng đại của quý vị
cho phép nghỉ một tuần, có việc phải đi xa.
Chân thành cám ơn quý vị.
 
Tình thương trong Chúa Giêsu và Mẹ Ngài,
dt
 
~^~
 
Ðôi Vai Của Người Cha
 
Tháng 11 năm 1958, ngay chính ngày đăng quang, khi nói chuyện với khách hành hương, Ðức cố Giáo Hoàng Gioan 23 đã kể lại một giai thoại trong cuộc đời của ngài như sau:
"Khi tôi lên 7, một hôm cha tôi đưa tôi đến một làng bên cạnh, nơi đang tổ chức một buổi lễ của “Công Giáo Tiến Hành” trong giáo phận.  Phải đi bộ nhiều cây số, tôi cảm thấy mệt mỏi.  Thỉnh thoảng dọc đường đi, cha tôi đã phải đặt tôi trên vai của người.  Ðến nơi, tôi cảm thấy thất vọng, bởi vì dân chúng quá đông, mà tôi thì bé nhỏ.  Mất hút trong chợ người, tôi không thể nhìn đoàn người đang diễn hành... Thế là một lần nữa, cha tôi lại bồng tôi trên vai của người.  Từ trên cao, tôi có thể xem thấy tất cả mọi sự".
Và vị Giáo Hoàng được mệnh danh "nhân lành" đã kết luận như sau: "70 năm qua, nhưng tôi vẫn còn ghi nhớ trong tâm trí cử chỉ của cha tôi.  Nó đã trở thành một biểu trưng kỳ diệu.  Ngày nay, mỗi khi mệt mỏi, mỗi khi tôi không còn thấy gì nữa, tôi nài xin vị Cha trên trời nâng tôi lên đôi cánh của Người".
 
Chỉ từ trên đỉnh cao, chúng ta mới có thể thấy rõ mọi sự.
Chính Chúa là đỉnh cao của chúng ta.  Nơi Người, chúng ta sẽ thấy được ý nghĩa của cuộc sống...
Những lúc chán sống, những lúc hầu như không còn thấy gì nữa, chúng ta hãy chạy đến với Người.

doantrang nguyen

unread,
Dec 7, 2011, 8:15:41 AM12/7/11
to chen_com_...@googlegroups.com, TVS, ha vietnam nguyen ngoc ha, Bich Thuan, CHIEU NJ VU, thunguy...@yahoo.com
Truyền Giáo
 
Một buổi tối nọ, viên sĩ quan trẻ tuổi người Pháp tên là Charles de Foucauld say mê kể cho gia đình nghe những cuộc thám hiểm của anh ở Maroc.
Người chăm chú theo dõi câu chuyện của anh nhất là cô cháu bé chưa tròn 10 tuổi.
Khi anh vừa chấm dứt thì cô bé đã bất thần đặt một câu hỏi như sau: "Thưa cậu, cháu đã thấy cậu làm được nhiều việc vĩ đại... Thế cậu đã làm được gì cho Thiên Chúa chưa?"
Câu hỏi ấy như một luồng điện giật khiến anh trở thành bất động.  Từ bao lâu nay, chưa có người nào đã khiến anh phải suy nghĩ nhiều như thế. "Anh đã làm gì cho Thiên Chúa chưa?".  Charles de Foucauld lục soát trong lương tâm của mình để chỉ thấy một lỗ hổng không đáy.  Anh đã phí phạm tất cả thời giờ của anh trong những cuộc ăn chơi trụy lạc và những danh vọng phù phiếm...
Mắt anh bỗng mở ra để thấy được nỗi khốn khổ, nghèo hèn của mình.
Ngày hôm sau, anh tìm đến xưng tội với một vị linh mục.  Anh vào dòng khổ tu, rồi xin đến Na-gia-rét để sống trọn vẹn cho Chúa Giêsu.
Ngày nọ, giữa lúc đang đắm mình trong cầu nguyện, anh bỗng nghe từ căn nhà bên cạnh có tiếng than van rên rỉ của một người Hồi Giáo.
Charles de Foucauld nghĩ đến gương bác ái của Chúa Giêsu: anh có thể giam mình cầu nguyện một mình giữa lúc những người anh em của anh đang rên rỉ trong hấp hối, trong thất vọng sao?  Nghĩ thế, anh bèn quyết định đến sống giữa họ, trở thành bạn hữu của họ, nhất là những người cô đơn, lạc lõng, nghèo hèn nhất trong xã hội.
Những năm cuối cùng, Charles de Foucauld sống giữa sa mạc Sahara, chia sẻ hoàn toàn cuộc sống với những người dân nghèo.  Charles de Foucauld đã chia sẻ với họ những giọt máu cuối cùng của anh: 
Ngày đầu tháng 12 năm 1916, anh đã bị thảm sát giữa lúc đang cầu nguyện... Ngày nay, các tiểu đệ và tiểu muội Chúa Giêsu tiếp tục lý tưởng sống của anh: họ lao động và sống giữa những người nghèo hèn nhất trong xã hội...
Tất cả cuộc sống và sự âm thầm hiện diện của họ là một cố gắng làm một cái gì cho Chúa.
 
·        Có những nhà truyền giáo rời bỏ quê hương để đi đến những nơi hoàn toàn xa lạ như Thánh Phanxicô Xaviê.
·        Nhưng cũng có những nhà truyền giáo dâng cả cuộc đời hy sinh cầu nguyện và đau khổ của mình như Thánh Nữ Têrêxa Hài Ðồng Giêsu.
·        Có những nhà truyền giáo hùng hồn rao giảng như các tông đồ Chúa Giêsu.
·        Nhưng cũng có những nhà truyền giáo âm thầm hiện diện và chia sẻ với những người nghèo khổ như Charles de Foucauld.
 
Âm thầm hiện diện, nhưng vẫn có thể chiếu sáng niềm tin yêu hy vọng:  đó là mẫu người truyền giáo mà Giáo Hội tại Việt Nam đang cần hơn bao giờ hết.  Những cuộc sống tử tế, hy sinh phục vụ, quên mình... vẫn là những lời rao giảng hùng hồn hơn bao giờ hết.
Reply all
Reply to author
Forward
0 new messages