



[trích Tộc Phả]
Ông Trần Tán Duyên (1900 – 1984) là con trai trưởng của cụ Trần Tán Bình. Ông là người thông minh, tài giỏi và khí phách của gia tộc họ Trần – Do Lễ. Ông thông thạo tiếng Pháp, từng theo học và đỗ Tú Tài loại ưu trường Bưởi, được triều đình nhà Nguyễn và chính quyên Pháp bổ làm Thông Phán tỉnh Thái Bình. [Có lẽ vì thế nên sau này tên ông thường gắn với chứ Phán, cụ Phán Duyên/ông Phán Duyên]. Tuy Thông Phán chỉ là chức quan trung bình ở các tỉnh Việt Nam trước năm 1945, nhưng Thông Phán của tỉnh là ông quan quan trọng, là người kết nối giữa chính quyền do triều đình Nhà Nguyễn bổ nhiệm (ông Tuần Phủ, các ông Tham) với chính quyền do người Pháp bổ nhiệm (ông Công Sứ, Đốc Lý). Bà có kể lại là “Hồi ông bà ở Thái Bình, ai muốn gặp ông Công Sứ xin gì là đều phải nhờ ông. Họ cứ đi qua nhà ném tiền qua cửa để xin ông giúp”. Sau này, vì mâu thuẫn với các quan của tỉnh Thái Bình, ông rời bỏ chính quyền, đưa cả gia đình về Yên Mô, Ninh Bình làm ăn, mở ty rượu, trở nên giàu có tiếng trong vùng. Thời gian ở Yên Mô là thời gian đầm ấm và phát tài nhất của gia đình ông bà. Ở đây, Ông Bà đã nuôi dạy được 4 người con xuất sắc, Dực, Hiển, Từ, Hồng. Khi cụ thân sinh ra ông (cụ Trần Tán Bình) ốm rồi mất, ông bán hết gia tài ở Yên Mô, mang về quê nhà Nho Tống, Do Lễ (nhiều người hay gọi nhầm là Đỗ Xá), tậu đất, xây nhà, mua ruộng vườn, xây cất nhà thờ tổ, sinh phần, sửa sang đường làng, ngõ xóm. Ông trở thành đại địa chủ, nổi tiếng về giàu có, giỏi giang và đức độ ở Phủ Vạn Điểm. Giờ đây nhiều người ở quê vẫn còn nói về cụ Phán Duyên với vẻ rất kính trọng, “Tuy cụ là địa chủ đấy, nhưng cụ rất giỏi về văn chương, thông thạo tiếng Pháp và nhất là luôn có tấm long đức độ giúp đỡ bà con xóm giềng”. Thế rồi cuộc cách mạng đã lấy đi tất cả tài sản ruộng vườn của gia đình. Trở nên tay trắng, ông bà phải về Hà Nội sinh sống. Thời gian đầu ông có mở cửa hàng bán lẻ thuốc ở nhà để có tiền trang trải cuộc sống, sau ông chỉ nghỉ ngơi, đọc sách, làm thơ, đàm đạo văn chương, thơ phú với các em, các con cháu và bạn bè. Cuộc sống có lúc lên, lúc xuống, lúc vui, lúc buồn nhưng ông luôn vững vàng, luôn luôn là điểm tựa vững chắc cho gia đình, luôn là người chồng, người cha, người anh tin cậy của cả gia đình. Ông là người nghiêm khắc nhưng đức độ và bao dung cho đến tận cuối đời.
Gửi bạn
Bốn mươi năm lẻ lại bây giờ
Đầu bạc may còn, lớp bạn xưa
Nhác thấy vui thay, hàng cố lão
Cả cười trạnh tới, tuổi ngây thơ
Trải bao mưa nắng, thân còn mạnh
Rở đến ca ngâm, dọng vẫn ưa
Hoa cỏ mừng nay tươi vẻ mới
Còn ngày, còn hưởng khúc xuân đưa
10-59


“Thị trấn Phú Minh vùng đất sinh ra và nuôi dưỡng nhiều bậc hiền tài: Tiêu biểu có cụ Trần Tán Bình thi đậu Tiến sĩ đời vua Thành Thái, vì bài thi phạm húy nên bị giáng xuống Phó Bảng (khoa Ất Mùi, Thành Thái thứ 7 năm 1895); làm quan đến chức (Án sát, Tuần phủ Ninh Bình); cụ có công mở mang các trường học, xây dựng đường xá (đưa đường quốc lộ 73B từ Đỗ Xá về qua làng Nho Tống), giúp đỡ và khuyến khích làm đồ xuất cảng (dệt chiếu, vải, gai, dệt thảm, đồ gốm.. tại tỉnh Thái Bình, Nam Định, Ninh Bình); tên tuổi của cụ có ghi ở Bia Văn Miếu–Huế, người dân Phú Xuyên– Thường Tín rất tâm đắc câu đối của cụ, hầu như nó trở thành câu nói cửa miệng của mọi người để răn mình và răn người (Bán rượu, bán chè, đừng bán nước/ Buôn trăm, buôn chục, chớ buôn quan)”





-------------------------------
Các kỳ thi Nho học ở Việt Nam thời nhà Nguyễn được tổ chức theo 3 cấp thi: thi Hương, thi Hội và thi Đình.
– Thi Hương là cấp thấp nhất được tổ chức ở một số vùng, thi Hương có 4 kỳ: kỳ I: kinh nghĩa, thư nghĩa; kỳ II: chiếu, chế, biểu, kỳ; kỳ III: thơ phú; kỳ IV: văn sách. Thi qua 3 kỳ thì đỗ Tú Tài (thường mỗi khóa lấy đỗ 250-300 người). Thi qua cả 4 kỳ thì đỗ Cử Nhân (thường lấy đỗ 50-60 người)
- Thi Hội là một khoa thi lớn cấp quốc gia, tổ chức tại kinh độ Huế. Người đỗ cử nhân đều được quyền dự thi, tú tài thì không được thi Hội. Thi Hội cũng có 4 kỳ. Thi Hội tính điểm bằng phân số từ 1 đến 10, chứ không tính theo kiểu ưu, bình, thứ, liệt như thi Hương. Thí sinh thi tất cả 4 kỳ Hội đều có điểm và tổng cộng đúng số điểm theo quy định của triều đình thì được gọi là trúng cách, nhưng không có học vị gì. và được phép vào thi Đình,
– Thi Đình là kỳ thi được tổ chức tại sân điện của nhà vua. Thi Đình là nhằm sắp xếp thứ bậc tiến sĩ cho những người đã trúng cách ở thi Hội. Thi Đình được quy định điểm đỗ: 10 phân đỗ Trạng Nguyên; 8-9 phân đỗ Đệ nhất tiến sĩ (Bảng Nhãn); 6-7 phân đỗ Đệ nhất giáp tiến sĩ (Thám Hoa); 4-5 phân đỗ Đệ nhị giáp tiến sĩ; 3 phân đỗ Đệ tam giáp Đồng tiến sĩ; 1-2 phân đỗ Phó Bảng.
Những khoa thi ở Nam Định diễn ra 3 năm 1 lần, khoa thi mang một tầm quan trọng đáng kể và diễn ra trong một nghi lễ oai nghiêm mà tinh chất Viễn Đông của nó đầy thi vị. Hơn 10.000 sĩ tử từ tất cả mọi vùng của Bắc Kỳ đến ứng thi, trong khi tổng cộng chỉ có 300 tấm bằng được cấp. Các sĩ tử đến Nam Định vài ngày trước kỳ thi, mỗi người được mang một tên đầy tớ theo hầu, và thường có mấy người trong gia đình đi cùng. Người ta chỉ trích sự náo động, xáo trộn mà kỳ thi gây ra ở Nam Định, nơi mà dân chúng đột nhiên tăng lên gấp đôi.
Các sĩ tử đến Nam ĐỊnh trước đó vài ngày, họ tận dụng thời gian để chiếm lĩnh chỗ và ổn định trong lều thi dành cho họ. Người ta cho họ khoảnh đất trống và chỉ có vậy. Họ phải tự lo liệu ăn ở và làm bài thi trong vài ngày liền ở đó. Họ dựng lên, hay chính xác là người nhà của họ dựng lên cho họ - bởi với tư cách nho sĩ, họ chẳng đụng tay tới bất cứ cái gì hết – một chiếc lều nhỏ xíu lợp chiếu cói hoặc tranh. Ta có thể ngồi trong đó, nằm hoặc quỳ, nhưng đứng thẳng thì không thể. Trong lều có vài tấm chiếu, chăn, bút lông, mực, giấy và một cái bếp nhỏ, vài dụng cụ để nấu ăn, để pha trà mà những người ở đây uống bất kỳ giờ nào trong ngày. Trong căn lều bé tẹo và bừa bộn ấy, chừng một mét vuông nên đất, thì có sĩ tử dự thi và tên đầy tớ của anh ta ở. Người đầy tớ này thường là họ hàng hoặc hàng xóm tự nguyện đi phục vụ sĩ tử khi anh ta không đủ giàu để thuê một thư đồng. Trong trường hợp vinh quy bái tổ, ân lộc sẽ rót xuống gia đình và cả làng anh ta khá nhiều để người đầy tớ tự nguyện kia sẽ nhận được tiền lương của minh.
Ban giám khảo ở Nam Định là những nhan vật quan trọng, được chính Thượng thư Bộ Lễ của vua An Nam chỉ định và từ Huế ra đảm đương trọng trách này. Họ thực thi chức phận của minh với vẻ trang trọng và nghiêm khắc tối thượng, và với ý thức rất cao, hình như thế. Không có điều gì cho phép ta tin rằng có sự thiên vị trong những quyết định của họ đối với các sĩ tử cả. Đã có các trường hợp các công tử của các viên quan quyền thế, mà bài thi của họ tốt, nhưng bị đánh hỏng một cách không thương tiếc chỉ bởi trong bài thiếu một chút gì đó, trong khi con những nhà bần nông thân cô thế cô, bài của họ chẳng hơn là mấy, thì lại đỗ.
Các sĩ tử đã vào vị trí khi lễ khai mạc cuộc thi bắt đầu; trong lúc đợi để được phát đề thi đầu tiên, họ mài mực và chuẩn bị bút lông. Quang cảnh trường thi nơi họ tập trung trông rất kỳ cục. Có đến 10.000 hoặc 12.000 chiếc lều nhỏ xíu, dựng san sát nhau, cạnh đó, chỗ này chỗ kia có một thằng hầu nhàn rỗi hoặc một nho sinh tò mò hơn hay bồn chồn hơn các đồng bọn của minh, tạo thành một vẻ kỳ lạ nhất. Ở đó có sự quy củ của một doanh trại quân đội, mà không có sinh khí, không sôi động. Đó là cái gì đó nhỏ nhoi, lặng lẽ, cứng nhắc, hệt như thế giới Á Châu già nua hiện thời đang biến mất khi tiếp xúc với nền văn minh của người Pháp. Nếu ta theo những lối đi hẹp giữa các lều, ta liếc nhìn vào cái khoảnh bé tí bên trong mà các quan giám khảo mở ra bằng cách nhấc tấm mành cửa, vốn đang buông kín, ta sẽ thấy sĩ tử đang ngồi phủ phục, xung quanh là những đồ dùng phức tạp của khóa sinh, những thỏi mực, những nghiên mài mực nhỏ, những ống quyển sơn thếp hoặc lọ sành đựng bút lông, một xấp giấy bản ,,, Họ chấm bút vào nghiên mực và cố gắng nắn nót vẽ chữ, từng nét một, mà vẻ đẹp của chúng khi kết hợp với nhau có thể sẽ cho thấy phong cách thư pháp.
Kẻ đầy tớ đang ngồi duỗi chân duỗi tay không xa đó, gà gật, sẵn sàng thưa bất cứ lúc nào bị gọi; hoặc hắn sẽ pha trà, trà sẽ làm sĩ tử tỉnh táo trong khoảng thời gian làm bài rất dài, và anh ta sẽ uống trà trong suốt cả ngày.
Sĩ tử đi thi Hương phải qua một kỳ chuẩn bị dài. Hiếm khi họ đỗ ngay trong kỳ thi đầu tiên, và có những người dự thi đến 10, 15 lần liền. Những người ấy không còn trẻ nữa, bởi ba năm mới có một khoa thi. Ta thấy có những sĩ tử tuổi đời đã ngũ lục tuần; nhưng đa số họ ở khoảng 20 đến 30 tuổi. Đúng vậy, rất nhiều người trong số họ không nhẫn nhục theo đời bút nghiên suốt đời, và do không đạt được một học vị mà nó vốn tạo điều kiện cho họ tiến vào giới quan lại, họ chấp nhận một công việc cấp thấp.
Thi Hương bao gồm các kỳ thi liên tiếp, mà tất cả đều là đấu loại. Số sĩ tử giảm dần cho đến kỳ thi cuối cùng đến gần. Sĩ tử được cho một khoảng thời gian khá dài để phát triển chủ đề văn chương và triết học được theo đề bài ra sẵn, và là chủ đề mà trí nhớ của anh ta sẽ đóng vai trò quan trọng nhất. Với khoảng thời gian cần thiết để chấm hơn 10.000 bài thi lúc ban đầu, rồi đến những bài của kỳ kế tiếp, không nhiều bằng nhưng nghiêm túc hơn và dài hơn, thật dễ hiểu khi kỳ thi đó phải kéo dài nhiều tuần liền.
Người ta đã ấn định trước số lượng bằng Cử Nhân và Tú Tài sẽ được trao. Chính Thống sứ (viên chức người Pháp đứng đầu xứ bảo hộ Bắc Kỳ) sẽ là người quyết định, dựa trên các đề cử của các quan lại và sau khi đã thảo luân với Toàn quyền (Toàn quyền Đông Dương – người Pháp đứng đầu xứ Đông Dương), trong trường hợp vị Toàn quyền quan tâm đến vấn đề này. Số lượng bằng của các kỳ thi có khác nhau đôi chút. Có khoảng 50 đến 60 bằng Cử Nhân, 250 đến 300 bằng Tú Tài. Điều này cho thấy tỷ lệ đỗ là 1 chọi 30 hoặc 1 chọi 40. Số sĩ tử đỗ quả thật không nhiều; nhưng thế là tương đối đủ, nếu không nói là quá nhiều so với số lượng việc làm mà chính quyền nhà Nguyễn có thể bố trí. Thành công của những sĩ tử thi đỗ được gia đình và cả làng ăn mừng; mọi người rất lấy làm tự hào và phô trương ầm ĩ niềm vui của họ.
Nhưng vinh dự mà một nho sĩ đem lại cho gia đình không ngăn được ông ta là gánh nặng cho cả gia đình nếu không hoàn thành trọng trách đã được trao cho ông ta. Dù có nghèo đến đâu, nho sĩ cũng không đụng tay vào bất cứ việc gì; phẩm hạnh của ông ta không cho phép làm những việc đó. Với những ai còn chưa biết rằng ông ta chẳng biết làm bất cứ công việc chân tay nào, thì nên biết thêm rằng ông ta để móng tay dài quá mức. Độ dài của những móng tay có khi dài đến vài xăng-ti-mét. Nho sĩ có móng tay dài như vậy thậm chí không thể tự mặc quần áo; ông ta luôn cần một người hầu bên cạnh. Các quan lại lớn hay nhỏ đều chẳng khó khăn gì để có người hầu hạ; họ dễ dàng kiếm được nhiều giai nhân mà tiền công không đáng kể. Các nho sĩ thất nghiệp và không gia sản thì không có điều kiện thuận lợi ấy. Dẫu vậy, họ vẫn giữ thói nhàn cư của mình như một ưu tiên về đẳng cấp, nhưng họ lại khốn đốn vì tình trạng ấy, tinh thần họ trở nên bức bối; họ phê phán, đả kích, kích động những người xung quanh họ, mà chính minh thì không tài nào tự hành động được. Họ là những kẻ thù bẩm sinh đối với mọi chính phủ không dùng đến họ. Thế nên cần tránh tạo ra quá nhiều nho sĩ, cần tránh phát số lượng bằng cấp vượt quá số việc làm hiện có.
Những Cử nhân và Tú tài ở Nam Đinh làm cùng một đề thi như nhau; không có hai chương trình thi cử. Chính những người đỗ đầu, tức là những người đạt đểm cao nhất, được nhận bằng Cử nhân. Những người đỗ thấp hơn nhận bằng Tú tài; nếu họ muốn lấy bằng Cử nhân thì ba năm sau họ họ lại phải tham gia cuộc thi tương tự. Dẫu kết quả có thế nào, dẫu kết quả lần sau kém hơn lần trước thì họ vẫn được bảo tồn thứ hạng bằng cấp mà họ đã đạt được. Lễ bế mạc kỳ thi quả là thú vị và kỳ lạ. Các giám khảo, mặc quan phục trang trọng, ngồi vắt vẻo trên những chiếc ghế cao đến hơn hai mét, họ rất chật vật để leo lên do vận những bộ áo dài truyền thống lụng thụng, đai lưng to bản và hai ông tay áo rộng thùng thình, còn đôi hia của họ thì to quá khổ. Nghi lễ đỏi hỏi họ phải ngồi như vậy, từ đầu này đến đầu kia mà những sĩ tử đỗ đạt sẽ đi qua. Việc xướng danh các sĩ tử thi đỗ được thực hiện trên một khán đài cũng được dựng cao y như những chiếc ghế của các quan giám khảo. Một ông quan đọc tên của những người thi đỗ, nguyên quán của người ấy,và một quan xướng danh trong một bộ quan phục mầu đỏ, cầm một chiếc loa dài, hô to lại những lời của vị quan nọ về tất cả các hướng. Trong lúc các sĩ tử lần lượt tản đi, tức là các thí sinh bị loại ở kỳ thi sau chót, và những người thi đỗ tập hợp lại và lễ phát bằng bắt đầu. Mỗi Cử nhân hoặc Tú tài, ngòai tấm bằng còn nhận được một bộ lễ phục, kiểu cách giống như của các quan lại nhưng dản dị hơn và đồng một màu xanh lam. Khi vị Toàn quyền chủ trì buổi lễ, thì ông ta tặng thêm phần thưởng, thường là những chiếc đồng hồ vàng và bạc, loại đồng hồ tặng cho Cử nhân thì đắt hơn chút đỉnh.
Sau khi thí sinh đỗ kỳ thi Hương năm sau mới được dự kỳ thi Hội. Thi đỗ khóa thi Hội rồi mới được phép thi Đình. Kỳ thi Hội cũng có 4 kỳ như thi Hương. Khoa thi này được gọi là “Hội thi Cử nhân” hoặc “Hội thi Cống sĩ” (các Cử nhân, Cống sĩ, tức là người đã đỗ kỳ thi Hương ở các địa phương, tụ hội lại ở kinh đô để thi) do đó gọi là thi Hội. Thí sinh đỗ cả 4 kỳ được công nhận là trúng cách thi Hội. nhưng không có học vị gì. Nếu không tiếp tục thi Đình thì vẫn chỉ có học vị Hương cống hoặc Cử nhân. Chỉ sau khi thi Đình, người trúng cách thi Hội mới được xếp loại đỗ và mới được công nhận là có học vị các loại Tiến sĩ.

Lại nói thêm về nghề thông ngôn, ngày nay gọi là phiên dịch, tức là dịch từ tiếng này qua tiếng khác. Thời các cụ, làm thông ngôn, tức là làm phiên dịch từ tiếng Pháp sang tiếng Việt, thâm chí sang tiếng Hán, tiếng Nôm và dịch ngược lại; và không chỉ dich nói, mà còn cả dịch viết.
… vậy ta phải hiểu xem tiếng Việt là gì? chữ Việt (hay còn gọi là chữ Quốc Ngữ) có từ bao giờ?
Ngay từ khi bập bẹ, chúng ta đã nói tiếng Việt, và hoàn toàn không có gì khó khăn. Nhưng "tiếng Việt khó quá!" là ý kiến của rất nhiều người phương Tây khi tiếp cận tiếng Việt. Đối với người phương Tây, tiếng Việt khó ở chỗ phát âm (nghe và nói). Khi nói, người Việt không cần phải thay đổi tiếng mà vẫn làm cho một tiếng ấy có nhiều nghĩa khác nhau, bởi vì họ chỉ cần lên giọng hoặc hạ giọng tùy theo cường độ và nhịp điệu. Chỉ cần thay đổi chút xíu khẩu âm và không thay đổi khẩu hình thì các chữ "ca, cà, cá, cả" mang nghĩa khác nhau một trời một vực.
Từ xa xưa người Việt vẫn nói tiếng Việt như bây giờ. Tuy nhiên thủa ấy người Việt chưa có chữ viết riêng của minh. Khoảng thế kỷ 2 Trước Công Nguyên, phong kiến Trung Quốc chiếm nước ta, bắt dân ta học chữ Hán. Nhờ đó lần đầu tiên người Việt Nam biết tới chữ viết –– phương tiện truyền thông tin cực kỳ tiện lợi, không bị hạn chế về không gian và thời gian như tiếng nói.Các triều đại của người Việt trước đây đều dùng chữ Hán trong các văn bản chính thức.
Nhưng học Hán ngữ cực kỳ khó, vì người Trung Quốc đọc tiếng Hán theo hàng trăm phương ngữ khác nhau. Vì thế tổ tiên ta đã nghĩ ra cách chỉ đọc thứ chữ này bằng tiếng Việt mà không đọc bằng tiếng Hán, tức chỉ học chữ mà không học tiếng Hán. Người Việt gọi thứ chữ Hán đã Việt hóa phần ngữ âm ấy là chữ Nho, và coi chữ Nho là “chữ ta” trong khoảng 2.000 năm.
Đến khoảng thế kỷ thứ 10, người Việt đã "sáng chế" ra thứ chữ Việt bằng cách mượn chữ Hán mà viết, gọi là chữ Nôm. Chữ Nôm được xây dựng trên cơ sở chữ Hán đọc theo âm Hán-Việt, kết hợp cả hai yếu tố biểu ý và biểu âm. Song nếu chữ Hán khó một thì chữ Nôm khó mười. Bởi phải biết và giỏi chữ Hán mới có thể viết được, học được chữ Nôm.
Đối với người Việt học chữ Nôm đã khó, với người ngoại quốc xa lạ với chữ tượng hình thì chữ Nôm càng khó. Vẫn có thể học được, viết được nhưng không thể phổ biến rộng được. Chính vì vậy, vào đầu thế kỷ 17, khi các giáo sĩ phương Tây sang truyền đạo ở Việt Nam, các giáo sĩ đã nghĩ đến việc Latin hóa tiếng Việt bằng mẫu tự Latin, mà ngày xưa gọi là "chữ Annam viết bằng mẫu tự Latin".
Lâu nay, những người yêu tiếng Việt thường cho rằng giáo sĩ Alexandre de Rhodes (tên Việt là Đắc Lộ) hoặc giám mục Pierre-Joseph-Georges Pigneau (tên Việt là Bá Đa Lộc) là ông tổ của chữ quốc ngữ.
Thế nhưng, sự thật chưa hẳn là vậy…
Từ năm 1617, giáo sĩ Francesco de Pina người Bồ Đào Nha đến Hội An đã học rất nhanh tiếng Việt và trở thành người phương Tây giỏi tiếng Việt nhất thời bấy giờ; và để có thể truyền lại kinh sách giáo lý của đạo Thiên Chúa, Pina cùng một số giáo sĩ khác đã có kinh nghiệm Latin hóa tiếng Nhật, Hán bắt tay vào Latin hóa tiếng Việt. Trong thời gian 1617 – 1625, nhóm của ông đã có công hình thành nên chữ viết Việt như ngày nay. Rất tiếc là cuối năm 1625 ông chết đuối trên biển Cù Lao Chàm do vướng áo chùng không bơi được khi thuyền lật. Thi thể ông được chôn ở sau nhà thờ Phước Kiều (nay là nhà thờ Thánh Andre), thuộc thôn Thanh Chiêm 1, xã Điện Phương, huyện Điện Bàn, tỉnh Quảng Nam.
Sau khi ông mất, một học trò tiếng Việt của ông là giáo sĩ Alexandre de Rhodes (tên Việt là Đắc Lộ) người Pháp đến Việt Nam năm 1624, đã ôm tất cả những di cảo của thầy mang về Macau vào năm 1626. Tại Macau thuở ấy còn có hai giáo sĩ cũng chăm chú nghiên cứu chữ quốc ngữ và đã soạn thảo cuốn tự điển Việt-Bồ-La in tại La Mã năm 1651. Trong lời nói đầu cuốn Tự điển Việt - Bồ - La của mình, Alexandre de Rhodes có nhắc đến việc "tham khảo" tài liệu của các giáo sĩ trên, cho thấy Alexandre de Rhodes đã thừa hưởng những di sản được người khác sáng tạo ra để góp phần hoàn thành cuốn tự điển có tiếng Việt đầu tiên trên thế giới. (Tượng ông được dựng ở Hà Nội, tên ông được đặt ở đường phố trung tâm của thành phố Sài Gòn.)
Một người nữa có công phát triển và hoàn thiện chữ Việt là giám mục Pierre-Joseph-Georges Pigneau (tên Việt là Bá Đa Lộc). Ông đến Việt Nam từ năm 1775 với chức vị Giám mục Đại diện Tông tòa Đàng Trong. Ông nổi tiếng được Nguyễn Phúc Ánh trọng dụng trong việc lấy lại quyền bính từ tay nhà Tây Sơn vào cuối thế kỷ 18. Ngoài công việc là nhà truyền giáo, giám mục Bá Đa Lộc còn biên soạn cuốn từ điển tiếng Việt mang tên Dictionarium Anamitico Latinum. Tác phẩm được Jean-Louis Taberd xuất bản năm 1838, chú bằng chữ Latinh, chữ Quốc ngữ, chữ Nôm và chữ Nho.
Bởi vậy sẽ là sai lầm khi cho rằng các giáo sĩ đạo Kitô đến Việt Nam truyền giáo là để phục vụ chính sách xâm lược của thực dân Pháp. Với truyền thống Uống nước nhớ nguồn, dân tộc ta đời đời ghi ơn tất cả các giáo sĩ Kitô giáo đã góp phần làm ra thứ chữ viết kỳ diệu ta dùng hơn trăm năm nay.
Lại nói về chữ Nho. Nói nôm na, chữ Nho là chữ Hán phát âm theo tiếng Việt. Các sách xưa đều viết băng chữ Nho, các ông đồ dùng chữ Nho dạy Nho giáo cho thí sinh dự các kỳ thi Hương, thi Hội và thi Đình. Các kỳ thi Nho học ở nước ta có từ khoảng năm 1075 dưới triều Lý Nhân Tông và kết thúc vào năm 1919 đời vua Khải Định. Lý do vua Khải Định chấm dứt các kỳ thi chữ Nho chủ yếu là do lúc bấy giờ việc giáo dục Nho học đã trở nên lạc hậu so với việc giáo dục ở các trường tiếng Pháp và tiếng quốc ngữ.
Thế còn chữ Nôm, thực chất đó là chữ Hán nhưng đọc theo âm Việt. Dưới triều đại nhà Tây Sơn, do sự hậu thuẫn của Quang Trung hoàng đế, toàn bộ các văn kiện hành chính bắt buộc phải viết bằng chữ Nôm trong 14 năm, từ 1788 đến 1802. Chữ Nôm cũng được các nhà văn nhà thơ sử dụng nhiều như Nguyễn Khuyến, Tú Xương, Hồ Xuân Hương … Sau này do người Pháp quy định bắt buộc dùng chữ quốc ngữ nên chữ Nôm dần mai một, ít người dùng.
Từ năm 1862, sau khi người Pháp chiếm ba tỉnh miền Đông Nam Kỳ, người Pháp đã thành lập Trường Thông ngôn dạy hai thứ tiếng Pháp và quốc ngữ nhằm đào tạo thông ngôn cho người Pháp và người Việt. Trường thông ngôn đầu tiên là Trường Khải Tường ở Sài Gòn (cơ sở đó nay là Trường Lê Quý Đôn). Đồng thời người Pháp quy định bắt đầu từ năm 1879, tất cả văn kiện chánh thức, nghị định, quyết định, lịnh, án tòa, chỉ thị... sẽ viết, ký tên và công bố bằng chữ quốc ngữ; nhân viên nào không thể viết thơ từ bằng chữ quốc ngữ sẽ không được bổ nhậm và thăng thưởng trong ngạch phủ, huyện và tổng... Đồng thời hệ thống giáo dục chữ quốc ngữ cũng được người Pháp quy định mỗi làng, thị trấn của tổng không có trường Pháp sẽ thiết lập một trường dạy chữ quốc ngữ.
Ở Bắc Kỳ, việc giảng dạy chữ quốc ngữ có muộn hơn. Mãi đến năm 1886, người Pháp mới bắt đầu xây dựng hệ thống giáo dục chữ quốc ngữ; và đến năm 1910 chữ quốc ngữ mới được quy định cho các văn kiện chính thức của chính quyền ở Bắc Kỳ. Ngay khoa thi Canh Tuất (1910) triều Duy Tân, sĩ tử đã phải làm bài bằng chữ Quốc ngữ. Đối với chữ Nho thì khoa cử dần bị loại bỏ. Kỳ thi Hương cuối cùng ở Bắc Kỳ là năm 1915.
Trường thông ngôn đầu tiên ở Hà Nội được người Pháp thành lập năm 1908 với tên chính thức Lycée du Protectorat (Trường Trung học Bảo hộ) (nay là trường Chu Văn An) nhằm đào tạo nhân viên cho bộ máy chính quyền tại Bắc Kỳ, trường cũng thường được biết tới với tên Trường Bưởi.
Ngoài ra, năm 1906, toàn quyền Paul Beau cho lập Viện Đại học Đông Dương ở Hà Nội với ba phân khoa: văn chương, luật khoa và khoa học. Tuy nhiên đến năm 1908, Viện bị giải tán vì thiếu kinh phí. Mãi đến năm 1917, toàn quyền Albert Sarraut quay trở lại Đông Dương nhiệm kỳ thứ 2 đã ra quyết định tái thành lập Viện Đại học Đông Dương. Ngoài ba phân khoa nguyên thủy, Viện Đại học Đông Dương năm 1917 mở thêm: Y dược, Thú y, Thủy lâm, Sư phạm, Thương mại, Tài chính, Luật khoa hành chánh, và Mỹ thuật. Trụ sở Viện Đại học Đông Dương này ngày nay vẫn còn sau 100 năm xây dựng, là cơ sở của Trường Đại học Dược Hà Nội, số 19 Lê Thánh Tông.
Các quan chức thuộc địa người Pháp tại Liên bang Đông Dương rất tự hào về những thành tựu giáo dục mà họ đã đạt được. Năm 1947, Albert Charton, giám đốc Nha học chính Đông Dương trong thập niên 1940, khẳng định "Nhiều người nhận thấy [...] giá trị của sự nghiệp giáo dục tại Đông Dương, với nỗ lực không ngưng nghỉ trong hơn nửa thế kỷ, bởi những nhà giáo dục Pháp, kết quả đạt được trước năm 1939 đều được cộng đồng quốc tế và chính cả người Đông Dương công nhận vì họ khao khát tham gia vào tiến trình hòa nhập với văn hóa Pháp. Cuối cùng, chúng ta nhận thấy chất lượng và sự phi vụ lợi của chính sách giáo dục [...] đã mở rộng những cánh cửa của ngôi đền tri thức và văn hóa."
Dưới đây là một số hình ảnh Viện Đại học Đông Dương vào năm 1930 (nay là cơ sở của Trường Đại học Dược Hà Nội – cơ sở 19 Lê Thánh Tông)


“Ông xuất thân trong một gia đình Nho học, học xong bậc Trung học ông ra đời viết văn, làm báo tại Hà Nội. Ông cũng là một nhà văn sở trường về phóng sự nổi tiếng từ trước năm 1945 trên sinh hoạt văn học, báo chí Việt Nam.
Phần lớn sảng tác của ông đều đăng trên các báo ở Hà Nội như Ngày Nay Phong Hóa, Đời Nay, Hà Nội tân văn. Phóng sự của ông gây nên tiếng vang lớn như phóng sự của Tam Lang làm thức tỉnh lương tâm nhiều giới độc giả thời đó.
Sau năm 1954 ông di cư vào Nam, vẫn tiếp tục hành nghề báo chí và viết văn.
Ông mất ngày 29-4-1986 tại Sài Gòn, hưởng thọ 80 tuổi.
Các tác phẩm:
- Trong làng chạy (1935)
- Gà chọi (1935)
- Đời bí mật của sư vãi (1935)
- Làm tiền (1939)
- Làm dân (1942)
- Hà Nội lầm than (1937)
- Đồng bóng (1936)
- Với các ông lang (1941)
- Sau mặt nạ (1943)
- Thi vị đồng ruộng (1944)
- Vơ lẽ nàng hầu (1950)
- Những đứa trẻ (1950)
- Đói (1945)
- Sống sót (1945)
- Tản cư (1947)
- Đây Huế (1951)
- Quê hương giữa Thần Kinh (1950)
- À… Sề Goòn (1956)
[Trích hồi ký của cố họa sỹ Tạ Tỵ]
Nhà văn Trọng Lang, tên thực Trần Tán Cửu, sinh ra tróng gia đình quan liêu, phong kiến- không hiểu sao - ông lại ném đời mình vào nghề viết phóng sự, phải tỉm hiểu những cái xấu xa nhất, tệ hại nhất của xã hội đương thời, để mọi người cùng hiểu. Trong cuộc chiến giữa Việtnam và Pháp vào ngày 19- 12- 1946, ông trở về Thành rất sớm- nhưng nhất định trùm chăn không đi làm vơi Pháp - cho đến khi di cư vào Nam cũng vậy. Trong Lang ít giao thiệp với ai, kể cả giới cầm bút. Tôi có đến thăm vài lần, để vẽ chân dung ông, vì thấy Trọng Lang xứng đáng tiêu biểu cho lớp người cũ, trong địa hạt phóng sự. Trọng Lang có vầng tran thật lớn, tóc đã trắng hết, soăn và thưa, với bộ râu mép và cằm không chịu cắt xén gọn gàng, mọc lởm chởm như chiếc bàn chải, răng đã rụng vài chiếc ngay cửa miệng- chỉ riêng đôi mắt sắc sảo tinh anh, lúc nào cũng như soi mói, tìm hiểu, dù rằng chẳng biết nhà văn còn muốn tìm gì nữa, ngoài quá khứ ? Tuy đã nhiều tuổi, nhưng Trọng Lang nói chuyện vẫn duyên dáng lắm, mặc dù hơi kiêu kỳ một chút. Nhưng cái đó cũng chẳng sao, vì có nhà văn nghệ nào đã nổi tiếng mà chẳng có chút kiêu tự trọng trong lòng, vì công sức do chính mình tạo nên?
Nhân nói đến vợ ông Cửu là cháu chắt hoàng tộc nước Chiêm Thành, vậy ta cùng đi ngược thời gian để đi tìm hiểu về nước Chiêm Thành xem là nước nào?
Nước Việt Nam ta, xưa kia là nước Đại Việt, suốt cả một thời đại các vị vua Đinh, Lê, Lý, Trần và kể cả đời hậu Lê, đất đai chỉ có từ Bắc vào đến hết đèo Ngang (tức là hết tỉnh Hà Tĩnh bây giờ). Từ tỉnh Quảng Bình trở đi, là đất đai thuộc nước Chăm Pa.
Nước Chăm Pa (sau năm 1471 người Việt gọi là nước Chiêm Thành), là quốc gia của người Chăm (hay người Chàm), từng là quốc gia hùng mạnh, tồn tại từ năm 192 đến năm 1832. Thời cực thịnh, nước Chăm Pa bao gồm tòan bộ miền Trung Việt Nam, trải dài từ Quảng Bình đến Bình Thuận và rộng sang đến hết nước Lào.
Ngày nay ta có thể chiêm ngưỡng những di tích còn sót lại của người Chăm Pa như thánh địa Mỹ Sơn (Quảng Nam) hay tháp Chàm ở Phan Rang (Ninh Thuận).


Phần nhiều các vua Chăm Pa đều rất hiếu chiến. Người Chăm Pa là giống người hung bao, gan dạ, và là những thủy thủ kiên cường. Chăm Pa hưng thịnh nhất vào thế kỷ 9 và 10 và sau đó dần dần suy yếu dưới sức ép của các vương triều Đại Việt từ phía Bắc và các cuộc chiến tranh với Đế quốc Khmer.
Vào năm 1307, vua nước Chăm Pa là Chế Mân, người anh hùng chiến thắng cả được quân Nguyên Mông, thế mà lại phải đầu hàng trước nhan sắc nghiêng nước nghiêng thành của Huyền Trân Công chúa. Ông liền dâng cả miền đất của Châu Ô, Châu Rí (từ Quảng Bình, Huế đến Đà Năng, Quảng Nam ngày nay) cho Đại Việt để làm quà sính lễ xin cưới Huyền Trân về làm vợ. Nàng hy sinh để giúp vua Trần mở được con đường Nam Tiến. Sau sự kiện này, Chăm Pa chỉ còn lại lãnh thổ từ sông Thu Bồn trở vào.
Vị vua hùng mạnh cuối cùng của người Chăm Pa là Chế Bồng Nga lên ngôi năm 1360. Từ năm 1371 đến năm 1389, ông tổ chức nhiều cuộc tấn công ra Thăng Long kinh đô của Đại Việt. Ông chết trong lần tấn công cuối cùng năm 1389. Sau thời kỳ Chế Bồng Nga, đến lượt Chăm Pa liên tục bị các vương triều Đại Việt tấn công và bị mất dần lãnh thổ. Phần đất còn lại của vương quốc Chăm Pa từ sau năm 1471 mà sách sử người Việt gọi là Chiêm Thành chỉ từ đèo Cả ngày nay trở về nam.
Từ năm 1560, khi chúa Nguyễn Hoàng tiến quân vào Nam, chúa Nguyễn bắt đầu thời kỳ chinh phạt nước Chiêm Thành, mở mang bờ cõi Đại Việt về phía nam, thu nạp thêm các vùng đất mới. Nước Chiêm Thành, thu hẹp dần.
Tới năm 1693, tướng Nguyễn Hữu Cảnh tấn công, bắt vua Po Sout đưa về Phú Xuân và đưa em trai của Po Sout là Po Saktiray Da Patih (Kế Bà Tử) lên làm vua, Panduranga được đổi thành Thuận Thành Trấn và vua Chăm được gọi là Trấn Vương cai trị Thuận Thành Trấn với sự giám sát chặt chẽ của các quan lại của chúa Nguyễn.
Sau khi vua Minh Mạng lên ngôi, ông hạn chế hơn nữa quyền lực của hoàng gia Chiêm Thành. Năm 1822, Chánh Chưởng, vị vua cuối cùng của Chiêm Thành rời kinh đô ở Bal Canar (Tịnh Mỹ - Phan Rí) sang lưu vong tại Campuchia.
Tới năm 1832 người Chăm lại nổi dậy chống lại vua Minh Mạng nhân dịp có cuộc khởi nghĩa Lê Văn Khôi ở phía nam nhưng không thành công. Chính quyền tự trị hạn chế của người Chăm chấm dứt tồn tại vào năm 1832, khi Hoàng đế Minh Mạng đổi Thuận Thành thành phủ Ninh Thuận và đặt quan lại cai trị trực tiếp. Lịch sử vương quốc Chiêm Thành chính thức dừng lại ở đây.
---------------------
Chúa Nguyễn Hoàng là người mở đầu cho gần 400 năm triều đại nhà Nguyễn, là triều đại nhà vua cuối cùng của nước Việt Nam ta (1558 – 1945).
Vua Lê khi đó phải chạy sang lưu vong bên Lào. Tuy nhiên lúc đó có ông đại thần nhà Lê là Nguyễn Kim, đã âm thầm xây dựng lực lượng, đến năm 1533 ông dẫn quân trở về Đại Việt, đánh chiếm Tây Đô (Thanh Hóa), rồi đưa hậu duệ nhà Lê lên ngôi vua, gọi là vua Lê Trang Tông, lập ra Nam Triều chống lại Bắc Triều của nhà họ Mạc.
Dù về lịch sử còn nhiều điều bàn cãi về sự nghiệp của chúa Nguyễn Hoàng, nhưng có thể khẳng định ông chính là người đã đóng vai trò quan trọng và tích cực nhất trong việc mở mang khai phá cõi trời nam, để nước Việt ta ngày nay có dải giang sơn gấm vóc đẹp giàu.
9 đời chúa Nguyễn, bắt đầu từ chúa Nguyễn Hoàng cho đến đời thứ 9 là chúa Nguyễn Phúc Thuần liên tục trị vì ở phía Nam, tinh từ đèo Ngang trở vào, cho đến khi ba anh em nhà Tây Sơn, Nguyễn Nhạc, Nguyễn Huệ, Nguyễn Lữ, khởi nghĩa chống lại chúa Nguyễn. Năm 1778, sau khi đánh bại quân chúa Nguyễn, làm chủ toàn bộ đất đai từ Quảng Nam đến Hà Tiên, người anh cả là Nguyễn Nhạc lên ngôi Hoàng đế khởi đầu cho nhà Tây Sơn, đóng đô ở Quy Nhơn. Cho đến năm 1788, do tuổi cao, lắm bệnh ông đã nhường ngôi hoàng đế cho em là Nguyễn Huệ, lấy hiệu là Quang Trung, đóng đô ở Phú Xuân cho đến năm 1792 thì bị chết đột ngột. Con của vua Quang Trung là Quang Toản lên ngôi được 10 năm thì bị quân Nguyễn Ánh bắt được và xử chết. Như vậy triều đại Tây Sơn chỉ kéo dài trong khoảng 24 năm (1778 – 1802)
Viết về vua Gia Long, sách sử đều giống nhau ở một điểm: có phê phán sự hẹp lượng của vua Gia Long qua việc giết hại công thần (vụ án Nguyễn Văn Thành và vụ án Đặng Trần Thường), có kể rõ việc hành hình trả thù Tây Sơn nhưng hoàn toàn không bình luận, phê phán gì đến sự “quá tay” trong việc này. Tại sao?
Trong văn hóa phương Tây, đánh nhau là đánh nhau nhưng không có chuyện trả thù kẻ chiến bại một cách tàn nhẫn, nhất là đối với người đã chết, Do đó, khi bắt gặp hành động “dã man” này của vua Gia Long, sử gia người Pháp có viết về vua Gia Long:
“Ông ta tỏ ra chẳng khoan dung chút nào đối với kẻ thù đã chiến bại, dù đã chết hay còn sống. Binh sĩ của ông đã quật xương cốt của một cặp vợ chồng cầm đầu Tây Sơn đã chết [Nguyễn Huệ], tiểu tiện vào xương cốt đó trước sự chứng kiến của con cái họ và những người này sau đó tay chân bị trói vào 4 con voi và xé nát.
“Cuộc trả thù được vua Gia Long xem là ‘ nghĩa lớn Kinh Xuân Thu’ nhưng hành hạ di cốt địch thủ trước mắt con cái họ trái hẳn với đạo lý cổ truyền của dân tộc.”
"Nhà Nguyễn đối với nhà Tây Sơn vô cùng khắc nghiệt. Quật mả Vua Thái Ðức, Vua Quang Trung, chém giết dòng họ, tướng tá nhà Tây Sơn đến thế, Nguyễn Phúc Ánh chưa cho là đủ, còn truyền đào mồ mả của cha ông hai nhà anh hùng áo vải và của những người đã theo nhà Tây Sơn và đã chết trước khi non sông đổi chủ.
Còn đối với Nhà Tây Sơn thì Nguyễn Phúc Ánh chém tất cả dòng họ, từ Vua Bửu Hưng [Cảnh Thịnh], cho tới một em bé mới sanh mà đã lọt vào ngục thất. Lại truyền đào mả Vua Thái Ðức và Vua Quang Trung, nghiền xương đổ xuống bể. Còn sọ thì đem xiềng nơi ngục thất trong Hoàng Cung để làm lọ đi tiểu.
Ðể nhổ cỏ cho sạch gốc, Nguyễn Phúc Ánh sức mọi nơi truy tầm những bà con gần xa của họ Nguyễn Tây Sơn, và những Tướng Tá của Tây Sơn còn trốn tránh nơi sơn dã.
Hai người con Vua Thái Ðức là Văn Ðức, Văn Lương và cháu nội, con Nguyễn Bảo, là Văn Ðẩu, nương náu nơi Mộ Ðiểu, Vùng An Khê. Vua tôi Nhà Nguyễn biết nhưng sợ người Thượng, không dám đến bắt. Mãi đến năm Minh Mạng thứ 12 (1832) thấy tình thế đã yên, ba chú cháu mới đem nhau về thăm quê cũ ở Kiên Mỹ. Bọn bất lương đi mật báo. Quân Nhà Nguyễn đến vây bắt giải về Phú Xuân giết chết.
“Ngót 150 năm, Nhà Nguyễn cố làm cho người người quên Nhà Tây Sơn. Nhưng những người yêu nước vẫn luôn nhớ đến Nhà Tây Sơn, ngọn bút yêu nước vẫn chép đi chép lại, vẫn tìm tòi trong nơi khuất tịch những tài liệu còn dấu cất, để viết về Nhà Tây Sơn.
Và tiếng Anh hùng Áo Vải, Anh Hùng Dân Tộc mãi còn vang, khi nhẹ nhàng, khi mạnh mẽ, trên đất nước Việt Nam, từ Nam chí Bắc."
***
Tuy nhiên, về chuyện vua Gia Long trả thù Tây Sơn, sử sách cũng đã phân tích chính xác rằng:
“Không kể cá nhân ông bị quân đội Tây Sơn truy đuổi nhiều lần suýt chết, vua Gia Long thâm thù nhà Tây Sơn vì ba việc chính:
1. Thứ nhất, năm 1777 Định Vương Nguyễn Phúc Thuần [chú ruột vua Gia Long], Tân Chính Vương Nguyễn Phúc Dương [em chú bác ruột] và Nguyễn Phúc Đồng [anh ruột] bị quân Tây Sơn bắt giết ở Gia Định.
2. Thứ nhì, hai người em [ruột] của Gia Long là Nguyễn Phúc Mân và Nguyễn Phúc Thiển bị chết về tay quân Tây Sơn năm 1783.
3. Thứ ba, vua Quang Trung cho quật mộ của Nguyễn Phúc Côn (phụ thân của Gia Long), đem hài cốt đổ xuống sông năm 1790.” (Việt Sử Đại Cương, Tập 2, tr.445)
Chừng đó nợ máu nghe đã nặng (5 người cật ruột), nhất là món nợ thứ 3, nhẹ vật chất mà nặng tâm linh và đạo đức, ít người biết. Nhưng kể vậy cũng chưa đủ.
Khi đọc câu mở đầu của chiếu bố cáo lễ hiến phù: “Trẫm nghe, vì chín đời mà trả thù là nghĩa lớn kinh Xuân Thu…”
Ngày 13/6/1801, Nguyễn Vương (vua Gia Long) tái chiếm kinh đô Phú Xuân, nơi ông đã vội vã ra đi khi mới 13 tuổi; và ròng rã ê chề đau khổ đúng 27 năm mơ ước được trở về.
Tuy đã làm chủ được Phú Xuân nhưng lực lượng hùng hậu của Tây Sơn Cảnh Thịnh vẫn còn ở bên kia lũy Trường Dục (Quảng Bình), vậy mà đến đầu tháng 8 năm đó đã lo sửa sang lăng mộ tổ tiên và cấp tốc hoàn tất ngay trong tháng.
“Tháng 9, ngày Ất hợi (1801), sửa lại sơn lăng.
“Trước kia giặc Tây Sơn Nguyễn Huệ tham bạo vô lễ, nghe nói chỗ đất phía sau lăng Kim Ngọc (lăng của chúa Ninh Nguyễn Phúc Thái) rất tốt, định đem hài cốt vợ táng ở đó.
Hôm đào huyệt, bỗng có hai con cọp ở bụi rậm nhảy ra, gầm thét vồ cắn, quân giặc sợ chạy.
Huệ ghét, không muốn chôn nữa. Sau Huệ đánh trận hay thua, người ta đều nói các lăng liệt thánh (các chúa Nguyễn) khí tốt nghi ngút, nghiệp đế tất dấy.
Huệ bực tức, sai đồ đảng đào các lăng, mở lấy hài cốt quăng xuống vực. Lăng Hoàng Khảo ở Cư Hóa (lăng Nguyễn Phúc Côn, thân sinh vua Gia Long) Huệ cũng sai Đô đốc Nguyễn Văn Ngũ đào vứt hài cốt xuống vực ở trước lăng. Nhà Ngũ ở xã Kim Long bỗng phát hỏa. Ngũ trông thấy ngọn lửa chạy về. Người xã Cư Hóa là Nguyễn Ngọc Huyên cùng với con là Ngọc Hồ, Ngọc Đoài ban đêm lặn xuống nước lấy vụng hài cốt ấy đem giấu một nơi.
Đến nay, Huyên đem việc tâu lên. Vua thương xót vô cùng, thân đến xem chỗ ấy, thì vực đã bồi cát mấy chục trượng. Tức thì sai chọn ngày lành làm lễ cáo và an táng lại. Các lăng đều theo nền cũ mà xây cao lên.
Ngày Kỷ hợi (1801), vua thân đến tế cáo, nghẹn ngào sa lệ, bầy tôi đều khóc cả. Sai đổi xã Cư Hóa làm xã Cư Chính, cho dân miễn dao dịch làm hộ lăng. Cho Huyên làm Cai đội (năm Minh Mệnh thứ 11 (1830] phong An Ninh bá, lập đền thờ ở núi Cư Chính, con là Ngọc Hồ, Ngọc Đoài tòng quân ở Bình Định cũng được gọi về hậu thưởng cho.”
Gạt ra ngoài những chi tiết hoa lá cành như hai con cọp trong bụi rậm nhảy ra, đang đào mả thì nhà cháy, v.v., đoạn sử ngắn ngủi do Thực lục ghi lại tiết lộ hai điều quan trọng mà ít người biết đến hoặc biết mà vì một lý do nào đó đã lơ đi hoặc chỉ phớt nhẹ nói qua:
Thứ nhất,
Quang Trung Nguyễn Huệ đã đào hết lăng tẩm của 8 đời chúa Nguyễn tại Thừa Thiên, lấy hài cốt ném xuống sông.
Việc này cộng với việc giết chết vị chúa thứ 9 là Định Vương Nguyễn Phúc Thuần tại Long Xuyên năm 1777 thì quả nhiên vua Gia Long tính sổ 9 đời không sai chút nào. Vì vậy có thể nói được rằng chữ 9 đời có một ý nghĩa rất cụ thể.
Đây là 8 đời chúa Nguyễn:
1.Chúa Tiên Nguyễn Hoàng (1558-1613);
2.Chúa Sãi Nguyễn Phúc Nguyên (1613-1635);
3.Chúa Thượng Nguyễn Phúc Lan (1635-1648);
4.Chúa Hiền Nguyễn Phúc Tần (1648-1687)
5.Chúa Ngãi Nguyễn Phúc Thái (1687-1691);
6.Chúa Minh Nguyễn Phúc Chu (1691-1725);
7.Chúa Ninh Nguyễn Phúc Thụ (1725-1738);
8. Võ Vương Nguyễn Phúc Khoát (1738-1765);
Về ông tổ Nguyễn Kim, có lẽ vì không biết đích xác mộ phần nẳm ở đâu trong cái bát ngát của núi Triệu Tường ở Thanh Hóa, nên vua Quang Trung đành phải cho qua mà không tình sổ.
Tám đời chúa Nguyễn này không có hận thù gì với anh em Tây Sơn, đã có công rất lớn đối với dân tộc và đất nước khi kế tục nhau mở nước về phương Nam, đến tận Cà Mau, Châu Đốc, cống hiến cho tổ quốc non một nửa nước, trài dài từ Phú Yên trở vào Nam, với đất đai trù phú, nguồn lợi dồi dào, rộng hơn lãnh thổ nam tiến của các triều Lý, Trần, Hồ và Hậu Lê cộng lại. Không có sự nghiệp này thì hậu thế ngày nay lấy chi để khoe với thế giới rằng “nước ta hình cong như chữ S” với “rừng vàng biển bạc”?!
Thứ hai:
Phần mộ của ông Nguyễn Phúc Côn, thân sinh vua Gia Long cũng bị quật lên và hài cốt ném xuống sông.
Ông Nguyễn Phúc Côn là con thứ hai của Võ Vương Nguyễn Phúc Khoát, mất năm 1765, khi con là Nguyễn Phúc Ánh đang còn bé. Khi vua Gia Long lên ngôi Hoàng đế (1806) mới truy tôn cha làm Hưng Tổ Hiếu Khang Hoàng Đế, chứ cho đến khi chết dưới tay quyền thần Trương Phúc Loan, ông chẳng làm vua làm chúa gì. Chỉ vì con ông là Nguyễn Phúc Ánh dám chống lại Tây Sơn mà ông đã không được ngủ yên, lâm vào cảnh con làm cha chịu!
Nguyễn Phúc Tộc Thế Phả cho biết thêm một chi tiết khác:
“Theo truyền thuyết, khi Tây Sơn khai quật hài cốt đức Hưng Tổ ném xuống sông thì một hôm Nguyễn Ngọc Huyên bỏ lưới bắt cá, sau ba lần đều thấy cái sọ nằm trong lưới. Huyên cho là sọ của một vị nào anh linh nên kiếm nơi an táng tử tế.
Khi vua Gia Long lên ngôi, đi tìm lại hài cốt của thân phụ, nghe người làng tường thuật, ngài cho đòi Ngọc Huyên bảo chỉ chỗ. Khi đào được sọ lên, vua chích huyết ở tay mình cho giọt vào sọ, sọ liền hút những giọt huyết này (lối thử này cho biết mối liên hệ cốt nhục giữa hai người).
Thực lục có nói khi Nguyễn Ngọc Huyên chết thì được lập đền thờ và phong làm An Ninh bá. Ở thượng lưu sông Hương có một ngôi miếu, tục gọi là miếu Ông Chài, chính là miếu ông Huyên vậy.
Trong văn hóa Việt Nam, phận làm con cháu là phải lo gìn giữ mồ mả tiên tổ cha ông. Do đó chúng ta thông cảm với vua Gia Long chỉ trong 2 tháng sau khi tái chiếm Phú Xuân đã vội vã hoàn tất việc tu sửa lăng mộ bởi khi đã biết tình trạng lăng mộ bị phá tanh banh thê thảm như thế thì không một ai có thể chờ đợi được nữa.
Trong lịch sử Việt Nam, việc tranh giành quyền lực dẫn đến những hành động giết hại nhau tàn nhẫn không phải là hiếm.
Điển hình, để cướp ngôi nhà Lý, Trần Thủ Độ không ngần ngại dồn Lý Huệ Tông vào chỗ chết, với ý đồ nhổ cỏ tận gốc, mặc dù Huệ Tông đã biết thân phận, bỏ ngai vàng, vào tu ở chùa Chân Giáo. Đã thế, Trần Thủ Độ còn bày mưu sập bẫy tôn thất Nhà Lý chôn sống trọn gói (may mà Hoàng tử Lý Long Tường nhanh chân thoát qua tị nạn ở Cao Ly, trở thành thuỷ tổ họ Lý của xứ Đại Hàn ngày nay).
Nhưng có lẽ trong cuộc tranh chấp quyền lực chưa có ai trong lịch sử phải trả cái giá 5 mạng người ruột thịt và 9 ngôi mộ cha ông tiên tổ tanh banh với xương cốt không biết đâu tìm như trường hợp vua Gia Long trong khi đối đầu với Tây Sơn để phục hồi cơ nghiệp của ông cha đã tốn công xây dựng.
Ở đời, có vay thì có trả. Nợ nào cũng có tính lãi suất, chỉ có khác là nặng hay nhẹ, không hình thức này cũng hình thức khác.
Nếu Quang Trung Nguyễn Huệ không tạo nhân ác thì có thể đã không gặp quả ác.
Hận thù luôn luôn vẫy gọi thù hận là chuyện thường của thế gian, huống chi lại có yếu tố tranh giành quyền lực trong đó, tham lam và sân hận hẳn phải bốc lên ngùn ngụt.
Phải chăng nên thử tự đặt mình vào địa vị của vua Gia Long để có nhiều thông cảm và có lời phẩm bình phải chăng hơn
Hôm nay, ngày mùng Sáu tháng Sáu (6/6), là ngày giỗ cụ Trần Thục Liên, vợ chính thất cụ Trần Tán Bình.

[trích Tộc Phả họ Trần-Do Lễ]
Đời thứ 4
… Cụ Trần Thục Liên (1878-1945) là người vợ chính thất mẫu mực của cụ Trần Tán Bình. Cụ Thục Liên đã đi cùng suốt cả cuộc đời của cụ Trần Tán Bình, từ thủa hàn vi ở quê nhà Đỗ Xá - Do Lễ, đến khi cụ thi cử đỗ đạt, làm quan triều đình, rồi cụ từ quan về quê, cho đến khi cụ mất. Cụ Thục Liên là nười cai quản chu toàn một đại gia đình lớn gồm các em trai, em gái, dâu, rể, các bà thiếp và 19 người con của cụ Trần Tán Bình. Cụ Bình suốt cả cuộc đời từ lúc làm quan vinh hiển đến khi về già luôn luôn thực sự yêu quý và tôn trọng cụ Liên, đó là điều hiếm thấy trong chế độ phong kiến Việt Nam thủa ấy.
Có thể hiểu được tình cảm của cụ Trần Tán Bình qua bài thơ cụ viết (được trích lục dưới đây) gửi cho vợ mình khi cụ đang qua thăm nước Pháp năm 1900.
“Gửi thư cho cụ bà:
….
Phu nhân em hỡi Thục-Liên
Kính yêu vốn sẵn thảo hiền nết xưa
Kể từ khi nhắp chén đưa
Tang bồng một gánh, gió mưa quản gì
Gối chăn ai chẳng tinh si
Nhớ cho những lúc ra đi dặn dò
Ở nhà riêng một minh lo
Sớm khuya dóng dả cơ đồ sửa sang
…..”
-------------------------------------
“Dân ta phải biết sử ta /Cho tường gốc rễ nước nhà Việt Nam” (HCM)
Tục lệ thê thiếp thời nhà Nguyễn
Nhân nói về cụ Trần Thục Liên là vợ chính thất và các bà thiếp của cụ Trần Tán Bình, ta lại đi tìm hiểu lịch sử về tục lệ thê thiếp thời phong kiến Việt Nam ngày xưa.
Ngày nay ai ai cũng quen với việc mỗi người chỉ có một vợ, một chồng. Tuy nhiên ngày xưa ở chế độ phong kiến, vua chúa và các quan lại đều có nhiều vợ. Chế độ đó gọi là chế độ đa thê. Chế độ đa thê không chỉ là hợp pháp dưới thời phong kiến mà còn là biểu tượng của quyền lực và sự giàu có.
Tuy nhiên, việc đa thê ngày xưa cũng có các quy định chặt chẽ. Trước hết, đàn ông có thể có nhiều thê thiếp nhưng chỉ được lấy một thê (vợ cả, hay còn gọi là chính thất). Lễ cưới thê là nghi lễ chính thức và trang trọng. Người đàn ông thường cầu hôn người phụ nữ thông qua sự giúp đỡ của bà mối. Sau khi hai bên đồng ý, người đàn ông phải đến nhà gái để nạp sính lễ. Sau đó, hai bên sẽ chọn ngày lành tháng tốt để tổ chức hôn lễ và chính thức đón cô dâu vào nhà. Vợ cả thường là những người phụ nữ có xuất thân tốt, gia đình có địa vị, giàu có. Họ được cưới hỏi đàng hoàng, ngồi trên kiệu vào nhà chồng vào cửa chính, hôn lễ rình rang.
Sự khác biệt trong cách đối xử với vợ và thê thiếp
Để tránh tổn hại đến quyền lợi của người vợ cả, chế độ phong kiến có những quy định liên quan về vấn đề này, chẳng hạn, con cái của vợ lẽ phải thừa nhận người vợ cả là mẹ hợp pháp của mình.
Không chỉ về mặt con cái, địa vị của vợ lẽ cũng rất khác so với vợ cả. Trong thời phong kiến, thân phận của thê thiếp được xác định như sau: “Vợ lẽ là người hầu hạ người khác. Vợ cả là người hòa hợp với chồng”.
Sự chênh lệch về địa vị giữa vợ và thê thiếp
Xét về địa vị và xuất thân, những gia tộc lấy thê thiếp thời phong kiến phần lớn đều có điều kiện tốt, ở những gia đình như vậy, mâu thuẫn gia đình đặc biệt nghiêm trọng, địa vị của người vợ cả đương nhiên không phải tầm thường. Có gia đình bố mẹ quyền lực ở đằng sau để người vợ cả nhờ cậy vào. Do vậy, họ đương nhiên sẽ không lo lắng về việc bị bắt nạt.
Trong khi đó, thê thiếp thường là chiến lợi phẩm, là con của các vị quan đang mang trọng tội. So với các thê thiếp, người vợ cả cũng được pháp luật bảo vệ nhiều hơn. Nếu chồng đánh chết vợ cả thì yêu cầu phải đền mạng, nhưng nếu đánh chết tiểu thiếp thì người chồng chỉ bị đánh một trăm gậy và bị giam thêm ba năm nữa. Nếu người xung quanh có mối quan hệ tốt lại thích thê thiếp của họ, thì người thê thiếp có thể bị cho đi làm quà và không có một chút quyền hạn nào.
Ở thời đại phong kiến, những người nạp thiếp chủ yếu là những người có địa vị cao trong xã hội, nói cách khác thì đó là những người có chức tước, giàu có. Đối với những người này, nếu họ bị lật đổ hoặc thất bại trong quan trường hay thương trường đều có ảnh hưởng xấu đến cả gia tộc. Đối với những tội nặng như tru di cửu tộc hoặc tam tộc thì vợ con chắc chắn không tránh khỏi cảnh đầu rơi máu chảy. Tuy nhiên, những người thiếp trong gia tộc có thể thoát được đại nạn này. Bởi vì, theo quy định, tuy thiếp thất cũng thuộc gia đình nam chủ nhưng họ và con cái của họ chỉ được coi như một dạng tài sản của người đàn ông đó. Tức là, họ không đủ tư cách để được ghi trong gia phả cũng như được an táng cùng phần mộ của gia tộc. Do đó, họ sẽ được thoát tội khi gia tộc bị hành quyết.
Kế tục hương hỏa, thể hiện địa vị
Trong lịch sử, địa vị của thê thiếp cũng được chia thành nhiều loại, một loại rất đặc biệt là của hồi môn của phụ nữ.
Thời xưa có tục gả chồng cho các công chúa khi sang nước khác lấy chồng, những người chị em thân thiết cũng sẽ được gả làm thê thiếp. Kiểu thê thiếp này cũng là một loại của hồi môn dành cho công chúa khi đi lấy chồng. Do ảnh hưởng của môi trường xã hội, một số phụ nữ thậm chí còn chủ động dùng của hồi môn lấy vợ lẽ cho chồng nhằm thể hiện đức hạnh.
Trong xã hội phong kiến, việc phụ nữ phải chủ động lấy thê thiếp cho chồng cũng rất quan trọng, tức là phụ nữ có địa vị thấp, đàn ông phải ở trên cao hơn phụ nữ. Người vợ cả chủ động giúp chồng lấy thê thiếp, không phải không có ý lấy lòng chồng. Và việc kế thừa hương hỏa là một việc rất quan trọng thời xưa, hầu như gia đình nào cũng có nhiều con cháu. Nếu người vợ cả không có con thì phải nạp thê thiếp để sinh con kết thừa hương hỏa cho gia đình.
Thời xưa, chỉ có tầng lớp sĩ phu mới được hưởng chế độ tam thê tứ thiếp, đây cũng chính là độc quyền của xã hội thượng lưu.
Tản mạn về THUYẾT TIẾN HÓA của Darwin mà học sinh chúng ta ai cũng từng được học trong môn Sinh Vật thời phổ thông.
Sự sai lầm của thuyết Tiến hoá và sự ngộ nhận về nó sẽ không xảy ra nếu Darwin được biết đến công trình khoa học vĩ đại về Di truyền học của Gregor Mendel (1822-1884) ra đời chỉ sau cuốn “Nguồn gốc các loài” có bảy năm, 1866.
Giá ông biết thì chắc ông đã buộc phải xem xét lại các luận điểm của mình. Không những chỉ Darwin không được biết mà cả thế giới cũng hầu như không biết tới công trình khoa học của Mendel vì nó đã bị rơi vào quên lãng. Ba mươi năm sau, vào năm 1900, lý thuyết di truyền của ngài linh mục người Áo ấy mới được các nhà khoa học Đức và Hà Lan phát hiện. Từ đó di truyền học mới thực sự chào đời, và ngày càng được khẳng định vai trò quan trọng trong Sinh học như thuyết Lượng tử trong Vật lý học.
Di truyền học khẳng định những điều ngược lại hẳn với học thuyết Tiến hoá. Cụ thể là:
1. Phân tử ADN (vật liệu di truyền ở cấp độ phân tử quyết định các tính trạng của động vật) của mỗi loài là cố định, không biến đổi trong quá trình chọn lọc tự nhiên để thích nghi với môi trường sinh sống. Như vậy loài này không thể “tiến hoá” lên loài khác được.
2. Phân tử tế bào sống đơn giản nhất cũng không thể hình thành từ sự kết hợp ngẫu nhiên của các nguyên tử hoá học. Xác suất của quá trình ấy có thể coi là bằng không như đã được chứng minh bằng toán học cũng như mô phỏng trên các “siêu máy tính”.
3. Khỉ là khỉ, người là người. Bộ gene của khỉ dù có giống của người đến hơn 95% thì vẫn còn đó, một sự khác biệt về chất rất lớn nằm trong số vài phần trăm chứa trong ADN cấu tạo nên các gene. ADN của người có 46 nhiễm sắc thể, của tinh tinh là 48 nằm trong nhân mỗi tế bào, và hoàn toàn cố định.

Đời thứ 5
…. Bà Trần Thục Vượng (1894 – 1946), còn gọi là bà Ký Quỳ, là người con gái đầu của cụ Trần Tán Bình và cụ Trần Thục Liên. Bà Thục Vượng được cụ Bình gả làm dâu cho gia đình ông họ Phạm ở Duy Tiên, Hà Nam, vốn từng là bạn học của cụ Bình. Ở đó bà sinh được 3 người con trai, Phạm Quốc Đông, Phạm Quốc Toản và Phạm Quốc Căn. Sau khi người chồng họ Phạm mất, bà Vượng thường đi buôn bán ở Lạng Sơn, sau đó quen và đi bước nữa với ông thư ký ga xe lửa Lạng Sơn, tên là Quỳ. Chính vì vậy nhiều người thường gọi bà là bà Ký Quỳ. Bà mất năm 1946 ở Lạng Sơn. Sau này các cháu có đưa hài cốt bà về mai tang tại khu sinh phần của gia đình họ Trần ở quê nhà Đỗ Xá – Do Lễ.
----------------------------
“Dân ta phải biết sử ta/Cho tường gốc tích nước nhà Việt Nam”
Nhân nói chuyện về chồng bà Thục Vượng là ông Ký Quỳ vốn là ông ký ga xe lửa Lạng Sơn, ta bỗng nhớ tới bài thơ “Ga xép” của Nguyễn Bính mà học trò ngày xưa ai ai cũng biết:
“Ga xép
Cất lên
theo kiểu nhà sàn
Chung quanh quấn quýt đôi giàn ti gôn
Tường vàng mái đỏ màu son
Nhà ga lại chứa linh hồn nhà ga
Loanh quanh vẫn cụ sếp già
Thủy chung bốn chuyến tàu qua mỗi ngày
Có ông ký trẻ về đây
Vợ con chưa có suốt ngày ngâm thơ …”
Vậy thì xe lửa, hay là đường sắt ở Việt Nam có từ bao giờ?
Xe lửa, ngày nay gọi là tàu hỏa, là một phương tiện giao thông đường sắt sử dụng động cơ chạy trên đường ray để vận chuyển hành khách và hàng hóa. Trên thế giới, tầu hỏa được phát minh từ đầu Thế kỷ 19. Tai Vương quốc Anh, tàu hỏa đầu tiên được phát minh bởi Richard Trevithick vào năm 1804 và George Stephenson đã chế tạo ra chiếc tàu hỏa đầu tiên chạy trên đường sắt là vào năm 1825. Ở nước Anh từ năm 1830, tàu hỏa đã được đưa vào sử dụng thương mại. Ở Mỹ, năm 1869 (tức là chỉ 4 năm sau cuộc nội chiến Nam Bắc Mỹ) tuyến đường sắt xuyên lục địa nối hai bờ nước Mỹ được khánh thành, từ thành phố Saint Paul, bờ Đông tới thành phố Seattle, bờ Tây, dài hơn 1700km.
1. Ở Việt Nam trước đây, mọi việc đi lại, buôn bán, vận chuyển hàng hóa đều theo đường thủy, bằng thuyền hoặc xà lan dọc theo các con sông và kênh, rạch. Điển hình là trong khi miền Tây Nam Bộ là vựa lúa gạo của cả nước, nhưng đến mùa thu hoăch lúa, việc chuyên chở thóc lúa lên Sài Gòn mắt rất nhiều thời gian và công sức. Chỉ đến khi người Pháp đến Việt Nam, chính thức chiếm làm thuộc địa 3 tỉnh miền Đông Nam Bộ năm 1862 và 3 tỉnh miền Tây Nam Bộ năm 1867, người Pháp thấy rằng cần phải xây dựng lại hệ thống giao thông ở Việt Nam để có thể nhanh chóng và thuận tiện chuyên chở người và hàng hóa, trong đó đường sắt là phương tiện vận chuyển hợp lý nhất thời đó.

2. Sau khi Pháp chiếm Bắc Kỳ (năm 1882), đến năm 1889 người Pháp quyết định xây dựng tuyến đường sắt đầu tiên ở Bắc Kỳ, tuyến đường sắt Hà Nội – Đồng Đăng (182km). Tuy nhiên, cũng phải nói là tuyến đường này xây dựng cực kỳ khó khăn đối với kỹ thuật xây dựng ngày đó, do địa hình đồi núi hiểm trở phía Bắc, và rất nhiều cây cầu phải bắc qua sông, sông Đuống, sông Cầu, sông Thương, sông Kì Cùng, và đặc biệt khó khăn là cây cầu bắc qua sông Hồng, phía bắc Hà Nội. Mãi đến năm 1897 (tức là gần 8 năm sau khi khởi công), Toàn quyền Đông Dương Paul Doumer nhậm chức mới nêu ý tưởng về một cây cầu lớn nhất qua sông Hồng. Ban đầu, nhiều người đã cho rằng đây là một ý tưởng điên rồ và không khả thi. Tuy nhiên, công trình vẫn được thi công cùng các đoạn đường sắt còn lại trên tuyến Hà Nội - Lạng Sơn. Cây cầu qua sông Hồng khánh thành vào tháng 3 năm 1902. Cầu dài tổng cộng 1.682m. Cầu được mang tên là cầu Doumer (nay là cầu Long Biên). Tại thời điểm mới xây dựng, cây cầu này có độ dài xếp thứ 2 thế giới, chỉ sau cầu Brooklyn, bắc qua sông Đông (East-river, New York, Mỹ). Việc hoàn thành công trình này cho phép đưa tuyến Hà Nội lên Đồng Đăng vào khai thác trên toàn tuyến vào ngày 8 tháng 4 năm 1902. Đến năm 1908, tuyến được kéo dài thêm 5 km đến tận Nam Quan theo hướng Long Châu, khởi đầu cho tuyến đường đi Quảng Tây (Trung Quốc).

3. Bắt đầu từ năm 1898, theo lệnh của Toàn quyền Paul Doumer, người Pháp bắt đầu xây dựng tuyến đường sắt Xuyên Đông Dương. Tuyến đường này được xây dựng từng đoạn một và mãi đến 1936 mới hoàn thành toàn tuyến (sau 38 năm) và chính thức khánh thành tuyến đường sắt Bắc – Nam, từ Hà Nội đến Sài Gòn với chiều dài dài 1.730 km. Tuyến đường này có nhiều thành công phi thường như xây dựng hàng trăm cây cầu trong đó hơn 50 cây cầu lớn có chiều dài trên 100m, chui qua hơn 20 đường hầm, vượt qua đèo Hải Vân (Trước năm 1975, Ga Hòa Hưng không phải là ga cụt mà nó còn kéo dài đến ga Sài Gòn cũ ở chợ Bến Thành). Lễ khánh thành có sự tham gia của Hoàng đế Bảo Đại, Quyền toàn quyền A Sylvestre và Toàn quyền Vân Nam - Trung Quốc Long Yun. Trên bia đá kỷ niệm tại nơi hợp long ở km1221 tỉnh Phú Yên có khắc dòng chữ tiếng Pháp: "Tại đây, tuyến đường sắt xuyên Đông Dương, được khởi công bởi Toàn quyền Paul Doumer nhằm đánh dấu sự thống nhất của Đông Dương được hoàn thành vào ngày 2/9/1936 với sự kết nối từ tuyến đường xuất phát từ biên giới Trung Quốc ở phía Bắc và tuyến đường từ Sài Gòn đi ra ở phía Nam". Tổng chi phí xây dựng toàn bộ tuyến đường này ước tính lên đến 835 triệu Franc, tương đương với 21 tỷ USD ngày nay.

Ga Hàng Cỏ (Hà Nội) năm 1927
4. Một số cột mốc tiếp theo có thể kể ra như sau:

Toàn quyền Đông Dương 1897-1902, Paul Doumer

Đời thứ 5
…. Bà Trần Thục Hà (1903 – 2000) (còn gọi là bà ấm Túc) là con gái của cụ Trần Tán Bình và cụ Phan Thị Sáu (cụ Tỉnh). Bà vốn là người xinh đẹp, đảm đang và rất nghị lực.
----------------------------
“Dân ta phải biết sử ta/Cho tường gốc tích nước nhà Việt Nam”
Nhân nói về con trai/con rể bà ấm Túc là giáo sư, bác sỹ Y khoa, vậy thì ta thử đi tìm hiểu Y khoa là gì, nghề Y ở Việt Nam có từ khi nào?
1. Nghề Y là gì?
Nghề Y, hay còn gọi là nghề thầy thuốc, là nghề khoa học ứng dụng liên quan đến chẩn đoán, điều trị nhằm mục đích phòng ngừa, chữa bệnh, phục hồi sức khỏe cho con người thông qua thuốc men, mổ xẻ hoặc bằng các phương pháp/công cụ khác. Nghề Y ở thời đại nào cũng luôn là nghề danh giá vì là nghề cứu người. Dù có chiến tranh hay mâu thuẫn hận thù cũng không ai bắn giết bác sĩ, y tá. Đó là nguyên tắc của xã hội loài người.
2. Nghề Y ở Việt Nam có từ khi nào?
Từ thủa xa xưa, trong các làng xã ở Việt Nam, đã có các ông lương y. Tuy một phần kiến thức của họ là từ y học Trung Hoa, nhưng y học An Nam được duy trì và phát triển riêng. Y học An Nam bao gồm một loạt các bài thuốc truyền thống, dựa trên việc sử dụng lá, hoa, quả và rễ đơn giản (gọi là thuốc Nam) và không phải tuân theo các quy trình của nghề thuốc Trung Hoa (thường gọi là thuốc Bắc). Chúng thường rất có hiệu quả, nhưng không có nhiều tiếng tăm, vì chúng thô sơ và không có lý thuyết cụ thể.
Ở Việt Nam, Hải Thượng Lãn Ông (1724 – 1791), tên thật là Lê Hữu Trác, được coi là ông tổ của nghề Y ở Việt Nam. Tuy từ lâu trước đó có ông Tuệ Tĩnh (1330 – 1400) cũng là lương y có tiếng, nhưng ông chỉ chuyên về thuốc Nam. Trong khi đó, Hải Thượng Lãn Ông là người nghiên cứu và áp dụng trọn vẹn bao gồm đủ các mặt về nghề y gồm Y đức, Y lý, Y thuật, Dược, Di dưỡng. Chính vì vậy mọi người đều coi ông là ông tổ của nghề Y ở Việt Nam.
Từ thế kỷ 18, khi người Pháp bắt đầu đến Việt Nam, cha đạo Alexandre de Rhodes (cha Đắc Lộ) đã có nhận xét về các thầy thuốc xứ An Nam như sau “tôi đã từng thử nghiệm tay nghề của họ và là nhân chứng về những điều họ đã làm, tôi có thể nói rằng họ không thua kém các thầy thuốc của chúng ta [tức các thầy thuốc Pháp], và thậm chí có vài điều họ đã vượt qua chúng ta. Đúng là họ không có trường lớp nào dạy về y học, nhưng đó là một khoa học truyền từ cha cho con. Họ có những sách vở đặc biệt không bao giờ truyền ra ngòai gia đình, hoặc là bí mật về y thuật mà họ không truyền cho ai. Họ đặc biệt xuất sắc trong việc bắt mạch, qua đó họ nhận ra tất cả những căn bệnh. Ngay khi thầy thuốc đến gặp bệnh nhân, ông ấy bắt mạch bệnh nhân và suy nghĩ một khắc để xem xét; sau đó ông ta sẽ nói bệnh nhân bị đau ở đâu, và đã sảy ra những chuyện gì từ khi bị bệnh”.
Chúng ta gọi nền y học Việt Nam dựa trên truyền thống xa xưa đó là Đông Y, hay là Y học Cổ truyền. Tuy có lúc thăng, lúc trầm, nhưng trải qua hàng trăm năm với biết bao chế độ khác nhau ngành Đông Y ở Việt Nam vẫn luôn tồn tại cho đến ngày nay và vẫn được coi là một phần của nghề y ở Việt Nam. Dẫu vậy, cũng phải khách quan mà nói rằng Đông Y là nghề chẩn đoán bệnh và chữa bệnh chỉ dựa trên kinh nghiệm truyền lại, không có các lý thuyết xác đáng, không có các thống kê cụ thể và không có các chứng minh khoa học bài bản. Chính vì vậy, cho đến nay Đông Y vẫn không được khoa học chính thống công nhận và không được đông đảo giới y khoa quốc tế thừa nhận.
3. Tây Y là gì? Tây Y ở Việt Nam có từ khi nào?
Tây Y, hay còn gọi là y học hiện đại, là một hệ thống y học dựa trên nền tảng khoa học, sử dụng các phương pháp chẩn đoán, điều trị và phòng ngừa bệnh dựa trên các lý thuyết và các bằng chứng khoa học và kỹ thuật tiên tiến.
Ở Việt Nam ta, ngay từ thế kỷ 17 khi các nhà truyền giáo châu Âu, người Bồ Đào Nha, người Pháp sang An Nam, trong đó đã có cả các bác sĩ, và họ đã bắt đầu giới thiệu việc chẩn đoán, điều trị bệnh theo phương pháp Tây Y. Tuy nhiên, việc phổ biến Tây Y ở Việt Nam theo cách bài bản và có hệ thống phải là từ khi người Pháp chính thức chiếm xứ Nam Kỳ (năm 1861) và chính thức bảo hộ xứ Trung Kỳ và Bắc Kỳ (năm 1882).

Năm 1898, sau khi toàn quyền Paul Doumer quyết định chuyển trung tâm hành chính của Pháp từ Sài Gòn ra Hà Nội, Sở y tế Đông Dương được thành lập và là cơ quan chỉ đạo công tác y tế của toàn cõi Đông Dương bao gồm các bệnh viện, bệnh xá, các công tác y tế – dịch tễ …


Người Pháp cũng rất quan tâm đến tinh hình dịch bệnh vùng nhiệt đới nên đã thành lập Viện Paster đầu tiên ở Việt Nam ở Sài Gòn (năm 1891), sau đó ở Hà Nội (năm 1926), cùng với 2 viện Paster ở Nha Trang (năm 1895) và Đà Lạt (năm 1936) được thành lập bởi bởi bác sĩ Yesin để nghiên cứu vi khuẩn, vaccin và sản xuất vaccin; lập nền móng cho nghành y tế dự phòng ở Việt Nam. Năm 1938 hơn một nửa dân số Việt Nam được chủng đậu mùa và trích ngừa vaccine bệnh tả.
Dụa trên cơ sở hệ thống y tế được thiết lập bởi người Pháp một cách có bài bản và vững chắc, từ năm 1945 đến nay, Y khoa Việt Nam đã có sự phát triển vượt bậc.
Tính đến năm 2023, cả nước Việt Nam có 13 236 cơ sở khám chữa bệnh. 125,000 bác. Theo đánh giá của Tổ chức Y tế Thế giới, Việt Nam xếp thứ 66 trên bảng xếp hạng các quốc gia, vùng lãnh thổ có chất lượng hệ thống y tế tốt nhất trên thế giới. Trong khi bình quân GDP theo đầu người Việt Nam chỉ xếp thứ 120 trên188 các nước trên thế giới (~ $4,600/người). Tuổi thọ trung bình của người Việt Nam hiện nay là 74.5, cao hơn nhiều nước trong khu vực và trên thế giới.
Hút thuốc chắc chắn là có hại cho sức khỏe phải không? Mọi người thường bị tấn công dồn dập bởi những lời cảnh báo về tác động tiêu cực của việc hút thuốc và lời thuyết phục bỏ thuốc lá từ các cơ quan y tế. Thậm chí đến mức hiện nay nhiều người bị từ chối dịch vụ chăm sóc sức khỏe nếu họ hút thuốc, và lý do cho điều này là 'hút thuốc sẽ làm chậm quá trình bình phục và có thể làm trầm trọng thêm bệnh tình đã có từ trước'.
Theo Tổ Chức Y Tế Thế Giới:
"Nạn dịch hút thuốc là một trong những mối đe dọa lớn nhất cho sức khỏe cộng đồng mà thế giới từng phải đối mặt, giết hại khoảng 6 triệu người mỗi năm. Hơn 5 triệu trong số những cái chết đó là kết quả của việc trực tiếp sử dụng thuốc lá trong khi hơn 600.000 là kết quả của những người không hút thuốc bị tiếp xúc với khói thuốc lá."
Nhưng giống như với bất cứ tuyên bố nào khác được đưa ra bởi các cơ quan y tế chính thống, điều khôn ngoan là đặt câu hỏi liệu có chút sự thật nào trong đó hay không. Hãy nhớ rằng, chính những cơ quan y tế này đã khuyến nghị một chế độ ăn ít chất béo, nhiều tinh bột (và chúng ta đã thấy nó có tác hại đến thế nào đối với sức khỏe của cộng đồng). Cũng chính những người này khuyến nghị điều trị các căn bệnh mãn tính bằng các dược phẩm tổng hợp, hay khuyến nghị cắt bỏ toàn bộ một số bộ phận của cơ thể (một lần nữa, rõ ràng không phải là cách điều trị hiệu quả). Bất cứ ai lưu ý một chút sẽ thấy rằng các cơ quan y tế chính thống rõ ràng không quan tâm đến sức khỏe người dân bởi họ quan tâm hơn đến tỷ lệ lợi nhuận. Vậy nên, trong bối cảnh này, một yêu cầu hợp tình hợp lý là chúng ta nên tìm hiểu kỹ xem liệu thuốc lá có thực sự tồi tệ như vậy không.
Một cách nhìn khác
Tôi sẽ không phân tích từng nghiên cứu đã được công bố về mối liên hệ giữa thuốc lá và ung thư phổi. Có nhiều thông tin về chủ đề này đến nỗi tôi sẽ phải viết cả một cuốn sách để đề cập đến mọi chi tiết. May thay, nhiều cuốn sách đã phân tích chủ đề này một cách sâu rộng. Vậy nên với những ai muốn tiến hành nghiên cứu sâu hơn về các bằng chứng, mời các bạn xem Smoke Screens: The Truth About Tobacco (Bức màn khói: Sự thật về thuốc lá) bởi Richard White, In Defense of Smokers (Để bảo vệ những người hút thuốc) bởi Lauren A. Colby, và The Smoking Scare De-bunked (Vạch trần trò dọa dẫm về thút thuốc) bởi Tiến sĩ William T. Whitby.
Thay vào đó, tôi sẽ nói một cách ngắn gọn về một số vấn đề chính xung quanh lý thuyết "hút thuốc lá gây ung thư phổi", và sau đó chuyển sang xem xét một cách chi tiết và khách quan hơn về những tác động thực sự của thuốc lá lên cơ thể con người.
Vậy hãy bắt đầu bằng câu hỏi: có phải thuốc lá thực sự gây ra ung thư không, hay nó chỉ đơn giản là có liên hệ với ung thư? Những người vận động chống hút thuốc muốn bạn tin rằng hút thuốc lá gây ra ung thư, và rằng niềm tin này được chấp nhận rộng rãi trong tất cả các ngành khoa học. Điều thú vị là không phải vậy. Thực ra nhiều tên tuổi nổi tiếng trong khoa học đã công khai đặt dấu hỏi và chống đối lý thuyết này.
Dưới đây là một số trích dẫn từ cuốn Vạch trần trò dọa dẫm về hút thuốc của Whitby:
"Không một thành phần nào trong khói thuốc lá từng được chứng tỏ là gây ra ung thư ở người. Chưa có ai từng tạo ra được ung thư trong động vật thí nghiệm bằng khói thuốc lá." - Giáo sư Schrauzer, Chủ tịch Hội các nhà Hóa học Sinh - Hóa Vô cơ
"Đấy chỉ là sự ngoại suy đầy ảo tưởng - không phải dữ liệu thực tế. Cái cách thiếu khoa học mà nghiên cứu được tiến hành là điều làm chúng tôi bận tâm nhất. Ủy ban trước tiên đồng ý rằng hút thuốc lá gây ung thư phổi, và sau đó họ tìm cách chứng minh điều đó bằng được thông qua thống kê." (Tài liệu điều trần quốc hội Mỹ) - Giáo sư M.B. Rosenblatt, Trường Đại học Y New York
"Niềm tin rằng hút thuốc lá là nguyên nhân của ung thư phổi không còn được chấp nhận rộng rãi bởi các nhà khoa học. Hút thuốc lá không còn bị nhìn nhận là nguyên nhân của bệnh tim, ngoại trừ bởi một số phần tử cuồng tín." - Giáo sư Sheldon Sommers, Viện Y học và Khoa học New York
"Dữ liệu tự nhiên (trỏ đến sự gia tăng trong ung thư phổi ở những người không có điều kiện hút thuốc lá) chứng tỏ một cách chắc chắn rằng giả thuyết ấy cần phải bị loại bỏ."- Tiến sĩ B. Dijkstra, Đại học Pretoria
"Với tư cách một nhà khoa học, tôi không tìm thấy một bằng chứng thuyết phục nào rằng hút thuốc lá gây ung thư phổi." - Tiến sĩ Ronald Okun, Giám đốc Phòng Xét nghiệm Lâm sàng, Los Angeles
"Sau hàng năm trời nghiên cứu chuyên sâu, không một hợp chất nào trong khói thuốc lá từng được chứng tỏ là có hại cho sức khỏe." - Giáo sư Charles H. Hine, Đại học California
Hai nghiên cứu chính làm nền tảng cho câu chuyện cổ tích về mối liên hệ giữa hút thuốc lá và ung thư là nghiên cứu "Doll và Hill" (năm 1956, còn được gọi là Nghiên cứu của Các Bác sĩ Anh) và nghiên cứu "Whitehall" (năm 1967, một nghiên cứu về tỷ lệ tử vong trong số các nhân viên hành chính nam giới trong chính phủ Anh). Tóm tắt các kết luận của họ là như sau: Doll và Hill phát hiện nguy cơ bị ung thư phổi hơi cao hơn một chút trong số những người hút thuốc lá so với những người không hút thuốc. Kết quả của nghiên cứu này được công bố rộng rãi và là một trong những động lực chính đằng sau toàn bộ chiến dịch chống hút thuốc diễn ra không lâu sau đó. Tuy nhiên, điều mà Doll Hill không công khai nhắc đến là ở chỗ kết quả của họ trên thực tế cho thấy những người hút thuốc nuốt khói vào phổi có nguy cơ bị ung thư phổi giảm hơn nhiều so với những người hút thuốc nhưng không làm vậy. Có vẻ như chi tiết này bị bỏ ra ngoài vì nó không hỗ trợ lý thuyết mà họ đang cố gắng chứng minh. Tiếp đó, kết quả của nghiên cứu Whitehall là như sau: những người bỏ hút thuốc không thấy có cải thiện nào về tuổi thọ; đồng thời cũng không có thay đổi nào trong tỷ lệ tử vong gây ra bởi bệnh tim mạch, ung thư phổi và các nguyên nhân khác. Ngoại lệ duy nhất là một số loại ung thư phổ biến hơn gấp hai lần trong số những người từ bỏ hút thuốc. Tuy vậy, những thực tế khó chịu này bị che giấu dưới hàng đống thuật ngữ chuyên môn với mục đích làm bản báo cáo khó đọc hơn. Có vẻ như ngay từ hồi đó đã có chủ trương bôi xấu việc hút thuốc nên các dữ liệu được diễn giải theo cách khiến việc hút thuốc lá được hiểu là nguyên nhân của mọi điều xấu.
Nhiều nghiên cứu khác đã xác định mối tương quan giữa hút thuốc lá và ung thư phổi. Vấn đề là ở chỗ sự thiên vị của các nhà nghiên cứu đóng một vai trò lớn. Về cơ bản là một khi các nhà nghiên cứu cố tìm cách xác nhận một giả thuyết có sẵn, họ có nhiều khả năng sẽ diễn giải các dữ liệu sai lầm, mặc dù có thể là không chủ đích. Do nguồn vốn tài trợ đóng vai trò lớn trong nghiên cứu, có thể có sức ép "từ bên trên" khiến họ đưa ra một kết luận cụ thể nào đó cho công chúng, ngay cả khi kết quả nghiên cứu là khác hẳn. Trong nghiên cứu về thuốc lá, điều này có vẻ như thường xảy ra. Kết luận của tác giả đề tài nghiên cứu thường không giống các kết quả thực tế họ tìm ra chút nào.
Thay vì báo cáo trọn vẹn lại dữ
liệu cho công chúng dưới dạng thô, các bài viết có thể bị thao tác và bóp méo để
ngụ ý cho người đọc hiểu đó là quan hệ nhân quả. Cần phải hiểu có sự khác biệt
lớn giữa (1) xác định được mối tương quan giữa hai yếu tố, và (2) xác định được
nguyên nhân của một điều gì đó. Xác định những mối tương quan hay liên hệ là việc
khá đơn giản. Ví dụ, có mối tương quan đáng kể giữa các cầu thủ chơi bóng rổ và
những người cao. Liệu điều này có nghĩa rằng việc chơi bóng rổ khiến một người
trở nên cao hơn không? Rõ ràng là không. Lượng chanh nhập khẩu từ Mexico cũng
có mối tương quan nghịch với số người chết vì tai nạn trên đường cao tốc ở Hoa
Kỳ. Liệu điều này có nghĩa rằng nhập khẩu chanh làm giảm số người chết trên đường
cao tốc không? Không, dĩ nhiên là không. Sẽ là lố bịch nếu gợi ý như vậy. Đó là
lý do tại sao sự tương quan không bao giờ đồng nghĩa với quan hệ nhân quả. Tuy
nhiên, điều không may là khi nói về thuốc lá, nguyên tắc này có vẻ như không được
áp dụng. Sự thật là chưa có một nghiên cứu nào từng chứng minh được một
cách thuyết phục rằng hút thuốc lá là nguyên nhân trực tiếp gây ra ung thư phổi,
bệnh tim, bệnh khí thũng, hay bất cứ căn bệnh nào khác mà nó thường xuyên bị gắn
với.
Đã nhiều năm nay, các nhà khoa học thiên vị với những chủ đích cá nhân cùng các
lợi ích nhóm khác đã hoạt động trong lĩnh vực này để đạt tới một số kết quả nhất
định, đó là chứng minh hút thuốc lá là nguyên nhân gây ra ung thư và các bệnh
mãn tính khác. Cũng có rất nhiều bằng chứng gợi ý rằng chính những cá nhân đó
đã cố tình diễn giải sai dữ liệu để đạt được các nguyện vọng và mục đích cá
nhân của họ. Những diễn giải dữ liệu bị bóp méo này đã được quảng bá rộng
rãi bởi giới truyền thông và các tổ chức y tế cộng đồng từ đó tới nay.
Vậy nên bất chấp số lượng ngày càng nhiều những nghiên cứu gợi ý điều ngược lại,
niềm tin phổ biến rằng hút thuốc gây ra ung thư phổi đã ăn sâu triệu để vào tâm
trí của hầu như tất cả mọi người. Do đó có nhiều khả năng phần lớn cộng đồng
khoa học cũng hoạt động theo giả định sai lầm này, và hệ quả là chất lượng của
nghiên cứu khoa học trong lĩnh vực này đã và sẽ chắc chắn là bị sai lệch.
Mặc dù vậy, vẫn có một số nghiên cứu tuyệt vời xuất bản trong 30 năm qua về thuốc lá và việc hút thuốc. Điều không đáng ngạc nhiên là những dữ liệu ấy không được công bố rộng rãi và hầu hết mọi người hoàn toàn không biết gì về những phát hiện đó. Vậy nên tôi sẽ tóm tắt một số nghiên cứu thích hợp ở dưới đây.
Đầu tiên, một nghiên cứu gần đây cho thấy những người có chế độ ăn với nhiều thực phẩm có chỉ số GI (chỉ số đường huyết) cao (ví dụ như bánh mì, mì ống và cơm) dễ phát triển ung thư cao hơn 50% so với người không ăn như vậy. Cùng trong kết quả này, những người không hút thuốc lá bị phát hiện có khả năng phát triển ung thư cao gấp đôi so với người hút thuốc. Chỉ riêng phát hiện này thôi thì có thể được giải thích là do một yếu tố bất thường nào đó, nhưng như chúng ta sẽ điểm qua các bằng chứng dưới đây, bạn có thể thấy nó khớp với bức tranh toàn cảnh thế nào. Từ nghiên cứu cho thấy có vẻ như việc hút thuốc lại đóng vai trò như một cơ chế bảo vệ chống lại các tác nhân gây bệnh bên ngoài.
Có một nghiên cứu khác3 đo tác dụng gây ung thư của radon sau khi bụi quặng uranium phóng xạ được hít vào bởi chó thí nghiệm. Điều nghịch lý là, không giống như tỷ lệ tử vong thông thường được quan sát thấy trong các thí nghiệm tương tự, không một con chó nào tiếp xúc với khói thuốc lá bị nhiễm ung thư. Tác giả nghiên cứu tuyên bố rằng "việc tiếp xúc với khói thuốc lá được phát hiện là có tác dụng giảm nhẹ đối với những khối u gây ra bởi radon". Tương tự, một thí nghiệm khác4 trên các con chuột bị chiếu xạ cho thấy những con tiếp xúc với khói thuốc lá và bị chiếu xạ có mức độ sưng tấy ở phổi ít hơn nhiều so với những con không được tiếp xúc với thuốc lá. Trên nhiều khía cạnh, nhóm tiếp xúc với khói thuốc lá và bị chiếu xạ có biểu hiện tương tự như nhóm không bị chiếu xạ dùng để đối chiếu. Theo tác giả, "thí nghiệm nghiên cứu này tiếp tục hỗ trợ tác dụng ức chế của khói thuốc lên khối u ở phổi gây ra bởi chiếu xạ."
Trong nghiên cứu trên con người, một phân tích5 cho thấy nguy cơ phát triển ung thư phổi do tiếp xúc với amiăng "gia tăng đáng kể ở người không hút thuốc lá trong sáu nghiên cứu được xem xét". Một nghiên cứu khác6 gợi ý rằng nguy cơ phát triển ung thư phổi do tiếp xúc với amiăng ở người không hút thuốc là cao hơn khoảng ba lần so với người hút thuốc. Sau khi điều trị ung thư vú bằng chiếu xạ, những người hút thuốc cũng được quan sát thấy7 có "phản ứng sưng tấy thấp hơn đáng kể, nghĩa là số lượng các dưỡng bào và tế bào lympho thấp hơn, so với cả các bệnh nhân và người bình thường không hút thuốc dùng để đối chiếu". Có phải những kết quả này chỉ là ngẫu nhiên, hay là việc hút thuốc lá thực sự dựng lên một hàng rào bảo vệ chống lại tổn thương do phóng xạ và amiăng?
Nghiên cứu cũng gợi ý rằng hút thuốc lá có thể bảo vệ chống lại những loại ô nhiễm môi trường khác, ví dụ như khí thải từ động cơ. Một nghiên cứu mới đây trên những người thợ mỏ cho thấy mối liên hệ mạnh mẽ giữa khí thải từ động cơ diesel và ung thư phổi. Các kết quả cho thấy những người thợ mỏ tiếp xúc nhiều với khí thải có nguy cơ tử vong do ung thư phổi cao hơn gấp ba lần so với những người thợ mỏ ít tiếp xúc. Nếu họ không hút thuốc thì nguy cơ cao hơn gấp bảy lần.
Vạch trần câu chuyện cổ tích về ung thư phổi
Theo Tổ Chức Y Tế Thế Giới, "Việc dùng thuốc lá là yếu tố quan trọng nhất làm tăng nguy cơ ung thư, gây ra... khoảng 70% con số tử vong do ung thư phổi trên toàn cầu." Tuy nhiên, khi xem xét kỹ số liệu thống kê, một bức tranh hơi khác một chút hiện ra, và nó trở nên rõ ràng rằng tuyên bố đó hoàn toàn không đúng.

Ở trên là số liệu thống kê cung cấp bởi Diễn đàn Kinh tế Thế giới với dữ liệu chỉ ra những quốc gia có số lượng thuốc lá tiêu thụ trên đầu người cao nhất. Nếu hút thuốc là nguyên nhân của 70% tất cả các trường hợp ung thư phổi trên toàn thế giới, thì số liệu thống kê về ung thư phổi phải khớp với kết quả trong bảng ở trên. Ví dụ, về lý thuyết, Trung Quốc, Nga, Hoa Kỳ, Indonesia và Nhật Bản phải có tỷ lệ ung thư phổi cao nhất do họ có tỷ lệ người hút thuốc cao nhất. Duy chỉ có điều thực tế không phải vậy.

Điều thú vị là số liệu thống kê về ung thư phổi ở trên lấy từ Quỹ Nghiên cứu Ung thư Quốc tế chỉ có mặt một quốc gia có tỷ lệ hút thuốc cao, và đó là Hoa Kỳ. Nếu hút thuốc lá là nguyên nhân chính của ung thư phổi, nó phải xuất hiện trong những cộng đồng dân cư có tỷ lệ hút thuốc cao nhất. Do nó không phải vậy, có thể khẳng định một cách chắc chắn rằng hút thuốc lá không thể là nguyên nhân chính của ung thư phổi.
Một quan niệm sai lầm phổ biến nữa về hút thuốc lá là bản thân khói thuốc lá có thể biến các mô ở phổi thành màu đen. Tuy nhiên, điều này là không thể xảy ra. Các mô ở phổi chỉ có thể chuyển thành màu đen khi nó bị ung thư hoặc hoại tử, hoặc là khi có lượng đáng kể nguyên tố carbon được hít vào trong thời gian dài
Bạn có thể tìm nguyên tố carbon ở đâu? Ở trong các mỏ than, chứ không phải trong thuốc lá. Và bạn biết không? Các bác sĩ phẫu thuật không thể phân biệt sự khác nhau giữa phổi của người hút thuốc và người không hút thuốc.
Đây là một số tuyên bố của những người trực tiếp cầm dao mổ hoặc tiếp xúc với mô phổi:
"Hút thuốc lá không làm đổi màu phổi." - Tiến sĩ Duane Carr, Giáo sư Phẫu thuật tại Khoa Y, trường Đại Học Tennessee
"Tôi đã xem xét hàng ngàn mẫu phổi cả bằng mắt thường và dưới kính hiển vi. Tôi không thể chỉ bằng cách xem xét lá phổi mà nói được chủ nhân trước kia của nó có hút thuốc lá hay không." - Bác sĩ Victor Buhler, nhà nghiên cứu bệnh học tại Bệnh viện St. Joseph, thành phố Kansas
"...không thể bằng mắt thường, hay kính hiển vi, hay bằng bất cứ cách nào khác mà tôi biết, để phân biệt giữa phổi của một người hút thuốc và một người không hút thuốc. Phổi bị đen là từ các hạt than, và hút thuốc lá không đưa hạt than vào phổi." - Bác sĩ Sheldon Sommers, nhà nghiên cứu bệnh học và giám đốc phòng thí nghiệm tại Bệnh viện Lenox Hill, New York
Cuối cùng, đây là trích dẫn từ cuốn Bức màn khói của Richard White:
"Cái ý tưởng rằng hút thuốc lá có thể làm phổi chuyển màu đen có thể được dò lại đến năm 1948. Ernst Wynder, khi đó là sinh viên y năm thứ nhất tại St Louis, được chứng kiến cuộc khám nghiệm tử thi một người đàn ông chết vì ung thư phổi, và anh ta lưu ý rằng hai lá phổi bị đen. Cảnh tượng này gợi lên trí tò mò và anh ta tìm hiểu hoàn cảnh của bệnh nhân. Khi phát hiện ra rằng không có sự tiếp xúc rõ ràng nào với ô nhiễm không khí, nhưng người bệnh quá cố đã hút hai bao thuốc lá mỗi ngày trong 30 năm, anh ta liền gắn hai sự việc với nhau. Wynder sau đó dành cả sự nghiệp để "chứng minh" rằng thuốc lá gây ra ung thư, mặc dù ông ta buộc phải thừa nhận rằng các dữ liệu ông ta thu thập không chính xác (Wynder sau này xuất bản nhiều cuốn sách có chứa ảnh những lá phổi bị ung thư màu đen, khiến người ta hiểu rằng hút thuốc đã gây ra điều đó. Sau đó nữa, ông ta thừa nhận rằng ông ta đã sai."
Những lợi ích sức khỏe của thuốc lá

Phân tử nicotine
Nicotine là một trong những thành phần chính của thuốc lá và bộc lộ một loạt các tính chất chữa bệnh. Đó là lý do tại sao nó là chủ đề của một số nghiên cứu khoa học mới rất hấp dẫn. Tuy nhiên, để thực sự đánh giá được những lợi ích của nicotine, trước hết chúng ta phải xem xét các cơ chế hoạt động chính của nó.
Nicotine là chất chủ vận ban đầu của các thụ thể acetylcholine loại nicotinic. Về cơ bản, điều này có nghĩa là nicotine tương thích với các thụ thể acetylcholine trong cơ thể và có khả năng gắn kết với chúng. Sự gắn kết này kích hoạt một loạt phản ứng hóa học, trong đó hiệu ứng chính của nó là kích thích giải phóng nhiều chất truyền dẫn thần kinh, bao gồm cả dopamine, serotonin, noradrenaline và, chủ yếu là acetylcholine. Theo Bác sĩ Gabriela Segura12, "Acetylcholine là chất truyền dẫn thần kinh điều hành việc học hành và trí nhớ. Nó cũng có tác dụng êm dịu, làm thư giãn và là một yếu tố chính kiểm soát hệ thống miễn dịch. Acetylcholine còn hoạt động như một bộ phanh hãm đối với quá trình sưng tấy trong cơ thể, mà sưng tấy có liên quan đến tất cả mọi căn bệnh từng được biết." Khi nicotine gắn kết với α7 nAChR (thụ thể acetylcholine liên quan đến hệ thống miễn dịch), nó kích hoạt một hệ thống được biết đến dưới cái tên "cholinergic anti-inflammatory pathway" (đường chống sưng tấy cholinergic), hệ thống chịu trách nhiệm làm giảm sự sưng tấy trong cơ thể. Do vậy, nicotine thật ra là một chất làm giảm sưng tấy.
Bài viết "Nicotine, một phân tử chống sưng tấy" thảo luận rất nhiều về chủ đề này. Nó giải thích rằng "sự kích thích từ nicotine đóng vai trò quan trọng trong việc hạn chế sản sinh các cytokine gây sưng tấy, có thể làm suy giảm và làm chậm một cách đáng kể các phản ứng sưng tấy và tự miễn trong hệ thần kinh trung ương, và thêm vào đó có thể trực tiếp làm giảm sưng tấy trong hệ thần kinh. Những con chuột thí nghiệm được tiêm nicotine trước khi bị tiêm liều cao virus cúm A cũng thể hiện tỷ lệ sống sót cao hơn khi so sánh với nhóm đối chiếu." Tác giả cuối cùng tuyên bố:
"Những kết quả thí nghiệm trong ống nghiệm và trong cơ thể sống này càng khẳng định tác dụng chống sưng tấy của nicotine. Nghiên cứu của chúng tôi đưa ra bằng chứng đầu tiên rằng tác dụng chống sưng tấy của nicotine trong khói thuốc lá có thể là một yếu tố đóng góp quan trọng trong việc hạn chế mức độ nghiêm trọng trong lây nhiễm của cả hai virus cúm A pdmH1N1 và H9N2, và tác dụng chống sưng tấy đó được thực hiện qua đường tín hiệu α7 nAChR."
Xuất phát từ những tác động có lợi
đã biết của acetylcholine lên bộ não và hệ thần kinh, chúng ta hãy cùng xem việc
hút thuốc lá ảnh hưởng đến hoạt động não bộ ra sao.
Một thực tế được nhiều người trong số các nhà tâm lý học nhận thức và các nhà
khoa học thần kinh biết đến là nicotine làm gia tăng đáng kể hoạt động nhận thức.
Chính phủ Hoa Kỳ công bố một nghiên cứu phân tích14 vào năm
2010 (tiến hành bởi Viện Nghiên cứu Quốc gia về Lạm dụng Ma túy) trong đó các
tác giả phân tích tất cả các nghiên cứu từng có về tác dụng của nicotine lên
não bộ. Trong tổng số 256 nghiên cứu, 48 trắc nghiệm tiêu chuẩn sử dụng máy
tính có chất lượng cao nhất được lựa chọn để đánh giá kỹ hơn. Trong những trắc
nghiệm này, một nửa số người tham gia được nhận nicotine và nửa còn lại được
cho dùng giả dược. Kết quả cho thấy những người được nhận nicotine làm
tốt hơn ở gần như mọi trắc nghiệm, cho dù họ có phải là người hút thuốc lá hay
không. Kết quả này đặc biệt rõ trong lĩnh vực trí nhớ, tốc độ, độ chính xác, mức
độ tập trung. Nghiên cứu cũng cho thấy những người được nhận nicotine làm tốt
hơn một cách đáng kể trong những lĩnh vực khác như trí nhớ dài hạn, trí nhớ về
ngữ nghĩa, các tính toán phức tạp, và kỹ năng về chân tay.
Rõ ràng là nicotine rất có lợi cho chức năng nhận thức, nhưng khi so sánh với
việc thực sự hút thuốc lá, chúng ta có thể thấy rằng tách riêng nicotine không
có hiệu quả bằng. Một nghiên cứu15 tiến hành bởi Warburton và cộng
sự phát hiện rằng:
"Nicotine [không qua hút thuốc] dẫn đến tiến bộ trong hoạt động thần kinh với tính chất tương tự như những tiến bộ tạo ra do hút thuốc. Tuy nhiên, kết quả của chúng tôi về sự cẩn trọng và khả năng xử lý thông tin nhanh cho thấy sự tiến bộ do nicotine nhỏ hơn về lượng so với tiến bộ có được từ hút thuốc lá."
Một nghiên cứu khác xuất bản vào năm 2014 cho thấy sự gia tăng của các thụ cảm nicotine (tạo ra từ việc hút thuốc) có liên hệ với mức độ giao tiếp xã hội và khả năng nhận thức tốt hơn. Trên thực tế, có rất nhiều thông tin khoa học về tác động có lợi của nicotine về mặt sinh lý. Thế nhưng không một chút nào trong những thông tin này thấm ra được đến công chúng. Điều này không có gì đáng ngạc nhiên đối với những ai hiểu việc truyền thông chính thống và các tập đoàn dược phẩm thường xuyên bóp méo và hạn chế những thông tin không có lợi cho luồng thông tin chính thức mà họ muốn quảng bá.
Cuối cùng, nhà nghiên cứu David. M. Warburton từ Khoa Tâm lý học trường Đại học Reading, kết luận rằng:
1. Nicotine cải thiện sự tập trung trong nhiều trắc nghiệm ở những người tình nguyện khỏe mạnh.
2. Nicotine cải thiện trí nhớ ngắn hạn và dài hạn ở những người tình nguyện khỏe mạnh.
3. Nicotine cải thiện sự tập trung ở những bệnh nhân có nhiều khả năng bị bệnh Alzheimer.
4. Trong khi một số tác động về trí nhớ của nicotine có thể là do sự tập trung tốt hơn, phần còn lại có vẻ như là kết quả của hoạt động thần kinh hợp nhất được cải thiện.
Bây giờ hãy cùng xem xét một số
tác dụng chữa bệnh và có lợi khác của cây thuốc lá...
Kiềm chế Mono Amine Oxidase
Monoamine oxidase (MAO) là những enzyme trong cơ thể với nhiệm vụ phân hủy các
chất truyền dẫn thần kinh do cơ thể tạo ra như Noradrenaline (Norepinephrine),
Serotonin và Dopamine. Những chất kiềm chế mono amine oxidase (MAOI) là những
hóa chất có tác dụng kiềm chế hoạt động của các enzyme này nhằm làm tăng cường
số lượng phân tử của các chất truyền dẫn thần kinh trên. Vì lý do này, nhiều dược
phẩm chứa MAOI được phát triển bởi các công ty dược từ cuối những năm 1950 và
bán làm thuốc chống trầm cảm. Tuy nhiên, điều thú vị là khói thuốc lá đã được
chứng tỏ là chứa các MAOI một cách tự nhiên. Điều này được phản ánh
trong nhiều nghiên cứu18 cho thấy những người hút thuốc
có nồng độ cả hai loại MAO (A và B) thấp hơn bình thường một cách đáng kể. Điều
này về cơ bản có nghĩa rằng việc hút thuốc lá có tác dụng như một loại thuốc
chống trầm cảm tự nhiên, không có bất cứ tác dụng phụ kinh khủng nào thường thấy
ở nhiều loại dược phẩm tổng hợp. Một thực tế thú vị khác là dược chất
"Deprenyl", một chất MAOI, cũng đã được chứng tỏ trong nhiều trường hợp,
là có tác dụng làm tăng đáng kể tuổi thọ của nhiều loài động vật có vú trong
môi trường phòng thí nghiệm. Đây là mẩu thông tin nên giữ trong đầu bởi vì
chóng ta sẽ quay trở lại với nó ở dưới đây.
Glutathione: "Chất chống ôxy hóa bậc thầy"
Là một chất chống ôxy hóa, chức năng của glutathione là bảo vệ hầu như mọi tế bào trong cơ thể khỏi bị tổn thương bởi các gốc tự do, kim loại nặng, và peroxide / lipid-peroxide. Nó là thành phần chính của hệ thống tự vệ tự nhiên của cơ thể và sự có mặt của nó là cần thiết để hoàn thành một loạt quá trình sinh lý của tế bào, bao gồm cả sự phân chia, sinh sản của tế bào. Điều khiến glutathione đặc biệt là ở chỗ, không giống các chất chống ôxy hóa khác, nó thâm nhập vào bên trong tế bào và có khả năng duy trì các chất chống ôxy hóa khác ở trạng thái sẵn sàng để tối đa hóa hoạt động chống ôxy hóa. Nó đóng vai trò cực kỳ quan trọng trong các quá trình khử độc. Đây là lý do tại sao phần lớn dự trữ glutathione của cơ thể nằm ở gan. Nó cũng có ảnh hưởng đáng kể đến chức năng miễn dịch. Sự suy kiệt glutathione cũng có liên hệ với ung thư, các bệnh của tuổi già, bệnh xơ nang, tim mạch, sưng tấy, các bệnh trao đổi chất và thoái hóa thần kinh.21 Cộng đồng y tế không chính thống thừa nhận phân tử này là "mẹ của tất cả các chất chống ôxy hóa", và nó xứng đáng như vậy. Thú vị thay, người ta thấy phổi của người hút thuốc lá chứa lượng glutathione nhiều hơn 80% so với phổi người không hút thuốc.
Nồng độ cao của glutathione trong phổi làm gia tăng sự bảo vệ chống lại các chất ngoại lai và vi sinh vật gây bệnh. Điều mà kết quả nghiên cứu này gợi ý là việc hút thuốc lá thực ra có thể có tác dụng bảo vệ các mô ở phổi thông qua việc làm tăng cường nồng độ glutathione. Tuy nhiên, cơ chế của sự gia tăng này không được giải thích trong nghiên cứu đó. Một thí nghiệm khác23 tìm cách đo trực tiếp tác động của khói thuốc lá lên nồng độ glutathione và dưới đây là những gì họ phát hiện ra:
"Sự phơi nhiễm khói thuốc lá ban đầu làm giảm nồng độ GSH [glutathione] 50% nhưng chỉ trong 2 giờ, nồng độ GSH tăng bật trở lại khoảng 3 lần mức cơ bản và đạt đỉnh sau 16 giờ với sự gia tăng gấp 6 lần mức cơ bản. Phơi nhiễm lặp lại cho phép nồng độ GSH được duy trì ở mức 3 lần mức cơ bản trong thời gian đến 2 tháng.
Phơi nhiễm khói thuốc lá kích hoạt một phản ứng thích nghi về GSH mạnh mẽ và rộng khắp. [...] Các yếu tố phá vỡ phản ứng thích nghi GSH có thể góp phần vào trạng thái sinh lý bệnh của COPD."
Vậy là trước tiên, họ đưa ra giả thuyết rằng hút thuốc kích hoạt "phản ứng thích nghi về glutathione" và đây là cơ chế làm tăng mạnh hệ thống glutathione đến vậy. Điều này cũng gợi ý rằng thuốc lá có tác dụng bảo vệ đối với phổi. Thứ hai, họ tuyên bố rằng các yếu tố phá vỡ cơ chế này có thể góp phần vào Rối loạn Tắc nghẽn Phổi Mãn tính (Chronic Obstructive Pulmonary Disorder - COPD). Tuyên bố này mâu thuẫn với các nguồn y tế chính thống, bởi vì theo những nguồn này, hút thuốc là nguyên nhân chính của COPD. Nhưng nếu hút thuốc rõ ràng làm tăng mạnh "phản ứng thích nghi về glutathione", và COPD bị gây ra bởi "phản ứng thích nghi về glutathione" hoạt động yếu, thì làm sao chỉ riêng hút thuốc có thể là nguyên nhân chính gây ra COPD? Trên thực tế, sẽ là hợp lý hơn nếu kết luận rằng hút thuốc thực ra giúp ngăn ngừa COPD thông qua cơ chế thích nghi GSH.
Catalase và Superoxide Dismutase
Catalase là một enzyme chống ôxy hóa có chức năng bảo vệ các tế bào khỏi tác động có hại của hydro peroxide bằng cách xúc tác chuyển hóa nó thành ôxy và nước. Do vậy, nó là một thành phần quan trọng của hệ thống miễn dịch và giải độc của cơ thể. Superoxide dismutase (SOD) cũng là một enzyme chống ôxy hóa quan trọng có tác dụng trung hòa superoxide, một sản phẩm phụ của quá trình chuyển hóa ôxy. Cùng nhau, đây là hai chất chống ôxy hóa đáng chú ý nhất của cơ thể, đóng vai trò cực kỳ quan trọng trong việc bảo vệ các tế bào chống lại tác động có hại của sự ôxy hóa / peroxid hóa và có mối tương quan chặt chẽ với tuổi thọ. Cũng giống như glutathione, catalase và SOD có vẻ như được điều khiển bởi một loại "phản ứng thích nghi" chống ôxy hóa nào đó. Một nghiên cứu gần đây24 phát hiện rằng "Nồng độ enzyme superoxide dismutase trong máu và nước bọt ở những người hút thuốc lá cao hơn nồng độ của những người không hút thuốc một cách đáng kể". Hơn nữa, người ta cũng phát hiện - trong một thí nghiệm khác - rằng những con chuột phơi nhiễm khói thuốc lá có lượng Catalase và Superoxide Dismutase cao gấp đôi so với những con chuột không tiếp xúc với khói thuốc lá.
Sự gia tăng về glutathione, catalase và superoxide dismutase có thể giải thích một phần lý do tại sao hút thuốc lá giúp tránh ung thư phổi ở những người hít phải bụi phóng xạ, khói thải từ xe cộ và amiăng. Sự gia tăng trong hoạt động chống ôxy hóa này có thể là yếu tố quan trọng giúp bảo vệ các mô phổi và giải phóng khỏi cơ thể bất cứ chất độc hại nào hít vào qua đường hô hấp.
Tác dụng kích thích sự thích nghi ở liều nhỏ (hormesis)
Một lời chỉ trích thường thấy ở
những người chống hút thuốc lá là khói thuốc lá có chứa Carbon Monoxide (CO),
thứ được cho là độc, vậy nên hút thuốc là không tốt. Tuy nhiên, quan điểm
này dựa trên giả định sai lầm rằng bất cứ liều lượng carbon monoxide nào cũng
có hại. Điều không ai nghi ngờ là một liều cao của carbon monoxide có thể
gây chết người. Nhưng điều mà những người chống hút thuốc này có lẽ không nhận
ra là Carbon Monoxide thực ra có tác dụng kích thích sự thích nghi ở liều
nhỏ. Cơ chế kích thích sự thích nghi ở liều nhỏ (hormesis) được đặc trưng bởi
việc đưa một chất độc ở liều nhỏ vào cơ thể để kích thích cơ thể phản ứng theo
cách có lợi. Ngược lại, ở liều cao, cũng chất độc đó sẽ gây tác động có hại.
Hormesis là một trong những cách hiệu quả nhất của cơ thể để tạo ra các thay đổi
thích nghi ở cấp độ tế bào nhằm chống lại những tác động có hại từ bên ngoài bằng
cách tăng cường các hệ thống giải độc. Nó cũng là một cách hiệu quả chống lại bệnh
tật. Những tác nhân kích thích sự thích nghi ở liều nhỏ khác bao gồm curcumin
(chất trong củ nghệ) và hợp chất polyphenol trong trà xanh. Thậm chí ngay cả tập
thể dục cũng hoạt động theo cơ chế đó!
May mắn thay cho những người hút thuốc, ngày càng có nhiều bằng chứng chứng tỏ
tác dụng kích thích sự thích nghi ở liều nhỏ của carbon monoxide và các lợi ích
có thể của nó. Những nhà nghiên cứu tại khoa Nghiên cứu về Tiêu hóa và Gan cấp
Phân tử (Molecular Gastroenterology and Hepatology) của trường Đại học Kyoto,
Nhật Bản, nói:
Bằng chứng tích lũy gần đây gợi ý rằng carbon monoxide (CO) có thể hoạt động như một phân tử khí phòng thủ nội sinh để làm giảm sự sưng tấy và tổn thương mô ở nhiều loại chấn thương nội tạng khác nhau, bao gồm cả sưng tấy đường ruột.
...Những tác dụng chữa bệnh hiệu quả của CO đã được chứng tỏ trong mô hình thí nghiệm trong nhiều điều kiện, bao gồm cả chấn thương phổi, tim, gan và thận, cũng như sưng tấy, bao gồm cả viêm khớp. Nó hỗ trợ cho lý thuyết mới rằng CO ở nồng độ thấp hoạt động như một phân tử truyền tin có tác dụng bảo vệ tế bào và chống sưng tấy đáng kể.
Bây giờ xem xét đến thực tế rằng cơ thể con người liên tục trải qua quá trình sản xuất và tái chế CO, và ngộ độc CO chỉ có thể xảy ra khi cơ thể bị quá tải bởi một lượng cực lớn. Khói thuốc lá chứa lượng CO nhỏ đến mức không thể hút đủ nhiều để gây ra ngộ độc. Hiểu biết được điều này, có thể yên tâm mà cho rằng chừng nào một người không ghé mặt vào ống xả xe hơi, khả năng anh ta bị ngộ độc carbon monoxide do hút thuốc lá là rất nhỏ. Ngược lại, lượng carbon monoxide hít vào từ khói thuốc lá có thể có tác dụng kích thích có lợi.
Thuốc lá có tác dụng bảo vệ?
Theo giáo lý y tế thông thường, thuốc lá là kẻ thù tồi tệ nhất của loài người. Tuy nhiên, như bằng chứng cho thấy, khói thuốc lá có một loạt các dược tính có lợi cho sức khỏe và tuổi thọ con người. Thêm vào đó, đã có nhiều nghiên cứu chứng tỏ tác dụng bảo vệ của thuốc lá chống lại nhiều tác nhân gây bệnh và các loại bệnh mãn tính.
Trước tiên, một nghiên cứu về sức khỏe hệ thống hô hấp của công nhân sản xuất nhôm cho thấy "những người hút thuốc lá trong nhóm có tỷ lệ triệu chứng bệnh đường hô hấp thấp hơn những người chưa từng hút thuốc hoặc đã cai thuốc." Xét những gì chúng ta đã liệt kê ở trên, kết quả này không đáng ngạc nhiên. Hơn nữa, hút thuốc còn có vẻ có tác dụng bảo vệ chống lại nhiều vấn đề sức khỏe có vẻ không liên quan khác.
Ví dụ, nó đã được ghi nhận nhiều lần rằng hút thuốc lá làm giảm nguy cơ bị viêm khớp rất nhiều. Số liệu chứng tỏ những người hút thuốc được bảo vệ ở bốn vị trí thường thấy ở bệnh nhân bị viêm khớp (đầu gối, đốt sống, tay và chân). Hút thuốc cũng có mối tương quan tỷ lệ nghịch với bệnh viêm khớp ở các khớp lớn và đã được chứng tỏ làm giảm nguy cơ viêm khớp ở những người béo phì. Các chuyên gia đưa ra giả thuyết rằng đây có thể là vì nicotine có tác động có lợi cho quá trình bảo trì, phát triển và sửa chữa xương. Hơn nữa, theo Bác sĩ L. Gullahorn, "trong số hơn 400 chất tìm thấy trong khói thuốc lá, nicotine là một trong những thành phần có hoạt động sinh lý tích cực nhất. Một nghiên cứu trong ống nghiệm được công bố gần đây chứng tỏ rằng nicotine là một tác nhân kích thích mạnh đối với hoạt động tổng hợp tế bào xương."
Thứ hai, nhiều người trong giới
khoa học biết rằng những bệnh về thần kinh như bệnh Alzheimer và Parkinson có tỷ
lệ thấp hơn nhiều ở những người hút thuốc; thấp hơn nhiều đến
nỗi các biện pháp chữa trị dùng nicotine (và các sản phẩm phụ của nó) hiện đang
được phát triển tích cực bởi các công ty dược phẩm để cho những liệu pháp trị
liệu thần kinh mới.
Thacker và các cộng sự phân tích dữ liệu từ lịch sử hút thuốc lá của
79.977 phụ nữ và 63.348 nam giới và phát hiện rằng, khi so sánh với người không
hút thuốc, những người từng hút thuốc trong quá khứ có nguy cơ bị bệnh
Parkinson thấp hơn 22%, trong khi những người đang hút thuốc có tỷ lệ thấp
hơn đáng kinh ngạc là 73%.Gorel và các cộng sự cũng tường thuật mối
tương quan tỷ lệ nghịch giữa những người hút thuốc và bệnh Parkinson. Nhưng điều
thú vị về nghiên cứu này là mối tương quan tỷ lệ nghịch này tăng mạnh ở
những người hút thuốc lá nhiều. Những kết quả này gợi ý rằng người nào càng hút
thuốc lá nhiều thì càng ít có khả năng bị mắc căn bệnh này. Các tác giả
kết luận:
"Quan hệ tỷ lệ nghịch giữa liều lượng hút thuốc và phản ứng của bệnh Parkinson ít có khả năng là do sự thiên vị hay nhiễu số liệu, như đã được thảo luận. Nó cung cấp bằng chứng gián tiếp rằng hút thuốc có tác dụng bảo vệ về mặt sinh học."
Lại một nghiên cứu nữa cũng kết luận: "Chúng tôi báo cáo ở đây rằng nicotine có tác dụng bảo vệ thần kinh đối với các nơ-ron dopamine."
Những kết quả tương tự cũng được phát hiện trong các nghiên cứu về bệnh Alzheimer. Một mối tương quan tỷ lệ nghịch mạnh mẽ giữa những người hút thuốc lá và các cá nhân bị bệnh Alzheimer đã được chứng tỏ,35 và theo tác giả:
"Nguy cơ bị bệnh Alzheimer giảm đi theo số điếu thuốc lá hút hàng ngày trước khi triệu chứng bệnh bắt đầu."
Với những kết quả này, có vẻ như hút thuốc lá là một biện pháp phòng tránh có hiệu quả. Các nhà nghiên cứu vẫn chưa chắc chắn hiệu ứng bảo vệ và chữa bệnh này xảy ra như thế nào, mặc dù hầu hết tin tưởng rằng nó có liên quan đến nicotine. Nicotine cũng đã được dùng để chữa trị có hiệu quả những cá nhân bị Rối loạn Tăng động Giảm Chú ý (ADHD) và Hội chứng Tourette. Thêm vào đó, cotinine là chất hiện đang được nghiên cứu cho các tác dụng chữa bệnh có thể của nó. Đó là một chất chuyển hóa từ nicotine và đã được chứng tỏ có tác dụng cải thiện sự học tập và trí nhớ, và cũng có khả năng bảo vệ các tế bào não khỏi nguy cơ của cả hai căn bệnh trên.
Một thực tế được ghi nhận nhiều lần khác là tỷ lệ hút thuốc trong số những người bị tâm thần phân liệt thường cao hơn nhiều so với cộng đồng dân số nói chúng, với một số nghiên cứu cho thấy xấp xỉ 90% trong số họ là người hút thuốc. Mặc dù vậy, điều đáng chú ý là những người bị tâm thần phân liệt ít bị ung thư phổi và các loại ung thư khác hơn bình thường từ 30-60%. Vậy những con số này gợi ý điều gì về lý thuyết hút thuốc là nguyên nhân chính của ung thư? Tôi sẽ để cho bạn quyết định.
Người ta từng đặt giả thuyết rằng tỷ lệ hút thuốc cao ở những người bị tâm thần phân liệt có thể là do tác dụng kích thích nhận thức của nicotine. Điều này có thể giúp họ lọc bỏ các thông tin không liên quan từ bên ngoài. Một nghiên cứu tại Đại học Yale University phát hiện rằng:
"...khi những đối tượng nghiên cứu bị tâm thần phân liệt ngừng hút thuốc, khả năng tập trung và trí nhớ ngắn hạn của họ bị suy giảm, nhưng khi họ bắt đầu hút thuốc trở lại, chức năng nhận thức của họ được cải thiện."
Bằng chứng từ Thụy Điển cũng cho
thấy39 càng hút nhiều thuốc lá khi còn trẻ thì khả năng bị bệnh
tâm thần phân liệt về sau càng giảm. Họ kết luận rằng hút thuốc có tác
dụng như một biện pháp phòng tránh bảo vệ thần kinh chống lại bệnh tâm thần
phân liệt.
Y học phương Tây nổi tiếng là bơm bệnh nhân với đầy các loại thuốc nguy hại và
không hiệu quả để mang lại lợi nhuận cho các tập đoàn dược phẩm. Hệ thống này
không chỉ thiếu sự hỗ trợ đầy đủ cho những người có vấn đề về tâm thần; điều thậm
chí còn kinh khủng hơn là nhiều tổ chức điều trị đã tước đoạt của các bệnh nhân
nội trú quyền được hút thuốc, bất chấp thực tế rằng nó là một trong những biện
pháp tự điều trị hiệu quả nhất.
Bên cạnh những bệnh về thần kinh, người ta phát hiện hút thuốc lá luôn làm giảm nguy cơ phát triển bệnh Viêm loét Đại tràng. Theo Lashner và các cộng sự, "những người không hút thuốc có khả năng phát triển bệnh Viêm loét Đại tràng cao gấp ba lần so với người hút thuốc." Một nghiên cứu đánh giá41 gợi ý rằng những người đang hút thuốc có nguy cơ giảm đi khoảng 42%; tuy nhiên, những người từng hút thuốc nhưng đã bỏ có nguy cơ gia tăng so với người chưa bao giờ hút thuốc. Bằng chứng này một lần nữa cho thấy hút thuốc lá có vẻ có tác dụng bảo vệ, và rằng những người bỏ hút thuốc thực ra tự đặt họ vào nguy cơ cao hơn. Thêm vào đó, những người hút thuốc và bị viêm loét đại tràng cũng được phát hiện thường có triệu chứng nhẹ hơn so với những người không hút thuốc.
Điều thú vị là hút thuốc lá có vẻ không mang lại lợi ích cho nhiều người bị chẩn đoán mắc bệnh Crohn, một loại bệnh viêm loét đường ruột khác. Theo thống kê, cả nam giới và phụ nữ đều có nguy cơ phát triển bệnh Crohn cao hơn nhiều nếu họ hút thuốc, và một nghiên cứu thậm chí còn gợi ý nguy cơ gia tăng gấp ba lần ở phụ nữ hút thuốc. Điều có vẻ như bất thường này không hợp lý chút nào khi chúng ta chỉ nhìn vào nó một cách biệt lập. Tuy nhiên, có những bằng chứng ngày càng nhiều trỏ đến khả năng căn bệnh này có nguồn gốc di truyền. Tương tự, có bằng chứng gợi ý rằng yếu tố di truyền có thể đóng vai trò nhất định trong việc hút thuốc / tiêu thụ nicotine. Nhiều người có thể bị thúc đẩy hút thuốc, hoặc không hút, do gen của họ theo nghĩa đen. Các hình mẫu gen tương tự nhau đã được tìm thấy giữa những người hút thuốc khi so sánh với những người không hút thuốc. Một số gen cũng được thấy hoạt động mạnh hơn ở những người hút thuốc, trong khi một số khác hoạt động yếu hơn, khi so sánh với những người không hút thuốc. Các nhà nghiên cứu đưa ra giả thuyết rằng các gen chịu trách nhiệm cho việc sản xuất các chất truyền dẫn thần kinh, chuyển hóa chất kiểm soát các thụ cảm tế bào và chuyển hóa nicotine có thể đóng một vai trò quan trọng trong việc quyết định một người có khả năng hút thuốc nhiều hay ít.
Điều đáng chú ý nhất đối với tôi ở đây là những bằng chứng này trỏ đến việc có sự khác biệt về sinh học giữa những người hút thuốc và những người không hút thuốc. Có lẽ điều này giúp giải thích tại sao một số người đến với hút thuốc lá một cách tự nhiên từ khi họ còn ở tuổi thiếu niên, trong khi những người khác sống cả đời mà không thèm hút thuốc một chút nào. Nó cũng có thể giải thích tại sao một số người hút thuốc có thể sống rất thọ và không bị ung thư phổi, trong khi một người khác hút thuốc vài năm nhưng không được hưởng lợi gì từ đặc tính bảo vệ của nó. Xem xét đến tính di truyền, nghịch lý về bệnh Crohn / Viêm loét Đại tràng không còn có vẻ kỳ lạ đến vậy nữa. Có lẽ bộ gen hợp với việc hút thuốc của ai đó cũng hoạt động như một yếu tố có tác dụng bảo vệ chống lại những yếu tố gây bệnh khác? Khoa học vẫn chưa trả lời được những câu hỏi này.
Hút thuốc lá và chức năng ty lạp thể

Các ty lạp thể nằm bên trong tế bào và được biết đến như là "nhà máy điện" có trách nhiệm sản sinh năng lượng phục vụ cho nhu cầu trao đổi chất của cơ thể. Chức năng của ty lạp thể là lấy các electron từ môi trường và dùng chúng để tổng hợp Adenosine Triphosphate (ATP), thứ được cho là 'nguồn năng lượng' của cơ thể (Gilbert Ling không đồng ý với điều này). Thông qua một quá trình gọi là hô hấp tế bào, các electron được lấy từ thức ăn đã được tiêu hóa và chuyển qua màng ty lạp thể với sự giúp đỡ của một số phân tử nhất định để ty lạp thể có thể tạo ra ATP. Lý thuyết phổ biến về ATP là nó được dùng làm năng lượng cho phần lớn các quá trình trong cơ thể. Một lần nữa, lý thuyết này vẫn còn tranh cãi. Tuy nhiên, điều được thừa nhận là ATP là thứ không thể thiếu cho sự sống của con người. Nghiên cứu gần đây bởi các nhà nghiên cứu như Doug Wallace và những người khác chỉ ra rằng rối loạn ty lạp thể có thể là nguồn gốc của hầu hết các căn bệnh thời hiện đại. Điều này có nghĩa là giữ cho ty lạp thể hoạt động tốt là điều quan trọng sống còn.
Một trong những yếu tố quan trọng trong quá trình sản xuất ATP là phân tử ôxy hóa khử Nicotinamide adenine dinucleotide (NAD). NAD có mặt trong tất cả các tế bào sống và tồn tại dưới hai dạng: NADH và NAD+. Cả hai dạng đều tối cần thiết cho sự chuyển hóa năng lượng của tế bào, và nếu liều lượng không đầy đủ của chúng có thể dẫn đến rối loạn ty lạp thể. Chức năng của NADH là mang electron vào trong ty lạp thể để hỗ trợ sự tổng hợp ATP. Một khi NADH đã cho đi những electron này, nó trở thành NAD+. NAD+ đã được phát hiện45 có tác dụng tăng cường quá trình sửa chữa DNA, tăng khả năng chịu đựng stress, và kiểm soát quá trình chết rụng tế bào. Hơn nữa, NAD+ cũng khôi phục sự toàn vẹn của các mô, duy trì sự cân bằng trong tế bào, và làm tăng tuổi thọ tế bào46. Tế bào cảm nhận nồng độ NAD+ thông qua mức độ sản xuất năng lượng của ty lạp thể và tốc độ chuyển hóa chất. Vì lý do này, lượng NAD+ được tạo ra đóng vai trò đáng kể trong việc kiểm soát tốc độ tổng hợp ATP và sự chuyển hóa chất của tế bào.47 Lượng NAD+ thấp làm giảm quá trình sản xuất năng lượng, giảm số ty lạp thể trong tế bào48 và đóng góp đáng kể vào quá trình lão hóa của cơ.49 Một điều thú vị nữa là NAD+ cũng có khả năng thay đổi hoạt động của gen bằng cách "tắt đi" những gen gắn với các quá trình lão hóa.
Tiếp tục, SIRT1 (sirtuin) là một protein phụ thuộc vào NAD và được mã hóa bởi gen SIRT1. Nó không thể hoạt động mà không có NAD+. Vậy là khi nồng độ NAD+ giảm xuống, nồng độ SIRT1 cũng giảm, và ngược lại. SIRT1 hóa ra là một trong những enzyme quan trọng nhất trong việc kiểm soát hoạt động gen, sự chuyển hóa chất và tuổi thọ. Các nghiên cứu đã cho thấy SIRT1 ức chế đường truyền tin MTOR, làm gia tăng độ nhạy cảm leptin, làm gia tăng độ nhạy cảm hormone T3, và cũng làm gia tăng độ nhạy cảm của da với Vitamin D. SIRT1 còn ức chế hoặc tắt đi các gen liên quan đến sự sưng tấy, kiểm soát nồng độ đường huyết, và quá trình tích mỡ trong cơ thể.
Vậy, tất cả những cái đó liên quan gì đến hút thuốc lá?
Một nghiên cứu thực hiện bởi tổ chức Cancer Research (Nghiên cứu Ung thư) vào năm 2012 cho thấy:
Hoạt động SIRT1 được tăng cường một cách đáng kể và nhất quán nhất ở những người hút thuốc so với những người không hút thuốc trong tất cả 4 tập hợp dữ liệu. Trong khi hoạt động SIRT1 có tương quan mạnh mẽ với việc một người có hút thuốc hay không, sự kích hoạt đường dẫn SIRT1 không có tương quan đáng kể với con số bao thuốc x năm của người hút thuốc (p > 0.05; Spearman). Do vậy, hoạt động SIRT1 được tăng cường một cách nhất quán ở những người hút thuốc độc lập với lượng phơi nhiễm tích tụ. Sự gia tăng trong hoạt động của SIRT1 này có thể đóng vai trò bảo vệ chống lại tác hại ôxy hóa và tổn thương DNA gây ra bởi hút thuốc.
Nhớ lại thực tế rằng SIRT1 chỉ có thể hoạt động khi có mặt NAD+, những kết quả này gợi ý rằng nồng độ NAD+ cũng phải được tăng cường ở những người hút thuốc. Nồng độ NAD+ tăng cường trỏ đến chức năng ty lạp thể hiệu quả hơn. Với một số người (có thể là thích hợp về mặt di truyền), hút thuốc lá không phải là gánh nặng đối với cơ thể. Phát hiện này có thể giải thích tại sao nhiều người hút thuốc sống thọ lâu và không bệnh tật. Có lẽ những người này sống thọ như vậy không phải bất chấp thói quen hút thuốc của họ, mà thực ra họ sống lâu như vậy bởi vì họ hút thuốc. Dưới đây là một số ví dụ cụ thể của điều đó.
Tin sốc: Hầu hết những người "sống lâu hơn
trăm tuổi" đều đã hoặc đang hút thuốc lá
Jeanne Louise Calment

Bà lão thọ hơn trăm tuổi người Pháp Jeanne Louise Calment
sinh ngày 21/2/1875, và đến ngày 4/8/1997, bà qua đời do nguyên nhân tự
nhiên. Bà sống thọ tổng cộng 122 năm. Bí quyết của bà? Calment hút
thuốc từ năm 21 tuổi cho đến năm 117 tuổi khi bà 'cuối cùng quyết định từ bỏ
thói quen ấy'.
Jose Aguinelo dos Santos


Sinh nhật lần thứ 100 của Winnie
"Người hút thuốc già nhất" nước Anh, Winnie
Langley, sinh ra ở Croydon vào năm 1907. Vào bữa tiệc lần thứ 100 của bà,
Winnie nói: "Tôi đã hút thuốc từ khi còn ở nhà trẻ và tôi chưa bao giờ
nghĩ đến việc bỏ nó." Ước tính bà đã hút hơn 170.000 điếu thuốc lá
trong suốt cuộc đời mình.59 Buồn thay, hai năm sau Winnie qua đời
ở tuổi thanh xuân 102.
Emiliano Mercado Del Toro



Cuối cùng, ông lão sống lâu hơn trăm tuổi người Mỹ gốc Đan Mạch Christian Mortensen sinh ra ngày 16/8/1882. Christian qua đời ngày 25/4/1998 ở tuổi 115. Khi được hỏi bí quyết sống lâu, ông nói: "Bạn bè, một điếu xì gà ngon, uống thật nhiều nước sạch, không rượu bia, sống tích cực và hát thật nhiều sẽ giúp bạn sống thật lâu."
Kết luận
Có vẻ hợp lý khi kết luận rằng ít nhất trong một số trường hợp, hút thuốc lá có khả năng:
Tôi tin rằng một số trong những nghiên cứu này có những hứa hẹn khó tưởng tượng nổi đối với sức khỏe của nhiều người hút thuốc. Nó cũng làm tôi nhớ lại việc các nhà chức trách y tế không ngừng nghỉ nói với chúng ta rằng "hút thuốc gây ung thư."
Trạng thái tâm trí của ta, niềm tin và suy nghĩ của ta đều có thể ảnh hưởng đến hoạt động của gen thông qua ngoại di truyền. Nó đã được cho thấy một cách nhất quán rằng thay đổi niềm tin về bản thân và thế giới xung quanh có thể có ảnh hưởng sâu sắc đến trạng thái sinh lý của mỗi người. Nói một cách khác, trạng thái tâm trí của bạn có thể cho phép cơ thể bạn vượt qua bệnh tật. Ngược lại, niềm tin rằng bạn sẽ bị ung thư cũng có thể bộc lộ ra ngoại thành bệnh ung thư trên cơ thể. Nó khiến tôi tự hỏi có bao nhiêu trường hợp ung thư ở những người hút thuốc lá thực ra là do những người đó tin vào thông điệp mà họ bị nhồi nhét thông qua truyền thông, để rồi niềm tin đó bộc lộ ra ngoài trên cơ thể họ. Vào thời điểm này, chúng ta không thể chắc chắn điều gì, nhưng có một điều chắc chắn là: cần nhiều nghiên cứu khách quan hơn nữa trong lĩnh vực này.
Niềm tin rằng hút thuốc có hại cho sức khỏe hiện đang mạnh mẽ và phổ biến rộng rãi, mặc dù trên thực tế nó đã đến và đi tại nhiều thời điểm trong quá khứ. Có nhiều nỗ lực từ những người chống hút thuốc nhằm đưa ra các đạo luật cấm hút thuốc - nhưng, may thay, việc cấm hút thuốc luôn thất bại về lâu dài. Trong quá khứ, hút thuốc lá được tin là có khả năng chữa trị. Những người tin vậy bao gồm những người thổ dân da đỏ châu Mỹ trong hàng ngàn năm, và cũng được xác nhận bởi những người đầu tiên nhập khẩu thuốc lá về châu Âu để dùng như thuốc chữa bệnh cho các bệnh như hen suyễn, bệnh vẩy nến và sốt.
Ngày nay, sự phân biệt đối xử rộng khắp chống lại những người hút thuốc có tác dụng làm họ cảm thấy tội lỗi về lựa chọn cá nhân của họ. May thay, nếu họ tự tìm hiểu về thuốc lá, họ có thể tự tin rằng châm lửa cho điếu thuốc sẽ không hủy hoại sức khỏe của họ.
Để biết thêm về thuốc lá và hút thuốc nói chung, tôi xin giới thiệu những bài viết, bài nói và video sau:
Hôm nay, ngày Mồng Chín tháng Tám (9/8), là ngày giỗ bà Trần Thục Hằng (bà Hoanh), con gái cụ Trần Tán Bình.

[trích Tộc Phả họ Trần-Do Lễ]
Đời thứ 5
…. Bà Trần Thục Hằng (1917 – 2001) (còn gọi là bà Hoanh) là con gái của cụ Trần Tán Bình và cụ Phạm Thị Hân. Bà vốn là người con gái hiền hậu, đảm đang của cụ Bình.
Bà Thục Hằng lấy chồng muộn và không có con. Chồng Bà là ông Nguyễn Phi Hoanh, vốn là họa sĩ, là người miền Nam tập kết ra miền Bắc năm 1954. Năm 1975, ông Hoanh về lại quê mình ở miền Nam, bà không theo ông về Nam mà chọn ở lại quê nhà Do Lễ cùng các chị em gái. Bà mất năm 2001. Mộ bà được chôn cất tại khu sinh phần của gia đình họ Trần ở quê nhà Do Lễ.
==========================================================================
“Dân ta phải biết sử ta/Cho tường gốc tích nước nhà Việt Nam”
Nhân nói về ông Hoanh, chồng bà Hằng là người miền Nam tập kết ra Bắc, ta đi tìm hiểu một giai đoạn lịch sử của của nước Việt Nam để biết rõ hơn về những người “miền Nam tập kết ra Bắc” năm 1954.
1. Cách mạng tháng 8 và sự thành lập nước Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa:
Trước năm 1945, nước Việt Nam không hề xuất hiện dưới dạng một quốc gia độc lập trên bản đồ thế giới, mà chỉ là một vùng lãnh thổ. Nước Việt Nam lúc này có 2 phần: (i) xứ Nam Kỳ, gồm Sài Gòn-Gia Định và 6 tỉnh miền tây Nam Kỳ là vùng đất thuộc Pháp, do người Pháp nắm chính quyền (từ năm 1874 theo hòa ước Giáp Tuất); (ii) còn xứ Bắc Kỳ và xứ Trung Kỳ là nước Đại Nam thuộc triều đình quân chủ nhà Nguyễn với vị Hoàng Đế Bảo Đại (lên ngôi năm 1932) và đặt dưới sự bảo hộ của người Pháp (từ năm 1884 theo hòa ước Giáp Thân). Tuy nhiên người Pháp vẵn coi xứ Đông Dương bao gồm toàn bộ đất đai nước Việt Nam là thuộc địa của Pháp và áp đặt quyền cai trị theo kiểu “thuộc địa”
Chính vì vậy đại đa số nhân dân Việt Nam khi đó đều mong muốn đấu tranh với Pháp để Việt Nam trở thành một quốc gia độc lập do người Việt Nam nắm chính quyền. Ngay từ trước năm 1945, đã có rất nhiều các đảng phái chính trị đã ra đời để tập hợp nhân dân. Nổi bật là Đảng cộng sản Đông Dương, sau này là Việt Nam độc lập đồng minh hội (gọi tắt là Việt Minh) tập hợp đa số người lao động và các trí thức yêu nước. Ngoài ra còn có Việt Nam Quốc Dân đảng; đảng Đại Việt; đảng Lập Hiến, đảng Nam Phong, và nhiều hội kín được thành lập đều nhằm mục đích đánh đuổi người Pháp ra khỏi Việt Nam.
Khi chiến tranh thế giớp lần thứ 2 bùng nổ, năm 1940, Nhật Bản đem quân đến Việt Nam, đánh thắng Pháp và chính thức chấm dứt chế độ bảo hộ của Pháp ở Việt Nam. Tháng 3 năm1945 vua Bảo Đại tuyên bố Việt Nam độc lập (gồm xứ Bác Kỳ và Trung Kỳ). Nhà vua thành lập chính phủ do Trần Trọng Kim làm thủ tướng. Tuy nhiên lúc đó xứ Nam Kỳ vẫn chưa thuộc nước Việt Nam độc lập mà vẫn dưới quyền cai trị của người Nhật.
Chỉ đến tháng 8 năm 1945 khi chiến tranh thế giới thứ 2 kết thúc, Nhật Bản thua trận, chính thức đầu hàng đồng minh, từ bỏ quyền cai trị ở Việt Nam (bao gồm cả xứ Nam Kỳ). Cùng lúc đó, chính phủ của Trần Trọng Kim cũng từ chức trao lại quyền cho Ủy ban lâm thời. Chớp thời cơ, Việt Minh tiến hành cuộc cách mạng vĩ đại ngày 19 tháng 8 chiếm tất cả các cơ quan của chính quyền. Ngày 20 tháng 8 một cuộc biểu tình lớn được tổ chức trên toàn quốc, buộc vua Bảo Đại buộc thoái vị, chấm dứt chế độ quân chủ ở Việt Nam; và ngày 25 tháng 8 nhà vua trao quốc tỷ cho đại diện Việt Minh. Ngày 2 tháng 9 năm 1945, chủ tịch Hồ Chí Minh chính thức tuyên bố thành lập nước Việt Nam dân chủ cộng hòa tại quảng trường Bà Đình, Hà Nội, đánh dấu sự xuất hiện của tên gọi Việt Nam trên bản đồ chính trị quốc tế (bao gồm cả 3 miền Bắc, Trung, Nam) như một quốc gia độc lập.

Mặc dù từ tháng 3 năm 1946, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã ký với người Pháp Hiệp Định Sơ Bộ trong đó Pháp công nhận Việt Nam là một quốc gia tự do, tuy nhiên người Pháp trong lòng vẫn không muốn coi Việt Nam là một nước độc lập, mà vẫn âm mưu buộc Việt Nam trở lại chế độ thuộc địa Pháp như trước đây. Vì vậy, tháng 10 năm 1946 Pháp mang đại quân đánh chiếm Hải Phòng, sau đó tiến đánh Hà Nội. Đỉnh điểm là ngày 19/12/1946 chủ tịch Hồ Chí Minh buộc phải kêu gọi đồng bào toàn quốc kháng chiến, đứng lên chống lại quân Pháp, mở đầu thời kỳ kháng chiến chống Pháp 1946-1954.
Trong giai đoạn đầu của thời kỳ này (1946-1950), quân Pháp quá mạnh nên đã chiếm hầu hết các tỉnh đồng bằng Bắc Kỳ, và toàn bộ xứ Trung Kỳ và Nam Kỳ. Chính phủ nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa buộc phải rút lên vùng Việt Bắc tiến hành chiến tranh du kích. Đồng thời người Pháp lấy lý do là xứ Nam Kỳ trước đây vẫn thuộc Pháp nên tháng 10 năm 1947 đã thành lập nước Cộng hòa Tự trị Nam Kỳ, đến tháng 5 năm 1949 đổi tên thành Quốc gia Việt Nam do cựu Hoàng đế Bảo Đại làm quốc trưởng và (sau này) Ngô Đình Diệm làm thủ tướng.
Tuy nhiên, sau khi cách mạng Trung Quốc thành công năm 1950, với sự giúp đỡ của Trung Quốc cả về tinh thần lẫn vật chất, quân đội Việt Nam tiến hành phản công dần dần đánh bại quân Pháp trong các chiến dịch Biên giới, chiến dịch Tây Bắc, chiến dịch Trung Lào và đỉnh điểm là chiến dịch Điện Biên Phủ. Ngày 10 tháng 10 năm 1954, đại quân Việt Nam tiến về giải phóng Hà Nội chấm dứt giai đoạn chống Pháp 1946-1954.
Khi đó để giải quyết hòa bình về pháp lý cho toàn cõi Đông Dương, các cường quốc trên thế giới bao gồm Mỹ, Anh, Pháp, Liên Xô và Trung Quốc cùng với đại diện của 2 nước Việt Nam lúc đó là Việt Nam Dân chủ Cộng hòa (miền Bắc) và Quốc gia Việt Nam (miền Nam), cùng với Lào và Campuchia đã thống nhất tổ chức hội nghị hòa bình ở Geneve để đi đến ký kết Hiệp Định Geneve nổi tiếng vào tháng 7 năm 1954. Ngoài các quy định về lập lại hòa bình ở Việt Nam, Hiệp định còn quy định:
Sông Bến Hải, vĩ tuyến 17, được dùng làm giới tuyến quân sự chia Việt Nam làm hai vùng tập kết quân sự tạm thời. Quân đội Nhân dân Việt Nam tập trung về phía Bắc; Quân đội Liên hiệp Pháp (bao gồm cả quân đội Quốc gia Việt Nam) tập trung về phía Nam, chờ ngày tổng tuyển cử tự do dự kiến vào ngày 20 tháng 7 năm 1956. Hiệp định cho phép người dân ở mỗi phía di cư đến phía kia và yêu cầu phía quản lý tạo điều kiện cho họ di cư trong vòng 300 ngày sau thoả hiệp đình chiến. Hiệp định còn quy định: "Trong thời gian từ khi Hiệp định có hiệu lực đến ngày hoàn thành việc chuyển quân nếu có những thường dân ở một khu kiểm soát của bên này muốn sang ở vùng giao cho bên kia thì nhà chức trách của khu trên phải cho phép và giúp đỡ sự di chuyển đó."
Do có những quy định như trên, từ cuối năm 1954, bắt đầu một cuộc di dân khổng lồ ở Việt Nam. Khoảng 1 triệu người miền Bắc di cư vào Nam, đa số là những người làm việc cho Pháp, hay giới tư sản không có cảm tình với chính phủ Việt Minh. Họ ra đi vì sợ bị Việt Minh trả thù và những người công giáo, cho rằng họ đã bị đàn áp tôn giáo dưới chính quyền Việt Nam Dân chủ Cộng hòa. Cùng lúc đó, khoảng 2 trăm ngàn người miền Nam di cư ra Bắc. Đa số những người tập kết ra Bắc là những cán bộ, quân đội kháng chiến của Việt Minh và gia đình của họ, hoặc cư dân có cảm tình với Việt Minh. Rất nhiều văn nghệ sĩ, thành viên Việt Minh hoặc Đảng viên Đảng Cộng sản Việt Nam cũng đi theo tập kết. (Trong số các văn nghệ sĩ đó có họa sĩ Nguyễn Phi Hoanh, sau này là chồng bà Trần Thục Hằng).
Tuy nhiên, việc tổng tuyển cử đã không được tiến hành như quy ước. Nước Mỹ lúc đó nhận thấy rằng chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa sẽ đi theo đường lối cộng sản và điều đó là đối nghịch với đường lối của Mỹ. Đồng thời theo báo cáo của CIA cho Tổng thống Mỹ lúc bấy giờ là Eisenhower rằng khoảng 80% dân số Việt Nam sẽ bầu cho Hồ Chí Minh nếu cuộc tổng tuyển cử được thi hành. Người Mỹ khi đó đã nhanh chóng viện trợ cho Quốc gia Việt Nam ở miền Nam và vận động trưng cầu dân ý. Sau cuộc trưng cầu dân ý (ở miền Nam), tháng 10 năm 1955 Quốc trưởng Bảo Đại bị phế truất, Ngô Đình Diệm lên làm Tổng thống. Quốc gia Việt Nam tổ chức bầu cử Quốc hội Lập hiến. Quốc hội này ban hành Hiến pháp thành lập nước Việt Nam Cộng hòa trên cơ sở kế thừa Quốc gia Việt Nam, thủ đô là thành phố Sài Gòn.


Bản đồ Việt Nam qua từng thời kỳ
Bản đồ Việt Nam năm 1955 - 2 nước Việt Nam
Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa (miền Bắc) có 35 tỉnh thành
Việt Nam Cộng Hòa (miền Nam) có 35 tỉnh thành

Bản đồ Việt Nam năm 1975 – sau khi thống nhất thành 1 nước Việt Nam (có 38 tỉnh thành)
Bắc Bộ có 13 tỉnh và 2 thành phố:
Trung Bộ có 10 tỉnh:
Nam Bộ có 12 tỉnh và 1 thành phố:

Bản đồ Việt Nam trước tháng 7 năm 2025 (có 63 tỉnh thành)

Ta có thể nhận thấy 29 tỉnh quen thuộc sau đây đã không còn tên trên bản đồ mới nữa: Yên Bái, Hà Giang, Bắc Cạn, Hòa Bình, Bắc Giang, Hải Dương, Thái Bình, Hà Nam, Nam Định, Quảng Bình, Quảng Nam, Kon Tum, Bình Định, Phú Yên, Tuy Hòa, Đak Nông, Ninh Thuận, Bình Thuận, Bình Phước, Bình Dương, Bà Rịa-Vũng Tàu, Long An, Tiền Giang, Bến Tre, Trà Vinh, Kiên Giang, Hậu Giang, Bạc Liêu, Sóc Trăng


Đời thứ 5
“Dân ta phải biết sử ta/Cho tường gốc tích nước nhà Việt Nam”
Nhân nói về nước quân chủ, vậy nhà nước quân chủ là gì?
Nhà nước quân chủ là hình thức chính thể trong đó người đứng đầu nhà nước là vua hoặc nữ hoàng, và quyền lực thường được kế thừa theo dòng dõi cha truyền con nối.
Chế độ quân chủ ở Việt Nam kéo dài hơn 1000 năm, trải qua nhiều triều đại như Nhà Ngô, Nhà Đinh, Tiền Lê, Lý, Trần, Hồ, Hậu Lê, Mạc, Tây Sơn và cuối cùng là Nhà Nguyễn.
Ngô Quyền được coi là vị vua đầu tiên của một nhà nước quân chủ tập quyền độc lập ở Việt Nam sau chiến thắng quân Nam Hán trên sông Bạch Đằng năm 938.
Triều đại quân chủ cuối cùng ở Việt Nam là Nhà Nguyễn, kết thúc khi Hoàng đế Bảo Đại thoái vị vào ngày 30 tháng 8 năm 1945.
Về Hoàng đế Bảo Đại, từ lâu nay, chúng ta thường được nghe khá nhiều về các ông hoàng bà chúa ở Việt Nam. Trong số đó, có vua Bảo Đại – hoàng đế cuối cùng của chế độ quân chủ Việt Nam. Bảo Đại thường được ghi vào tâm thức người Việt lâu nay là một ông vua bù nhìn, bất tài và chỉ mải mê trong những lạc thú thường ngày. Một ông vua của một nước đang bị giặc đô hộ, con dân trong vòng xiết, đang phải sống cơ cực lầm than. Ấy vậy, mà ông vua đó đã trốn tránh trách nhiệm của bản thân, sống một cuộc sống hèn hạ, tiểu nhân, nhận bổng lộc của Pháp để tiêu pha từ xương máu của nhân dân. Đó là những gì mà chúng ta được nghe về ông vua này.
Nhưng sự thực có hoàn toàn như vậy không? Ta hãy ngược dòng lịch để nhìn ông dưới một con mắt khác
Cuộc đời của ông vua cuối cùng nhà Nguyễn cùng chế độ quân chủ ở nước ta đã trải qua nhiều biến cố lịch sử để rồi tên tuổi hằn sâu trong những trang sử của dân tộc. Cái ngày vua Bảo Đại đăng quang hoàng đế là cột mốc để ông trở thành một chứng nhân lịch sử. Giây phút đó đã cũng cuốn ông vào những vòng xoáy không thể nào thoát ra được.

Ngay từ đầu vua Bảo Đại đã khác với các ông vua trước đó. Được học tập ở Pháp từ nhỏ nên có chất tây chi phối con người và suy nghĩ của vị vua này.
Việc vua Bảo Đại lấy vợ cho thấy tư tưởng đổi mới của ông lúc bấy giờ. Cả triều đình phản đối nhà vua cưới vợ là bà Nguyễn Hữu Thị Lan (Nam Phương hoàng hậu sau này), vì bà Tây quá, không phù hợp với triều đình phong kiến, nhà vua nổi giận nói “Trẫm cưới vợ cho trẫm hay cưới vợ cho triều đình”. Vua Bảo Đại là người không bị các lễ nghi phong kiến bó buộc mà có tư tưởng thoáng hơn trong hôn nhân.
Ông lên ngôi khi đất nước đã nằm trong vòng bảo hộ, khi ngai vàng chỉ còn là cái bóng của một quyền lực đã mất. Nhưng Bảo Đại không chọn an phận. Từ rất sớm, ông hiểu rằng triều đình Huế đã trở nên lạc hậu. Vì vậy, ông đã cố gắng thực hiện rất nhiều cải cách. Ông bãi bỏ lối quỳ lạy, yêu cầu quan lại bắt tay khi chào vua – cử chỉ nhỏ nhưng là dấu hiệu của một tinh thần mới.
Ông phế bỏ chế độ thái giám, giải tán tam cung lục viện, trả tự do cho hàng ngàn cung nữ từng bị giam hãm cả đời sau bức tường son.
Ông mời các trí thức Tây học như Phạm Quỳnh, Trần Trọng Kim, Ngô Đình Diệm… vào triều, thay thế lớp quan lại già nua, mở ra một luồng gió cải cách chưa từng có dưới mái điện Thái Hòa.
Tuy những cải cách ấy không cứu được triều Nguyễn, nhưng cứu được nhân cách của một nhà vua.
Giữa giai đoạn mà quyền lực không còn thuộc về Huế, Bảo Đại vẫn chọn cách giữ lấy lòng tự trọng của dân tộc.
Tháng Ba năm 1945, khi Nhật đảo chính Pháp, ông tuyên bố Việt Nam độc lập. "Tuyên cáo Việt Nam độc lập" do Bảo Đại ký có nội dung chính là tuyên bố hủy bỏ Hòa ước Patenôtre ký với Pháp năm 1884, thống nhất Bắc Kỳ, Trung Kỳ và Nam Kỳ, bãi bỏ các hiệp ước bảo hộ và bất bình đẳng với Pháp trước đây.

Những điều trên chứng tỏ vua Bảo Đại là một ông vua có tấm lòng yêu nước. Tuy nhiên, trong bối cảnh lúc bấy giờ, thực dân Pháp không cho vị vua này thực hiện những kế hoạch và dự định của mình. Ông cô quạnh, bơ vơ trước dòng xoáy của lịch sử.
Và khi Cách mạng Tháng Tám thành công, ngày 23 tháng 8 năm 1945 tại Huế, Việt Minh vận động quần chúng nhân dân tiến vào đại nội, gây áp lực buộc vua Bảo Đại phải thoái vị. Người Nhật cho quân bao vây kinh thành Huế để bảo vệ ông. Tuy nhiên, ông đã khước từ sự giúp đỡ từ người Nhật. Ông nói: “tôi tuyệt đối khước từ sự bảo vệ của ông. Tôi ra lệnh cho ông bãi bỏ hệ thống phòng vệ vì tôi không muốn một quân đội ngoại quốc làm đổ máu dân tộc tôi.” Điều này chứng tỏ, vua Bảo Đại đã gác bỏ lợi ích của cá nhân, của dòng họ đặt lợi ích của dân nhân, dân tộc trên hết, không muốn vì mình và con dân phải đổ máu. Ông và người em họ của mình là Vĩnh Cẩn đã soạn thảo chiếu thoái vị. Ngày 30 tháng 8 năm 1945, Ông đọc chiếu thoái vị và trao ấn kiếm cho Trần Huy Liệu. Ông trở thành công dân Vĩnh Thụy, được chủ tịch Hồ Chí Minh mời ra Hà Nội để làm cố vấn cấp cao của chính phủ lâm thời.
Ông có câu nói khiến hậu thế mãi nhớ “Thà làm dân một nước tự do còn hơn làm vua một nước nô lệ.”
Câu nói ấy, dù trong thời khắc tàn triều, vẫn sáng như một ngọn đuốc của nhân phẩm.
Sau đó, ông không trốn chạy lịch sử, mà nỗ lực tái thiết một Quốc gia Việt Nam độc lập, vận động Pháp trả sáu tỉnh Nam Kỳ, lập Hiến pháp, Ngân hàng Quốc gia, Trường Võ bị Đà Lạt, và mở rộng ngoại giao với hơn mười quốc gia trên thế giới.
Ông là người đã chọn đầu số (+84) cho Việt Nam khi gia nhập Liên hiệp Viễn thông quốc tế năm 1952 – một chi tiết nhỏ, nhưng biểu tượng cho sự tồn tại chính danh của quốc gia Việt Nam trên bản đồ thế giới.
Điều đáng quý hơn cả, là trong suốt 20 năm trị vì, ông chưa từng làm đổ máu một người dân Việt nào.
Ông là vị vua cuối cùng của một triều đại, nhưng lại là người đầu tiên chọn con đường ôn hòa giữa thời đại đầy bạo lực.
Nhiều người trách ông yếu đuối, nhưng có lẽ trong sự yếu đuối đó là sức mạnh của lòng nhân hậu, là niềm tin rằng dân tộc này sẽ còn bước tiếp, không cần thêm những vết thương.
Khi ông rời ngai vàng, cánh cửa triều Nguyễn khép lại, nhẹ thôi – như bàn tay khép một cuốn sách đã đến trang cuối.
Nhưng trong im lặng ấy, vẫn còn vang vọng một điều: Lịch sử có thể nghiêm khắc, nhưng lòng nhân luôn biết ghi ơn.
Bảo Đại không để lại một đế nghiệp, nhưng để lại một bài học về cách kết thúc trong nhân cách.
Và có lẽ, cũng vì vậy mà người đời sau vẫn nhớ đến ông không phải như vị vua cuối cùng – mà như người đóng cánh cửa triều Nguyễn bằng đôi tay sạch máu và một trái tim còn sáng.

Câu chuyện về cặp ấn kiếm nhà Nguyễn
Cặp ấn kiếm này tượng trưng cho quyền lực của triều đình, được Vua Bảo Đại trao cho phái đoàn đại diện Chính phủ Lâm thời Việt Nam Dân chủ Cộng hòa trong buổi lễ thoái vị ngày 30/8/1945 tại Huế.
Khi Chính phủ Lâm thời rời Hà Nội để rút ra chiến khu năm 1946, ấn kiếm được chôn ở một nơi nào đó. Cuối năm 1951, trong lúc đào đất xây dựng công trình quân sự ở ngoại ô Hà Nội, một đơn vị quân đội Pháp tìm thấy một thùng dầu hỏa bằng sắt, bên trong có một cái ấn nặng 280 lạng vàng ròng và một thanh kiếm bị gãy làm đôi.
Ngày 8/3/1952, người Pháp tổ chức lễ trao lại ấn kiếm cho cựu hoàng Bảo Đại, lúc đó đang là Quốc trưởng Quốc gia Việt Nam, nhưng ông Bảo Đại không có mặt trong buổi lễ. Sau đó, ấn kiếm được chở bằng phi cơ về Ban Mê Thuột cho ông Bảo Đại.
Năm 1953, vì tình hình bất an trong nước, ông Bảo Đại nhờ thứ phi Mộng Điệp đem sang Pháp giao cho Hoàng hậu Nam Phương cất giữ. Bà Mộng Điệp (người tinh của Bảo Đại) cho hàn lại thanh kiếm bị gãy và đem cặp ấn kiếm đến biệt thự Thorenc trao lại cho Hoàng hậu Nam Phương.
Sau khi Hoàng hậu Nam Phương mất năm 1963, cặp ấn kiếm do Bảo Long (con trai trưởng của cựu hoàng Bảo Đại) cất giữ.
Trong thập niên 1980, xảy ra tranh chấp giữa Bảo Long và cựu hoàng Bảo Đại vì cặp ấn kiếm nhà Nguyễn. Khi Bảo Đại viết hồi ký Con rồng An Nam, muốn mượn chiếc ấn để đóng vào sách. Bảo Long, từ lâu không liên lạc với cha, không ưng thuận. Sự việc được đưa ra tòa án để giải quyết. Cuối cùng, tòa xử giao chiếc ấn cho ông Bảo Đại, Bảo Long được giữ thanh kiếm.

Đời thứ 5
…. Ông Trần Tán Nhiệt (1905 – 1961) là con trai của cụ Trần Tán Bình và cụ Phạm Thị Hân. Ông vốn là người thông minh, học giỏi, là người chồng, người cha mẫu mực trong gia đình.
Ông Nhiệt được cụ Trần Tán Bình cho theo học trường Bưởi ở Hà Nội, sau được cụ cho sang Pháp học nghề luật. Sau khi về nước, ông được chính quền Pháp lúc bấy giờ bổ vào làm việc ở Sài Gòn. Sau năm 1955, ông được chính quyền Việt Nam Cộng Hòa bổ lên Tây Nguyên làm chánh án tòa án Pleicu. Ông mất ở Pleicu năm 1961. Mộ ông hiện ở nghĩa trang thành phố Pleicu. Ông Tán Nhiệt có 2 bà vợ. Vợ đầu là bà Đặng Thị Núi, có 4 người con, 2 con trai là Trần Tấn Hậu (nhạc sỹ Y Vân) và Trần Gia Hội (nhạc sỹ Y Vũ); và 2 người con gái là Trần Thúy Hưng và Trần Thị Minh Hoan. Vợ sau của ông là bà Nguyễn Thị Ẩm (cùng quê Do Lễ), có 4 người con, 3 con trai là Trần Tán Long, Trần Tán Xuất, Trần Tán Động và 1 người con gái là Trần Thị Thế.

Đời thứ 5
…. Ông Trần Tán Nhân (1915 – 1945) là con trai của cụ Trần Tán Bình và cụ xx [chưa rõ tên].
Ông Tán Nhân được cụ Trần Tán Bình cho theo học trường Bưởi ở Hà Nội, ra trường có thời gian đi làm ty rượu cho người anh trai cả là ông Tán Duyên ở Yên Mô, Ninh Bình. Vợ ông là bà Nguyễn Thị Lân, vốn là con gái của gia đình họ Nguyễn ở phủ Khoái Châu, Hưng Yên, từng làm Án sát của tỉnh Hưng Yên. Ông Tán Nhân mất khoảng năm 1945. Mộ ông được mai táng tại khu sinh phần của gia đình họ Trần ở quê nhà Do Lễ. Ông Tán Nhân có 3 người con trai là Trần Tán Thuần, Trần Tán Ninh, Trần Tán Hạnh và 2 người con gái là Trần Thúy Tâm Hồi và Trần Thị Bích Liễu.
Hôm nay, ngày mùng Bốn tháng Một (4/11), là ngày giỗ ông Trần Tán Duyên, trưởng nam của cụ Trần Tán Bình.

Đời thứ 5
… Ông Trần Tán Duyên (1900 – 1984) (còn gọi là ông cả Duyên/ông Phán Duyên) là con trai trưởng của cụ Trần Tán Bình và vợ là cụ Trần Thục Liên. Ông nổi tiếng là người thông minh, tài giỏi và khí phách của gia tộc họ Trần – Do Lễ. Ông thông thạo tiếng Pháp, từng theo học và đỗ Tú Tài loại ưu tú ở trường Bưởi, và được triều đình nhà Nguyễn và chính quyên Pháp bổ làm Thông Phán tỉnh Thái Bình [có lẽ do vậy mà mọi người hay gọi ông là ông Phán Duyên]. Sau này, vì mâu thuẫn với các quan lại của tỉnh Thái Bình, ông rời bỏ chính quyền, đưa cả gia đình về Yên Mô, Ninh Bình làm ăn, mở ty rượu, trở nên giàu có tiếng trong vùng. Khi cụ thân sinh ra ông [cụ Trần Tán Bình] ốm rồi mất năm 1937, ông bán hết tài sản ở Yên Mô, mang toàn bộ tiền của về quê nhà Do Lễ, tậu đất, xây nhà, mua ruộng vườn, xây cất nhà thờ tổ, khu sinh phần dòng họ, sửa sang đường làng, ngõ xóm. Ông trở thành đại địa chủ, nổi tiếng về giàu có, giỏi giang và đức độ ở Phủ Vạn Điểm. Vợ ông là bà Bùi Thị Thi, là con gái cụ Bùi Hướng Thành, vốn là bạn học của cụ Trần Tán Bình, quê ở Châu Cầu, Hà Nam, từng làm tuần phủ Sơn Tây. Ông Tán Duyên và bà Thị Thi có 4 người con xuất sắc, 2 con trai là Trần Tán Dực, Trần Tán Hồng và 2 con gái là Trần Thị Hiển, Trần Thị Từ. Từ sau cải cách ruộng đất năm 1954, ông bà về Hà Nội sinh sống. Ông mất ở Hà Nội năm 1984. Mộ ông được mai táng trong khuôn viên khu sinh phần của gia đình họ Trần, ở quê nhà Do Lễ
-------------------
“Dân ta phải biết sử ta/Cho tường gốc tích nước nhà Việt Nam”
Về giai đoạn Cải cách ruộng đất 1953-1956 ở Việt Nam
Trở lại câu chuyện của ông Trần Tán Duyên. Ông vốn là đại địa chủ, nhà to nhất vùng, sở hữu hàng ngàn mẫu ruộng ở Phủ Vạn Điểm. Sau cải cách ruộng đất năm 1954, gia đình mất hết, tay trắng rời quê hương, về Hà Nội sinh sống. Sau này Ông có kể lại rằng (nguyên văn như sau): “Có một tối, khoảng cuối năm 1954, ông Lập [ông Trần Tán Lập, em họ ông ở Hà Nội] về quê Do Lễ bảo với ông “Anh Chị phải lên Hà Nội ngay, không ngày mai dân quân ở xã chúng nó sẽ đến bắt, đấu tố, rồi treo cổ Anh Chị vì anh chị là địa chủ đấy!”. Ông có bảo lại ông Lập: “Nhà tôi có thằng Tâm [bác Tâm, con rể], thằng Hồng [bác Hồng, con trai] theo cách mạng từ 10 năm nay. Tài sản của tôi là do tôi tự làm ăn mà có, có ăn cướp của ai đâu mà sợ”. Ông Lập lại bảo “Em vừa từ Thanh Hóa ra, trong ấy họ đấu tố rồi giết hết tất cả địa chủ rồi, bất kể ai có công với cách mạng hay không”. Thế rồi ngay trong đêm tháng Chạp rét mướt đó, ông thuê 2 người đầy tớ khỏe mạnh cõng Ông và Bà ra bãi sông Hồng, đi đò qua ngả Hưng Yên, rồi theo đường số 5 về Hà Nội, ở tạm nhà ông Lập, vì lúc đó đường chính từ quê về Hà Nội đã bị dân quân canh gác. Ông Bà không mang theo được gì, ngoài mấy lạng vàng và vài bộ quần áo. Và rồi mọi việc xảy ra đúng như ông Lập đã nói. Ngày hôm sau, dân quân xã kéo đến nhà, tịch thu hết nhà cửa ruộng vườn. Mãi sau này, khi Chính Phủ tiến hành “sửa sai” mới chia lại cho thằng Hồng một gian nhà nhỏ và mảnh vườn ở quê vì đã có công tham gia cách mạng”.
Vậy, Cải cách ruộng đất là gì?
Lâu nay học môn lịch sử chúng ta đều biết, sau khi hòa bình lập lại ở miền Bắc năm 1954, Chính Phủ nước Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa đã tiến hành chương trình cải cách ruộng đất, lấy ruộng của nhà giàu chia cho người nghèo!
Nhưng để hiểu kỹ hơn, ta hãy ngược dòng lịch sử:
Luật cải cách ruộng đất (CCRĐ) được ban hành ngày 19/12/1953 có ghi rõ:
“Điều 1. – Mục đích và ý nghĩa cải cách ruộng đất
là:
Thủ tiêu quyền chiếm hữu ruộng đất của thực dân Pháp và của đế quốc xâm lược
khác ở Việt Nam, xoá bỏ chế độ phong kiến chiếm hữu ruộng đất của giai cấp địa
chủ,
Để thực hiện chế độ sở hữu ruộng đất của nông dân,
Để giải phóng sức sản xuất ở nông thôn, đẩy mạnh sản xuất nông nghiệp và mở đường
cho công thương nghiệp phát triển,
Để cải thiện đời sống của nông dân, bồi dưỡng lực lượng của nhân dân, lực lượng
của kháng chiến,
Để đẩy mạnh kháng chiến, hoàn thành giải phòng dân tộc, củng cố chế độ dân chủ
nhân dân, phát triển công cuộc kiến quốc.”

Công cuộc CCRĐ không chỉ xảy ra trong một thời điểm ngắn, mà kéo dài từ 1953 đến 1956, tức khoảng 4 năm qua 5 giai đoạn. Những người chủ trương CCRĐ làm có vẻ rất bài bản và có hệ thống. Khởi đầu là vận động và chuẩn bị hậu thuẫn của quần chúng, sau đó là ra sắc lệnh, rồi làm thí điểm, và vào cuộc ồ ạt.
Kết quả và sai lầm
Có nhiều câu chuyện được kể lại rằng: "chiến dịch được chia thành nhiều “đợt”:
1. Phân loại giai cấp: Mỗi làng phải chia dân thành 5 hạng: Địa chủ, Phú nông, Trung nông, Bần nông, Cố nông
Chỉ tiêu “địa chủ” được ấn định sẵn từ trên xuống (thường 5% dân số), buộc cán bộ phải “tìm cho đủ”.
2. Đấu tố công khai: Mỗi làng lập “Tòa án nhân dân”. Người bị quy là địa chủ bị trói, quỳ, bị đánh đập, sỉ nhục trước dân, và bị ép “thú nhận tội bóc lột nhân dân”. Ai phản đối sẽ bị quy là “bênh vực phản động” và bị bắt.
3. Thi hành án: Hàng chục ngàn người bị xử bắn công khai tại sân đình, có khi chỉ vì sở hữu vài mẫu ruộng hay từng cho hàng xóm vay thóc. Ruộng, trâu, đồ đạc, thậm chí quần áo và mền chiếu đều bị tịch thu chia lại. Gia đình bị quy sai giai cấp bị đày ải, cắt khẩu phần, cấm con cái học hành.
Có nhà văn nói “Sau cải cách ruộng đất, miền Bắc không còn niềm tin giữa người với người. Hận thù được gieo xuống từng thôn xóm.”
Cải cách ruộng đất 1953–1956 không chỉ là một sai lầm chính sách, mà là một thảm họa nhân đạo. Dưới danh nghĩa “giải phóng nông dân”, hàng chục nghìn người vô tội bị giết, hàng triệu người khác sống trong sợ hãi và oán hận.
Lịch sử thế giới ngày nay – kể cả các học giả Mỹ, Pháp, Trung Quốc – đều thống nhất rằng:
“Đó là chương đẫm máu và đau thương nhất của cách mạng Việt Nam, khi con người bị buộc phải giết nhau nhân danh công lý.”

Tổng Bí Thư Đảng, Trường Chinh, người phải gánh trách nhiệm nặng nhất, đã phải từ chức Tổng Bí thư.
Năm 1956, cụ đã gửi thư cho đồng bào nông thôn và cán bộ nói rõ thắng lợi và sai lầm của cải cách ruộng đất. Cụ khẳng định cải cách ruộng đất là thắng lợi to lớn, nhưng đã mắc những khuyết điểm, sai lầm. Cụ viết: “Ai bị vạch sai lên thành phần địa chủ, phú nông cần phải vạch lại cho đúng.
Đảng viên cán bộ và nhân dân, ai đã bị xử trí sai thì cần phải khôi phục đảng tịch quyền lợi và danh dự cho họ.
Đối với địa chủ, thì phải đối xử theo đúng với 8 điều quy định, phải chiếu cố những địa chủ kháng chiến, ủng hộ cách mạng, và địa chủ có con là bộ đội cán bộ.
Những nơi đã nâng diện tích hoặc sản lượng quá mức cần phải điều chỉnh lại cho đúng.
Việc sửa chữa phải kiên quyết và có kế hoạch. Việc gì sửa được ngay thì phải làm ngay. Việc gì chưa sửa được ngay thì phải kết hợp trong kiểm tra lại mà làm.
Dù sao thì lịch sử đất nước cũng không thể tránh khỏi những đau thương mất mát sau một cuộc chiến tranh, nhất là khi có một bên thắng và một bên thua. Nhưng ở đây là câu chuyện là về “hàn gắn dân tộc”. Cụ Hồ Chí Minh là người lãnh tụ vĩ đại, người biết hàn gắn mọi người Việt Nam để chúng ta trở nên mạnh mẽ hơn. Nếu như cụ phát hiện sớm các sai lầm trong CCRĐ, và “sửa sai” sớm hơn, thì đã không có cuộc di dân hơn 1 triệu người miền Bắc vào Nam, trong số đó đa phần là những người con ưu tú. Và nhiều người cũng nói rằng, giá như năm 1975 cụ còn sống, thì đã không sảy ra câu chuyện hơn 3 triệu người dân ưu tú Việt Nam từ bỏ đất nước ra đi. Bởi vì chỉ có cụ mới là người có thể hòa hợp dân tộc sau chiến tranh.
--------------------
Bài học của nước Mỹ về hàn gắn dân tộc sau cuộc chiến tranh Nam-Bắc Mỹ
Tháng 4 của nước Mỹ là một ngày tháng đáng lưu ý của lịch sử. Cuộc nội chiến Nam - Bắc Mỹ bắt đầu vào ngày 12 tháng 4-1861. Bốn năm sau vào ngày 9 tháng 4-1865, tướng Lee của miền Nam đầu hàng tướng Grant của miền Bắc.
Sau chiến tranh dành độc lập, mười ba xứ thuộc địa Bắc Mỹ thắng Anh quốc trở thành Hoa Kỳ với tổng thống Washington thì tiếp theo đến trận nội chiến chia đôi Nam Bắc là một vết thương đau đớn nhất.
Câu chuyện tại làng Appomattox.
Ngày 9 tháng 4 năm 1865, tướng Lee của quân đội miền Nam đầu hàng Tướng Grant của quân đội miền Bắc, đánh dấu kết thúc cuộc nội chiến Hoa Kỳ đã làm hơn 7 trăm ngàn người thiệt mạng. Sở dĩ gọi là chiến tranh Nam Bắc là vì cuộc chiến diễn ra giữa hai phe: phe miền Bắc (còn gọi là phe liên bang) đứng đầu là Tổng thống Lincoln chủ trương xóa bỏ buôn bán nô lệ người da đen và phe miền Nam chống lại chủ trương này.
Quân chính phủ miền Bắc gọi là quân đội Potomac, lấy tên của dòng sông diễm lệ chạy qua thủ đô. Các tiểu bang miền Nam sống về canh nông quyết đòi giữ lại chế độ nô lệ để khai thác cho nông nghiệp. Tổng thống miền Nam là ông Davis. Thủ đô là Richmond và quân đội do tướng Lee chỉ huy được gọi là quân đội Virginia.
Cuộc chiến Nam Bắc của Mỹ thường được nhắc tới qua những trận đánh đẫm máu giữa quân đội của hai phe: quân miền Bắc do tướng Grant chỉ huy và quân miền Nam do tướng Lee cầm đầu. Tuy tướng Lee đã nhiều lần tấn công và gây tổn thất khá nặng cho đội quân của tướng Grant nhưng quân miền Bắc được sự hỗ trợ to lớn từ ngân sách liên bang và chiêu mộ được thêm nhiều quân số từ những người nô lệ da đen vừa được giải phóng nên cuối cùng quân miền Nam của tướng Lee phải chấp nhận thua trận. Trong trận đánh cuối cùng, quân miền Bắc chiếm được Richmond là thủ đô của miền Nam vào ngày 2 tháng 4-1865.
Đã có những lời khuyên tướng Lee nên chia nhỏ quân của mình ra và tiến hành đánh du kích nhưng tướng Lee đã nói: nếu cứ tiếp tục chiến tranh gây bao chết chóc thì tội của tôi đáng chết gấp ngàn lần. Ông đã nhắn cho tướng Grant là ông chuẩn bị đầu hàng. Tướng Grant nhắn lại, đề nghị tướng Lee chọn địa điểm bàn thảo việc qui hàng. Và căn nhà của một người buôn bán tên là Wilmer Mc. Lean tại làng Appomattox đã được chọn. Ngày nay ngôi nhà này trở thành di tích lịch sử quốc gia, và được gọi là Appomattox Court House.
Đến ngày hẹn, tướng Lee bận một bộ lễ phục mới tinh và đeo kiếm, còn tướng Grant xuất hiện muộn hơn trong bộ đồ tác chiến thường ngày còn dính bùn đất hành quân. Hai người ngồi trong phòng khách của ông Mc. Lean và hàn huyên thân mật về những kỷ niệm quân ngũ trong cuộc chiến tranh Mexico. Câu chuyện lâu đến nỗi tướng Lee sốt ruột, chủ động đề cập đến “mục đích buổi gặp gỡ của chúng ta ngày hôm nay là bàn về việc đầu hàng”. Tướng Grant bèn lấy cây bút chì và tờ giấy viết vội những điều khoản và trao cho tướng Lee, trong đó có những nội dung nói về binh lính miền Nam:
1. Không bị coi là phản quốc và không phải ở tù.
2. Chính phủ coi binh lính miền Nam là những công dân bình thường nếu họ chấp hành tốt luật lệ.
3. Được mang ngựa và lừa về nhà để giúp gia đình cày cấy vào mùa xuân.
Sau khi xem qua những điều tướng Grant vừa viết, tướng Lee nói: “Những điều này sẽ có tác động tốt đến quân sĩ của tôi. Chúng sẽ góp phần quan trọng trong việc hòa giải dân tộc chúng ta.” Tướng Lee cho biết ông sẽ trao trả những tù binh miền Bắc vì ông không có đủ lương thực cho họ. Tướng Grant đáp lại rằng ông sẽ gửi ngay cho binh lính miền Nam 25.000 phần lương thực khô. Ông cũng ra lệnh cho in 28.231 giấy phóng thích cho binh lính miền Nam.
Khi tin phe miền Nam đầu hàng bay đến doanh trại, quân miền Bắc định bắn đại pháo chào mừng. Tướng Grant ra lệnh ngưng ngay lập tức các hoạt động ăn mừng. Ông nói với các sĩ quan dưới quyền: “Chiến tranh đã kết thúc. Giờ đây họ đã là đồng bào của chúng ta”. Ông cho rằng hai bên không còn là kẻ thù, và cách tốt đẹp nhất để bày tỏ niềm vui của miền Bắc là không vui mừng trước thất bại của miền Nam.
Ngày 12 tháng 4 năm 1865, quân đội của tướng Lee tiến vào ngôi làng Appomattox để giao nộp vũ khí. Tướng Joshua L.Chamberlain của miền Bắc được chỉ định tiếp nhận binh sĩ qui hàng. Trước hàng quân miền Bắc nghiêm chỉnh, ông nhìn những binh sĩ miền Nam bại trận đi vào làng với cảm xúc dâng trào. Sau này ông viết lại: “Giây phút đó làm tôi thực sự xúc động. Tôi quyết định đánh dấu sự kiện này bằng một hành động, không gì khác hơn là giơ tay chào kiểu nhà binh. Tôi biết có người sẽ chỉ trích tôi về cử chỉ này. Tôi đã không xin phép và cũng không yêu cầu sự tha thứ về hành động này. Đối diện với chúng tôi là những chiến binh, bại trận nhưng can trường, là biểu tượng cho tinh thần trượng phu, không rã rời, không đau khổ, bất chấp hy sinh và không có gì khuất phục được họ. Giờ đây, họ là những người ốm yếu và đói khát, nhưng họ hiên ngang nhìn thẳng vào chúng tôi, làm sống dậy những ràng buộc thiêng liêng cao cả hơn bao giờ hết. Không có lý do gì để những đấng nam nhi ấy không được hội nhập vào Hợp Chủng Quốc vững vàng của chúng ta.”
Sau đó tất cả hàng ngũ quân miền Bắc thắng trận từ đơn vị này đến đơn vị khác đều nghiêm chỉnh giơ tay chào kiểu nhà binh. Vị tướng dẫn đầu đoàn quân miền Nam đầu cúi xuống trong buồn bã, chợt nhận ra và ngồi thẳng lại trên lưng ngựa, giơ tay chào đáp lễ. Ông ra lệnh cho các đơn vị theo sau tuân theo nghi lễ quân sự khi đi ngang qua đoàn quân miền Bắc. Không có kèn thắng trận, không có tiếng trống, tiếng hô, tiếng reo hò mừng chiến thắng, không một lời nói hay tiếng xì xầm… Một sự im lặng đến nghẹt thở.
Từ sáng sớm đến chiều tối, những người lính miền Nam đều giơ tay chào khi đi ngang qua hàng quân miền Bắc cũng đang giơ tay chào. Họ giao nộp vũ khí, những lá cờ trận rách tơi tả của miền Nam và trở về quê. Gần 100.000 quân miền Nam đã qui hàng ở làng Appomattox. Vài ngày sau tất cả rời khỏi nơi này, ngôi làng trở lại cuộc sống bình thường.
Tướng Lee và tướng Grant đã đi vào lịch sử như những huyền thoại. Nhưng đằng sau câu chuyện ở làng Appomattox là bàn tay đạo diễn của Tổng thống Abraham Lincoln, lẽ đương nhiên cũng là một nhân vật huyền thoại. Ông thường nói rằng ông mong muốn cuộc chiến kết thúc trong sự khoan dung. Ông Ron Wilson nói rằng Tổng thống Lincoln và tướng Grant đã gặp nhau hai tuần trước đó trên chiến hạm River Queen ở sông James. Họ đã thảo luận rất lâu về hình thức kết thúc chiến tranh và những xáo trộn có thể xảy ra trong thời kỳ hậu chiến. Tổng thống Lincoln đã nói với tướng Grant: “Hãy để họ buông súng một cách thoải mái”.

Bài học từ câu chuyện đầu hàng.
Trong cuộc nội chiến tại nước Mỹ vào thế kỷ 19, sau cùng được thua thì cũng vẫn là nước Mỹ và người Mỹ.
Chiến thắng của miền Bắc đặt dấu chấm hết cho Liên minh miền Nam cũng như chế độ nô lệ Hoa Kỳ, và làm tăng cường vai trò của chính phủ liên bang. Các vấn đề xã hội, chính trị, kinh tế và chủng tộc của cuộc Nội chiến đã có vai trò quyết định trong việc định hình Thời kỳ Tái thiết, kéo dài đến năm 1877.
Sau bản tuyên ngôn giải phóng nô lệ của Lincoln, khoảng 190 nghìn dân nô lệ tình nguyện tòng quân, quân số của miền Bắc lên gấp bội. Trong khi đó miền nam không dám cho nô lệ nhập ngũ vì sợ đi ngược lại chính sách nô lệ của mình. Quân da đen miền Bắc chiến đấu anh dũng trong nhiều trận then chốt của cuộc nội chiến. Ngoài ra còn có dân di cư từ châu Âu cũng gia nhập quân miền Bắc. Khoảng 23.4% quân miền Bắc có gốc Đức, với gần 216 nghìn sinh tại Đức.
Ngay sau khi chiến tranh chấm dứt, hoàn toàn không có tù binh, ai về nhà đó, cùng xây dựng lại quê hương.
Nghĩa trang bên nào bên đó tự lo lấy, xấu đẹp tùy sức. Nhưng điều đáng ngạc nhiên là ngay tại nghĩa trang quốc gia của phe miền Bắc ở thủ đô Washington có một khu chôn cất tử sĩ miền Nam với tượng đài gọi là Confederate Memorial.
Cũng phải nói rằng, thực sự sau nội chiến, dư vị cay đắng giữa Nam Bắc Hoa Kỳ vẫn còn nhiều. Dễ gì mà trút bỏ hận thù ngay sau khi hai bên chết cả gần một triệu người mà một số lớn đã giết nhau khi giáp mặt bằng gươm dao. Hai phe cùng đốt nhà của nhau và cùng tàn phá đô thị và nông trại, đôi khi có cả những hành động dã man như hãm hiếp phụ nữ và tàn sát trẻ em. Cuộc chiến nào mà không có những lần quá độ.
Năm 1900 tức là gần 40 năm sau cuộc chiến, mở đầu cho giai đoạn hòa giải dân tộc và năm 1991 thì các liệt sĩ miền Nam được cải táng đưa vào một khu đặc biệt trong nghĩa trang Arlington gọi là Confederate Section. Tổng cộng gần 500 mộ phần quây tròn chung quanh một tượng đài do nhà tạc tượng danh tiếng là điêu khắc gia Moses Ezekiel thực hiện.
The Confederate Memorial, Arlington
Trên đỉnh của chân bệ hình vòng cung như nóc Tòa Quốc Hội là hình tượng cao 32 feet của một thiếu phụ tượng trưng cho miền Nam. Ðây là hình ảnh bà mẹ của phe bại trận đã có con trai hy sinh cho cuộc chiến. Phía dưới là bài thơ đại ý như sau:
“Ở đây chẳng có vinh quang hay
tưởng lệ.
Ở đây chẳng phải binh đoàn hay cấp bậc.
Ở đây chẳng có tham vọng hay
mưu cầu.
Ở đây chỉ đơn thuần là nhiệm vụ.
Những người nằm ở đây đã hiểu rõ
là họ trải qua gian khổ, đã hy sinh
đã liều thân và sau cùng đã chết.”
Ðó là câu chuyện về các tử sĩ của phe thua trận tại Mỹ.
Bảo tàng viện “Ðầu hàng” và nghĩa trang phe thua trận ở Arlington. Nơi đó thường dạy chúng ta bài học làm người văn minh.
Xem lại lịch sử, chiến cuộc Nam Bắc Hoa Kỳ trong 4 năm rất khốc liệt, máu lửa và ghê gớm vô cùng.
Trong một thời gian ngắn các trận đánh dồn dập, các đô thị bốc cháy lửa cao ngút trời. Cũng tản cư, cũng loạn lạc và chiến tranh để lại các cánh đồng toàn xác chết trong các trận giáp lá cà, đâm chém nhau mặt đối mặt.
Nhưng rồi vết thương nào cũng phải được hàn gắn. Nước Mỹ đã có những bước ngoạn mục đầy màu sắc văn minh ngay từ khi chiến tranh chấm dứt để chấp nhận và tôn trọng người bại trận như những anh hùng.
Trong chiến tranh và hậu chiến luôn luôn cần có các nhà lãnh đạo, các tướng lãnh quân tử. Và nhà lãnh đạo quân tử là phải biết xưng tụng các bậc anh hùng trong hàng ngũ kẻ thù, biết nâng người xuống ngựa và biết tôn trọng các tử sĩ của hàng ngũ đối nghịch. Nước Mỹ ngày nay còn hùng mạnh bởi vì biết tôn trọng giá trị của phe đối nghịch.
Trước khi chết, Tổng Thống Lincoln đã nói: “Người ta có thể từ bỏ mọi thứ, nhưng không ai từ bỏ được lịch sử. Trước sau gì, lịch sử của bậc anh hùng sẽ phải được dựng lại ở chính nơi mà những con người vĩ đại đã ngã xuống.”
Ðó là những bài học mà chiến tranh, giết người, đốt nhà, nồi da nấu thịt và sau đó là hành sử của người chiến thắng biết tôn trọng giá trị của kẻ thù đã đem lại cho thế hệ nối tiếp.
----------------
Một số câu chuyện đọc thêm về sự khắc nghiệt trong những năm CCRĐ
CẢI CÁCH RUỘNG ĐẤT QUA LỜI KỂ CỦA NHÀ THƠ HỮU LOAN (tác giả bài thơ Màu tím hoa sim, bài thơ đã được nhiều nhạc sĩ phổ nhạc và các bài hát này đã nổi tiếng khắp VN)
"Lúc đó còn là chính trị viên của tiểu đoàn, tôi thấy tận mắt những chuyện đấu tố. Là người có học, lại có tâm hồn nghệ sĩ nên tôi cảm thấy chán nản quá, không còn hăng hái nữa. Thú thật, lúc đó tôi thất vọng vô cùng.
Trong một xã thuộc huyện Nga Sơn, tỉnh Thanh Hoá, cách xa nơi tôi ở 15 cây số, có một gia đình địa chủ rất giàu, nắm trong tay gần 500 mẫu tư điền.
Trước đây, ông địa chủ đó giàu lòng nhân đạo và rất yêu nước. Ông thấy bộ đội sư đoàn 304 của tôi thiếu ăn, nên ông thường cho tá điền gánh gạo đến chỗ đóng quân để ủng hộ. Tôi là trưởng phòng tuyên huấn và chính trị viên của tiểu đoàn nên phải thay mặt anh em ra cám ơn tấm lòng tốt của ông, đồng thời đề nghị lên sư đoàn trưởng trao tặng bằng khen ngợi để vinh danh ông.
Thế rồi, một hôm, Tôi nghe tin gia đình ông đã bị đấu tố. Hai vợ chồng ông bị đem ra cho dân xỉ vả, rồi chôn xuống đất, chỉ để hở hai cái đầu lên. Xong họ cho trâu kéo bừa đi qua đi lại 2 cái đầu đó, cho đến chết. Gia đình ông bà địa chủ bị xử tử hết, chỉ có một cô con gái 17 tuổi được tha chết nhưng bị đuổi ra khỏi nhà với vài bộ quần áo cũ rách. Tàn nhẫn hơn nữa, chúng còn ra lệnh cấm không cho ai được liên hệ, nuôi nấng hoặc thuê cô ta làm công. Thời đó, cán bộ cấm đoán dân chúng cả việc lấy con cái địa chủ làm vợ làm chồng.
Biết chuyện thảm thương của gia đình ông bà địa chủ tôi hằng nhớ ơn, tôi trở về xã đó xem cô con gái họ sinh sống ra sao vì trước kia tôi cũng biết mặt cô ta. Tôi vẫn chưa thể nào quên được hình ảnh của một cô bé cứ buổi chiều lại lén lút đứng núp bên ngoài cửa sổ, nghe tôi giảng Kiều ở trường Mai Anh Tuấn.
Lúc gần tới xã, tôi gặp cô ta áo quần rách rưới, mặt mày lem luốc. Cô đang lom khom nhặt những củ khoai mà dân bỏ sót, nhét vào túi áo, chùi vội một củ rồi đưa lên miệng gặm, ăn khoai sống cho đỡ đói. Quá xúc động, nước mắt muốn ứa ra, tôi đến gần và hỏi thăm và được cô kể lại rành rọt hôm bị đấu tố cha mẹ cô bị chết ra sao. Cô khóc rưng rức và nói rằng gặp ai cũng bị xua đuổi ; hằng ngày cô đi mót khoai ăn đỡ đói lòng, tối về ngủ trong chiếc miếu hoang, cô rất lo lắng, sợ bị làm bậy và không biết ngày mai còn sống hay bị chết đói.
Tôi suy nghĩ rất nhiều, bèn quyết định đem cô về làng tôi, và bất chấp lệnh cấm, lấy cô làm vợ.

CÂU CHUYỆN VỀ BÀ NGUYỄN THỊ NĂM
Bà Cát Hanh Long (tên hiệu trong buôn bán giao dịch của bà Năm) sinh năm 1906, quê ở Làng Bưởi, ngoại thành Hà Nội, vốn là một người đàn bà giỏi làm ăn trên đất cảng Hải Phòng, từ nhiều nghề khác nhau trong đó có buôn bán tơ, sắt vụn, bà đã sớm thành đạt trên thương trường, xây nhà tậu ruộng…
Nhà giàu, được giác ngộ nên bà Năm trở thành nguồn cung cấp tài chính cho cách mạng thời từ trước tháng 9 năm 1945 mà bây giờ gia đình tập hợp lại thành một hồ sơ dày đặc từ việc góp 20.000 đồng bạc Đông Dương tương đương bẩy trăm lạng vàng đến thóc gạo, vải vóc, nhà cửa ….
Dù đã đứng tuổi theo quan niệm đương thời, nhưng người phụ nữ 40 tuổi của thành phố cảng ấy đã phóng xe nhà treo cờ đỏ sao vàng từ Hải Phòng lên thẳng chiến khu qua thành phố Thái Nguyên, nơi quân Nhật còn chiếm đóng đến Đồng Bẩm, Đình Cả, Võ Nhai để báo cho con trai và các đồng chí của mình tin Hà Nội đã giành được chính quyền.
Sau năm 1945, bà Năm tản cư theo cách mạng lên chiến khu, và mua lại hai đồn điền lớn của "một ông Tây què" tại Thái Nguyên. Hai con trai bà đều đi theo kháng chiến. Khi chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa tổ chức "Tuần lễ vàng", bà đóng góp hơn 100 lạng vàng. Trong suốt thời gian kháng chiến chống Pháp, bà Nguyễn Thị Năm tham gia các cấp lãnh đạo của Hội Phụ nữ của tỉnh Thái Nguyên và Liên khu Việt Bắc, trong đó có 3 năm làm Chủ tịch hội Phụ nữ tỉnh Thái Nguyên. Khi thực hiện lệnh "tiêu thổ kháng chiến", bà đã cho san bằng khu biệt thự Đồng Bẩm tại Thái Nguyên.
Nhiều cán bộ cách mạng, nhiều đơn vị bộ đội thường tá túc trong đồn điền của bà. Bà Nguyễn Thị Năm cũng từng nuôi ăn, giúp đỡ nhiều cán bộ Việt Minh sau này giữ những cương vị quan trọng như Trường Chinh, Hoàng Quốc Việt, Lê Đức Thọ, Phạm Văn Đồng, Hoàng Hữu Nhân, Võ Nguyên Giáp, Nguyễn Chí Thanh, Hoàng Tùng, Vũ Quốc Uy, Hoàng Thế Thiện, Lê Thanh Nghị..
Khi Cuộc cải cách ruộng đất triển khai vào năm 1953, những hành động yêu nước của Nguyễn Thị Năm bị cho là "giả dối nhằm chui sâu, leo cao vào hàng ngũ cách mạng để phá hoại." và bà trở thành địa chủ đầu tiên bị đem ra "xử lý". Bà bị lên án với tội danh "tư sản địa chủ cường hào gian ác".
Sau những cuộc đấu tố với đủ các thứ tội ác được gán ghép bà đã bị đem ra xử bắn ở Đồng Bẩm, tỉnh Thái Nguyên lúc 8 giờ tối ngày 29 tháng Năm Âm lịch năm 1953. Khi bà vừa tuổi 47.
"Khi du kích đến đưa bà ta đi, bà ta đã cảm thấy có gì nên cứ lạy van "các anh làm gì thì bảo em trước để em còn tụng kinh." Du kích quát: "đưa đi chỗ giam khác thôi, im!." Bà ta vừa quay người thì mấy loạt tiểu liên nổ ngay sát lưng. Mình được đội phân công ra Chùa Hang mua áo quan, chỉ thị chỉ mua áo tồi nhất. Và không được lộ là mua chôn địa chủ. Sợ như thế sẽ đề cao uy thế uy lực địa chủ mà. Khổ tớ, đi mua cứ bị nhà hàng thắc mắc chưa thấy ai đi mua áo cho người nhà mà cứ đòi cái rẻ tiền nhất. Mua áo quan được thì không cho bà ta vào lọt. Du kích mấy người bèn đặt bà ta nằm trên miệng cỗ áo rồi nhảy lên vừa giẫm vừa hô: "Chết còn ngoan cố này, ngoan cố nổi với các ông nông dân không này?" Nghe xương kêu răng rắc mà tớ không dám chạy, sợ bị quy là thương địa chủ. Cuối cùng bà ta cũng vào lọt, nằm vẹo vọ như con rối gẫy vậy..."
Ông Nguyễn Hanh, con trai bà Năm kể rằng khi mẹ ông bị xử bắn, ông đang cùng đơn vị ở Nam Ninh, Quảng Tây, Trung Quốc. Người ta giấu ông mọi tin tức từ trong nước. Hai tháng sau, cuối tháng 6/1953 ông được đưa về nước, bị tống ngay vào trại giam ở Tuyên Quang vì là con của địa chủ gian ác. Năm 1954 ông mới được nghe bà vợ ông đến trại để thăm nuôi kể rõ về sự kiện bi thảm này. Em ruột ông Hanh là Nguyễn Cát, bí danh là Hoàng Công, cả 2 anh em đều hoạt động từ thời kỳ tiền khởi nghĩa 1944 ở vùng Đình Cả, Vũ Nhai. Hoàng Công từng là trung đoàn trưởng của sư đoàn Quân Tiên Phong 308, cũng bị đưa vào trại cải tạo năm 1953, năm 1956 mới được tự do, đau ốm, đến năm 1989 chết thảm trong một tai nạn xe máy.
Năm 1993, sau 40 năm tìm kiếm rất kiên trì, gia đình ông Hanh mới tìm thấy di hài bà Năm cạnh một ao sen, ở bên gốc cây phượng hoa đỏ nhờ chiếc vòng ngọc bám chặt cổ tay và chiếc răng vàng cũng như 2 đầu đạn, bà Cúc vợ ông Hanh cho hay sở dĩ chiếc vòng ấy còn vì bà Năm đeo từ hồi trẻ nó thít chặt vào cườm tay, khi đấu tố có người đã cố rút ra nhưng không được. Di hài bà Năm được đưa về nằm bên mộ chồng là làng Đại Kim, Thanh Trì, Hà Nội.
Cụ ông Nguyễn Hanh, người đảng viên Cộng sản khi mới 21 tuổi, người sỹ quan QĐND cấp trung đoàn khi mới 24 tuổi đã mất sạch mọi thứ, từ bà mẹ nhân hậu đảm đang bị 2 phát đạn oan khiên, đến nhà cửa, tiền bạc, công danh, nay thổ lộ rằng từ 1993 ông đã gửi hàng vài chục lá thư đề nghị các đời Tổng Bí thư, Chủ tịch Quốc hội, Thủ tướng... xét cho 2 điều: công nhận mẹ ông, bà Nguyễn Thị Năm là người có thành tích, có công đóng góp cho cách mạng, truy thưởng cho bà Huân chương Kháng chiến, và công nhận Bà là Liệt sỹ, nhưng không một ai trả lời.
Điều duy nhất ông nhận được đến nay là công văn tháng 6 năm 1987 của ban tổ chức tỉnh ủy Thái Nguyên, quy định lại thành phần giai cấp của bà mẹ là "Tư sản - địa chủ kháng chiến".BÀI THƠ VỀ CẢI CÁCH RUỘNG ĐẤT CỦA VĂN CAO
(Bài công bố 2014)
ĐỒNG CHÍ CỦA TÔI
Người ta các đồng chí của tôi
Treo tôi lên một cái cây
Đợi một loạt đạn nổ
Tôi sẽ dẫy như một con nai con
Ở đầu sợi dây
Giống như một nữ đồng chí
Một anh hùng của Hà Tĩnh
Tôi sẽ phải kêu lên
Như mọi chiến sĩ bị địch bắn
Đảng Lao động Việt Nam muôn năm
Cho mọi người hiểu khi tôi chết
Vẫn còn là một đảng viên
Cho mọi người hiểu khi tôi chết
Máu của tôi vẫn còn là máu của Việt Nam
Ở dưới gốc cây có các cụ già các bà mẹ đã nuôi cách mạng
Các em nhỏ từ ba tuổi đứng nhìn tôi dẫy chết
Có mẹ tôi
Ba lần mang cơm đến nhà tù
Hãy quay mặt đi
Cho các đồng chí bắn tôi
Tôi sợ các cụ già không sống được
Bao năm nữa
Để nhìn thấy xã hội chủ nghĩa
Của chúng ta.
Chết đi mang theo hình đứa con
Bị bắn
Tôi sợ các em còn nhỏ quá
Sẽ nhớ đến bao giờ
Đến bao giờ các em hết nhớ
Hình ảnh tôi bị treo trên cây
Bị bắn
Hãy quay mặt đi
Cho các đồng chí bắn tôi…
Nước mắt lúc này vì Đảng nhỏ xuống
Dòng máu lúc này vì Đảng nhỏ xuống
Đảng Lao động Việt Nam muôn năm

TRẦN TÁN DUYÊN
(ông cả Duyên, ông Phán Duyên)
Hôm nay, ngày mùng Bốn tháng Một (4/11), là ngày giỗ ông Trần Tán Duyên, trưởng nam của cụ Trần Tán Bình.

… Ông Trần Tán Duyên (1900 – 1984) (còn gọi là ông cả Duyên hay ông Phán Duyên) là con trai trưởng của cụ Trần Tán Bình và vợ là cụ Trần Thục Liên. Ông nổi tiếng là người thông minh, tài giỏi và khí phách của gia tộc họ Trần – Do Lễ. Ông thông thạo tiếng Pháp, từng theo học và đỗ Tú Tài loại ưu tú ở trường Bưởi, và được triều đình nhà Nguyễn và chính quyên Pháp bổ làm Thông Phán tỉnh Thái Bình [có lẽ do vậy mà mọi người hay gọi ông là ông Phán Duyên]. Sau này, vì mâu thuẫn với các quan lại của tỉnh Thái Bình, ông rời bỏ chính quyền, đưa cả gia đình về Yên Mô, Ninh Bình làm ăn, mở ty rượu, trở nên giàu có tiếng trong vùng. Khi cụ thân sinh ra ông [cụ Trần Tán Bình] ốm rồi mất năm 1937, ông bán hết tài sản ở Yên Mô, mang toàn bộ tiền của về quê nhà Do Lễ, tậu đất, xây nhà, mua ruộng vườn, xây cất nhà thờ tổ, khu sinh phần dòng họ, sửa sang đường làng, ngõ xóm. Ông trở thành đại địa chủ, nổi tiếng về giàu có, giỏi giang và đức độ ở Phủ Vạn Điểm. Vợ ông là bà Bùi Thị Thi, là con gái cụ Bùi Hướng Thành, vốn là bạn học của cụ Trần Tán Bình, quê ở Châu Cầu, Hà Nam, từng làm tuần phủ Sơn Tây. Ông Tán Duyên và bà Thị Thi có 4 người con xuất sắc, 2 con trai là Trần Tán Dực, Trần Tán Hồng và 2 con gái là Trần Thị Hiển, Trần Thị Từ. Từ sau cải cách ruộng đất năm 1954, ông bà phải về Hà Nội sinh sống. Ông mất ở Hà Nội năm 1984. Mộ ông được mai táng trong khuôn viên khu sinh phần của gia đình họ Trần, ở quê nhà Do Lễ
-------------------
“Dân ta phải biết sử ta/Cho tường gốc tích nước nhà Việt Nam”
Về giai đoạn Cải cách ruộng đất 1953-1956 ở Việt Nam
Trở lại câu chuyện của ông Trần Tán Duyên. Ông vốn là đại địa chủ, nhà to nhất vùng, sở hữu hàng ngàn mẫu ruộng ở Phủ Vạn Điểm. Sau cải cách ruộng đất năm 1954, gia đình mất hết, tay trắng rời quê hương, về Hà Nội sinh sống. Ông có kể lại rằng (nguyên văn như sau): “Có một tối, khoảng cuối năm 1954, ông Lập [ông Trần Tán Lập, em họ ông ở Hà Nội] về quê Do Lễ bảo với ông “Anh Chị phải lên Hà Nội ngay, không ngày mai dân quân ở xã chúng nó sẽ đến bắt, đấu tố, rồi treo cổ Anh Chị vì anh chị là địa chủ!”. Ông có bảo lại “Nhà tôi có thằng Tâm [bác Tâm, con rể], thằng Hồng [bác Hồng, con trai] theo cách mạng từ 10 năm nay. Tài sản của tôi là do tôi tự làm ăn mà có, có ăn cướp của ai đâu mà sợ”. Ông Lập lại bảo “Em vừa từ Thanh Hóa ra, trong ấy họ đấu tố rồi giết hết tất cả địa chủ rồi, bất kể ai có công với cách mạng hay không”. Thế rồi ngay trong đêm tháng Chạp rét mướt, ông thuê 2 người đầy tớ khỏe mạnh cõng Ông và Bà ra bãi sông Hồng, đi đò qua ngả Hưng Yên, rồi theo đường số 5 về Hà Nội, ở tạm nhà ông Lập, vì lúc đó đường chính từ quê về Hà Nội đã bị dân quân canh gác. Ông Bà không mang theo được gì, ngoài mấy lạng vàng và vài bộ quần áo. Và rồi mọi việc xảy ra đúng như ông Lập đã nói. Ngày hôm sau, dân quân xã kéo đến nhà, tịch thu hết nhà cửa ruộng vườn. Mãi sau này, khi Chính Phủ tiến hành “sữa sai” mới chia lại cho thằng Hồng một gian nhà nhỏ và mảnh vườn vì có công tham gia cách mạng”.
Vậy, Cải cách ruộng đất là gì?
Lâu nay học môn lịch sử chúng ta đều biết, sau khi hòa bình lập lại ở miền Bắc năm 1954, Chính Phủ nước Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa đã tiến hành chương trình cải cách ruộng đất, lấy ruộng của nhà giàu chia cho người nghèo!
Nhưng để hiểu kỹ hơn, ta hãy ngược dòng lịch sử:
Luật cải cách ruộng đất (CCRĐ) được ban hành ngày 19/12/1953 có ghi rõ:
“Điều 1. – Mục đích và ý nghĩa cải cách ruộng đất
là:
Thủ tiêu quyền chiếm hữu ruộng đất của thực dân Pháp và của đế quốc xâm lược
khác ở Việt Nam, xoá bỏ chế độ phong kiến chiếm hữu ruộng đất của giai cấp địa
chủ,
Để thực hiện chế độ sở hữu ruộng đất của nông dân,
Để giải phóng sức sản xuất ở nông thôn, đẩy mạnh sản xuất nông nghiệp và mở đường
cho công thương nghiệp phát triển,
Để cải thiện đời sống của nông dân, bồi dưỡng lực lượng của nhân dân, lực lượng
của kháng chiến,
Để đẩy mạnh kháng chiến, hoàn thành giải phòng dân tộc, củng cố chế độ dân chủ
nhân dân, phát triển công cuộc kiến quốc.”

Công cuộc CCRĐ không chỉ xảy ra trong một thời điểm ngắn, mà kéo dài từ 1953 đến 1956, tức khoảng 4 năm qua 5 giai đoạn. Những người chủ trương CCRĐ làm có vẻ rất bài bản và có hệ thống. Khởi đầu là vận động và chuẩn bị hậu thuẫn của quần chúng, sau đó là ra sắc lệnh, rồi làm thí điểm, và vào cuộc ồ ạt.
Kết quả và sai lầm
Kết quả: Đã chia 334.100 ha ruộng cho nông dân ở 1.726 xã, với trên 6 triệu người trong 20 tỉnh và hai thành phố, xóa bỏ tầng lớp địa chủ phong kiến và tàn dư chế độ cũ ở miền Bắc.
Sai lầm: Việc thực hiện quá cứng nhắc, cực đoan theo hướng "đấu tố", "thẳng tay phát động quần chúng", dẫn đến nhiều trường hợp oan sai, khiến nhiều người mất tài sản, tính mạng, thậm chí cả những người có công với cách mạng.
Có nhiều câu chuyện được kể lại rằng: chiến dịch chia thành nhiều “đợt”:
1. Phân loại giai cấp: Mỗi làng phải chia dân thành 5 hạng: Địa chủ, Phú nông, Trung nông, Bần nông, Cố nông
Chỉ tiêu “địa chủ” được ấn định sẵn từ trên xuống (thường 5% dân số), buộc cán bộ phải “tìm cho đủ”.
2. Đấu tố công khai: Mỗi làng lập “Tòa án nhân dân”. Người bị quy là địa chủ bị trói, quỳ, bị đánh đập, sỉ nhục trước dân, và bị ép “thú nhận tội bóc lột nhân dân”. Ai phản đối sẽ bị quy là “bênh vực phản động” và bị bắt.
3. Thi hành án: Hàng chục ngàn người bị xử bắn công khai tại sân đình, có khi chỉ vì sở hữu vài mẫu ruộng hay từng cho hàng xóm vay thóc. Ruộng, trâu, đồ đạc, thậm chí quần áo và mền chiếu đều bị tịch thu chia lại. Gia đình bị quy sai giai cấp bị đày ải, cắt khẩu phần, cấm con cái học hành.
Có nhà văn nói “Sau cải cách ruộng đất, miền Bắc không còn niềm tin giữa người với người. Hận thù được gieo xuống từng thôn xóm.”
Cải cách ruộng đất 1953–1956 không chỉ là một sai lầm chính sách, mà là một thảm họa nhân đạo. Dưới danh nghĩa “giải phóng nông dân”, hàng chục nghìn người vô tội bị giết, hàng triệu người khác sống trong sợ hãi và oán hận.
Lịch sử thế giới ngày nay – kể cả các học giả Mỹ, Pháp, Trung Quốc – đều thống nhất rằng:
“Đó là chương đẫm máu và đau thương nhất của cách mạng Việt Nam, khi con người bị buộc phải giết nhau nhân danh công lý.”

Sửa sai (1956):
Và nước Việt Nam chúng ta may mắn thay có cụ Hồ Chí Minh. (Có vài nguồn nói rằng lúc đó Cụ Hồ Chí Minh không muốn làm CCRĐ, nhưng vì Trung Quốc gây áp lực lớn quá nên đành phải làm). Cụ đã nhận ra sai lầm trong việc thực hiện CCRĐ và yêu cầu Chính Phủ tiến hành sửa sai.

Tại kỳ họp thứ 6, Quốc hội khóa I năm 1956, cụ Hồ đã khóc và cụ thay mặt Đảng, Chính phủ thẳng thắn nhận khuyết điểm và xin lỗi dân về những sai lầm trong cải cách ruộng đất.
Tổng Bí Thư Đảng, Trường Chinh, người phải gánh trách nhiệm nặng nhất, đã phải từ chức Tổng Bí thư.
Năm 1956, cụ đã gửi thư cho đồng bào nông thôn và cán bộ nói rõ thắng lợi và sai lầm của cải cách ruộng đất. Cụ khẳng định cải cách ruộng đất là thắng lợi to lớn, nhưng đã mắc những khuyết điểm, sai lầm. Cụ viết: “Ai bị vạch sai lên thành phần địa chủ, phú nông cần phải vạch lại cho đúng.
Đảng viên cán bộ và nhân dân, ai đã bị xử trí sai thì cần phải khôi phục đảng tịch quyền lợi và danh dự cho họ.
Đối với địa chủ, thì phải đối xử theo đúng với 8 điều quy định, phải chiếu cố những địa chủ kháng chiến, ủng hộ cách mạng, và địa chủ có con là bộ đội cán bộ.
Những nơi đã nâng diện tích hoặc sản lượng quá mức cần phải điều chỉnh lại cho đúng.
Việc sửa chữa phải kiên quyết và có kế hoạch. Việc gì sửa được ngay thì phải làm ngay. Việc gì chưa sửa được ngay thì phải kết hợp trong kiểm tra lại mà làm.
Dù sao đi nữa thì lịch sử đất nước cũng không thể tránh khỏi những đau thương mất mát sau mỗi cuộc chiến tranh, nhất là khi có một bên thắng và một bên thua. Nhưng ở đây là câu chuyện là về “hàn gắn dân tộc”. Cụ Hồ Chí Minh là người lãnh tụ vĩ đại, người biết hàn gắn mọi người Việt Nam để chúng ta trở nên mạnh mẽ hơn. Nếu như cụ biết sớm hơn các sai lầm trong CCRĐ, và “sửa sai” sớm hơn, dân tộc ta đã không có cuộc di dân hơn 1 triệu người miền Bắc vào Nam trong đó có những người con ưu tú. Nhiều người này nay cũng nói rằng, giá như năm 1975 cụ còn sống, thì đã không có câu chuyện hơn 3 triệu người dân Việt ưu tú rời bỏ nước Việt Nam ra đi. Bởi vì chỉ có cụ mới là người có thể hàn gắn dân tộc, hòa hợp dân tộc sau chiến tranh. Bởi vì cụ Hồ là người thấu hiểu các bài học trên thế giới, hiểu rõ câu chuyện về hàn gắn dân tộc sau cuộc chiến tranh Nam – Bắc Mỹ.

BÀI THƠ VỀ CẢI CÁCH RUỘNG ĐẤT CỦA VĂN CAO
------------------------------------
TRẦN TÁN BÌNH
(Cụ Tuần, cụ Phó Bảng)
Hôm nay, ngày Hai Tám tháng Một (28/11), là ngày giỗ cụ Trần Tán Bình, chi trưởng chi 2, gia tộc họ Trần – Do Lễ.

[trích Tộc Phả họ Trần – Do Lễ]
Cụ Trần Tán Bình (1868 – 1937) (còn gọi là cụ Tuần, cụ Phó Bảng) là chi trưởng chi 2 của gia tộc họ Trần – Do Lễ.
Tên tự cụ là Nhụ Hoàng Trần Tán Thuật, sau đổi là Trần Tán Bình. Cụ học hành uyên bác, theo nghiệp bút nghiên, đỗ cử nhân khoa Giáp Ngọ (1894), đến năm Ất Mùi (1895), đời vua Thành Thái, cụ Trần Tán Bình thi Hội đỗ hạng chánh trúng cách, nhưng vào thi Đình vì bài thi phạm huý nên bị đánh xuống phó bảng, nên gọi là Phó bảng Nhụ Hoàng Trần Tán Bình. Sau khi đỗ đạt cụ ra làm quan, trải qua các chức như Đốc học, Án sát sứ tỉnh Hà Nam, rồi Tuần phủ tỉnh Ninh Bình [có lẽ do vậy ở quê nhà thường gọi cụ là cụ Tuần]. Trong thời gian làm quan, vào năm 1906, cụ Trần Tán Bình được triều đình cử sang Pháp tham quan. Về nước, cụ đã có nhiều lần diễn thuyết trước công chúng về những điều mắt thấy tai nghe ở Pháp. Cụ văn chương lỗi lạc, là tác giả của nhiều bài thơ phú, câu đối nổi tiếng, điển hình là bài Á Tế Á Ca (còn có tên Đề tỉnh quốc dân ca - Bài ca thức tỉnh quốc dân). Cụ cũng từng tham gia nhiều tổ chức hoạt động công khai vận động canh tân đất nước, nâng cao dân trí, kêu gọi ý thức tự lực tự cường. Cụ Trần Tán Bình được xem là một trong những vị “tiên hiền” khai sáng của phong trào Đông Kinh Nghĩa Thục, là phong trào giáo dục yêu nước, do các sĩ phu tiến bộ Việt Nam thành lập tại Hà Nội hồi đầu thế kỷ 20, nhằm chấn hưng dân trí, truyền bá tư tưởng duy tân, dạy chữ Quốc ngữ, khoa học và thực nghiệm, chống lại lối học cũ, bài trừ hủ tục, cổ vũ tinh thần yêu nước và tự cường dân tộc trước sự bảo hộ của Pháp.
Trong thời kỳ làm quan, cụ cũng mở mang các trường học, xây dựng đường xá, đắp đê, giúp đỡ và khuyến khích những cơ xưởng làm đồ xuất cảng như dệt chiếu, vải. gai, dệt thảm, đồ gốm tại tỉnh Hà Nam, Nam Định, Ninh Bình. Cụ hay làm thơ nói thật, không nể ai. Tính nóng và thẳng nên nhiều người yêu và cũng nhiều người ghét. Thơ của cụ nhiều tính hài hước, châm biếm pha lẫn thời thế, chính trị, vì con cháu bỏ không ghi lại, nên thất lạc rất nhiều. Người dân Do Lễ, Thường Tín rất tâm đắc câu đối của cụ, hầu như nó trở thành câu nói cửa miệng của mọi người để răn mình và răn người “Bán rượu, bán chè, đừng bán nước/ Buôn trăm, buôn chục, chớ buôn quan”.
Với quê nhà, cụ Trần Tán Bình có nhiều công lao trong việc khai khẩn mở mang làm giàu đẹp cho quê hương, làng xóm. Hương Ước của thôn Nho Tống, làng Do Lễ (lập năm 1937), Chương thứ Ba, điều 33 có viết như sau:
“Thôn nhà từ thượng cổ đến giờ có cụ Trần Tán Bình đỗ đại khoa là ất tiến sỹ làm quan đại thần, đến Tuần phủ, cụ mở mang các công việc ích cho dân, như là cụ mới xuất chính, đình làng hỏng nát, cụ cấp cho dân đinh mỗi xuất một đồng bạc, gấp lại làm đình, cụ lại tô cúng tiến thăng bổ tượng ở chùa và tu bổ chùa, lại sửa sang miếu vũ, nay tất nguy nga và cúng tiến hoành phi câu đối cùng các đồ tự khí ở đình miếu và chùa. Lại như giếng ngày xưa gần làng vừa hẹp vừa bẩn, cụ lại đào giếng khác ở cửa đình, sai đắp chung quang bờ giếng, vừa rộng vừa sâu, nay tất trong sạch, lại mở một ngôi chợ cho dân buôn bán, lại các đường ngõ rộng rãi bằng phẳng, lại giồng cây khắp các đường địa phận và bên đình bên miếu các cây đều có hoa quả, đến kỳ đấu giá hoa mầu được nhiều lợi cho dân, lại cả tổng chưa có trường học, cụ lại cung tiến bốn sào ruộng ở cửa đình để làm nhà trường, mà mỗi sào giá sáu mươi đồng bạc. Lại mở bến đò ở địa phận, nay thuyền đò tầu tấp nập phường buôn bán vui vẻ, lại thương lượng với nhà nướcđắp đường từ ga đến đê, hiện đã dải đá ngay và xe đi lại rất đông. Lại trù làm nhà hộ sinh, lại lập hương ước cho dân để có trật tự vân vân. Cụ khao vọng đủ và cụ tuổi cao về trí sĩ thì lúc ấy dân kính biếu đặc biệt. Còn về sau ai đỗ cao như cụ thì dân cũng biếu như cụ, bằng không được thế thì phân biếu ây giao lại Trùm trưởng quan viên các cụ mỗi bên một nửa. Nếu có người cũng đứng đầu dân thì dân sẽ châm chước việc biếu như sau này, chứ không được viên lệ mà ăn biếu như thế.”
Về gia đình, cụ Trần Tán Bình có người vợ đảm đang, thảo hiền là cụ Trần Thục Liên (1878-1945), là người cùng quê làng Do Lễ, và có thêm 5 bà thiếp. Cụ có tổng cộng 19 người con. 8 người con trai là Trần Tán Duyên (ông Phán Duyên), Trần Tán Trường (ông Hai Trường), Trần Tán Thọ (ông Ba Thọ), Trần Tán Sơn (ông Tư Sơn), Trần Tán Nhiệt, Trần Tán Nhân, Trần Tán Nghĩa, Trần Tán Cửu (nhà văn Trọng Lang); và 11 người con gái là Trần Thục Vượng (bà Ký Quỳ), Trần Thục San (bà Cả Tiến), Trần Thục Linh (bà Hai Hiên), Trần Thục Chiến (bà Hai Hồ), Trần Thục Lợi (bà Hai Đồng), Trần Thục Nga (bà Hai Hồng), Trần Thục Hà (bà Ấm Túc), Trần Thục Hải (bà Tỵ), Trần Thục Hằng (bà Hoanh), Trần Thúy Huệ (bà Bảng), Trần Thục Thúy.
Cụ Trần Tán Bình mất năm 1937, ngày 28 tháng 11 Âm lịch. Cụ được an táng tại sinh phần của gia đình ở quê nhà, làng Do Lễ.
-------------------
“Dân ta phải biết sử ta/Cho tường gốc tích nước nhà Việt Nam”
Về cụ Trần Tán Bình, có rất nhiều tài liệu, sách vở về lịch sử Việt Nam đã ghi chép lại cả về cuộc đời cũng như sụ nghiệp thơ văn của cụ. Xin được trích ra ở đây một trong số những bài nghiên cứu về cụ (xem tập tin đính kèm), bài viết của tác giả Chu Xuân Giao thuộc Viện Nghiên cứu Văn hóa, Viện Hàn lâm Khoa học Xã hội Việt Nam.