CHIẾN THUẬT TỪNG BƯỚC LUYỆN GIỌNG NÓI

3 views
Skip to first unread message

Hoang144

unread,
Feb 16, 2006, 10:47:10 AM2/16/06
to Apollo Education Center Students Group
1.Luyện từ

Cái lớn bắt đầu từ cái nhỏ. Muốn nói cả câu chuẩn
thì phải nói từng từ chuẩn. Sẽ có người cười khẩy,
từ thì làm sao mà sai được. Vừa rồi, có người bạn
của tôi đi học một lớp luyện nói, ông thầy có cho cả
lớp đọc một câu rất đơn giản, ví dụ "ecological
thinking and ecology protection should go together". Bạn tôi chắc
mẩm làm sao mình có thể đọc sai một câu nói đơn giản
đến nhường vậy. Nhưng nhầm to, vẫn sai như thường,
các bạn tự phát hiện cái sai dễ mắc ở đây là gì
nhé.

Khi luyện từ cần chú ý các điểm sau:

a. Phát âm: (hay âm đọc, không tính trọng âm) tiếng Anh
là thứ tiếng không có quy tắc, nhưng cái không có quy
tắc của nó cũng lại có quy tắc, mà cái sự quy tắc ấy
cũng lại chẳng có quy tắc gì. Để phát âm đúng từng
từ, ta vừa phải học thuộc, vừa phải liên tục tư duy
để phát hiện và ghi nhớ các quy tắc ẩn dấu của nó.
Một vốn từ vựng được coi là tối thiểu đủ dùng là
5000, thì công việc của các bạn không phải là nhỏ đâu,
tôi nghĩ rằng bạn sẽ phải nhớ tối thiểu cả ngàn
trường hợp khác nhau. Từ những cái bất quy tắc thông
thường như doubt (dawt), debt (det) cho đến những thứ quái
thai như bury ('be:ri) thì ta không có cách nào khác là học
vẹt.

b. Trọng âm: cái này mới gọi là khoai. Sai về phát âm
thì còn châm trước được, vì tiếng Anh địa phương
thường không đáp ứng được nhu cầu này, chẳng hạn
tiếng Anh-Latin, họ đọc chả khác gì tiếng Tây Ban Nha.
Nhưng trọng âm thì phải tuyệt đối chú ý. Bạn có thể
phát âm sai, thậm chí sai toét, nhưng nếu đúng trọng âm
thì người nghe vẫn nắm bắt ngon. Chắc là mọi người
đều biết, tiếng Anh cũng như một số ngôn ngữ phương
Tây, người ta nghe trọng âm là chính. Nếu nói đúng
trọng âm, thì dù có nói nhỏ, hay bị nhiễu (như nghe qua
đường điện thoại rè, hay trong lúc ồn ào…) người
nghe vẫn có thể đoán ra được ý mình định nói.

Một lần nữa, luyện trọng âm từ phải luyện word by
word, nghĩa là từng từ một, và với 5000 từ vựng thì
công việc của các bạn không phải là nhỏ. Tuy nhiên quy
tắc trọng âm thì có đỡ hầm bà làng hơn.

Theo tôi, phải mất 3 tháng chú ý rèn luyện hàng ngày, thì
bạn mới có thể thay máu, hay ít ra hiệu đính được
cách phát âm cho cái vốn từ vựng chắc chắn không phải
là nhỏ của các bạn.

Một số lỗi trọng âm và phát âm thường gặp:

Nào hãy bắt tay vào để kiểm tra vốn từ nói (speaking
vocabulary) của mình xem. Hãy khư khư bên mình cuốn từ
điển, và check cách đọc của mình với một vài từ phổ
thông, rồi nhìn vào phần phiên âm, xem các bạn phát âm
và nhấn trọng âm đúng đến cỡ nào. Các bạn đã phát
hiện ra chỗ dễ sai của cái câu ví dụ trên kia chưa? Có
rất nhiều điểm có thể sai khi phát âm và nhấn trọng
âm, nhưng có những lỗi cơ bản thường mắc như sau:

a. Đọc như nhau khi biến trạng thái từ

Mọi người khi học nói một cách tự phát thường đọc
tính từ, danh từ, động từ (hay biến “thì”) với cùng
một kiểu cho nó dễ (chưa nói những người có cơ bản
yếu còn không phân biệt được đâu là tính, danh,
động). Nhưng chúng thường biến khác so với nhau trong
cách viết, và từ đó, phát âm lẫn trọng âm cũng khác
nhau. Hãy dùng từ điển để tra các cặp từ sau kể về
trọng âm lẫn phát âm: export(n)-export (v);
technology-technological; economy-economic; photograph-photography,
conservation-conservative.... Nào các bạn đã thấy mình không
ổn chưa. Những bạn nào mà không sai những từ này là
cũng đã là rất tốt rồi, có cơ bản về phát âm.

Bạn nào mà sai nhiều, thì phải rất chú trọng, bạn đã
cảm thấy con đường để nói chuẩn (chưa nói là hay)
cũng không hề dễ dàng, đấy là một nguyên nhân cơ bản
tại sao người Việt nói sai nhiều.

Có rất nhiều nguyên tắc để nhớ trọng âm cũng như
phát âm, tôi không muốn nói ngay ra đây, vì cũng mất
thời gian, nhưng quan trọng là tôi muốn các bạn tự tìm
hiểu trong quá trình thay máu vốn từ của mình.

b. Thiếu trọng âm phụ

Trong một từ dài 3-4 âm tiết trở lên, thường có trên 1
trọng âm. Ngoài trọng âm chính (biểu diễn bởi dấu
phảy phía trên đầu, trước trọng âm) còn có trọng âm
phụ (biểu diễn bởi dấu phảy phía dưới chân, trước
trọng âm). Ví dụ environmental (in,vairơn'mentl). Các bạn
cần phải đọc rõ cả trọng âm phụ này, còn các âm còn
lại có thể nuốt đi. Quy tắc thông thường đối với
trọng âm phụ là luôn đứng cách trọng âm chính một âm
(trước hoặc sau).

c. Trọng âm nhấn chưa đủ đô

Các bạn đã ít sai trọng âm từ vẫn thường mắc lỗi
này. Để nói được hay, thì trọng âm chính cần phải có
âm lượng gấp 2-2.5 lần âm thường, và có độ dài cũng
tương tự, còn đối với trọng âm phụ thì cũng phải
1.5-2 lần. Nhiều khi các âm không phải trọng âm có thể
nuốt (đọc rất nhỏ trong cổ họng), nhưng phải nhấn
các trọng âm rất rõ, rất to và dài (chưa nói là còn
phải luyến nữa). Tóm lại là phải đủ đô!

Còn nhiều lỗi nữa, các bạn có ý kiến đóng góp thêm
cho phong phú.

***

2. Luyện ngữ và câu (phrases and sentences)

Ngay từ khi bắt đầu thay máu vốn từ vựng, bạn có thể
bắt đầu vào luyện nói các ngữ và câu ngay. Tôi gọi
Ngữ, hay ngữ nói, ở đây có nghĩa là các cụm từ trong
một câu mà khi nói cần phải nói liên tiếp. Ngữ nói có
thể giống, có thể khác với Ngữ thông thường trong ngữ
pháp. Vì vậy, Ngữ ở đây có thể gọi là nhịp. Trong
một câu có thể phân ra nhiều ngữ. (Chú ý đây là khái
niệm của riêng tôi đặt ra để tiện gọi, không có tính
kinh viện, quy tắc trên thực tế). Ví dụ một câu nói
thông thường như như sau:

Being informed that the examination result is ready, I want to go to
school right now.(3)

Nếu các bạn phải đọc chậm rãi, thì thông thường các
bạn chỉ giảm tốc độ đọc đi (như kiểu quay chậm),
đối với từng từ, từng từ một kiểu:

Being… informed… that… the… examination… result… is…
ready…, I …want… to… go… to… school… right… now.

Nhưng trên thực tế, người ta chỉ giảm tốc độ đọc
các từ đơn đi đôi chút, còn lại để đọc chậm rãi,
ta nên phân câu ra thành các ngữ có nhịp ngắn 2-4 từ như
sau:

Being informed/ that the examination result/ is ready, I want /to go to
school/ right now.

Sau khi đã phân đoạn như vậy, việc đọc chậm sẽ chủ
yếu được thực hiện nhờ việc ngắt nghỉ giữa các
Ngữ. Vì vậy, muốn đọc chậm rãi bao nhiêu, ta chỉ việc
nghỉ dài tương đương bấy nhiêu giữa các ngữ, chứ
không hề phải đọc ê a kéo dài từng chữ như thông
thường trong tiếng Việt. Câu trên sẽ được nói chậm
rãi theo phong cách sau:

Being informed……… that the examination result……… is
ready,……… I want ........to go to school ........right now.

Tại sao phải nghỉ, nói chung là để ta có thời gian nghĩ
sẽ nói tiếp cái gì (như các cụ thường dạy “uốn
lưỡi bẩy lần trước khi nói”). Còn trong tập nói, thì
đơn giản là để ta có thời gian chuẩn bị cho việc nói
tiếp các ngữ tiếp theo. Việc ngắt nghỉ này giúp ta khoan
thai, tránh hấp tấp, tránh việc bị nói dồn dập mà vấp
váp, khô khan. Các bạn cứ thử xem, sẽ thấy ngay mình nói
chậm khá dễ dàng, và có vẻ khá hay. Hì hì, thực ra nếu
các bạn để ý nghe CNN, BBC, sẽ thấy các chính khách
(Bill, Bush chẳng hạn) đều nói khá chậm rãi theo phong
cách này. Các ông này thường ngắt nghỉ rất hợp lý
trong câu nói, có khi nghỉ khá lâu mặc dù tốc độ trong
một ngữ cũng không chậm hơn bình thường là mấy. Việc
ngắt nghỉ này khiến câu nói trở nên có NGỮ, có nhịp.

Một điều chú ý nữa trong câu ví dụ trên, là ngoài
ngắt nhịp, thì các trọng âm cũng cần được nhấn mạnh
và DÀI hơn các âm khác. Trong số các trọng âm đó, lại
có các trọng âm được nhấn bật lên so với các trọng
âm khác. Ta gọi đó là các trọng âm câu. Trọng âm câu
là trọng âm của các từ quan trọng đa âm tiết hay chính
là từ quan trọng đơn âm tiết.

Câu trên thông thường sẽ phải nói như sau:

Being info...rmed……… that the e..xamina....tion resu..lt………
is re....ady,………… I wa....nt ........to g..o to scho....ol
........right no...w. (độ dài chấm biểu hiện độ dài
tương đối)

Trong câu trên, các từ quan trọng là examin(a)tion, w(a)nt,
sch(oo)l, n(ow), vì nó mang lại thông tin chính cho câu. Việc
chọn trọng âm câu thực ra tuỳ theo mỗi người nói và
tuỳ vào văn cảnh mà ta nên nhấn vào các âm tiết khác
nhau. Việc nhấn trọng âm từ và trọng âm câu đủ đô,
là một yếu tố quan trọng giúp ta nói không bị như súng
bắn, khiến tốc độ trong một ngữ cũng đã giảm đáng
kể. Đây là Điệu để mà tạo thành cái gọi là NGỮ
ĐIỆU nói.

Nào, giờ là lúc thực hành, các bạn hãy kiếm ngay một
trang tiếng Anh nào đó mà bạn cho là phù hợp và cầm
sẵn cây bút chì. Trước hết đọc lướt qua rồi dùng
bút chì ngắt nhịp câu, đồng thời gạch chân các trọng
âm câu. Sau đó là luyện đọc, với các yêu cầu sau:

- Thong thả nói chung
- To và rõ ràng
- Nhấn trọng âm từ (1.5-2 lần dài và to hơn bình
thường)
- Nhấn trọng âm câu (2-2.5 lần so với bình thường)
- Nghỉ giữa các ngữ (tuỳ vào mỗi người, thông thường
là không dưới 1/3-1/2 giây)
- Dần dần nuốt các âm tiết không quan trọng như các
quán từ (a, an, the); các giới từ (to, in, on, up… trừ khi
ta muốn nhấn mạnh các quán từ này); và các âm không
phải trọng âm trong từ đa âm tiết. Kỹ thuật nuốt âm
là đọc nhỏ và lướt nhanh, gần như không để âm thoát
ra khỏi cuống họng.

Luyện hát (nhất là những bài hát có lời nhanh thể loại
Pop Rock) là một cách rất tốt để luyện nuốt âm, từ
đó bổ trợ cho luyện trọng âm (vì khi các âm thường
bị nuốt thì những âm còn lại sẽ phải là trọng âm).
Tuy nhiên, cũng phải lưu ý, không những nhịp điệu hát
khác với nhịp điệu nói, mà đôi khi các âm còn bị thay
đổi so với bình thường để phù hợp với bài hát (ví
dụ, các quán từ đáng nhẽ phải đọc lướt thì trong
bài hát thỉnh thoảng vẫn được nhấn dài để đáp ứng
các giai điệu). (4)

Chiến thuật luyện đọc là:

- Luyện từng từ: đọc từng từ một cho chuẩn rồi mới
luyện đọc cả ngữ (dùng từ điển để tra phát âm và
trọng âm)

-Luyện từng ngữ: đọc từng ngữ một cho chuẩn một
(vài) lượt rồi mới đọc cả câu.

-Luyện từng câu: Đọc từng câu một cho chuẩn rồi mới
đọc cả đoạn.

Vạn sự khởi đầu nan, các bạn cần rất kiên trì và
cẩn thận trong giai đoạn bắt đầu này, nó có thể mất
1-2 tuần hay hơn để quen với việc ngắt nghỉ, nhấn
trọng âm cho đúng (thời gian này tuỳ vào mỗi người
cảm thấy là đủ chưa, dù chả có gì là đủ cả). Sau
khi đã thành thói quen, thì việc học nói nhờ đọc diễn
cảm này sẽ thông suốt hơn. Lúc ấy, bạn có thể bắt
đầu việc học nói nhờ đọc trực tiếp các đoạn
tiếng Anh dài mà không cần phải bắt đầu từng ngữ
từng câu nữa.

Tuy nhiên, việc luyện từng từ thì vẫn phải tiếp tục,
cho đến khi bạn nhớ trọng âm và phát âm của cả vốn
từ vựng của bạn. Cần luôn lăm lăm quyển từ điển,
đọc từ nào không chắc phát âm và trọng âm là phải tra
ngay, và luôn có ý thức rút ra quy tắc và kinh nghiệm.

Hãy ghi nhớ, luyện tập một cách chuyên nghiệp và bài
bản bao giờ cũng có vẻ nhàm chán trong giai đoạn đầu,
chỉ luyện đi luyện lại từng kỹ năng nhỏ, một động
tác nhỏ, ở đây là các từ, các ngữ, các câu. Nếu các
bạn đã có thời gian chơi thể thao một cách bài bản như
bóng bàn, cầu lông, bóng đá... hay xem người ta tập, sẽ
hiểu rõ hơn sự đầy ải khi học nói này. Phải kiên trì
và có ý thức. Chả còn cách nào khác.

Ngoài ra, bạn cần tham khảo cách nói của ng bản ngữ
bằng cách nghe các cuộc diễn thuyết, phát biểu trên TV
(tốt hơn là bản tin, vì bản tin là dạng official speaking,
việc nhấn và ngắt nghỉ ở cấp độ bình thường),
đặc biệt là các chính khách Mỹ, vì ng Anh thường nói
như súng bắn (Tony Blair là một ví dụ, ông ta nói tương
đối nhanh so với các chính khách Mỹ). Việc tham khảo này
sẽ giúp bạn so sánh và điều chỉnh cách đọc của mình.
Nghiên cứu khoa học còn phải tham khảo rất nhiều tài
liệu, nữa là học nói, nhỉ!!!
ĐỂ CÓ MỘT GIỌNG NÓI HAY

Nếu đọc chuẩn được phát âm, nhấn đúng và đủ
trọng âm từ và trọng âm câu, đồng thời ngắt nghỉ
hợp lý thì đã có thể nói là khá tốt rồi, gọi là nói
có Ngữ điệu. Tuy nhiên, lúc này vẫn chưa thể gọi là
nói hay (beautifully) được mà mới chỉ có thể gọi là
nói lưu loát (fluently). Bạn nên nhớ rằng ngay cả người
bản ngữ cũng không đồng nghĩa với việc nói hay. Ví dụ
người Việt chúng ta, không phải ai cũng nói một thứ
tiếng Việt hay và đẹp, dễ đi vào lòng người.

Bởi vậy, để nói hay, ai cũng phải luyện tập cả, không
phân biệt người bản ngữ hay người nước ngoài (tất
nhiên là người bản ngữ có thuận lợi rất lớn không
thể phủ nhận). Một ví dụ điển hình là tổng thống
Bush, nếu ai để ý thời sự có thể thấy ông ta càng
ngày càng luyện được giọng nói hay hơn, nếu so với
thời còn đang tranh cử thì quả là khác biệt rất nhiều.
Tuy nhiên, để so với Bill thì còn phải phấn đấu nhiều,
vì với Bill nói hay đã như là một bẩm sinh (nhưng cũng
không có nghĩa là ông ta không phải tập nói). Ngoài ra,
các bạn có thể thấy những người phát thanh viên trên TV
đều phải qua các lớp tập nói nhằm thi vào đài truyền
hình.

***

Ngoài các yếu tố cơ bản đã trình bày ở các phần
trước, nói được hay còn cần một yếu tố quan trọng
là Giai Điệu (melody). Giai điệu cũng có thể chia ra 2
loại:

1. Giai điệu của từ

Hay đúng ra là giai điệu của trọng âm (của từ đa âm
tiết và âm của từ đơn âm tiết). Không chỉ đơn thuần
nhấn dài và mạnh cho đủ đô đối với trọng âm của
từ, mà ta còn phải Luyến nữa. Bởi vì trọng âm thường
kéo dài gấp đôi gấp rưỡi các âm khác, nên nếu ta chỉ
kéo dài nó ra và đọc to nó lên một cách chân phương nghe
sẽ rất đơn điệu (khác với tiếng Việt có 5 thanh, cứ
đọc ra đã có giai điệu rồi).

Để giải quyết vấn đề này, người ta phải luyến các
trọng âm sao cho nghe thật sinh động. Có rất nhiều phong
cách luyến tùy theo vùng ngôn ngữ, nhưng 3 vùng đặc trưng
là Anh, Mỹ và Úc, chúng có các tính chất khá riêng biệt
trên cùng một cơ sở chung. Trong đó, Anh-Mỹ có vẻ có
phong cách luyến nghe ngọt hơn cả.

Việc luyến như thế nào cho đúng rất khó nói qua bài
viết, hơn nữa còn tuỳ vào bạn thích luyến theo kiểu
gì, chứ bạn bảo hãy luyến theo kiểu Thổ Nhĩ Kỳ thì ba
đầu sáu tay tôi cũng chịu. Tuy nhiên, về cơ bản, việc
luyến trọng âm khá giống với thanh NGÃ (~) trong tiếng
Việt, khi kéo dài ra và đọc trầm bổng một cách rõ ràng
hơn. Nghĩa là đầu tiên bạn thổi âm cho vồng lên rồi
lại đè xuống, và kết thúc hơi lên một chút. (đồ thị
cường độ âm tương tự như hình dấu ~). Nhưng hãy chú
ý là nếu đọc khan như dấu Ngã của tiếng Việt (cụt
lủn), thì chả bao giờ bạn đọc đúng cả, phải nhấn
đủ đô (dài và mạnh).

Về lý thuyết là thế, nhưng để cho nhanh, các bạn nên
tham khảo ngay trên TV, radio hay nghe người bản ngữ nói
để tập theo (bản ngữ ở đây là các nước nói tiếng
Anh chính thống).

2. Giai điệu của câu

Tương tự, trong câu có các trọng âm câu thì tương ứng
cũng phải có giai điệu của câu. Cái này khó có thể
miêu tả ở đây. Tôi chỉ muốn lưu ý các bạn về vấn
đề này. Đây là điểm cứu cánh, tính chất quyết định
cuối cùng đến một giọng nói hay.

Về nguyên tắc, câu nói phải lên bổng xuống trầm với
các mốc của nó là các Trọng Âm Câu (xem phía trên). Các
trọng âm câu không chỉ phải luyến nuột và rõ hơn các
trọng âm thường một cách đơn thuần, mà nó còn phải
có vai trò lãnh xướng (lead) các âm tiết quanh nó. Nghĩa
là trước và sau khi luyến trọng âm câu, thì các âm tiết
quanh nó cũng phải có một sự hậu thuẫn làm nền như
thế nào đó...

*****

CÁC PHONG CÁCH NÓI TRONG TIẾNG ANH PHỔ THÔNG

Sau khi đã luyện được giọng nói có giai điệu, luyến
liếc ngon lành, bạn có thể bước vào giai đoạn luyện
nói thực sự hay luyện nói thực hành (practical speaking).
Lúc này, bạn có thế coi có xuất phát điểm tương
đương với người một bản ngữ thông thường. Thách
thức của bạn bây giờ là nói phải hay, phải hấp dẫn
người nghe, thậm chí hấp dẫn cả người bản ngữ.

Cũng như các ngôn ngữ khác, tiếng Anh có rất nhiều phong
cách nói . Nếu các bạn không phân biệt được các phong
cách trong các tình huống khác nhau, cứ bê nguyên một
kiểu giọng mọi lúc mọi nơi thì dễ mắc phải tật ăn
nói lộp bộp như gà mắc tóc. Nói chuyện phiếm ở quán
nước phải khác với tranh luận trong cuộc họp, phát
biểu phải khác với đọc bản tin…

Có rất nhiều phong cách, nhưng tôi tạm chia ra các phong
cách chính như sau:

1. Giọng nói chuyện thông thường:

Đây là phong cách phổ thông nhất mà ai cũng dùng hàng ngay
khi trò chuyện. Chính vì thế, nó cũng không có quy tắc gì
cả, ai thích nói kiểu gì thì nói, trầm bổng, đều
đều, nhỏ to đều ok cả. Nhưng vì trò chuyện thường
dài, phải nói nhiều nên người ta hay nói nhanh, chú ý
tới trọng âm nhưng ít luyến, đồng thời nuốt âm tiết
phụ rất nhiều. Các bạn có thể tham khảo trong cuộc
sống hàng ngày, đặc biệt là trên điện ảnh (cái mà ng
ta vẫn nói là “Phim Mỹ nghe khó bỏ cụ”).

2. Giọng đọc bản tin, báo cáo

Đọc bản tin, báo cáo hay các loại hình tương tự đã
bắt đầu phải có tình hình thức (formal) rồi. Người
đọc bản tin có thể nói nhanh chậm tuỳ ý (các phóng
viên và phát thanh viên của BBC, CNN thường đọc bản tin
hay báo cáo khá nhanh, đặc biệt là tin nóng). Nhưng một
yêu cầu quan trọng là phải rõ ràng, mạch lạc (vì đối
tượng nghe là quần chúng) và trung tính, nghĩa là không
nên đặt cảm xúc cá nhân vào câu nói (vì bản chất
thông tin là phải khách quan).

3. Giọng đọc chương trình khoa học, phóng sự

Giọng đọc các chương trình kiểu phóng sự, khoa học
thường thức… có yêu cầu cao hơn giọng bản tin. Nó có
các tiêu chí sau:

- Rõ ràng mạch lạc (dĩ nhiên)
- Khoan thai (để người nghe còn có thời gian nắm những
thông tin, nhất là thông tin khoa học)
- Mềm mại với một chút truyền cảm tương đối (nhằm
mục đích lôi cuốn người nghe vào các thông tin thường
là mới, chứ không phải đưa cảm xúc hay ý đồ cá nhân
vào)

4. Giọng hùng biện

Đây là cấp khó nhất trong việc nói. Ngay chuyện nói
trước công chúng đã không phải là việc dễ, nhất là
với người Việt hay xấu hổ. Từ phát biểu, đọc diễn
văn, đến diễn thuyết hay trình bày (present) hoặc
nghị/tranh luận (luật sư chẳng hạn) trước đám đông
đòi hỏi nhiều kĩ năng kết hợp, một trong đó là giọng
nói hấp dẫn. Cái này là kết quả của năng khiếu cộng
với luyện tập kiên trì. Nếu bạn là người không có
khiếu hùng biện, thì hãy cần cù bù thông minh. Ngày
trước có chuyện về một người hồi bé nói không ra
hơi, về sau nhờ hàng ngày ngậm sỏi đứng nói át tiếng
sóng biển mà trở thành nhà hùng biện nổi tiếng.

Ngoài các yêu cầu mạch lạc và rõ ràng, để luyện phong
cách rất xương này ngoài còn phải rất lưu ý các điểm
sau:

- Tốc độ: có thể lúc nhanh dồn dập, lúc khoan thai
điềm đạm nhấn từng chữ tuỳ vào ý người muốn trình
bày. Đặc biệt trọng âm câu phải rất chú trọng vì nó
nêu bật ý người nói. Bình thường ta có thể nói với
tốc độ trung bình, nhưng đến các từ khoá hay ngữ khoá,
ta phải chậm lại, nhấn mạnh và rõ.

- Âm lượng: lúc trầm lúc bổng có kiểm soát, đặc biệt
chú ý thổi âm và luyến vồng ở các trọng âm câu hay
từ/ngữ khoá.

- Cảm xúc: càng truyền cảm càng tốt, vì phong cách này
là phục vụ mục đích cá nhân (hay đại diện một tổ
chức) nên càng khiến người nghe đồng tình với mình thì
càng tốt (motivating).Tuỳ theo ý đồ, người nói hoà cả
cảm xúc lẫn ý chí của mình vào câu nói, nhờ đó mà
điều khiển tốc độ và âm lượng theo ý mình, giúp cho
việc biểu hiện (express) được cái hồn của vấn đề.

Trên đây là 4 phong cách chính trong tiếng Anh nói riêng và
các ngôn ngữ nói chung (kể cả tiếng Việt). Ngoài ra, còn
có các phong cách trung gian, hay kết hợp giữa các phong
cách trên, các bạn có thể bổ sung thêm cho đa dạng.

Việc phân biệt các phong cách nói theo tình huống là rất
quan trọng, để người nói có thể lựa chon giọng nói cho
phù hợp, nhằm đạt kết quả là truyền đạt thông tin
đến người nghe một cách tối ưu. Hơn nữa, các phong
cách khá khác biệt, không thể bệ nguyên cách nói ở tình
huống này vào một tình huống khác được.

***

Đến đây tôi tạm kết thúc loạt ‘lan man’ về luyện
nói mà tôi đã đúc kết từ kinh nghiệm của chính bản
thân tôi, từ ngày chập chững học nói tiếng Anh. Hi vọng
nó sẽ bớt giáo điều và có tính thực hành cao hơn, vì
tôi chia sẻ với các bạn với tư cách cũng là một
người đang tự học, hiểu rõ hơn hoàn cảnh của những
người học sinh, đặc biệt những vướng mắc thường
gặp mà đôi khi các thầy giáo vì ở trình độ quá cao
không thể lường được từ học trò của mình.

Tuy nhiên, các bạn phải dựa vào chính sức mình, tự tìm
tòi ra phương pháp của riêng mình trong quá trình tự rèn
luyện, với sự hỗ trợ của các tham khảo đắc lực là
TV, radio hay người thực việc thực. Mọi lý thuyết sách
vở chỉ là giáo điều, chỉ là cặn bã của người viết
(Trang Tử), thực tế mới là quan trọng, bởi vì:
PHỤ LỤC 1: CÁC QUY TẮC TRỌNG ÂM VÀ PHÁT ÂM THƯỜNG GẶP

Qua quá trình luyện từ, tôi xin cung cấp một số quy tắc
nôm na về trọng âm. Tôi không muốn lý luận nhiều như
một số tài liệu về phát âm khác, mà chú trọng đến
tính thực hành. Thiết nghĩ, nhớ các lý luận phát âm
để làm gì, cái đấy dành cho các nhà nghiên cứu ngôn
ngữ. Nhớ trực tiếp các trường hợp thực tế còn nhanh
gọn và đỡ tốn bộ nhớ hơn.

Vị trí tương đối của trọng âm so với các tiếp/hậu
tố (suffix) đặc biệt

* Ghi chú:

Kí hiệu: ‘### trọng âm chính; ,### trọng âm phụ; Thông
thường, các trọng âm phụ có thể không được kí hiệu
trong một số từ điển, nhưng khi nói, các trọng âm phụ
bao giờ cũng được đọc khá rõ. Thực chất, rõ nhất là
trọng âm chính, sau đó là trọng âm phụ, còn các âm còn
lại thì có thể nuốt đi.

Quy tắc: Trọng âm phụ hầu hết đứng cách trọng âm
chính 1 âm tiết (trước hoặc sau). Một số ngoại lệ
đứng cách 2 âm tiết như: ‘classifi’cation;
de,terio’ration;…

1.Các hậu/tiếp tố (suffix) thường là Trọng âm:

#eer: engi’neer, volun’teer; pio’neer;…
#ese: ,Japa’nese; ,Vietna’mese;…
#ental: en,viron’mental; ,conti’nental;…

2.Trọng âm thường đứng ngay trước các hậu tố (suffix)
sau:

--#ion: ,inter’nation; com’passion; re’ligion; ‘fashion …
--#ure: ad’venture‘; cre’ature; ‘pleasure; ‘injure;… (hầu
hết áp dụng cho Danh từ, vì với động từ có một số
trường hợp đặc biệt như in’sure, en’sure…vì trọng
âm của động từ thường nằm ở âm tiết thứ 2)
--#ity: mu,nici’pality; ,possi’bility; ac’tivity; ‘family;…
--#ogy: tech’nology; bi’ology; ,metho’dology;…
--#aphy: bi’ography; pho’tography;…
--#ian: ,indo’nesian; ’indian;…
--#(i)um: ,audi’torium; a’quarium; mo’mentum, …
--#ial: ma’terial; ‘aerial;…
--#ative (mostly in 4 syllabled words): ‘talkative;con’servative;
in’formative… (exception: ‘quantitative, ‘qualitative…)
--#ive (mostly in 2-3 syllabled words): con’ductive; pro’gressive,
‘active; ‘passive;…
--#ic(al): ‘infor’matic; ‘techno’logical, an’gelic;
‘comic…
--#ient/ienc#: efficien-t/ce/cy; pro’ficien-t/cy;…
--#ual: ,indi’vidual; con’ceptual;…
--#ious: re’ligious; de’licious; am’bitious …
--# ify: i’dentify; ’modify;…
--#ish: ‘English; de’molish; es’tablish;…

3.Trọng âm thường đứng cách một âm tiết trước các
hậu tố (suffix) sau:
(đương nhiên chỉ áp dụng cho các từ có từ 3 âm tiết
trở lên)

Chú ý: Một số hậu tố đơn thường là trọng âm phụ,
hay chí ít cũng được đọc khá rõ (dù trong một số từ
điển không ghi kí hiệu (,) là trọng âm phụ)

--*#ate: cer’tifi,cate; ‘confis,cate; …
--*#ise/ize: in’dustria,lise; ‘visua,lize; …
--*#age: ‘sabotage; ‘heritage;…
--*#ism/ist: ,ento’mologist; ‘moder,nism/ist; ‘natura,lism/ist (
(tural) đã bị đọc nuốt thành một âm là (tSral) nên (na)
vẫn coi là cách (ism) một âm tiết); …
--*#er: phy’loso,pher; pho’togra,pher; in’terpre,ter;
‘moni,tor; ‘bache,lor;.. (ngoại trừ một số danh từ chỉ
người được tạo nên bởi việc thêm (er) vào động từ
2 âm tiết vốn thường có trọng âm ở âm tiết thứ 2:
per’form -- > per’former; … hoặc với trường hợp có
(#ator) như co’ordi,nator; co’ope,rator;… vì giống trường
hợp chứa tiếp tố (--#ate) )
--*#ory/ary: pre’paratory; vo’cabulary; la’borotory;
‘fragmentary… (nhưng đây là quy tắc yếu vì có nhiều
trường hợp trọng âm nằm ngay trước nó chứ không cách:
,satis’factory, ,manu’factory; hay trong từ chỉ có 3 âm
tiết: ‘sensory…)

4. Một số quy tắc khác

- Đối với động từ và tính từ có 2 âm tiết, thì
trọng âm hầu hết nằm ở âm tiết thứ 2: im’port;
ex’port; im’pact; ...; co’rrect; e’xact;...

- Đối với danh từ có 2 âm tiết, thì trọng âm hầu hết
nằm ở âm tiết thứ nhất: ‘export; ‘import; ‘impact;
‘effort;...

- Đối với từ có 4 âm tiết kết thúc bằng #ent; #ence;
#ency; #ant; #ance thì trọng âm đứng ở âm tiết thứ 2:
en’vironment; e’quivalen-t/ce/cy; sig’nifican-t/ce;...

- Đối với từ có 3 âm tiết kết thúc bằng #ent; #ence;
#ency; thì trọng âm thường đứng ở âm tiết thứ 1 khi
bắt đầu có phụ âm: ‘preferen-t/ce; ‘consequen’t/ce;…
còn đứng ở âm tiết thứ 2 khi bắt đầu bằng nguyên âm
(trừ i) đơn thuần (nghĩa là mình nguyên âm tạo nên âm
tiết thứ nhất, không kết hợp với phụ âm):
e’mergen-t/ce/cy; occuren-t/ce;…

- Đối với từ có 2 âm tiết (đặc biệt là danh từ) thì
trọng âm thường nằm ở âm tiết thứ nhất khi có các
hậu tố sau: #ate, #ism/ist, #ent; #er, #age, #ous: ‘climate;
‘marxism; ‘artist; ‘payment; ‘player; ‘manage; ‘famous…

Trên đây là một số quy tắc thường gặp nhất mà tôi
tổng hợp được, xin mời các bạn đóng góp thêm cho phong
phú.

*****

PHỤ LỤC 2: LAN MAN MỘT CHÚT VỀ PHÁT ÂM

1. Anh-Anh và Anh-Mỹ

Các bạn học nói tiếng Anh thường băn khoăn là mình nên
theo phong cách Anh-Anh (A-A)hay Anh-Mỹ (A-M). Thực ra theo phong
cách nào cũng tốt cả, nhưng mọi người thường có xu
hướng sính A-M hơn, nhà giàu cũng có khác nhở.

Vậy 2 dòng tiếng Anh này khác nhau những điểm nào trong
phát âm:

- Phụ âm (r): A-M thường đọc rõ âm (r) trong mọi trường
hợp, còn A-A thì để câm nếu nó không phải là phụ âm
chính. Ví dụ (sir): A-M = [sơr:]; A-A = [sơ]. Nhưng thực ra,
hầu hết các dòng tiếng Anh phương Tây như Anh-Đức,
Anh-Hà Lan…hay cả Anh-Úc đều giống A-M trong trường hợp
này. Nghĩa là chỉ có tiếng Anh thuần mới cải biên thế
này, còn lại đều rrrrrrr hết.

- Phụ âm (o) ngắn: A-M đọc tương tự như [a]; còn A-A thì
vẫn là [o]. Ví dụ, (not): A-M = [nat]; A-A = [not]

- Các nguyên âm ngắn không phải trọng âm: trong A-A, các
nguyên âm như e, a, i, o, u khi ở dạng “ngắn” (khác với
dạng dài thì có ký hiệu ( sau phiên âm như [o:], [a:]…)
thì vẫn đọc như thường, nghĩa là quy tắc rất lung tung;
còn trong A-M thì có xu hướng đơn giản hoá bằng cách
đọc thành [ơ]. Ví dụ hậu tố (#ity) trong A-A đọc là
[ity] còn A-M đọc là [ơty]; (#ful) trong A-A là [ful] còn A-M
là [fơl]; (definite) trong A-A [‘definit] còn A-M thì
[‘defơnơt]; (certificate, n) trong A-A là [sơ’tifikit] còn A-M
là [sơ’tifơcơt]; (contribute, v) trong A-A là [cơn’tribjut]
còn A-M là [cơn’tribjuơt]… Điều này có lẽ vì trong A-M,
xu hướng nuốt âm mạnh hơn, nên các âm tiết không phải
là trọng âm (chính hoặc phụ), thường chỉ được đọc
gió phụ âm mà nuốt đi nguyên âm. Vì thế các âm sẽ bị
biến đổi kiểu: …fi… -- > […f(ơ) …]; …cate […kit]--
> [k(ơ)t]

Trên đây là nhưng điểm khác nhau nổi bật giữa 2 dòng
tiếng Anh chính trên thế giới là Anh-Anh và Anh-Mỹ (nếu
không tính Anh-Úc vẫn bị coi là hơi “nhà quê”). Tất
nhiên còn rất nhiều chi tiết nho nhỏ khác trong phát âm
như giọng điệu, cách luyến… Còn nếu xét một cách
toàn diện thì nói bao nhiêu cũng không hết về ngữ pháp,
văn phong, cách dùng từ, điểm câu…

2.Những lỗi hay mắc điển hình trong nói tiếng Anh

a.Không phân biệt khi thay đổi trạng thái động-danh-
tính:

Như đã nói ở trên, khi biến đổi động-danh- tính
(trạng từ không tính vì nó chỉ biến đổi rất nhỏ
bằng cách thêm ly vào cuối, trừ những tính từ bất quy
tắc), thì chính tả của từ thường thay đổi, dẫn đến
sự thay đổi của trọng âm và như một hệ quả, phát âm
của cùng một âm tiết gốc cũng thay đổi tương ứng.
Những người không được luyện phát âm cơ bản, thường
mắc lỗi đánh đồng phát âm và trọng âm các âm tiết
gốc của động-danh- tính của cùng một từ cho nó đơn
giản. Lỗi này có thể do vô tình vì không biết, hoặc do
cố tình vì biết nhưng lười nhớ.

Các bạn hãy chú ý từng chi tiết trong phiên âm của các
ví dụ sau:

Inform [in’fo:m]-information [,info:’meiSơn]-informative
[in’fo:mơtiv]
Prefer [pri’fơ]-preference [‘pref(ơ)rơns]-preferential
[,pref(ơ)’renS(ơ)l]
Photograph [‘foutơgraf]-photograph-y/er[fơ’togrơf-i/ơ]-;
photographic[,foutơ’graefik]-

Thế nào, chúng khác nhau hơi bị nhiều chi tiết đấy
nhỉ, từ vị trí trọng âm chính và phụ lẫn phát âm???

Các bạn thấy rõ ràng là trọng âm thay đổi vị trí. Sở
dĩ có sự thay đổi vị trí trọng âm bởi vì khi biến
động-danh-tính, các tiếp/hậu tố thường được thêm
hoặc bớt, và sự có mặt của các tiếp/hậu tố này sẽ
tác động đến vị trí của trọng âm (e.g. Phụ lục 1).

Sự thay đổi vị trí của trọng âm khi biến đổi trạng
thái động-danh-tính của từ dẫn đến một hệ quả là
cách phát âm của các âm tiết trong từ đó cũng thay
đổi. Thông thường, có các quy tắc tương đối sau:

- Khi nằm ở trọng âm (chính và phụ), các nguyên âm đơn
thường được đọc theo phát âm thuần (khá giống phát
âm gốc Latin) của nó: a [ae]; e [e]; o [o] (trong A-M đọc lái
thành [a]); i [ i]; u [u/ju]; Các nguyên âm kép cũng thường
được đọc theo quy ước: ai [ei]; ee, ie [i:]; ea [e:]/
[i:];… Dĩ nhiên, quy tắc này chiếm một % khá cao, chứ
vẫn có rất nhiều trường hợp chúng phát âm theo quy
ước bảng chữ cái như: a [ei] trong #ation [#eiS(ơ)n]; e [ i]
trong ecomomic [,icơ’nomik]; o [ou] trong #otion [#ouS(ơ)n]; I [ai]
trong finite [‘fainait];…

- Khi không phải là trọng âm, các nguyên âm đơn thường
đọc khác đi, o [ơ]; e [ i]; a [ơ]; u [a]/ [ơ];… đặc biệt
trong A-M thì đa số được nuốt âm để thành [ơ] như đã
nói ở trên. Các nguyên âm kép thì thường là bất quy
tắc, có khi phát âm theo quy ước, có khi lung tung cả.

Các bạn có thể thấy 2 quy tắc trên qua các ví dụ trong
bài này, hoặc cụ thể là ví dụ sau:

Academy (n) [ơ’kaedơmi] – academic (a) [,aecơ’demik]

Ngoài ra, ngay cả khi từ được giữ nguyên dạng chính tả
khi thay đổi trạng thái thì có rất nhiều trường hợp
vị trí trọng âm cũng thay đổi.

- Trường hợp hay gặp là các từ có 2 âm tiết mà danh và
động từ như nhau, ví dụ: impact(n) [‘impaekt]-impact(v)
[im’paekt]-; ‘export(n) [ekspo:t]-ex’port(v) [iks’po:t ];
record(n) [‘rekơ:d] - record [ri’ko:d]… (xem 4. Một số quy
tắc khác, Phụ Lục 1).

- Một số trường hợp giữ nguyên dạng khác: hậu tố
(#ate): ở động từ, phát âm là [#eit] và được nhấn như
một trọng âm phụ; nhưng nếu ở danh-tính từ thì là
[#it] (A-A) hay [#ơt] (A-M) và nhấn nhẹ hơn: certificate(v)
[sơ’tifi,keit]/ [sơ’tif(ơ),keit] - certificate(n)
[sơ’tifikit]/ [sơ’tif(ơ)kơt]; elaborate(v) [i’laebơ,reit] -
elaborate(n, a) [i’laebơrit]/ [i’laeb(ơ)rơt].

- Tuy nhiên, cũng có rất nhiều trường hợp bất quy tắc.
Ví dụ trong các từ 2 âm tiết có danh và động từ như
nhau, thì cả phát âm lẫn trọng âm cũng như nhau luôn, ví
dụ: re’port; de’lay;…Trường hợp giữ nguyên như thế
này có khi nhiều hơn cả trường hợp có biến đổi, nên
không biết là cái nào mới gọi là bất quy tắc.

b. Một số trượng hợp cụ thể về phát âm dễ sai:

-Hậu tố (#age): sai: [#eidZ] - đúng: [#idZ] (heritage…), đặc
biệt hơn là sabotage [‘saebơtadZ]

-hậu tố (#ate) ở danh hay tính từ chỉ có một trạng
thái không biến đổi: sai [#eit] – đúng [#it]/[#ơt]. ví
dụ: climate [‘claimit]/[‘claimơt]; hostel-mate
[‘host(ơ)lmit]/[‘host(ơ)lmơt]; affectionate [a’fekS(ơ)nit]/
[a’fekS(ơ)nơt];…

-hậu tố (#able): sai [#eibl] – đúng [#ơbl]. Ví dụ:
vegetable: sai [‘vedZteibl] – đúng [‘vedZtơbl]; comfortable:
sai [‘kamfơteibl] – đúng [‘[‘kamfơtơbl];… (ngoại lệ:
unable [a’neibl]).

-#ea#: khá là bất quy tắc, khi thì là [#i:], khi là [#e:],
đặc biệt là biến đổi khi biến đổi trạng thái của
từ, ví dụ: threat (n) [thre:d]– threaten [‘thri:t(ơ)n]; read
(v) [ri:]– read (quá khứ) [re:d]; lead (v) [li:d]: lãnh đạo
– lead (n) [le:d]: chì (đồng âm khác nghĩa);…

-Ngoài ra, có các từ cụ thể mà thường bị sai: Knowledge:
sai [‘nouledZ] - đúng [‘no:lidZ]; tomb raider: sai [tomb raidơ]
– đúng [tum reidơ]; load: sai [lwad] – đúng [loud] (trường
hợp trong tin học); exhibition: sai [,ikshi’biSn] – đúng
[,eksi’biSn];

Còn rất nhiều điểm khác, đề nghị các bạn đóng góp
vào cho phong phú.

***

Lời cuối:

Về phát âm, thật chuẩn theo một dòng Anh ngữ chính
thống như Anh-Anh, Anh-Mỹ hay Anh-Úc thì là rất tốt. Tuy
nhiên, quy tắc phát âm của tiếng Anh khá lung tung vì tính
phổ cập của nó ở các vùng địa lý trên thế giới,
ngay cả trong cùng một quốc gia hay một vùng, phát âm cũng
đã biến dị rất nhiều. Vì thế, không nhất thiết phải
quá hoàn thiện cho vấn đề này, trừ phi bạn cực kì
cầu toàn.

Nhưng bạn phải rất lưu ý về trọng âm, bởi vì dù ở
các vùng nói tiếng Anh phổ cập nào, tiếng Anh cũng
được nói theo một quy ước trọng âm chung nhất. Đây là
yếu tố hàng đầu để nói và nghe được thống nhất,
tránh nghe nhầm dù trong điều kiện nào.

Reply all
Reply to author
Forward
0 new messages