CỬU TRÙNG THIÊN
Cửu Trùng Thiên
Cửu: Chín, thứ chín. Trùng: Từng, lớp. Thiên: Trời.
Chúng ta có 2 trường hợp:
· Cửu Trùng Thiên là 9 từng Trời nơi cõi thiêng liêng,
· Cửu Trùng Thiên là cái đài hình 8 cạnh có 9 từng đặt tại sân Ðại Ðồng Xã trước Tòa Thánh Tây Ninh.
1. Cửu Trùng Thiên nơi cõi thiêng liêng:
Cửu Trùng Thiên là chín từng Trời nơi cõi thiêng liêng.
KHH: Ngó Cực Lạc theo huờn Xá lợi,
Cửu Trùng Thiên mở lối qui nguyên.
Tên của mỗi từng Trời trong Cửu Trùng Thiên được định rõ trong 9 bài Kinh Tuần Cửu, từ Nhứt Cửu đến Cửu Cửu, kể ra sau đây từ thấp dần lên cao:
1.- Từng Trời thứ 1: trên từng Trời nầy có Vườn Ngạn Uyển do Nhứt Nương DTC cai quản.
2.- Từng Trời thứ 2: trên từng Trời nầy có Vườn Ðào Tiên của Ðức Phật Mẫu do Nhị Nương cai quản.
3.- Từng Trời thứ 3: tên gọi là Thanh Thiên.
4.- Từng Trời thứ 4: Huỳnh Thiên.
5.- Từng Trời thứ 5: Xích Thiên.
6.- Từng Trời thứ 6: Kim Thiên.
7.- Từng Trời thứ 7: Hạo Nhiên Thiên, do Ðức Chuẩn Ðề Bồ Tát và Phổ Hiền Bồ Tát cai quản.
8.- Từng Trời thứ 8: Phi Tưởng Thiên, do Ðức Từ Hàng Bồ Tát cai quản.
9,- Từng Trời thứ 9: Tạo Hóa Thiên, do Ðức Phật Mẫu cai quản và Ðức Phật Mẫu chưởng quản tất cả 9 từng Trời của Cửu Trùng Thiên.
Ngoài ra, còn 3 từng Thiên nữa tạo thành Thập Nhị Thiên , kể ra như sau :
1.- Từng Trời thứ IO : Hư Vô Thiên, do Đức nhiên Đăng chởng quản.
2.- Từng Trớ̀i thứ 11 : Hội Ngươn Thiên,\
3.- Tờng Trời thứ 12 : Hổn Ngươn Thiên
Hai từng Trời 11 và 12 được nới đến trong Di Lạc Chơn Kinh.
Các Đấng TTTP khia mở Thập Nhị Thiên được gọi là Cửu Thiên Khai Hóa.
CácĐấng TTTP khai mở THập Nhị Thên gọi chung là Thập Nhị Khai Thiên.
2 /- Cửu Trùng Thiên nơi sân Đại Đồng Xã :
Trước Tòa Thánh Tây Ninh có một sân rất rộng, gọi là Ðại Ðồng Xã. Giữa Ðại Ðồng Xã, Hội Thánh có xây dựng một cái đài 9 nấc như cầu thang đi lên, hình 8 cạnh Bát quái đều nhau, sơn ba màu đạo:
- 3 nấc thấp nhất sơn màu đỏ,
- 3 nấc giữa sơn màu xanh
- 3 nấc trên sơn màu vàng.
Ðài nầy tượng trưng Cửu Trùng Thiên nên được gọi là Ðài Cửu Trùng Thiên.
Khi có tế lễ Chức sắc Ðại Thiên phong hàng Tiên vị qui liễu, Hội Thánh cho dựng bên trên Ðài Cửu Trùng Thiên một cái nhà rộng có 8 cột cao khoảng 12 mét đứng theo hình Bát Quái, nóc nhà có 8 mái tạo thành 8
cung Bát Quái. Tại mỗi cung có vẽ một bức tranh lớn nói lên ý nghĩa của mỗi cung theo Bát Quái đồ:
- Cung Càn: vẽ cảnh Rồng bay trên mây.
- Cung Khảm: vẽ cảnh biển cả mênh mông.
- Cung Cấn: vẽ cảnh núi non.
- Cung Chấn: vẽ cảnh sấm chớp.
- Cung Tốn: vẽ cảnh bão tố.
- Cung Ly: vẽ cảnh núi phun lửa.
- Cung Khôn: vẽ cảnh con trâu cày đất.
- Cung Ðoài: vẽ cảnh đầm nước, ao hồ.
Tám cột được Ban Mỹ Thuật trang trí rất khéo léo, dùng các thứ trái cây và bông hoa kết thành hình rồng vấn khúc.
Nối liền với nhà Bát Quái là một rạp lễ rộng chừng 10 mét, cao khoảng 8 mét và dài khoảng 24 mét.
Liên đài của Chức sắc Ðại Thiên phong được đặt lên đài Cửu Trùng Thiên để tế lễ. Ấy là cách lấy hình thức tại thế gian (Thể pháp) để tượng trưng sự mầu nhiệm thiêng liêng (Bí pháp) là Chức sắc hàng Tiên vị đã dày công với Ðạo, có nhiều công đức, nên không đi từ từ qua Cửu Trùng Thiên nhờ các bài Kinh Tuần Cửu, mà vượt thẳng lên Cửu Trùng Thiên vào chầu Ðức Phật Mẫu nơi Tạo Hóa Thiên.
Ðó là tiêu biểu cho sự giải thoát khỏi kiếp luân hồi nhờ công đức tu hành, và lập được Thiên vị nơi cõi thiêng liêng.
Ðài Cửu Trùng Thiên nơi Ðại Ðồng Xã còn được Hội Thánh dùng làm nơi thiêu hài cốt của chư vị Chức sắc Ðại Thiên phong, lấy tro xá lợi đem bỏ vào hủ, đặt nơi bàn thờ trong Hầm Bát Quái của Tòa Thánh.
CỬU TUYỀN :
Cửu: Chín, thứ chín. Tuyền: Dòng suối.
Cửu tuyền là chín suối, chỉ Âm phủ, cõi của người chết.
Chữ Cửu tuyền có nguồn gốc từ chữ Cửu nguyên, tên của một bãi tha ma của nước Tấn bên Tàu. (Xem: Cửu nguyên).
Theo Thế Thuyết, sau khi Ân Trọng Kham chết, Hoàn Huyền hỏi Ân Trọng Văn: Cha ngươi là Ân Trọng Kham là người thế nào? Ân Trọng Văn đáp: Tuy không thể làm sáng tỏ một đời nhưng cũng để soi rọi khắp Cửu tuyền.
KTKCQV : Thiệt thòi cam phận thuyền quyên,
Chứa chan giọt lệ cửu tuyền cuộn trôi.
Cửu tuyền còn có ý chỉ cõi Ðịa ngục, nơi giam giữ và trừng phạt các tội hồn.
Khi Ðức Chí Tôn mở ÐÐTKPÐ tức Ðạo Cao Ðài, Ðức Chí Tôn cũng mở Ðại Ân Xá Kỳ ba, nên ra lịnh đóng cửa Ðịa Ngục, đồng thời mở rộng cửa Trời để rước người đắc đạo. Các linh hồn nơi Ðịa Ngục được phóng thích cho đi đầu thai, để trả quả và để tu hành lập công chuộc tội, hầu được siêu thăng.
KÐT: Khai cơ tận độ, cửu tuyền diệt vong.
TNHT: Ném thử Giáng Ma đóng cửu tuyền.
CỬU VỊ TIÊN NƯƠNG - CỬU VỊ NỮ PHẬT :
Cửu vị Tiên Nương là chín vị Nữ Tiên nơi DTC hầu cận Ðức Phật Mẫu.
Cửu Vị Tiên Nương
- Luật Tam Thể :
"Dưới quyền của Phật Mẫu có Cửu Tiên Nương trông nom về Cơ giáo hóa cho vạn linh, còn ngoài ra có hằng hà sa số Phật trông nom về Cơ phổ độ mà Quan Âm Bồ Tát là Ðấng cầm đầu.
Quan Thế Âm Bồ Tát ngự tại cung Nam hải, ở An Nhàn động. Còn Diêu Trì Cung thì ở Tạo Hóa Thiên." .
Cửu vị Tiên Nương đứng hàng Tiên vị.
Cửu vị Tiên Nương đã lập được nhiều công quả trong thời kỳ khai Ðạo, dẫn dắt các nguyên căn đi vào đường đạo đức để làm tướng soái cho Ðức Chí Tôn khai Ðạo, lại dày công giáo hóa Nữ phái nên Cửu vị Tiên Nương được thăng lên hàng Phật vị, và được gọi là: Cửu vị Nữ Phật.
Nhiệm vụ của mỗi Tiên Nương nơi cõi TL như sau:
1. Nhứt Nương:
Nhứt Nương cầm bửu pháp là đờn Tỳ bà, cai quản vườn Ngạn Uyển nơi từng Trời thứ nhứt trong Cửu Trùng Thiên, đón tiếp các chơn hồn qui Thiên đi lên Cửu Trùng Thiên, xem xét các nguyên nhân đang còn sống nơi cõi trần hay đã qui liễu. Mỗi đoá hoa trong vườn Ngạn Uyển là một chơn linh. Khi chơn linh tái kiếp xuống trần thì hoa nở, khi qui liễu thì hoa héo tàn, khi chơn linh làm điều đạo đức thì sắc hoa tươi thắm, còn làm điều gian ác thì sắc hoa ủ dột xấu xí.
Trong một kiếp giáng trần ở VN, Nhứt Nương có tên là HOA. Do đó, khi Nhứt Nương giáng cơ cho thi thì có chữ HOA đứng đầu bài thi.
HOA ngào ngạt mùi hương tỏa kín,
Cảm lòng thành điện Thánh nương về.
Khuyên đời mau tỉnh giấc mê,
Lo tu sau khỏi não nề kiếp duyên.
2. Nhị Nương:
Nhị Nương cầm bửu pháp Lư hương, cai quản vườn Ðào Tiên của Ðức Phật Mẫu ở từng Trời thứ nhì trong Cửu Trùng Thiên, đón tiếp và hướng dẫn các chơn hồn đi lên từng Trời thứ nhì, vào vườn Ðào Tiên, mở tiệc rót rượu trường sanh đãi các chơn hồn, rồi đưa chơn hồn lên Ngân Kiều, có lằn Kim quang đỡ chơn hồn đi lên từng Trời thứ ba.
Trong một kiếp giáng trần ở Việt Nam, Nhị Nương có tên là CẨM, nên khi giáng cơ cho thi, thường có chữ CẨM đứng đầu bài thi:
CẨM tịch Diêu Cung Tiên vị đắc,
Hạnh phùng vũ lộ sắc Thiên ban.
Ðầy vơi vui hưởng kiếp nhàn,
Ngảnh trần có khác chi tràng mộng xuân.
3. Tam Nương:
Tam Nương cầm bửu pháp là quạt Long Tu Phiến, đón tiếp các chơn hồn lên từng Trời thứ ba là Thanh Thiên, dùng thuyền Bát Nhã đưa các chơn hồn đi qua biển khổ sang bờ giác ngộ, qui hồi cựu vị.
Trong một kiếp giáng trần ở Việt Nam, Tam Nương có tên là TUYẾN, nên khi giáng cơ cho thi, thường có chữ TUYẾN đứng đầu bài thi:
TUYẾN nghiệp phàm vô vị,
Ðạo khai dĩ định kỳ.
Hồng ân chan rưới mấy khi,
Bến mê há để lỡ thì độ sanh.
4. Tứ Nương:
Tứ Nương cầm bửu pháp Kim Bảng, đón tiếp các chơn hồn lên từng Trời thứ tư là Huỳnh Thiên, làm giám khảo tuyển chọn các văn tài trong mỗi khoa thi, ai hiền đức và tài giỏi thì
Tứ Nương hộ trì cho thi đậu, để đem tài năng ra giúp đời.
Trong một kiếp giáng trần ở Việt Nam, Tứ Nương có tên là GẤM, nên khi giáng cơ cho thi, thường có chữ GẤM đứng đầu bài thi:
GẤM thêu hoa càng nhìn càng đẹp,
Ðức thêm tài chẳng hẹp đường tu.
Mặc người lên võng xuống dù,
Lợi danh xạo xự thiên thu lỡ làng.
5. Ngũ Nương:
Ngũ Nương cầm bửu pháp là cây Như Ý, tiếp dẫn các chơn hồn lên từng Trời thứ 5 là Xích Thiên trong Cửu Trùng Thiên. Nơi đây, chơn hồn được hướng dẫn đến Minh Cảnh Ðài để xem rõ ràng các việc làm tội phước trong kiếp sanh nơi cõi trần, rồi đến cung Ngọc Diệt Hình để mở quyển Kinh Vô Tự, xem quả duyên của mình.
Trong một kiếp giáng trần ở Việt Nam, Ngũ Nương có tên là LIỄU, nên khi giáng cơ cho thi, thường có chữ LIỄU đứng đầu bài thi:
LIỄU chiều gió xung xăng màn hạnh,
Như để lời cửa Thánh nhắn tin.
Ðạo tâm xin gắng vẹn gìn,
Ðọa thăng hai lẽ nơi mình liệu toan.
6. Lục Nương:
Lục Nương cầm bửu pháp là Phướn Tiêu diêu hay Phướn Truy hồn, tiếp đón các chơn hồn lên từng Trời thứ sáu là Kim Thiên, hướng dẫn đến cung Vạn Pháp cho chơn hồn xem rõ cựu nghiệp của mình, rồi chơn hồn lãnh Kim sa, được chim Khổng Tước đưa lên Ðài Huệ Hương xông thơm chơn thần, có nhạc Thiên thiều trổi đưa chơn hồn đi lên.
Trong một kiếp giáng trần ở nước Pháp. Lục Nương là Thánh Nữ Jeanne d'Arc (1412-1431), đã đánh đuổi quân xâm lăng Anh quốc để cứu nước Pháp. Sau đó, Lục Nương giáng trần ở Việt Nam, tên là HUỆ, nên khi giáng cơ cho thi, thường có chữ HUỆ đứng đầu bài thi:
HUỆ ân chan khắp toàn nhơn loại,
Vào đường tu phỉ toại kiếp sanh.
Lánh nơi tranh đấu giựt giành,
Nghiệt oan khỏi vướng thân danh vẹn phần.
7. Thất Nương:
Thất Nương cầm bửu pháp là Hoa sen, tiếp đón các chơn hồn đến từng Trời Hạo Nhiên Thiên bái kiến Ðức Chuẩn Ðề Bồ Tát và Ðức Phổ Hiền Bồ Tát.
Thất Nương lại để lòng từ bi, tình nguyện lãnh lịnh Ngọc Hư Cung xuống cõi Âm Quang giáo hóa các Nữ tội hồn cho họ sớm thức tỉnh, để được tái kiếp trả xong căn quả và tu hành.
Trong một kiếp giáng trần ở Việt Nam, Thất Nương có tên là VƯƠNG THỊ LỄ, sanh năm 1900 tại Chợ Lớn, là con gái của ông Vương Quan Trân và Bà Ðỗ thị Sang (con của Tổng Ðốc Ðỗ Hữu Phương). Cô Lễ bị bạo bệnh mất năm Cô 18 tuổi. (Xem chi tiết nơi chữ Thất Nương, vần Th).
Thất Nương thường giáng cơ dạy Ðạo và cho thi. Khi giáng cơ cho thi, Cô thường đặt chữ LỄ đứng đầu bài thi:
LỄ văn đủ định phân khách trí,
Hạnh đức toàn xứng vị Thánh nhân.
Cõi trần là chốn mê tân,
Dìu nhau lánh giả tầm chân tiếc gì.
8. Bát Nương:
Bát Nương cầm bửu pháp là Giỏ Hoa Lam, tiếp đón các chơn hồn đến từng Trời Phi Tưởng Thiên, từng thứ tám trong
Cửu Trùng Thiên, hướng dẫn chơn hồn đến bái kiến Ðức Từ Hàng Bồ Tát.
Bát Nương rất thường giáng cơ dạy Ðạo và cho thi.
Bài Phật Mẫu Chơn Kinh mà chúng ta thường tụng khi cúng Ðức Phật Mẫu do Bát Nương giáng cơ ban cho tại Báo Ân Ðường Kim Biên, khi Ðức Phạm Hộ Pháp phò cơ tại đó.
Bát Nương giáng trần nơi nước Trung Hoa, vào thời nhà Tây Hán, tên là Bạch Liên (Hoa sen trắng). Bát Nương cũng có giáng trần ở VN vào nhà họ Hồ.
SEN TRẮNG vóc tinh vi đảnh Hớn,
Nêu tiết trong soi sáng tài hoa.
Ðể lời nhủ bạn quần thoa,
Kiên trinh liệt nữ phẩm nhà chớ quên.
9. Cửu Nương:
Cửu Nương cầm bửu pháp Ống tiêu, tiếp đón các chơn hồn lên từng Trời Tạo Hóa Thiên để đưa vào bái kiến Ðức Phật Mẫu, được Phật Mẫu ban cho đào hạnh và rượu Tiên.
Trong một kiếp giáng trần ở Việt Nam, tỉnh Bạc Liêu, Cửu Nương tên là Cao Thị Khiết (tên giấy tờ là Kiết), con của ông Ðốc Phủ Cao Minh Thạnh và Bà Tào Thị Xúc. Cô là con gái út thứ 9. (Xem chi tiết nơi chữ: Cửu Nương). Khi giáng cơ cho thi, Cô thường đặt chữ Khiết đứng đầu bài thi:
"KHIẾT sạch duyên trần vẹn giữ,
Bạc Liêu ngôi cũ còn lời,
Chín chuyên buồn chẳng trọn đời,
Thương người theo Đạo Phật Tr̀i cũng thương"
3/- Nhiệm vụ hay công đức của Cửu Nương DTC :
Trong buổi TKPĐ, Cửu Vị TN đã giúp Đức Phật Mẫu trong công cuộc khai mội Đạo Vàng để cứu độ con ái Người nơi cõi trần gian nầy.
KTTCĐDTKM :