Tản mạn đôi điều về chữ Hán - Nguyễn Hải Hoành

172 views
Skip to first unread message

高老馆主● Cao lão quán chủ

unread,
Nov 13, 2016, 7:02:35 AM11/13/16
to 高家书馆论坛 Diễn đàn Cao gia thư quán

Tản mạn đôi điều về chữ Hán

 

Nguyễn Hải Hoành

 

Năm 1936 Lỗ Tấn trăng trối “Không diệt chữ Hán thì TQ ắt mất nước”. Mao Trạch Đông sau cũng nói “Lối thoát của chữ Hán là Latin hoá

 

Dân tộc ta thời cổ không có chữ viết. Trong thời kỳ Bắc thuộc, tổ tiên ta đã mượn chữ của người Hán để dùng cho mình, nhưng không đọc theo âm Hán ngữ mà đọc theo âm tiếng Việt, và gọi là chữ Nho, tức chữ của người có học. Chữ Nho không ghi âm được tiếng Việt nhưng đã góp phần quan trọng xây dựng nền văn hóa Việt Nam suốt 2.000 năm cho tới đầu thế kỷ XX, khi nước ta bỏ chữ Nho, dùng chữ Quốc ngữ. Tuy vậy chữ Hán/Nho vẫn có vai trò quan trọng trong việc kế thừa nền văn hóa truyền thống của dân tộc ta. Hiện nay báo chí đang bàn nhiều về kiến nghị phục hồi dạy chữ Nho ở bậc học phổ thông và về Đề án Ngoại ngữ quốc gia giai đoạn 2016 – 2020 dự định thí điểm dạy Hán ngữ như một trong ba ngoại ngữ bắt buộc cho học sinh từ lớp 3 đến lớp 12… Vì thế có lẽ chúng ta nên tìm hiểu thêm về chữ Hán.

Bài này chỉ bàn về vài mặt hạn chế của chữ Hán, không bàn về ưu điểm. Do trình độ non kém của tác giả, bài viết không tránh khỏi có sai sót, xin quý vị chỉ bảo.

Xét về tính chất, chữ viết hiện dùng của các dân tộc chia làm hai loại: chữ biểu ý (chữ ghi ý, ideography) và chữ biểu âm (chữ ghi âm, phonography). Phần lớn các hệ thống chữ viết đang được dùng trên thế giới hiện nay đều là chữ biểu âm, riêng chữ Hán chủ yếu ghi ý, không ghi âm. Người Hoa đọc chữ Hán theo các âm khác nhau tùy theo dùng phương ngữ (方言, dialect) nào. Trung Quốc (TQ) hiện có bảy phương ngữ lớn, nhiều phương ngữ nhỏ. 70% người TQ dùng phương ngữ miền Bắc, sáu phương ngữ còn lại của miền Nam. Hiến pháp TQ quy định toàn dân đẩy mạnh sử dụng tiếng Phổ thông (Standard Mandarin), lấy âm tiếng Bắc Kinh làm chuẩn.

Như chữ viết của các dân tộc khác, ban đầu chữ Hán là chữ tượng hình (pictography), một dạng thô sơ của chữ biểu ý, sau đó hoàn thiện dần. Ở chữ Hán, hình vẽ biến thành các nét vẽ, tức nét chữ; chúng được sắp xếp với nhau theo quy tắc nhất định, hình thành chữ, mỗi chữ nằm trong một ô vuông, vì thế còn gọi là chữ vuông (block word).

Chữ Hán có đặc điểm nhìn chữ không đọc được âm, không hiểu được nghĩa; học chữ nào phải thuộc lòng chữ ấy. Ngô Văn Siêu, chuyên gia TQ từng dịch 25 năm ở Liên Hợp Quốc nói: “So với các ngôn ngữ dùng chữ biểu âm, chữ Hán rất khó học, không có hiệu suất và quá già cỗi, không thích hợp với một thế giới số hóa, toàn cầu hóa”. Học viện Dịch vụ Ngoại giao Mỹ coi chữ Hán là loại chữ khó học nhất với người nói tiếng Anh. Các nhà Nho nổi tiếng ở ta cũng đều nói chữ Nho: “Khi dùng được chữ thì trán đã nhăn, lưng đã còng” (Vũ Bội Liêu), “Học cho đến chết cũng chưa nhớ nổi một phần ba”, “Người có tài trí phải mất đi tinh lực nửa đời người dùi mài vào cái học ấy, không còn thì giờ và tâm trí để học những cái khác”.1

Vì sao chữ Hán khó học?

Bỏ qua phần nói về văn ngôn, chúng tôi thấy chữ Hán khó học, khó dùng, chủ yếu bởi mấy lẽ:

Có quá nhiều chữ

Hiện chưa có số liệu chính xác về tổng số chữ Hán. Thời Ân – Thương có khoảng 2.000 chữ; thời Hán, sách Thuyết văn giải tự lần đầu thu gom được 9.353 chữ. Sách Ngọc thiên (thời Nam Triều) – 16.917 chữ; sách Tập Vận (đời Tống) – 53.525; Khang Hy Tự điển (đời Thanh) – 47.035; Trung Hoa Tự hải (1994) -85.568; Tiêu chuẩn Nhà nước TQ GB18030 (2005) – 70.217. Từ điển Tân Hoa online – 20.959 chữ. Kho chữ Hán của Công ty Thiết bị Tư vấn Quốc An Bắc Kinh (kho chữ đầy đủ nhất ở TQ hiện nay) đã nhập được 91.251 chữ có xuất xứ và đã qua kiểm định.

Sau đây chỉ bàn về những chữ thường dùng đã được Nhà nước TQ chuẩn hóa và ghi trong Bảng chữ Hán quy phạm thông dụng công bố ngày 18/6/2013, là quy phạm kèm theo bộ Luật Ngôn ngữ văn tự thông dụng nhà nước của nước CHND Trung Hoa. Bảng này được làm từ tháng 4/2001, sau 80 cuộc họp, hơn 3.000 lượt chuyên gia tham gia, sửa hơn 90 bản thảo mới ra văn bản cuối cùng, có tính chuẩn mực, tính hiện đại và tính thông dụng. Nhằm ổn định việc dùng chữ trong xã hội, bảng này không phục hồi chữ phồn thể. Bảng gồm 8.105 chữ giản thể, chia ba cấp. Cấp 1 có 3.500 chữ, đáp ứng nhu cầu dùng chữ của giáo dục cơ sở và phổ cập văn hóa. Cấp 2 gồm 3.000 chữ có mức độ sử dụng phổ biến chỉ kém cấp một. 6.500 chữ nói trên đáp ứng nhu cầu dùng chữ của việc xuất bản các văn bản Hán ngữ hiện đại, là những chữ có tần suất sử dụng cao chọn từ chữ của chín Kho Ngữ liệu lớn. Cấp 3 gồm 1.605 chữ thông dụng trong các lĩnh vực như họ tên, địa danh, thuật ngữ khoa học kỹ thuật và văn văn ngôn trong giáo trình ngữ văn trung-tiểu học, đáp ứng nhu cầu dùng chữ của các ngành có quan hệ mật thiết với đời sống đại chúng và phổ cập văn hóa. Tài liệu TQ nói: biết 3.500 chữ cấp 1 là có thể đọc sách báo Hán ngữ hiện đại; tốt nghiệp tiểu học phải biết 3.000 chữ; công dân cần biết 6.500 chữ. Tình trạng có quá nhiều chữ Hán đã gây khó khăn lớn cho người học. Người bình thường khó nhớ được âm và nghĩa của 3.500 chữ cấp 1; viết chữ lại càng khó. Giáo sư triết học Trương Quảng Chiếu ở Bắc Kinh nói ông chỉ viết được 3.000 chữ. Tác giả bài này không nhận được mặt chữ của nhiều chữ cấp 2 và hầu hết chữ cấp 3!

Chúng tôi cho rằng người ta phải tạo ra nhiều chữ chủ yếu do chữ Hán thuộc loại chữ biểu ý. Chữ biểu ý được tạo ra theo nguyên tắc mỗi chữ biểu thị ít nhất một “ý” (idea), hoặc mỗi “ý” cần biểu thị bằng một chữ. Trên thực tế số lượng “ý” nhiều vô kể, bao nhiêu chữ cũng chưa đủ.

 Do chữ Hán thuộc loại chữ biểu ý, mỗi chữ biểu thị ít nhất một “ý”, hoặc mỗi “ý” cần biểu thị bằng một chữ nên bao nhiêu chữ cũng chưa đủ. Trong ảnh: Một loại mỳ sợi tỉnh Thiểm Tây xưng danh bằng chữ [biáng] 56 nét, không có trong từ điển.

 

Loài người ngày càng khám phá nhiều cái mới, đời sống ngày càng phong phú, buộc phải tạo thêm chữ Hán mới. Năm 1921 khi viết truyện Cố Hương, Lỗ Tấn đã tạo chữ [chá] để chỉ con Tra, một loại chồn ăn dưa. Sau khi tiếp xúc với phương Tây, người TQ đã tạo nhiều chữ để gọi tên các khái niệm mới. Như khi người Đức mở nhà máy rượu bia ở Thanh Đảo, người ta tạo chữ [pí] để chuyển ngữ chữ beer. Năm 1917 nhà thơ Lưu Bán Nông tạo ra chữ [ta] khi ông dịch chữ she trong một kịch bản của Anh Quốc. Ông đã dùng khi viết bài thơ tình nổi tiếng Sao tôi không nhớ nàng. Về sau ông lại tạo chữ [ta] để chỉ ngôi thứ ba giống trung, ứng với chữ it tiếng Anh. đã nhập khẩu khái niệm giống (gender) trong ngôn ngữ phương Tây vào ngôn ngữ TQ quen trọng nam khinh nữ, là một sáng tạo có giá trị nhân văn. Tiếc rằng , , đều đọc cùng âm [ta], nếu chỉ nghe đọc mà không nhìn chữ thì khó biết giống của ngôi thứ ba ấy. Năm 1953, GS Sái Phương Am tạo chữ [tóng] (Đồng) cấu tạo bởi ba chữNhân, Công, Thạch, nghĩa là đá nhân tạo thay cho từ 混凝土 [hùn níng tǔ] chỉ bê-tông, nhằm giảm nét chữ từ 30 còn 10… Những chữ mới nói trên đều được Nhà nước công nhận.

Lẽ ra phải hạn chế lượng chữ cho hợp với khả năng nhớ của bộ óc, nhưng người xưa lại cho rằng tạo càng nhiều chữ càng tốt. Rốt cuộc kho chữ Hán chứa rất nhiều chữ hầu như không dùng tới. Sau năm 1949, Chủ tịch Mao Trạch Đông từng chủ trương bỏ bớt một số chữ.

Như có chữ [yǒu] (Hữu, có) rồi thì chỉ thêm chữ [méi] (Một, không) là thể hiện được ý “không có” (没有), hoặc dùng chữ [wú] (Vô, không). Nhưng lại tạo thêm chữ [mǎo] (Mão, không có). Khái niệm “già”, đã có chữ [lǎo] (Lão), lại còn tạo chữ [mào] (Mạc, già 80-90 tuổi), và chữ [dié] (Điệt, già 70-80 tuổi]. Nếu mỗi trạng thái già biểu thị bằng một chữ riêng, thì cần bao nhiêu chữ? Cái chết dùng chữ [sǐ] (Tử) là đủ, lại vẽ ra chữ [hong] (Hoăng) để biểu thị cái chết của người làm quan to. Lá chè hái muộn gọi là [chuǎn] (Suyễn). Chó nhiều lông gọi là [máng] (Mang). Bò và ngựa lang đen trắng có tên riêng là , đều đọc [máng] (Mang). Núi đồi trọc dùng 秃山 [tu shan] (Thốc Sơn) là đủ, lại tạo thêm một chữ đồng nghĩa [qǐ] (Kỉ). Khái niệm “ba cái” dùng 三个[san ge] (Tam Cá) là được, lại tạo thêm chữ đồng nghĩa [sa] (Ta)…

Cả thế giới có hàng triệu địa danh, thế nhưng lại tạo chữ riêng để gọi. Như [yín] (Ngân) là tên một huyện ở Chiết Giang, [sù] (Tốc) tên một con sông ở Sơn Tây; [yì] (Dịch) tên một ngọn núi ở Sơn Đông… Thậm chí một loại mỳ sợi tỉnh Thiểm Tây xưng danh bằng chữ [biáng] 56 nét, không có trong từ điển.

Rất nhiều ví dụ như trên cho thấy tình trạng tạo chữ Hán ở thời xưa không có quy tắc nghiêm chỉnh, không khoa học, thiếu logic. Về sau, khi thấy cần phải hạn chế số chữ, người ta đã tìm cách dùng chung những chữ cũ nhưng gán thêm ý mới. Như dùng cách giả tá để tạo chữ mới mà không cần thêm chữ có tự dạng khác. Song như vậy lại phát sinh những rắc rối mới.

Nhiều chữ có quá nhiều nét

Chữ Hán cấu tạo bởi các đơn vị nhỏ nhất là nét (筆畫 stroke). Có tám nét cơ bản: chấm, ngang, sổ, phẩy, mác, hất, gập, móc.

Phần lớn chữ Hán có nhiều nét, hình dạng chữ phức tạp, khó nhớ khó viết. Trong bảng 2.000 chữ thường dùng công bố năm 1952 (quy định lượng chữ Hán tối thiểu cho người biết chữ), bình quân mỗi chữ có 11-12 nét, song có đến 221 chữ có hơn 17 nét. Đều là chữ giản thể mà vẫn còn nhiều nét như thế, thực sự khiến người ta ngại học.

Trong 3.500 chữ cấp 1 của Bảng chữ Hán quy phạm thông dụng chỉ có ba chữ một nét: chữ [yi] (Nhất), chữcó bốn âm đọc [gǔn], [shù], [yī], [tuì], và chữ [yǐ] (Ất). Còn lại 19 chữ hai nét, 52 chữ ba nét, 116 chữ bốn nét, 158 chữ năm nét, 251 chữ sáu nét… Một số chữ quá nhiều nét: chữ [chù] (Xúc, đứng thẳng) 24 nét, [qú] (Cù, tên một loài côn trùng) 26 nét; thậm chí như chữ [nàng] (Náng, ngạt mũi) có đến 36 nét. Trong Tiêu chuẩn Nội mã Nhà nước GBK (Chinese Internal Code Specification) còn ghi nhận một chữ 48 nét, cấu tạo bởi ba chữ Long phồn thể (mỗi chữ 16 nét), đọc [dá] (sự bay của cả đàn rồng). Một số chữ tạo ra bằng cách đơn giản xếp chồng cùng một chữ, như [jian] (Gian, gian dối), [pá] (Vát, kẻ móc túi)… Chữ nhiều nét nhất có 64 nét, ghép bởi bốn chữ Long (hai trên, hai dưới), đọc [zhé], (lải nhải, lắm điều).

Các nét sắp xếp rất phức tạp, gây khó cho việc viết và phân biệt chữ. Như trong chữ [yue] (Viết), nét ngang không chạy hết khung vuông mà chừa lại một khoảng cách rất nhỏ, khó phân biệt với chữ [rì] (Nhật). Bộ ở ba chữ cùng đọc [jìu]: (Cựu), (Cựu), (Cữu) có cấu tạo hai nét ngang trong ô vuông cách nhau một cự ly quá nhỏ rất khó tạo được khi viết chữ nhỏ. Chữ [gài] (Cái) khác [miǎn] (Miễn) ở một nét gập cực ngắn nên rất dễ nhầm với nhau. Do các nét quá gần nhau nên chữ nhiều nét không thể viết nhanh, viết nhỏ được, và đọc rất hại mắt. Ở thời đại in bằng bản khắc gỗ, chữ in ra thường mất nét.

Vì viết chữ trên mai rùa hoặc thẻ tre rất mất công, người xưa đã tìm cách bớt nét chữ. Từ đầu thế kỷ XX, giới học giả đưa ra nhiều phương án giảm nét chữ. Sau năm 1949, nước CHND Trung Hoa đã thực hiện thành công việc đơn giản hóa chữ Hán: Năm 1956 công bố 515 chữ giản thể. Năm 1986, công bố 2.235 chữ giản thể. Năm 2013 công bố Bảng chữ Hán quy phạm thông dụng có kèm theo Bảng đối chiếu chữ Quy phạm với chữ phồn thể và chữ dị thể.

Có quá nhiều chữ đồng âm

Chữ đồng âm tức chữ cùng âm nhưng khác mặt chữ và nghĩa, vì thế khi nghe đọc rất dễ hiểu nhầm ý, viết nhầm chữ. Như , đọc cùng âm [yuè] (Việt), nếu không nhìn mặt chữ sẽ dễ lẫn lộn giữa tên riêng tỉnh Chiết Giang với tên riêng tỉnh Quảng Đông.

Chúng tôi thử thống kê theo Tân Hoa Tự điển bản in 2006, thấy chỉ có 21 chữ không có chữ đồng âm, như [gěi], [néng], [ri],…; 10 âm có hai chữ đồng âm và bảy âm có ba chữ đồng âm. Còn lại đều có ít nhất bốn chữ đồng âm. Những âm có nhiều chữ đồng âm nhất là: âm [yi] có 147 chữ, âm [xi] – 123, [ji] -122, [yu] -118, [zhi] – 96, [li] -86, [shi] – 79, [wei] -70, [ju] – 68, [bi] – 66, [wu] – 64, [jie] – 61, [jiao] -60, [xian] – 57…

Theo chúng tôi, sở dĩ có nhiều chữ đồng âm là do Hán ngữ quá nghèo âm tiết. Trong khi đó, kho chữ lại có quá nhiều chữ, vì thế buộc phải tạo nhiều chữ đồng âm. Tài liệu TQ nói Hán ngữ cả bốn thanh điệu có khoảng 1.200 âm tiết. Chúng tôi thấy trong Tự điển nói trên, toàn bộ chỉ có 415 âm tiết; tính cả bốn thanh điệu thì cũng không quá 1.200 âm tiết. Nếu chia 91.251 (tổng số chữ Hán) cho 1.200 âm tiết, bình quân mỗi âm có hơn 70 chữ đồng âm.

Theo chúng tôi, tình trạng có quá nhiều chữ đồng âm là hậu quả tất nhiên của chữ biểu ý, bởi lẽ số âm tiết con người có thể phát âm được thì quá ít so với lượng chữ cần tạo ra.

Tình trạng lạm phát chữ đồng âm đã mang lại lắm rắc rối. Khi nghe nói, nghe hát, người nghe rất dễ hiểu nhầm ý nghĩa chữ. Ví dụ 怎麽辦 (làm thế nào) nhầm với 怎麽拌 (trộn thế nào); chữ (Đính) nhầm với (Định), chữ (Khôi, tro) nhầm với (Khôi, rộng lớn), chữ (Tọa, ngồi) nhầm với (Tọa, chỗ ngồi)… Phim TQ thường phải thêm phụ đề chữ cho ca từ để không bị nghe nhầm. Khi đọc trên đài truyền thanh, truyền hình hoặc khi nói chuyện, nếu gặp chữ dễ gây nhầm lẫn, người nói phải giải thích cấu tạo chữ đó. Như khi nói tới họ Lý [li], phải nói rõ đây là “木子李 Mộc Tử Lý” để người nghe hiểu đúng mà không nhầm với 86 chữ khác cùng âm [li]. Khi đánh chữ Hán bằng máy tính theo hệ abc, ví dụ chữ 亿 [yi], sau khi gõ yi, màn hình hiện ra 147 chữ cùng âm, phải dò từ 147 chữ ấy để lấy ra chữ 亿.

Có nhiều chữ đa âm đa nghĩa

Đa âm tức có ít nhất hai âm đọc. Sở dĩ nhiều chữ đa âm là do số chữ Hán tạo ra không đủ dùng, phải dùng chữ đã có nhưng gán cho nó âm đọc mới và nghĩa mới. Tài liệu TQ nói trong 3.500 chữ thường dùng có 250 chữ đa âm; hoặc chữ đa âm chiếm 16,7% kho chữ Hán; Tự điển Tân Hoa có hơn 600 chữ đa âm. Như chữ có ba âm: [can] (Tham: tham gia, tham khảo), [cen] (Sâm: so le), [shen] (Sâm: nhân sâm). Chữ nhiều âm nhất là có năm âm : [hé] (Hòa: hòa giải), [hè] (Họa: phụ họa), [huó] (Hòa: trộn, nhào), [huò] (Họa: 和稀泥 hòa giải vô nguyên tắc), [hú] (Hòa: Ù ván tổ tôm).

Chữ đa âm đa nghĩa còn gọi là chữ Phá âm 破音字. Như dùng với nghĩa “cho” thì đọc [gěi], dùng với nghĩa “cung ứng” phải đọc [jǐ]. Chữ có ba âm đọc là [shù], [shǔ], [shuò], mỗi âm có một nghĩa khác nhau, rất dễ đọc nhầm dùng nhầm.

Phần lớn chữ Hán có nhiều nét, hình dạng chữ phức tạp, khó nhớ khó viết.
Trong ảnh: Chữ
[nàng] (Náng, ngạt mũi) có đến 36 nét.

 

Cá biệt có chữ đa âm nhưng cùng nghĩa, như (Thùy, ai) đọc [shéi] hoặc [shuí] đều được. Một số chữ khi đứng trong các từ ngữ khác nhau thì phải đọc khác nhau nhưng nghĩa vẫn như nhau. Như chữ (Huyết, máu) đọc [xiě] trong văn nói, nhưng đọc [xuè] trong văn viết.

Chữ có một nghĩa gọi là chữ đơn nghĩa, có từ hai nghĩa trở lên gọi là chữ đa nghĩa, tức có những nghĩa khác nhau khi nó đứng trong các từ ngữ hoặc câu khác nhau.

Thông thường đa nghĩa là do chữ có những âm đọc khác nhau. Chữ Hán khi mới tạo ra đều là chữ đơn nghĩa, nhưng trong quá trình sử dụng lâu dài, một số chữ dần dần trở thành đa nghĩa. Phần lớn chữ Hán hiện đại là chữ đa nghĩa.

Chữ đa âm đa nghĩa làm cho người ta nhìn chữ mà không biết đọc và hiểu thế nào, nhất là với chữ đơn độc, có khi gây hiểu lầm đáng tiếc. Năm 1957, TQ lập Khu Tự trị dân tộc Choang Quảng Tây, đặt tên 广西僮族自治区 thì năm 1965 phải đổi chữ trong cụm từ đó thành chữ . Lý do: chữ có hai âm đọc: [tóng] (Đồng: đầy tớ trẻ con, thằng nhỏ) và [zhuàng] , nên có thể gây hiểu nhầm là “dân tộc đầy tớ trẻ con” ; trong khi chữ chỉ có một âm [zhuàng] nên không thể đọc nhầm, hiểu nhầm.

         

Một số chữ tạo ra bằng cách đơn giản xếp chồng cùng một chữ, như chữ [dá] (sự bay của cả đàn rồng), cấu tạo bởi ba chữ Long phồn thể (một trên, hai dưới, tổng cộng 48 nét); hay chữ [zhé] (lải nhải, lắm điều),ghép bởi bốn chữ Long phồn thể (hai trên, hai dưới), cũng là chữ Hán có nhiều nét nhất – 64 nét.

 

Phỏng đoán tương lai của chữ Hán

Ngôn ngữ là công cụ tư duy, và nó cũng phản ánh tư duy. Ngôn ngữ biểu ý có đặc điểm là muốn hiểu đúng thì phải nhìn mặt chữ, điều đó tạo ra thói quen coi nhẹ sự phân biệt âm đọc của chữ, tùy tiện tạo nhiều chữ đồng âm. Hán ngữ hơn 4.500 năm dừng lại ở giai đoạn dùng chữ biểu ý mà không chuyển sang chữ biểu âm như phần lớn các ngôn ngữ khác, điều đó thể hiện đặc điểm tư duy của người Hoa. Trên thực tế chữ Hán đã trải qua nhiều thăng trầm.

Trong hàng nghìn năm, người Hoa có tâm lý kính sợ “chữ Thánh hiền”, coi mỗi chữ đều là kết tinh trí tuệ của tổ tiên, chuyên chở và kế thừa truyền thống văn hóa của họ.

Cuối thế kỷ XIX, khi tiếp xúc với phương Tây, giới trí thức TQ thấy chữ viết của người ta quá dễ học, nhờ thế phần lớn dân biết chữ, dân trí cao, khoa học kỹ thuật tiên tiến, dân giàu nước mạnh. Ngược lại, chữ TQ quá khó học, vì thế hầu hết dân mù chữ, ngu dốt, đất nước lạc hậu, yếu hèn, kết quả bị phương Tây bắt nạt. Thời phong trào Ngũ Tứ, các học giả tiên tiến và các lãnh tụ cộng sản TQ đổ lỗi tình trạng đó cho đạo Khổng và chữ Hán, chê chữ vuông là loại chữ “dã man, lạc hậu”. Nhà ngôn ngữ học nổi tiếng Tiền Huyền Đồng nêu khẩu hiệu “Muốn phế bỏ Khổng học, không thể không trước tiên phế bỏ chữ Hán” và yêu cầu toàn dân học tiếng Anh từ tiểu học, bỏ tiếng TQ2. Mao Trạch Đông nói chữ phồn thể là rào cản do giai cấp thống trị phong kiến đặt ra để độc quyền tri thức, ngăn cản nhân dân làm chủ tri thức.

Từ đó trở đi, giới tinh hoa TQ dốc sức cải cách chữ Hán. Đại để theo ba bước:

đơn giản hóa chữ Hán để xóa nạn mù chữ,

ghi âm chữ Hán để thống nhất âm đọc Hán ngữ trong cả nước,

thay chữ Hán bằng một loại chữ biểu âm để Hán ngữ hòa nhập với ngôn ngữ toàn thế giới.

Sau năm 1949, Chính phủ TQ tiến hành cải cách chữ Hán với quy mô lớn chưa từng có. Đã hoàn tất việc đơn giản hóa chữ Hán, nhiều chữ được bớt nét, trở thành chữ giản thể; nhờ thế xóa gần hết nạn mù chữ. Rồi lại thành công làm ra hệ thống ghi âm (phiên âm/ chú âm) chữ Hán bằng chữ Latin, qua đó thống nhất trong phạm vi cả nước âm đọc từng chữ trong hệ thống tiếng Phổ thông, tạo điều kiện thống nhất ngôn ngữ và dân tộc, đồng thời tạo thuận tiện cho việc dùng chữ cái Latin phiên âm các danh từ riêng của Hán ngữ, xếp sắp chữ Hán trong các loại tự điển và làm chỉ mục (index) trong các văn bản in ấn, thúc đẩy Hán ngữ hòa nhập toàn cầu.

Nhưng sau đấy việc nghiên cứu thay chữ Hán bằng chữ biểu âm bị dừng lại. Có lẽ đó là do người Hoa trên thế giới cho rằng chữ Hán là tiêu chí của nền văn minh Trung Hoa, gắn với lịch sử và truyền thống dân tộc, bỏ chữ Hán nghĩa là xóa bỏ lịch sử và nền văn minh Trung Hoa, họ không cho phép làm thế. Vì vậy Chính phủ TQ đã ban hành luật ngôn ngữ, khẳng định phiên âm/ ghi âm chữ Hán chỉ là một công cụ bổ trợ, không được coi là văn tự chuẩn bị thay thế chữ Hán. Biên bản Hội nghị công tác văn tự toàn quốc ngày 31/5/1986 nói rõ: Trong một thời kỳ tương đối dài sau đây, chữ Hán vẫn là văn tự pháp định của nhà nước.

Như vậy là biên bản này vẫn dành hy vọng cho các học giả chủ trương phiên âm hóa Hán ngữ, tức thay chữ Hán bằng một loại chữ biểu âm. Họ tin là sớm muộn mọi người sẽ nhận ra sự bất lợi lâu dài của việc dùng chữ biểu ý trong một thế giới toàn cầu hóa, tin học hóa.

Theo chúng tôi, chủ trương phiên âm hóa Hán ngữ là đúng nhưng không thể thực hiện. Lý do: đã quá muộn, không thể vượt qua trở ngại có quá nhiều chữ đồng âm. Các loại chữ tượng hình – biểu ý đều chuyển thành chữ biểu âm từ rất sớm, ít nhất cả nghìn năm trước, khi số chữ chưa nhiều, số người dùng chữ còn rất ít. Riêng chữ Hán suốt 4.500 năm không thay đổi, kho chữ nay đã có khoảng 100 nghìn chữ, được 1,4 tỷ người sử dụng, đã quá muộn để thay đổi thói quen mấy nghìn năm của từng ấy người.

Như đã nói, loại chữ biểu ý nào cũng đều có nhược điểm bẩm sinh là cần quá nhiều chữ, bao nhiêu cũng không đủ. Để bớt số chữ, buộc phải mượn chữ đã có để thêm nghĩa mới, âm mới. Hậu quả là chữ Hán ngày càng có quá nhiều chữ đồng âm, chữ đa âm đa nghĩa. Giả thử chỉ nghe hoặc chỉ xem phần chữ Latin phiên âm của chữ Hán, thì sẽ nhầm lẫn, không thể nào hiểu được. Ví dụ khi nhìn mấy chữ Hán đồng âm 施氏食獅史 (Thi thị thực sư sử: Chuyện ông Thi ăn thịt sư tử)3, người TQ có thể hiểu ý mấy chữ đó; nhưng nếu phiên âm bằng chữ Latin sẽ được “shī shì shí shī shǐ”, đọc mấy chữ ấy không ai có thể hiểu nghĩa là gì. Khi viết từ “công kích攻擊” bằng chữ Latin “gong ji” sẽ có thể nhầm với từ đồng âm “công kê 公雞” là “gà trống”… Nói cách khác, nếu Hán ngữ dùng chữ biểu âm thì khi đọc lên người nghe sẽ chẳng hiểu hoặc hiểu nhầm. Tóm lại, tình trạng có quá nhiều chữ đồng âm đã làm thất bại mọi cố gắng chuyển Hán ngữ sang dùng chữ biểu âm.

Năm 1936 Lỗ Tấn trăng trối “Không diệt chữ Hán thì TQ ắt mất nước”. Mao Trạch Đông sau cũng nói “Lối thoát của chữ Hán là Latin hoá”. Nhưng năm 2009, Vương Mông – nguyên Bộ trưởng Văn hóa – tuyên bố tại Đức: “TQ không thể thay đổi chữ Hán… nếu không sẽ mất nước”. Như vậy xem ra chưa thể khẳng định về tương lai của chữ Hán. Có lẽ Hán ngữ sẽ giữ nguyên trạng như ngày nay, khó có cải tiến gì lớn. Nhưng không thể nói Hán ngữ là tử ngữ, vì nó hiện vẫn được nhiều người dùng nhất thế giới.

Lịch sử cho thấy nền văn minh Trung Hoa 5.000 năm đạt được ít thành tựu có tác dụng to lớn thúc đẩy sự tiến bộ của loài người. Trong cuốn Vì sao người TQ ngu thế4 triết gia Li Ming đã phân tích vấn đề đó, cho rằng chủ yếu do người TQ thiếu tư duy logic và luôn tự cho mình thông minh, nhưng không rõ vì sao tác giả chưa nói gì về vai trò của chữ Hán.

Có thể thấy do chữ Hán khó học nên thời xưa hầu hết dân chúng mù chữ, chỉ một thiểu số biết chữ nhưng lại phải dành phần lớn cuộc đời vào việc học và dùng chữ cho nên không còn thời gian nghĩ tới khoa học, triết học. Hầu như họ chỉ dùng chữ để làm thơ ca, chép sử…, rất ít làm khoa học kỹ thuật. Học giả W. C. Hannas nhận xét: “Việc học thuộc lòng chữ Hán tạo ra ở người TQ thái độ tuân theo quy củ và thói quen trọng phương pháp mà không trọng kết quả, mất rất nhiều thời gian vào việc viết chữ, thiếu thời gian suy nghĩ”.

Tâm lý thần bí kính sợ chữ Hán cũng góp phần hạn chế phổ cập thứ chữ này, bởi lẽ cái gì thần bí thì rất ít người nắm được, và kẻ nắm được chữ Hán thì lại dùng nó để thực hành chuyên chế độc tài, cố ý để dân chúng mù chữ nhằm dễ sai bảo. Đại học giả ngôn ngữ Lã Thúc Tương nói: “TQ có thực hiện phiên âm hóa chữ viết thì mới thực hiện được dân chủ”.

Ngoài ra, chữ biểu ý không thích hợp với tư duy trừu tượng. Nhìn chữ biểu ý, ta sẽ có ngay nhận thức cảm tính, như nhìn chữ  nghĩ tới cái mũ. Nhưng nhìn chữ a sẽ chẳng nghĩ tới cái gì. Nhận thức cảm tính có thể che lấp sự xuất hiện nhận thức lý tính (tư duy trừu tượng). Như Hannas nói: Học Hán ngữ sẽ thúc đẩy tư duy thực tiễn chứ không phải tư duy trừu tượng, do đó làm yếu sức sáng tạo ở tầng sâu. Hệ chữ cái phương Tây có thể sớm trau dồi năng lực phân tích và suy nghĩ trừu tượng.

Ngày nay, sự phát triển công nghệ tin học và mạng đang giảm dần các khó khăn trong việc học và dùng chữ Hán. Nhớ và viết chữ phồn thể vẫn chậm và khó hơn chữ giản thể, nhưng đánh chữ trên máy tính thì như nhau. Vì thế có lẽ quan điểm phục hồi chữ phồn thể sẽ ngày càng được nhiều người tán thành. Trong kỳ họp Quốc hội TQ tháng 3/2015, hai đạo diễn Phùng Tiểu Cương và Trương Quốc Lập đã đưa ra đề án khôi phục 100~200 chữ phồn thể có hàm nghĩa văn hóa nhằm kế tục nét đẹp của văn hóa truyền thống. Đề án này tuy trái với Luật ngôn ngữ văn tự nhưng vẫn được dư luận quan tâm.

 

Chú thích:

1 [Xem tiểu đề I]

2 Thời Minh Trị một số học giả Nhật nổi tiếng cũng nêu đề nghị tương tự.

3 Trích từ một đoạn “kỳ văn” do nhà ngôn ngữ học nổi tiếng Triệu Nguyên Nhiệm viết hồi năm 1930 ở Mỹ, được in trong Encyclopædia Britannica dưới tiêu đề  Story of Stone Grotto Poet: Eating Lions.

4 [Xem tiểu đề II]

 

 


 >>>>> oOo <<<<<


Tiểu đề I

Dùng chữ Quốc ngữ là “một tai hoạ” ư?

 

Nguyễn Hoàng Sơn

 

Ai nói ra cái câu “động trời” này nhỉ? Xin thưa, đó không phải là một người vô danh tiểu tốt nào mà là một tên tuổi chói sáng trong ngành ngôn ngữ học, Việt ngữ học: Giáo sư Cao Xuân Hạo. Chính cái tên được nhiều người yêu mến và tin tưởng này khiến tôi phải đắn đo rất nhiều khi viết bài báo này. Tôi đã từng say mê những trang văn xuôi của Puskin, Tônxtôi do ông dịch, từng khoái chá đọc những bài ông viết về tiếng Việt, về tính hiếu học của người Việt đăng trên báo Văn Nghệ...Tôi tự hỏi: một người trung thực như thế, thông thái như thế, mới mẻ như thế tại sao lại có thể có những ý kiến ... lạ lùng như thế khi bàn về thứ chữ viết riêng của dân tộc ta là chữ Quốc ngữ?

Trong cuốn sách “Tiếng Việt, văn Việt, người Việt” (NXB Trẻ, 2001) GS Cao Xuân Hạo hơn một lần đã bày tỏ sự tiếc nuối vì dân ta đã bỏ mất thứ Quốc tuý, Quốc hồn là chữ Hán để dùng chữ Quốc ngữ là thứ chữ “khó lòng thích hợp với tiếng Việt và cách tri giác của người Việt đối với tiếng mẹ đẻ của họ” (tr 105). GS Cao Xuân Hạo cho biết ông đã bỏ công ra viết một cuốn sách tiếng Pháp để chứng minh điều ấy (chắc là cho các ông Tây), cuốn “Âm vị học tuyến tính”, Paris, 1985. Dân ta chắc ít người được đọc công trình ấy nên GS phải nhắc đi nhắc lại những luận điểm của mình trong nhiều bài viết liên tiếp. Trong bài “Chữ Tây và chữ Hán, thứ chữ nào hơn?” (đăng lần đầu trên tạp chí Kiến thức ngày nay số 141, năm 1994), trước tiên ông làm thao tác “nói ngược” để gây ấn tượng: “Có khá nhiều người Việt nghĩ đến những ai đã đem chữ Quốc ngữ thay cho chữ Hán, chữ Nôm với một lòng biết ơn sâu xa, cho rằng việc đó đã đưa nước ta tiến vào hiện đại. Nghĩ như như thế tôi e có phần vội vàng” (tr 102). Xin lưu ý từ “những ai”, rất đúng: để có chữ Quốc ngữ được dùng phổ biến như hiện nay, công lao không chỉ thuộc về ông Tây A-lếch-xăng đờ Rốt (mà động cơ còn nhiều nghi vấn), công ấy còn thuộc về hàng triệu hàng triệu người, có tên và không tên đã bền bỉ truyền bá, phổ biến, hoàn thiện nó, trước hết phải kể đến các nhà trí thức trong Ðông kinh nghĩa thục (1907), trong phong trào Truyền bá chữ Quốc ngữ những năm 40, những chiến sĩ diệt dốt và Bình dân học vụ sau Cách mạng Tháng Tám...Tại sao GS Cao Xuân Hạo khuyên chúng ta không cần biết ơn những bậc tiền bối trên? Lí do rất đơn giản: vì chữ Quốc ngữ ABC là thứ chữ...chả ra gì, kém xa chữ Hán, và việc dùng nó để thay thế chữ Hán là một sự nhầm lẫn lịch sử, “một trong những biến cố có hại, nhưng không thể hoán cải, đã trót xảy ra rồi”, “một trận hồng thuỷ”, “một tai hoạ”... Tóm lại, rất nhiều từ ngữ được GS huy động để “tổng xỉ vả” thứ chữ cả nước và chính ông đang dùng hàng ngày. Muốn hạ thấp vị thế chữ Quốc ngữ thì phải đề cao chữ Hán. GS Cao Xuân Hạo rất hứng thú với cái thí nghiệm của một nhóm ngữ học người Mỹ năm 1978: một nhóm trẻ em mắc chứng alexia (không đọc được chữ) được người ta dạy đọc tiếng Anh nhưng viết bằng chữ Hán, “chẳng hạn câu He came to a high mountain được viết bằng sáu chữ Hán là “Tha đáo cập nhất cao sơn”. Sau năm đầu, các em đọc và viết được 1,600 từ đơn, và về khả năng hấp thụ tri thức, chúng tỏ ra không “đần độn” chút nào, mà kết quả học tập của chúng lại có phần trội hơn các em học tiểu học bằng chữ ABC” (tr 101). Từ thí nghiệm duy nhất này (mà chắc GS cũng chỉ đọc trên báo, chưa được kiểm nghiệm – câu ví dụ trên cũng rất đáng ngờ vì thiếu một chữ “toà” trước chữ “cao sơn”), ông say sưa thuyết giảng về những ưu việt tuyệt đối của chữ Hán so với mọi thứ chữ trên thế giới, trước hết là so với hệ thống chữ viết có nguồn gốc latin. Nào là “chữ Hán hơn hẳn chữ Tây” (về phương diện Gestalt, tức “diện mạo tổng quát”); “sách Tây rất khó đọc theo cách “nhất mục thập hàng” như sách chữ Hán”; “từ cổ đại, loài người đã có một hệ thống chữ viết gần đạt tới mức lí tưởng ấy: chữ Hán”; “bằng chứng sáng rực của tính ưu việt của chữ Hán là hiệu quả tuyệt vời của việc sử dụng nó cho một ngôn ngữ thuộc một loại hình hoàn toàn khác tiếng Hán: tiếng Nhật”; “Một nhà ngữ học Pháp gọi chữ Hán là “một thứ esperanto cho đôi mắt của các thần dân Trung Hoa”. Thứ esperanto này còn có tầm tác dụng vượt xa bờ cõi Trung quốc: nó còn là phương tiện giao tiếp đắc lực giữa người Hán và các sứ giả “man tộc” (!) như người Hàn, người Nhật, người Giao Chỉ, người Hồ, và các thứ “rợ” (!) khác, vốn thường bút đàm với người Hán (và với nhau) nhiều hơn là ngôn đàm” (tr 111)...Nhiệt liệt nhất là mấy câu này “Ngày nay nhiều người, trong đó có cả những nhà ngữ học phương Tây, đã thấy rõ những ưu điểm lớn lao của chữ Hán. Có người còn tiên đoán rằng chỉ vài ba mươi năm nữa, cả thế giới sẽ nhất loạt dùng chữ Hán để viết tiếng mẹ đẻ của từng dân tộc (theo họ, đến lúc ấy các hàng rào ngôn ngữ-barrières linguistiques- xưa nay vẫn ngăn cách các dân tộc, sẽ bị vô hiệu hoá)” (tr 106) Rồi còn câu này nữa “Dựa vào những thành quả ngoạn mục của việc dạy tiếng Anh bằng chữ Hán cho các học sinh Mỹ mắc chứng dislexia (không học được cách đánh vần- vẫn chỉ một thí dụ ấy! NHS), một số nhà ngữ học Mỹ đã thấy rõ tính ưu việt của một hệ thống văn tự phi ngữ âm và đã đi đến chỗ tin rằng đó chính là thứ chữ tương lai của nhân loại” (tr 111) Chà chà, thế này thì có cơ Việt Nam ta sẽ đứng hàng đầu trong phong trào Hán hoá toàn thế giới, vì chúng ta đã có căn bản nho học, người biết chữ Hán còn nhan nhản kia. Một GS có tiếng là uyên bác về Tây học, giỏi cả tiếng Nga, tiếng Pháp , tiếng Anh mà nói thế, còn nghi ngờ gì nữa, mau mau cắp sách đi học tiếng Hán thôi. GS còn dẫn một cuốn sách nổi tiếng (của một ông Tây, tất nhiên), để nói rằng sở dĩ nước ta chưa thành “rồng” như Trung Quốc (?), Nhật Bản, Ðài Loan, Hương Cảng (!), Ðại Hàn, Singapore là vì đã ...trót dại “bỏ mất chữ Hán mà trước kia nó từng dùng”. GS cũng đủ khôn khéo để chỉ dẫn ý kiến người khác, nhưng ta có quyền nghĩ rằng đây cũng là quan điểm của chính ông vì ông hoàn toàn không nghi ngờ gì về sự đúng đắn của ông Tây ấy. Xin tạm dừng việc trình bày nhiều luận điểm còn li kì hơn nữa của GS để bàn qua mấy lời về cái chuyện “hoá rồng” này. Trong lịch sử tư tưởng đã có nhiều tác giả tìm cách lý giải tại sao một dân tộc, một đất nước lại có trình độ phát triển cao hơn hoặc thấp hơn những nước khác. Thuyết địa lý thì cho là tại khí hậu: người ở vùng lạnh chịu suy nghĩ hơn người xứ nóng, vì thế nên châu Âu công nghiệp hoá sớm hơn... châu Phi chẳng hạn. Chủ nghĩa Mác thì tìm sự tương thích giữa lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất, giữa hạ tầng cơ sở và thượng tầng kiến trúc... Nay phải chăng GS Cao Xuân Hạo và ông Léon Vandermeersch nào đó muốn đưa ra “thuyết Hán tự” để soi sáng con đường đi cho các dân tộc? Trong xu thế “Hành trình về phương Ðông”, nếu một số học giả phương Tây có đề cao quá đáng văn hoá Trung Quốc (trong đó có chữ Hán) thì cũng là điều dễ hiểu và có thể thông cảm được. Nhưng nâng chữ Hán lên hàng “đấng cứu thế” cho dân tộc ta thì thật là điều kì quặc, phi lịch sử và dễ gây nên những ngộ nhận cho thế hệ trẻ. Nếu chữ Hán mà là “phương thuốc vạn năng” như thế thì nước Việt Nam thời vua Tự Ðức đã hoá rồng từ bấy giờ rồi, khỏi đợi chúng ta ngày nay phải loay hoay tìm trăm phương ngàn kế. Ông Nhật, ông Hàn, ông Sinh, ông Ðài Loan phất lên, phần lớn là nhờ chớp được thời cơ Mỹ đương sa lầy ở Việt Nam, cộng với một chính sách phát triển đúng đắn chứ đâu phải vì biết bảo tồn ba cái chữ khối vuông? Trung Quốc trước năm 1980 vẫn dùng chữ khối vuông đấy chứ, nhưng kinh tế thì “đứng bên bờ vực”, xã hội thì rối loạn, chỉ từ khi ông Ðặng Tiểu Bình trở lại nắm quyền, thực hiện chính sách cải cách, mở cửa, hướng về phương tây, hướng sang Mỹ thì họ mới phát triển, thanh niên kéo đến các trung tâm học tiếng Anh như nước chảy. Mới đây CCTV đưa tin TQ đã đưa tiếng Anh (nghĩa là đưa cái chữ ABC... không ưu việt) vào bậc tiểu học rồi. Năm lần bảy lượt, người TQ đã định la tinh hoá chữ viết của họ mà chưa làm được, hẳn GS phải biết rõ hơn chúng tôi điều ấy. Trong những nước và lãnh thổ “hoá rồng” mà GS nêu để làm gương cho nước Việt ta thì ít ra cũng có một nước không duy trì chữ Hán là nước Hàn (Nam Triều Tiên). Với họ chữ Hán tượng hình chỉ là “quốc tuý” được các viện nghiên cứu và một tầng lớp trí thức bảo tồn thôi (như ở nước ta), còn đại đa số dân chúng đều dùng chữ ghi âm cả. Tôi có một tài liệu của sứ quán Hàn Quốc về tiếng Hàn và chữ Hàn. Xin thưa với GS là thứ chữ mà toàn thể người dân Hàn dùng từ thế kỷ thứ XV đến nay không phải là chữ Hán mà là chữ Hàn 100% ghi âm. Ðó là thứ chữ có tên gọi “Han-gil” được tạo ra dưới thời vua Sejong, triều đại Choson (1392-1910). Năm 1446, hệ thống chữ cái đầu tiên của Hàn Quốc được công bố dưới cái tên là Hunmin Chong-um, nghĩa đen là “Những âm thanh chính xác dùng để dạy học” (trích từ trang web của sứ quán Hàn Quốc). Cũng tài liệu này viết “Trong thời gian trị vì đất nước, vua Sejong luôn cảm thấy xót xa vì người dân thường không biết đọc và biết viết chữ Trung Quốc vốn là một hệ thống chữ phức tạp được các học giả thời đó sử dụng; ông thông cảm khi thấy họ thất vọng vì không thể đọc, không thể giao tiếp hay biểu lộ tình cảm bằng văn bản...” “Cảm thông với những nỗi khó khăn của họ, ta đã tìm ra một tập hợp 28 kí tự rất dễ học. Mong mỏi thiết tha nhất của ta là chúng có thể cải thiện được chất lượng cuộc sống của tất cả moị người”. Lời tuyên bố đó thể hiện quyết tâm của vua Sejong và những cống hiến của ông cho nền văn hoá độc lập và khát khao mong mỏi của ông làm cho nhân dân thịnh vượng” (nt). Người Hàn Quốc rất tự hào về thứ chữ ghi âm khác hẳn với chữ Hán của họ “Ðây được coi là một hệ thống chữ cái hiệu quả nhất trên thế giới và được các chuyên gia đánh giá là rất khoa học và rất tuyệt vời” (nt). Một dẫn chứng trên có đủ để chỉ ra sự vô lí của học giả Cao Xuân Hạo khi ông thần thánh hoá chữ Hán? Có cần nói thêm rằng tuy cùng dùng chung một thứ văn tự (và chắc là cùng bảo tồn một phần Hán tự) nhưng Bắc Hàn và Nam Hàn ở hai trình độ phát triển rất khác nhau?

Khó hiểu vì sao GS Cao Xuân Hạo lại quá nhiệt thành với chữ Hán đến thế. Vì sự nhiệt thành này, ông có cái nhìn sai lệch với lịch sử hình thành chữ Quốc ngữ. Ông cho rằng “chữ Quốc ngữ đắc dụng trong thời Pháp thuộc, khi mà người ta cần thanh toán việc học đọc học chữ Pháp và tiếng Pháp. Nó cũng đắc dụng trong thời kháng chiến, khi cần thanh toán mù chữ cho thật nhanh để còn lo đánh giặc” (tr 103). Có thực là mọi người Việt Nam trước năm 1945 đều chỉ học tiếng Việt “cho nhanh để chuyển sang học chữ Pháp và tiếng Pháp” không? GS đánh giá quá thấp tình yêu tiếng mẹ đẻ của người Việt Nam ta rồi. Nhà thơ Tản Ðà, nhà văn Ngô Tất Tố, rồi Nam Cao, Nguyên Hồng, Vũ Trọng Phụng, Nguyễn Tuân, Nguyễn Công Hoan...tất cả những nhà văn lớn ấy, những chuyên gia Việt ngữ không có học hàm học vị ấy đều học chữ Quốc ngữ để sáng tạo văn chương, làm giàu cho tiếng mẹ đẻ, cho tâm hồn dân tộc, không phải học “cho nhanh” cho xong lần rồi mải mốt đi học tiếng Pháp, đi viết văn Pháp đâu. Trong kháng chiến chống Pháp (và chống Mỹ) cũng vậy, đánh giặc cứ đánh giặc, học cứ học, học để đánh giặc cũng là để làm văn hoá, làm kinh tế, chứ có phải “thanh toán mù chữ cho thật nhanh để còn lo đánh giặc” đâu, nếu chỉ như thế thì thanh toán mù chữ để làm gì? GS càng nói càng lạc. Dường như cay cú vì sự “đắc dụng” của chữ Quốc ngữ ông quay sang “đổ tội” cho chữ Nôm “Trong hoàn cảnh lịch sử của nước ta còn có một điều làm cho “quốc ngữ” đâm ra có vẻ ưu việt đặc biệt: đó là sự tồn tại của chữ Nôm hồi bấy giờ. Trước khi có chữ “quốc ngữ”, ông cha ta dùng chữ Nôm để viết tiếng mẹ đẻ. Mà chữ Nôm thì khó hơn chữ Hán rất nhiều (theo một chuyên gia Hán Nôm, nó khó gấp 5 lần). Chính nhờ sự tương phản với thứ chữ phức tạp, khó học ấy mà chữ “quốc ngữ” có vẻ như “tiện” hơn hẳn” (tr 103, xin lưu ý đến những dấu ngoặc kép hàm ý mỉa mai). Theo lôgic của GS thì có thể hiểu: giá như đừng có “cái anh chữ Nôm” rắc rối làm mất mặt “Ngài” chữ Hán cao quý thì chắc “thằng cha” chữ Quốc ngữ “loằng ngoằng giun bò” khó mà chiếm được địa vị độc tôn như ngày nay! Nghĩ như thế e vô ơn với chữ Nôm và những người sáng tạo ra nó quá. Chính nhờ “thứ chữ phức tạp” ấy và những người không ngại mang tiếng “nôm na mách qué” chúng ta ngày nay mới có “Quốc âm thi tập” (Nguyễn Trãi), Bạch vân quốc ngữ thi (Nguyễn Bỉnh Khiêm), Chinh phụ ngâm (Ðoàn Thị Ðiểm), Cung oán ngâm (Nguyễn Gia Thiều), Truyện Kiều (Nguyễn Du), thơ Xuân Hương, thơ Bà Huyện ...để mà ngâm ngợi, tự hào và giới thiệu với bạn bè thế giới đấy. Trách chữ Nôm chưa đã, GS lại oán sang ông cha mình “Giá hồi ấy, ông cha ta không sáng tạo ra chữ Nôm, mà cứ dùng chữ Hán để viết cả văn Hán lẫn quốc văn như người Nhật Bản đã làm (và hiện nay vẫn làm) nghĩa là mỗi chữ có hai cách đọc, Hán âm (Kan-on) và Quốc âm (Go-on) thì tình hình có lẽ đã khác” (tr 104). Quả thực là tấm lòng “thương hoa tiếc ngọc” đáng làm cảm động cả trời đất, các cụ ta dưới chín suối cũng phải ngậm ngùi mà than rằng “Hậu sinh khả uý, tiếc thay hồi ấy chúng ta không thông minh được như con cháu bây giờ!”. Nhưng chắc chắn sẽ có một cụ cãi lại rằng: “hồi ấy tôi đã thử làm rồi đấy nhưng không ăn thua!” Ðấy là cụ Nguyễn Trường Tộ (1830-1871). Trong bản điều trần nổi tiếng có tên là “Tế cấp bát điều” (Tám việc cần làm gấp) gửi lên vua, đề ngày 20/10 năm Tự Ðức thứ 20 (tức ngày 15/11/1867), Nguyễn Trường Tộ dành hẳn mục 5 trong điều thứ tư để kiến nghị “Dùng quốc âm”, cụ thể và thiết thực hơn CXH nhiều. Xin được trích ra đây, tuy có hơi dài: “Chả lẽ ở nước ta không có ai giỏi có thể lập ra một thứ chữ để viết tiếng ta hay sao? Vì ta dùng chữ nho đã lâu nên không cần thay đổi tất cả, sợ làm cho người ta lạ tai lạ mắt. Vậy xin dùng chữ Hán làm mẫu, lựa âm của chữ nào hợp với âm tiếng ta, nhất định không thay đổi thì đọc như tiếng ta không cần giải nghĩa. Chữ nào có âm gần giống tiếng ta thì thêm nét phụ vào rồi đọc ra tiếng ta. Ngoài ra gộp hết tiếng ta lại chia thành môn loại, làm từ điển, trước tiên ban hành trong các cơ quan chính quyền và trường học cho người học dễ dàng sử dụng. Khi nào chữ Hán đã được đọc thành âm tiếng ta rồi thì bất cứ ai biên chép việc công việc tư đều phải dùng thứ chữ đã ban hành, không được thay đổi. Còn các nhà văn ai muốn dùng chữ Hán theo âm nho tuỳ ý nhưng trong công việc làm thì phải dùng thứ chữ Triều đình đã ban hành(“Nguyễn Trường Tộ - Con người và di thảo”, NXB Tp HCM, 2002, tr 297). Có thể thấy thực chất đề nghị của Nguyễn Trường Tộ là hoàn thiện, quy chế hoá, chính thức hoá chữ Nôm theo một nguyên tắc thống nhất. Nguyễn Trường Tộ viết những lời này gần 50 năm sau ngày Nguyễn Du qua đời (1820), là khi Truyện Kiều, cũng tức là chữ Nôm đã phổ biến rất rộng rãi. Chữ Quốc ngữ ABC cũng đã được một bộ phận dân chúng sử dụng, nhất là ở Nam Bộ và trong cộng đồng Thiên chúa giáo mà cụ Tộ là một thành viên. Theo Bằng Giang (“Văn học quốc ngữ ở Nam Kỳ 1865-1930”, NXB Trẻ, 1998), Trương Vĩnh Ký đã có sách in bằng Quốc ngữ ở Sài Gòn từ năm 1866, nhan đề “Chuyện đời xưa lựa nhón lấy những chuyện hay và có ích”.Gia Ðịnh báo ra đời từ 1865, đến năm 1869 thì do Trương làm chủ bút. Cũng chính Trương là người phiên âm chú giải, xuất bản Kim Vân Kiều truyện bằng Quốc ngữ năm 1875...Có thể ức đoán mà không sợ sai rằng Nguyễn Trường Tộ cũng biết chữ Quốc ngữ, vì ông vốn là một người thông minh, giỏi tiếng Pháp, tiếng Latin và có vị trí trong giới trí thức Thiên chúa giáo, đi nhiều, biết rộng. Vậy tại sao ông vẫn kiến nghị một phương án thống nhất văn tự từa tựa như...phương án của Cao Xuân Hạo 127 năm sau (1994)? Thì chính ông đã giải thích rồi “Vì ta dùng chữ nho đã lâu nên không cần thay đổi tất cả, sợ làm người ta lạ tai lạ mắt”. Nghĩa là ông tính đến yếu tố sức ì của tâm lý, chứ ông quá biết về những nhược điểm của thứ chữ khối vuông mà ông khổ sở cả đời vì nó, thứ chữ “học cho đến chết cũng chưa nhớ nổi một phần ba”; “người có tài trí phải mất đi tinh lực nửa đời người dùi mài vào cái học ấy, không còn thì giờ tâm trí để học những cái khác”...Ðề án của Nguyễn Trường Tộ, mặc dù khá tiến bộ và đã tính đến yếu tố tâm lý nhưng vẫn phải chịu thất bại trước sức “bành trướng” của chữ Quốc ngữ, một thứ chữ rõ ràng là “ngoại lai”, ít “tính dân tộc” (!) hơn chữ Hán tượng hình, biểu nghĩa! Thất bại ấy nói lên điều gì? Nó nói lên sức sống của chữ Quốc ngữ, nói lên tính ưu việt của nó và nhờ nhưng ưu điểm vượt trội ấy mà cả cộng đồng Việt thông minh và mềm dẻo đã vui vẻ chấp nhận, coi đó là chữ “của ta”. Thật ra ban đầu các cụ nhà ta vì ghét người Pháp mà ghét lây, ghét oan cái chữ “loằng ngoằng, giun dế” ấy. Cũng phải kể thêm đến cái sức ì tâm lí, ngại và sợ thay đổi, một trong những điểm yếu kém rõ nhất của người Việt. Cho nên Tú Xương mới nguây nguẩy “Thôi thôi lạy mợ xanh- căng lạy/ Mả tổ tôi không táng bút chì”, còn Nguyễn Bính thì thở dài,vẫn chưa dứt được giấc mơ lều chõng “Mực tàu giấy bản là thôi/ Nước non đi hết những người áo xanh? Lỡ duyên búi tóc củ hành/ Trường thi Nam Ðịnh hoá thành trường bay”...Nhưng rồi chính lòng yêu nước, thương nòi đã khiến ông cha ta nhanh chóng nhận ra thứ chữ mới là một lợi khí để chấn hưng dân khí, mở mang dân trí, bồi dưỡng nhân tài, vãn hồi lại độc lập. Và các cụ quay ra ủng hộ “chữ Tây” trong cuộc “cạnh tranh lành mạnh” của nó với chữ khối vuông. Hãy nghe chính các cụ nhà nho cuối thế kỷ 19, đầu thế kỷ 20, những ông con dòng, con thừa tự của nền văn hoá chữ vuông trì trệ, phát biểu chống chữ Hán, ca ngợi chữ Quốc ngữ. Họ quả là những người dũng cảm, dám “học Phật trở lại mắng Phật”, nghĩa là làm một việc vạn bất đắc dĩ, không thể không làm, như Nguyễn Trường Tộ tự nhận. Vũ Bội Liêu, một nhân vật trong Ðông Kinh nghĩa thục viết trên Ðăng cổ tùng báo 28/3/1907 “Chữ Hán quả là một cái hàng rào hiểm chắn ngang đường văn minh, làm cho kẻ đi học mỏi lưng, tốn biết bao nhiêu cơm gạo mới dùng được chữ. Khi dùng được chữ thì trán đã nhăn, lưng đã còng vì nỗi dùi mài một đời học các điều cao xa quá. Chữ thảm chữ hại làm cho ai mó đến cũng phải quên cả việc thường đời nay, để học việc thời xưa, đời xưa thực chết rồi, thực xa rồi” (theo Chương Thâu “Ðông kinh nghĩa thục”, NXB Hà Nội 1982, tr 43). (Cụ Vũ Bội Liêu chắc đã từ “kinh nghiệm bản thân” của mình mà nói ra những lời cay đắng ấy, còn GS Cao Xuân Hạo của thế kỉ 21 thì lại xuýt xoa, tiếc cho con em ta không “được” “dành vài ba năm tiểu học cho việc học chữ”, mà lại “phải” học...chỉ có vài ba tháng đã đọc thông viết thạo như hiện nay!). Cụ Phan Châu Trinh, một nhà khoa bảng cũng kết án chữ Hán bằng bài viết nổi tiếng “Bất phế Hán tự, bất túc dĩ cứu Nam quốc!” (Không bỏ chữ Hán, không cứu được nước Nam). Hãy nghe cụ Tiến sĩ Trần Quý Cáp (1870-1908) “Khuyên người nước học chữ Quốc ngữ”:

Chữ Quốc ngữ là hồn trong nước

Phải đem ra tính trước dân ta

Sách Âu Mỹ, sách Chi-na

Chữ kia nghĩa nọ dịch ra tỏ tường

...

Một người học muôn người đều biết

Trí đã khôn trăm việc phải hay

Lợi quyền đã nắm vào tay

Có ngày tấn hoá có ngày văn minh...

Còn đây là thơ của cụ Nguyễn Phan Lãng, cũng là một giáo sư ÐKNT:

Trước hết phải học ngay Quốc ngữ

Khỏi đôi đường tiếng chữ khác nhau

Chữ ta ta đã thuộc làu

Nói ra nên tiếng viết câu nên bài” ...

Các nhà nghiên cứu có uy tín đã khẳng định rằng với chữ Quốc ngữ, từ 1907, các cụ nhà ta đã làm một cuộc cách mạng văn học, cả về chữ viết, đề tài, thể văn, hình tượng..., sớm hơn phong trào dùng bạch thoại của Trung Quốc do Hồ Thích, Trần Ðộc Tú đề xuất đúng một thập kỉ. Chữ Quốc ngữ là một hạnh ngộ của dân tộc ta, một động lực to lớn trên con đường canh tân đất nước, cả hôm qua và hôm nay. Không hiểu sao GS Cao Xuân Hạo bỗng nhiên trở nên hoài cổ một cách quá đáng đến như thế nhỉ? Chỉ để chứng minh cho tính đúng đắn của cái lý thuyết “âm vị học tuyến tính” của ông ư? Theo “mốt”, trở về phương Ðông ư? Lập ngôn ư? Hay là ông chỉ lập dị, muốn nói ngược chơi chơi vậy thôi? Nhưng cái chơi của GS, nếu đúng như vậy, lại không có lợi, làm người đi học phân tâm, làm giảm lòng yêu và lòng tự hào về chữ viết, rộng ra là văn hoá của dân tộc, lòng kính trọng với các bậc tiền bối. Ông còn công kích rất vô lối vào phong trào “Giữ gìn sự trong sáng của tiếng Việt”, hạn chế sử dụng từ Hán Việt, một phong trào lúc nào cũng giữ nguyên tính thời sự. Những ví dụ ông đưa ra để diễu cợt những ai cố gắng thay thế những từ Hán Việt bằng những từ được cho là thuần Việt hơn chẳng mấy thuyết phục. Chẳng hạn để chỉ những chiếc máy bay cất cánh không cần chạy khởi động trên đường băng, đâu cần phải “vội vàng dùng lại hai chữ trực thăng” mà chỉ cần viết là “máy bay cất cánh thẳng đứng” cũng được chứ sao? “Giáo cụ trực quan” thay bằng “đồ dùng dạy học” là phải quá rồi còn gì? Chẳng ai thay “vùng biển” bằng “lãnh hải” như giáo sư nói đâu, “vùng biển” rộng hơn “lãnh hải” nhiều chứ, nó bao gồm “thềm lục địa” , rồi “vùng đặc quyền kinh tế” (rộng hơn khái niệm lãnh hải xưa thường không vượt quá 12 hải lí) cơ mà? “Tên lửa” dùng để dịch từ tiếng Anh missile là đúng chứ, nó không giống y như mũi tên ngày xưa nhưng vẫn hao hao đấy, kể cả tên lửa vượt đại châu, không cần níu kéo cái chữ “hoả tiễn” làm gì. Còn hoả hổ, theo tôi hiểu, là một loại súng phun lửa thời Tây Sơn, không phải “thứ tên có châm lửa để bắn vào những mục tiêu có thể bốc cháy được” như giáo sư nói đâu. Chẳng ai “đề nghị thay “ Ðại hội Phụ nữ toàn quốc bằng Buổi sum họp lớn của đàn bà cả nước” như giáo sư bịa ra để diễu cợt. Ðể giữ vẻ trang trọng hoặc tế nhị, người ta biết giữ lại những từ Hán Việt cần thiết đấy, không cá mè một lứa đâu. Sách giải phẫu và sinh lí người gọi chỗ ấy là âm nọ, dương kia, không “dịch” búa xua ra cái nọ con kia đâu. Ðể bảo vệ luận điểm của mình, bênh vực việc dùng từ Hán Việt, giáo sư viết “Về ngữ pháp, các từ tổ Hán Việt tuy đã chứa đựng những mối quan hệ cú pháp (đẳng lập hay chính phụ) rõ rệt không kém các từ tổ “thuần Việt”, nhưng mối quan hệ này chặt hơn nhiều, một phần là nhờ cái “trật tự ngược” (phụ trước chính sau) so với các từ tổ thuần Việt. Chẳng hạn, quan hệ cú pháp chính phụ trong xạ thủ hay phi công chặt hơn nhiều so với mối quan hệ tương đương trong người bắn hay người lái: trong khi xạ thủ Nam chỉ có thể hiểu một cách thì người bắn Nam không cho biết đó là kẻ đã bắn anh Nam hay là người lính tên Nam (chắc hẳn cách hiểu thứ nhất tự nhiên hơn cách hiểu thứ hai) (Tiếng Việt,văn Việt, người Việt, tr 85). Ðúng là “đã yêu yêu cả đường đi/đã ghét ghét cả tông ti họ hàng”, tiếng Hán, chữ Hán đã hay thì cú pháp cũng hay hơn, “chặt hơn nhiều”. Tôi thì chẳng thấy từ “phi công” hay hơn, “chặt hơn” từ “người lái” chút nào, tôi cho rằng cái từ tiếng Việt còn có lượng thông tin cao hơn, nó chỉ ra rằng cái người mà ta nói đến không “phi”, không bay từ ...nóc nhà 10 tầng xuống chẳng hạn, mà anh ta “lái” một cỗ máy bay trên trời. CXH tán tụng chữ “phi công” là hay là đẹp, vậy ông có định đổi chữ “lái xe” tầm thường thành chữ “tư cơ” cho sang, cho chặt, cho đúng ...ngữ pháp tiếng Hán không? Lại còn cái chữ “xạ thủ” với “ người bắn” nữa. Ðể xưng tụng chữ Hán, tiếng Hán, CXH đã vô tình(?) xuyên tạc tiếng Việt. Có ai lại ngớ ngẩn dịch “xạ thủ” ra “người bắn” bao giờ, người ta dịch là “tay súng” chứ. (Cũng như “cung thủ” dịch là “tay cung”, không ai dịch là “người nỏ” cả!) Xem tin thể thao trên tivi, người ta nói “tay súng số 1 Ðặng Thị Ðông đã vào bệ bắn”, ai cũng hiểu cả. CXH dịch và ghép là “người bắn Nam” ngọng ngịu cốt để chứng minh cú pháp tiếng Việt không hay, không chặt bằng tiếng Hán, vậy thôi. Lí do CXH phản đối “từ thuần Việt” là vì nó...dễ hiểu quá, ông nói “Từ thuần Việt dễ hiểu thật, nhưng đó chính là nhược điểm lớn nhất của nó”! Trời đất ơi, cứ cái đà này chắc ông sẽ là người ủng hộ cho việc nói những câu thật cầu kì như các ông đồ gàn ngày xưa, mỗi câu là một điển cố, người nghe phải nát óc mới hiểu được thì mới là thông minh sâu sắc ư? Nói đã như vậy thì viết cũng phải thật rắc rối, thật khó khăn thì mới hay. CXH viết “Nhược điểm của chữ quốc ngữ không phải ở chỗ nó chưa thật là một hệ thống phiên âm vị học, mà chính là ở chỗ nó có tính chất thuần tuý ghi âm, và hoàn toàn bất lực trước nhiệm vụ biểu hiện nghĩa mà lẽ ra nó phải đảm đương...những chỗ bị người ta coi là bất hợp lý chính là những chỗ làm cho nó phân biệt nghĩa và cội nguồn của các từ đồng âm như gia và da, lý và lí (trong lí nhí) vv Ðáng tiếc là những chỗ như thế không lấy gì làm nhiều” (tr 113). Có thể diễn đạt lại những lập luận của CXH: nói càng trừu tượng càng hay, viết càng rắc rối càng tốt, giá mà trở lại dùng chữ Hán được thì tuyệt! (Với các nước A- rập thì trở lại với những chữ tượng hình kì bí trên kim tự tháp chứ nhỉ?) Ðể làm gì nhỉ: “Ðể bảo tồn một truyền thống quý giá đi đôi với những nghệ thuật cao cả như thư pháp, vốn là tài sản chung của các dân tộc Viễn Ðông và có thể làm thành một mối dây liên lạc giữa các dân tộc rất gần gũi nhau về văn hoá này” (tr 106). Tóm lại là để bảo tồn, để viết cho đẹp, xem cho vui mắt và có cái để đi khoe với mấy ông bạn cũ châu Á. Nhiệm vụ của chữ viết dân tộc chỉ để làm bấy nhiêu việc thôi ư, thưa giáo sư?

Tôi ủng hộ ý kiến của GS Cao Xuân Hạo về việc dạy một số tiết chữ Hán nhất định cho học sinh phổ thông trung học. Ðiều quan trọng hơn là phải có một đội ngũ chuyên gia Hán Nôm đủ giỏi và được bổ sung thường xuyên để bảo tồn vốn văn hoá quá khứ. Tôi cũng phản đối việc vày vò, “cải tiến” chữ quốc ngữ mà thực chất là “cải lùi”, phá hỏng vẻ đẹp của chữ viết truyền thống, gây nhiễu loạn cho việc tiếp thu cái vốn sách báo quốc ngữ khổng lồ chúng ta đã có từ 1865 đến nay. Hiện nay người ta còn tiếp tục phá hoại chữ viết của dân tộc một cách công khai và trên quy mô lớn bằng cách nhùng nhằng không chịu thống nhất bộ gõ tiếng Việt trên máy tính, theo kiểu “anh hùng nhất khoảnh”, khiến người vùng này không đọc được người vùng khác. Cần phải có một bộ luật mang tính pháp lệnh hẳn hoi về việc viết và dùng chữ Quốc ngữ theo chuẩn mực thống nhất, tiên tiến .Ðấy là một việc làm cấp bách để bảo vệ tiếng Việt, chữ Việt, cũng có nghĩa là bảo vệ sự thống nhất quốc gia, thống nhất dân tộc. Bây giờ mà ngồi than tiếc “giá như chúng ta đừng thay chữ Hán bằng chữ Quốc ngữ” thì vừa lạc lõng, vừa tức cười, một kiểu “nhiễu sự khoa học” mang màu sắc giật gân! Ðể kết thúc bài viết thật khó nhọc này, xin được kể hầu GS và các đệ tử một chuyện mà rất có thể các vị cũng biết rồi: Khi vua Sejong của triều đại Choson (Triều Tiên) ban hành thứ chữ ghi âm Han- gil rất dễ học, ngay cả với trẻ con và người ngoại quốc, thì trớ trêu thay, nó lại bị các học giả chỉ trích chính vì sự đơn giản của nó! “Họ phê phán kịch liệt, gọi hệ thống chữ cái mới là “các chữ cái của phụ nữ”. Họ cho rằng chữ này quá dễ, phụ nữ không có trình độ học vấn gì cũng học được nên nó không đáng học vì ở thời đó, việc học hành, đọc sách và viết lách được cho là lĩnh vực đặc ân của một số độc giả. Chính quan niệm sai lầm này đã làm họ nhầm lẫn giữa việc học một thứ chữ đơn giản với sự học hành uyên bác” (trích từ trang web của sứ quán Hàn Quốc).

Thì ra tâm lí muốn độc quyền tri thức thời nào cũng có!


 

 >>>>> oOo <<<<<


Tiểu đề II

“Vì sao người Trung Quốc ngu thế?”

 

Lời giới thiệu: Nhiều người cho rằng văn minh Trung Hoa có đóng góp quá nhỏ bé (xét về số dân) vào thành tựu của văn minh nhân loại, về khoa học tự nhiên cũng như khoc học xã hội. Tìm ra căn nguyên của tình trạng này là một vấn đề có tầm quan trọng đối với Trung Quốc, từng được một vài học giả phương Tây, hoặc phương Tây gốc Hoa bàn luận, nhưng dường như giới học giả Trung Quốc lại thiếu quan tâm vấn đề này, có lẽ vì họ không muốn nói tới các mặt tiêu cực của thể chế chính trị-văn hóa nước họ. Trong tình hình đó, cuốn “Vì sao người Trung Quốc ngu thế?” của triết gia Li Ming (Lê Minh, xuất bản 2003) thu hút được sự chú ý của dư luận. Dưới đây là bài nói của Li Ming tại ĐH Bắc Kinh về sách trên. Bài gồm 6 phần:

1 – Vì sao người Trung Quốc là một dân tộc “vô học”? 

2 – Vì sao sự ngu dốt của người Trung Quốc là kết quả tất nhiên của sự lựa chọn không ngừng xuất phát từ lợi ích tự thân của kẻ thống trị các đời trước;

3 – Vì sao người phương Tây trong xã hội cận đại lại trở nên thông minh?

4 – Nghi ngờ về sự “thông minh” của người phương Tây trong thế kỷ 21;

5 – Tình trạng ngu dốt và thông minh hiện nay của người Trung Quốc;

6 – Sau thế kỷ 21, người Trung Quốc nên trở nên thông minh như thế nào?

Dưới đây xin giới thiệu phần đầu.

Trong cuốn “Người Trung Quốc xấu xí”, ông Bá Dương đã xúc phạm mạnh đồng bào Trung Quốc (TQ), và bị họ chửi cho mất mặt, giờ đây tôi lại lấy thuyết “ngu dốt” ra để gây sự lần nữa thì chẳng phải là tự chuốc lấy quả đắng đấy ư? Thực ra không phải tôi thích gây sự, mà là do cổ họng tôi bị hóc xương, không lấy xương ra thì khó chịu. Lại còn một lý do nữa là TQ từ xưa tới nay có quá nhiều văn nhân tự khoe mình thông minh, làm cho những người TQ bình thường lâu nay cũng thường xuyên rơi vào đám sương mù dầy đặc tự cho mình là thông minh, mọi người đều mơ giấc mơ người TQ “thông minh”, dường như người nước ta đúng là đặc biệt có gene thông minh. Tiếc thay, mơ mộng rốt cuộc chỉ là mơ mộng. Trên thực tế, người TQ có đúng là thông minh như thế không? Song le thông minh là gì, ngu dốt là gì?

Tôi cho rằng đó chỉ là kết luận rút ra được từ sự so sánh với các chủng loại người khác. Quan điểm của tôi là: trong sự so sánh đó, chủng loại người nào có thể cung cấp cho nền văn minh của toàn nhân loại những nhà tư tưởng lớn, nhà khoa học lớn, nhà công nghệ lớn, nhà nghệ sĩ lớn đẳng cấp thế giới, thì chủng loại người ấy là thông minh. Ngược lại, là chủng loại người ngu dốt.

Nói cách khác, qua so sánh, chủng loại người nào giỏi hơn về khám phá các quy luật mới (về tự nhiên, xã hội, tâm lý loài người), về phát minh công nghệ mới (tư duy, công cụ, máy móc), sáng tạo các tri thức mới (về khoa học, nghệ thuật), thì thuộc về chủng loại người thông minh. Ngược lại chủng loại người nào không giỏi, thậm chí không có thể khám phá quy luật mới, phát minh công nghệ mới, sáng tạo tri thức mới thì là không thông minh.

Dĩ nhiên, thông minh hoặc không thông minh, ngu dốt hoặc không ngu dốt đều mãi mãi ở trong quá trình biến động. Vì thế nên nói không có chủng loại người nào có số phận an bài là thông minh, cũng không có ai số phạn an bài là ngu dốt. Nhưng nếu mọi người tự mình kiên trì mãi mãi không biến đổi thì “ngu dốt” cũng có thể trở thành một loại số phận. Tôi vô cùng lo ngại người TQ trong tình hình trường kỳ giữ một truyền thống lịch sử “bất biến” sẽ thực sự có số phận như vậy.

Người TQ có thực sự thông minh không? Nếu người TQ thực sự thông minh như thế thì trong dòng sông lịch sử dài dằng dặc rốt cuộc họ đã cống hiến cho nền văn minh nhân loại được bao nhiêu nhà tư tưởng lớn, nhà khoa học lớn, nhà công nghệ lớn, nghệ sĩ lớn cấp thế giới, cung cấp được bao nhiêu khám phá lớn về quy luật, phát minh lớn về công nghệ và nghệ thuật, sáng tạo lớn về tri thức?

Nếu người TQ thực sự thông minh thì tại sao trong hơn 100 năm gần đây, về nhân cách chính trị lại luôn luôn bị người nước khác bắt nạt, về  kinh tế toàn là bị người ta bóc lột, về văn hóa học thuật toàn là bị người ta phân biệt đối xử? Cái “thông minh” tự tâng bốc mình có thể biến thành thông minh thực sự được chăng? Rõ ràng không thông minh mà cứ tự tâng bốc mình thông minh, điều đó nên nói là ngu dốt thực sự.

Socrates ở thời cổ Hy Lạp được nhiều người cho là người thông minh nhất. Nhưng cái ông thích được tâng bốc hơn cả lại không phải là sự thông minh của mình, mà ông bao giờ cũng tự xưng: “Tôi biết sự vô tri của mình”. Cho nên Socrates là thủy tổ của phép biện chứng. Ông hiểu sâu sắc thực chất của sự việc con người sở dĩ “thông minh” không phải là ở bản thân sự thông minh mà là ở chỗ thực sự nhận thức được sự vô tri của mình và biết cách vượt qua sự vô tri đó. Trong lịch sử TQ có bao nhiêu sĩ đại phu và văn nhân dám công khai thừa nhận mình vô tri? Lại có bao nhiêu người đã nghiêm chỉnh khắc phục được sự vô tri của mình? Trên ý nghĩa này thực sự có thể nói chính là giới sĩ đại phu văn nhân trong các đời trước đã liên tục tạo ra sự ngu dốt của người TQ. Sở dĩ hôm nay tôi phải lớn tiếng tuyên bố về sự “ngu dốt” của người TQ ngày xưa và ngày nay, thực ra là tôi vô cùng mong muốn người TQ trong tương lai sẽ trở thành “thông minh”.

Lịch sử mấy nghìn năm của TQ thực ra là lịch sử các sĩ đại phu văn nhân tự khoe “thông minh”. Các sĩ đại phu văn nhân “thông minh” trong các thời đại trước đây đã để lại cho người TQ ngày nay những trước tác có tới hàng tỷ chữ, trong đó nổi tiếng nhất có bộ Nhị thập tứ sử, Tư trị Thông giám, Vĩnh Lạc đại điển, Tứ khố toàn thư v.v… Tiếc thay nếu dùng chiếc cân tri thức lý tính của con người hiện đại mà cân đo lượng văn bản lớn ấy thì phần tri thức của nó nhẹ tới mức làm người TQ cảm thấy đau khổ, chỉ đáng một phần vạn lượng tri thức ngày nay. Có một điểm càng làm cho người ta không thể không ghi nhớ là nếu ai hiện nay vẫn vùi đầu vào núi văn bản ấy thì người đó sẽ được nhân bản thành một vị văn nhân tự khoe “thông minh’ của TQ. Các vị văn nhân tự khoe “thông minh’ của TQ trong các thời đại trước đây chính là được nhân bản từ núi thư tịch ấy. Chính vì thế mà xã hội và lịch sử TQ cũng được nhân bản lặp đi lặp lại vô cùng giống như thời xưa, thậm chí như nhau. Chỉ trong một trăm năm gần đây mới có chút thay đổi, nhưng phần cốt lõi thì vẫn khá cứng — tức giới văn nhân TQ cho đến nay vẫn chưa nhận thấy sự vô tri của mình và tại sao lại vô tri, khắc phục sự vô tri như thế nào. Điều này đúng là thực sự ngu dốt.

Sự ngu dốt của người TQ trước hết, hoặc về căn bản, vẫn là sự ngu dốt của giới sĩ đại phu văn nhân nước này. Văn nhân các triều đại trước đây đã làm ra rất nhiều thư tịch có hàm lượng tri thức cực nhỏ — Kinh, Sử, Tử, Tập. Văn nhân TQ ngày nay vẫn tiếp tục làm ra rất nhiều văn bản loại ấy, tạo ra một lượng lớn rác rưởi văn tự trong toàn bộ nền văn minh TQ. Trước kia Lỗ Tấn từng đau khổ cảnh báo thanh thiếu niên TQ cần bớt đọc, thậm chí không đọc sách do văn nhân TQ viết. Qua đây có thể thấy ông sớm hiểu rõ tính nghiêm trọng tồn tại trong núi rác văn tự của nền văn minh TQ. Chính là sự nhân bản lặp lại núi rác rưởi văn tự ấy đã lấp kín con đường trí tuệ của bao nhiêu thế hệ người TQ. Thứ đầu tiên được chế tạo với khối lượng lớn là sự ngu dốt của văn nhân TQ, sau đó nó khuếch đại thành sự ngu dốt của người TQ. Đó là số phận sự ngu dốt của người TQ trong hơn hai nghìn năm qua, nhất là trong 500 năm gần đây, và đặc biệt là 200 năm nay.

Vì sao người Trung quốc là một dân tộc “vô học”?

Tác giả đã sống được ngót 60 tuổi, làm học giả trong khoảng 20 năm, cho tới nay mới chợt tỉnh ngộ biết rằng “học” là gì. Sự tỉnh ngộ ấy cũng làm cho tôi bỗng dưng rơi vào một nỗi buồn sâu sắc: người TQ (dân tộc Trung Hoa) có lịch sử văn minh 5 nghìn năm mà chẳng lưu lại bao nhiêu thứ thực sự đáng để hậu thế học tập. Là một học giả hiện đại TQ tôi vô cùng đau khổ phát hiện thấy người TQ chúng ta vốn dĩ căn bản chưa hiểu thế nào mới là “học” đích thực, do đó mà đến nỗi hầu như vô “học”.

Điều đó thực ra không khó kiểm chứng. Chỉ cần mời mọi người đọc lại một lượt toàn bộ các giáo trình tiểu học, trung học, đại học, viện nghiên cứu sinh, xem xem trong số những kiến thức đáng gọi là “học” dạy cho học sinh, rốt cuộc có bao nhiêu cái là do người TQ chúng ta khám phá, phát minh và sáng tạo.

            Kết quả ra sao? Có thể nói, ngoại trừ những thứ như ngữ văn TQ, y dược TQ, sân khấu, thư, họa TQ — số lượng các kiến thức thổ sản ấy đã cực ít lại cũng khó có thể gọi là “học” mà chỉ có thể gọi là “thuật” — hầu như 9999 phần vạn các kiến thức còn lại đều là “sản phẩm du nhập qua đường biển” từ phương Tây. Trong các lĩnh vực như thiên văn, địa chất, địa lý, toán học, vật lý, hóa học, sinh vật, tâm lý, triết học, khoa học xã hội (chính trị học, kinh tế học, xã hội học, pháp học, luân lý học, tân văn học….) thì người TQ chúng ta có truyền thống 5000 năm lịch sử lâu đời và chiếm tỷ lệ số dân nhiều nhất thế giới, rốt cuộc sáng tạo được môn học nào, khoa học nào? Chúng ta lại có ưu thế rõ rệt ở lĩnh vực nào vậy? Thậm chí người Nhật cũng có thể cười chế nhạo chúng ta “Đôn Hoàng ở TQ nhưng Đôn Hoàng học thì lại ở Nhật”.

Bình tĩnh tự xét mình, nên thừa nhận là trong nền văn minh TQ 5000 năm, chúng ta có chữ “học” động từ (học hỏi, học ở chỗ hỏi, vậy hỏi ai? Hỏi trời, hỏi các đại nhân, hỏi các thánh nhân) mà không có chữ “học” danh từ (môn học, khoa học, những tri thức có năng lực sinh trưởng kéo dài, có sinh mạng riêng, tự làm thành hệ thống).

Nhìn tổng quát xưa nay, chúng ta có quan trắc thiên văn nhưng không có môn thiên văn học; có khảo sát địa lý (như Từ Hạ Khách du ký…) nhưng không có địa chất học, địa lý học; có trồng trọt thực vật, vận dụng thực vật nhưng không có thực vật học; có dạy thú và sử dụng động vật nhưng không có động vật học (phương pháp dùng trong các môn động vật học, thực vật học hiện nay vẫn dùng phương pháp phân loại hệ thống do người phương Tây phát minh); có tính toán con số cụ thể nhưng không có toán học trừu tượng; có Tứ đại phát minh nhưng không có vật lý học, hóa học; có kiến trúc cầu hầm nhà nhưng không có cơ học kiến trúc (vật liệu, công trình, kết cấu); thậm chí ta có ngôn ngữ, chữ viết, hội họa, âm nhạc, nhưng không có các môn học thành hệ thống như ngôn ngữ học, ngữ pháp học, tư từ học (Thuyết văn giải tự của Hứa Thận là một bộ tự điển, Mã thị văn thông là sản phẩm sau khi học ngữ pháp học của phương Tây, Lục thư pháp tắc chưa hình thành nguyên lý nghiêm chỉnh), mỹ thuật học (hội họa TQ không có thấu thị học, sắc thái học…), âm nhạc học (tuy rằng Chu Tải Dục đời Minh đầu tiên phát hiện thập nhị bình quân luật nhưng không làm nó trở thành hòa thanh học, âm luật học v.v…).

Sau hơn 20 năm làm học giả TQ, tới nay tôi mới bừng tỉnh dậy sau giấc mơ lớn: người TQ chúng ta tự xưng có nền văn minh truyền thống cổ xưa 5000 năm nhưng lại là một nền văn minh vô “học”.

Thưa đồng bào, chẳng lẽ quý vị không cảm nhận được điều đó ư? Tứ đại phát minh của ta cố nhiên vĩ đại đấy nhưng đều chỉ là “thuật” mà thôi, hơn nữa lại là kỹ thuật khá thô sơ do tiền nhân thời xưa phát hiện và phát minh ra trong trải nghiệm cuộc sống trực tiếp tiếp xúc với thiên nhiên, những cái đó chưa được nâng lên thành “học”, cũng tức là chưa biến thành tư duy lý luận trừu tượng, thành học thuyết giải thích quy luật của sự vật. Chẳng hạn thuốc súng trong Tứ đại phát minh , thành phần vật chất (nguyên tố) của nó là gì? Tính chất hóa học thế nào? Nguyên lý gây nổ của nó là gì? Lại nói kim chỉ nam trong Tứ đại phát minh vì sao nó mãi mãi chỉ về phương Nam (hoặc Bắc), rốt cuộc từ tính là gì? Tất cả những cái đó đều phải chờ đến sau này khi người phương Tây tiến hành tư duy lý luận trừu tượng mới có được nhận thức. Trên tất cả các mặt, người TQ chúng ta hầu như chỉ dừng bước không tiến tiếp ở “thuật” mà thôi, vì thế nên thành tích trong lĩnh vực “học” cực kỳ nhỏ bé, quả thật có thể nói là vô “học”.

            “Học” với ý nghĩa môn học, là gì vậy? Điều quan trọng là ở chỗ có lý luận trừu tượng cao độ, lý luận đó có thể giải thích hiện tượng đã có của sự vật, lại có thể mô tả một cách trừu tượng quy luật phát sinh của hiện tượng, vì thế không những có thể giải thích cụ thể sự vận hành thực tế lúc đó của sự vật mà còn có thể dự đoán trạng thái và sự biến đổi của sự vật trong tương lai, và được kiểm chứng hoặc chứng thực, hoặc chứng ngụy trong thực tiễn sau đó.

Một trong những tiền đề quan trọng nhất để xây dựng lý luận là phải nắm được quy luật tư duy logic cơ bản nhất. Hơn hai nghìn năm qua, nhất là 200 năm gần đây, nền giáo dục người TQ từ nhỏ được tiếp thụ chỉ có sự nhồi nhét Tứ thư Ngũ kinh, xưa nay chưa bao giờ biết logic là cái gì, sĩ đại phu-văn nhân còn như vậy, nói gì tới đông đảo dân chúng mù chữ. Tại TQ còn có một điểm đặc biệt làm đứt đoạn nền văn minh — đó là sự tách rời hầu như tuyệt đối giữa người lao động phổ thông với tầng lớp văn nhân biết đọc biết viết.

Hầu như toàn bộ những người TQ tiếp xúc với thiên nhiên và có kinh nghiệm lao động sản xuất đều không biết đọc biết viết, nhưng giới văn nhân TQ biết đọc biết viết lại hầu như căn bản không tiếp xúc với thiên nhiên. Nói khác đi nghĩa là từ xưa tới nay cái đầu (tư duy) và cái tay (thực tiễn) của người TQ hầu như bị tách rời tuyệt đối. Cộng thêm tư duy của văn nhân TQ lại về căn bản thiếu mất sự huấn luyện của tính quy luật logic có ý thức, qua đó tạo nên sự tách rời tuyệt đối giữa “thuật” với “học”. Do sự đứt rời song trùng ấy mà cho dù chưa xét tới còn có nhiều nhân tố khác vô cùng bất lợi như chế độ xã hội, tập tục… thì cũng đã ngăn trở vô cùng nghiêm trọng con đường phát triển trí tuệ của người TQ rồi. Đó dường như là số phận ngu dốt của người TQ trong mấy nghìn năm qua, nhất là trong 200 năm gần đây.

Sự tách rời giữa đầu óc với tay chân trong văn hóa truyền thống TQ, cũng tức là tách rời  giữa tư duy và thực tiễn, cùng sự xa lạ giữa tư duy với logic của văn nhân TQ, đã tạo ra sự “học” của người TQ: hầu như duy nhất chỉ có cái “học” hỏi mà căn bản không có sự học hiểu, suy luận, giải thích, càng chưa thể nói tới sự học sáng tạo kiến trúc cấu tạo của tư duy logic trừu tượng.

Tứ thư Ngũ kinh và những thứ tràn ngập thành tai họa hơn nữa như Kinh, Sử, Tử, Tập, hầu như toàn bộ đều là sự học hỏi. Văn hóa truyền thống TQ chỉ có sự học-hỏi, cộng thêm sự tách rời giữa đầu (tư duy) với tay (thực tiễn) và tiếp tục tạo ra sự đứt rời giữa “học” đích thực với “thuật” đã nói ở trên, — sự đứt rời song trùng ấy trên thực tế đã tạo nên sự vô “học” của người TQ từ xưa tới nay.

Trải qua quá trình Tây học truyền vào TQ trong 100 năm gần đây, TQ ngày nay cũng chỉ có cái “học” đi theo cái “học” của phương Tây mà về cơ bản chưa có cái “học” của bản thổ. Chính vì thế mà các “học nhân” của TQ ngày nay, trong quá trình học sẽ cảm thấy một cách nặng nề rằng mình đã mắc phải chứng “mất tiếng nói”. Hầu như mọi từ ngữ, khái niệm về “học” đều du nhập từ phương Tây, mà không có liên quan chút nào với truyền thống văn hóa bản xứ của chúng ta. Miệng là của người TQ nhưng nội dung lời nói lại là những điều trải qua sự suy nghĩ nghiền ngẫm của người phương Tây. Giấy viết, sách vở, truyền thông là phương tiện của bản xứ (song máy móc làm giấy, làm sách và thiết bị truyền thông cũng có thể của phương Tây), nhưng mọi đạo lý, quy phạm, quy tắc, quy luật…  được sách báo truyền thông nói tới đều là những thứ người phương Tây phát hiện, phát minh và sáng tạo. Trong tình hình này chúng ta còn có thể nói người TQ không “ngu dốt” ư?  Nếu còn muốn tự khoe mình “thông minh” kiểu AQ thì chúng ta lại “thông minh” ở chỗ nào vậy?

Khi phân tích kỹ nền văn minh 5000 năm của TQ, có một môn tri thức có thể gọi là “học” được — đó là “Trung Y học” [Y học Trung Hoa]. Có lẽ cũng chỉ trong lĩnh vực “Trung Y học”, người TQ có thể để lại cho nhân loại một thứ duy nhất có thể gọi là “lý luận” của mình. Đó là lý luận “Âm dương ngũ hành”. Tiếc thay tuy đây là thứ lý luận duy nhất trên thế giới có thể gọi là lý luận của người TQ, thuộc loại sánh được với lý luận logic của phương Tây, nhưng kể từ khi nó xuất hiện cách đây hơn 2000 năm, trong quãng thời gian dài dằng dặc sau đó, thứ lý luận ấy không hề có chút tiến triển nào. Người TQ không hề nghĩ tới chuyện nên tiếp tục cải thiện, đẩy mạnh lý thuyết này, mà chỉ mù quáng sùng tín nó, làm theo nó. Cuối cùng lý thuyết ấy chẳng những chưa được cải thiện mà ngược lại ngày càng trở nên cũ rích, xơ cứng. Cho tới nay số người TQ tiếp thụ lý luận logic của phương Tây ngày càng tăng lên, họ chỉ có thể coi thường thuyết Âm dương Ngũ hành, phỉ nhổ thuyết đó, thậm chí vu khống nó, coi là thứ lạc hậu, mê tín, thuộc cùng loại với thuật phù thủy.

 […..]

Xin trở lại vấn đề trước đây, đi tìm nguồn gốc tại sao người TQ trong lịch sử lại vô “học”. Hiện nay có thể đã rất rõ ràng, đó là do trong lịch sử dài lâu, người TQ chưa tự mình sáng lập được một cơ sở có thể đặt nền móng cho tất cả mọi thứ “học”, cái cơ sở mà người phương Tây cận-hiện đại dựa vào để xây dựng hầu như tất cả mọi thứ “học” — Logic đối xứng nhị nguyên luận.

Nói rõ hơn, tức là logic hình thức, logic hình học, logic số lý, logic biện chứng … được từng bước hoàn thiện kể từ Aristotle, Euclid… Về bản chất, các logic này đều là logic tính đối xứng và nhị nguyên luận. Triết học phương Tây từ Plato trở đi, từ bản thể luận tới nhận thức luận, thứ được các triết gia phương Tây ra sức hoàn thiện là bản thân phương pháp tư duy logic đối xứng nhị nguyên luận. Chính là sự không ngừng hoàn thiện, phát triển của phương pháp logic phương Tây (từ triết học cổ đại) và sự kết hợp hữu cơ với phương pháp thực nghiệm có lựa chọn trong thời cận đại, đã sinh ra và xúc tiến các khoa “học” trên mọi lĩnh vực, mọi tầng nấc của phương Tây thời cận-hiện đại.

Hegel nói người TQ “không có triết học”. Chẳng may người TQ bị ông nói trúng. Đúng là người TQ không có triết học, mà điều đó lại ở chỗ người TQ không có logic — dĩ nhiên là nói logic đối xứng nhị nguyên luận. Các văn nhân nhiều đời trước của chúng ta chưa từng bỏ công sức vào việc thăm dò quy luật của bản thân tư duy. Họ chỉ có duy nhất một phương pháp tư duy là độc đoán trực giác và trực giác độc đoán. Tư duy độc đoán trực giác ấy ngoài việc sản sinh những ý kiến đủ mọi màu sắc ra thì chẳng thể có được sự suy lý khuếch trương, kéo dài, càng không thể có sự kiến cấu sáng tạo trừu tượng. Cho nên những tư liệu do các văn nhân TQ viết, ngoài việc có ý nghĩa chất đống to bằng hạt cát ra thì căn bản không thể có giá trị lý luận kiến cấu hữu cơ. Điều đó làm cho văn nhân chúng ta bao đời qua chưa bao giờ hiểu được lý luận là gì. Về cơ bản, văn nhân TQ là một lũ người lùn văn hóa chẳng biết lý luận là cái gì, chỉ biết phát biểu ý kiến (ý khí chi kiến) mà thôi. Dựa vào những người ấy thì mãi mãi chẳng có thể xây đắp nên tòa lâu đài khoa học cận-hiện đại. Cho dù trên mặt sáng lập kỹ thuật và nghệ thuật thì phần lớn cũng chỉ có thể là những thứ bình thường, nông cạn, vô vị, thậm chí thấp hèn. Chính vì thế mà đã hình thành một lịch sử hầu như vô “học” hơn hai nghìn năm qua của TQ, qua đó tạo ra sự ngu dốt trên thực chất của văn nhân TQ rồi mở rộng ra thành sự ngu dốt của người TQ (nhất là trong 200 năm gần đây).

Trong tất cả các nguyên nhân làm cho người TQ thời cận đại bị đày đọa, nguyên nhân căn bản nhất là sự ngu dốt của họ — tình trạng này dần dần tích tụ mà thành trong lịch sử dài lâu. Do logic mà lạc hậu, nghèo khó. Do logic mà bị kẻ khác bắt nạt, bị đánh, bị kỳ thị. Chỉ có từ đó nhận thức được sự ngu dốt của mình và thoát ra khỏi sự ngu dốt ấy thì người TQ mới có thể thay đổi tất cả trong thế kỷ và thời đại mới.

Trên đây đã phân tích nguyên nhân tình trạng người TQ vô “học”, quy lại chủ yếu là hai điểm sau:

1Trong lịch sử lâu dài, những người TQ biết chữ thì không làm công việc sản xuất; ngược lại, những người làm sản xuất thì không biết chữ — điều này đã tạo nên sự hoàn toàn tách rời giữa tư duy với thực tiễn. Nói gọn lại, tức sự hoàn toàn tách rời giữa “bộ não” và “cánh tay” của người TQ.

2Trong lịch sử dài hơn 2000 năm, sự hoàn toàn tách rời giữa “bộ não” và “cánh tay”, giữa “học” và “thuật” của người TQ — sự tách rời song trùng này làm nên nguyên nhân lịch sử giải thích vì sao người chúng ta ngu dốt như thế. Vấn đề này phải được phân tích tiếp. Vì sao người TQ lại có căn nguyên lịch sử như thế? Đây chính là vấn đề cần được giải đáp trong phần sau.

 

Tác giả: Li Ming (Triết gia Trung Quốc) | Biên dịch: Nguyễn Hải Hoành

Bản gốc tiếng Trung: 中国人为什么这么愚蠢?-

 

Reply all
Reply to author
Forward
0 new messages