Tại sao TC lại giết các con đầu lòng của người Ai Cập? | Conggiaovietnam.net (TL)

1,000 views
Skip to first unread message

Alphonse Family

unread,
Nov 3, 2019, 5:54:45 PM11/3/19
to Alphons...@googlegroups.com
Hãy đọc với nhãn quan của con người có lương tri bình thường, không với lăng kính tôn giáo. Xem bình luận ở bên dưới
MS

TẠI SAO THIÊN CHÚA LẠI GIẾT CÁC CON ĐẦU LÒNG CỦA NGƯỜI AI CẬP?

 

  Xin cha vui lòng giải thích vì sao trước đây Thiên CHúa đã giết các con đầu lòng của người Ai Cập  trong khi Chúa dạy không được giết người trong Điều Răn thứ Năm của Chúa?

Trả lời :

Thiên Chúa là tình yêu, chậm bất bình và hay tha thứ. Đó là điều chúng ta phải tin chắc không chút hoài nghi.

 Về câu hỏi tại sao Thiên Chúa lại giết các con đầu lòng của dân Ai Cập, chúng ta không quên sự kiện vua Pharra-ô của Ai Cập đã không chịu cho dân Do Thái rời đất

Ai Cập trở về quê hương của họ như ông Mô-se yêu cầu theo lệnh truyền của Thiên Chúa .Nhưng Pha a ô , vua Ai Cập đã ngoan cố không muốn cho dân Do Thái hồi hương. Vì thế, Thiên Chúa đã gửi những tai họa đến cho Ai Cập trong đó có tai ương các con đầu lòng của Ai Cập đã bị giết như ta đọc thấy trong Sách Xuất Hành

11&12. Đây  là tai họa thứ mười Thiên Chúa giáng xuông Ai Cập để buộc vua Phar a –ô buông tha cho dân Do Thái được hồi hương dưới sự lãnh đạo của ông Mô-sê. Kết quả là cuối cùng Phar a-ô đã phải nhượng bộ để cho dân Do Thái rời khỏi Ai Cập trở về quê quán của họ.

 Tuy nhiên, qua tai họa mà Thiên Chúa giáng xuống dân Ai Cập để giải thoát dân Do Thái cho họ trở về quê hương, chúng ta thấy THiên Chúa đã tha phép cho việc giết các con đầu lòng của dân Ai Cập. Tại sao Thiên Chúa lại giáng tai họa này xuống cho Ai Cập để cứu dân Do Thái đang sống nô lệ thống khổ trên đất Ai Cập được  trở về quê quán của họ sau bao nhiêu năm phải làm nô lệ trên đất Ai Cập ?

 Thiên Chúa làm như vậy có trái với giới răn cấm giết người mà Thiên Chúa đã truyền cho con người phải tuân giữ hay không ?

 Đây quả thật là một vấn nạn khó hiểu cho con người ở khắp mọi nơi từ xưa đến nay.  Nhưng nếu chúng ta đọc kỹ Kinh Thánh Cựu Ước thì chúng ta có thể hiểu lý do tại sao Thiên Chúa đã hành động xem ra khó hiểu như vậy trong hoàn cảnh cụ thể nói trên,  khi Người đã giết các con đầu lòng của dân Ai Cập kể cả con đầu lòng của vua Ai Cập là Phara ô để buộc vua này cho người Do Thái được trở về quê hương của họ như Thiên Chúa đã  truyền cho ông Mô-Sê mệnh lệnh sau đây : 

 “…Bây giờ ngươi hãy đi. Ta sai ngươi đến với Phara – Ô để đưa dân Ta là con cái Ít-ra-el  ra khỏi Ai Cập.” ( Xh 3: 10)

 Nhưng vì  Pharra ô không chịụ cho dân Do Thái  rời Ai Cập để về quê hương của họ như Thiên Chúa đã truyền cho ông Mô-sê, nên để làm nản lòng Pha ra ô Thiên Chúa đã giáng mười tai họa xuống Ai Cập trong đó có tai họa các con đầu lòng của Ai Cập bị giết, kể cả con đầu lòng của  vua Phar a ô. Và với tai họa thứ mười này, Pharra ô đã phải nhượng bộ để cho Dân Do Thái được rời khỏi Ai Cập mà trở về quê hương dưới sự lãnh đạo của ông Mô-sê

 Như thế Thiên Chúa đã dùng một sự dữ nhỏ là giết các con đầu lòng của Ai Cập để đạt mục đich to lớn hơn là giải phóng cho toàn dân Do Thái khỏi ách nô lệ thống khổ bên Ai Cập khiến họ đã kêu cứu Thiên Chúa giải thoát họ khỏi nỗi thống khổ trên.THiên Chúa đã phán như sau:

  “  tiếng rên siết của con cái It-ra el  đã thấu tới Ta. Ta cũng đã thấy cảnh áp bức chúng phải chịu vì người Ai Cập.” ( Xh 3: 9)

 Vì thế, để cứu họ,  Thiên Chúa đã sai ông Mô-sê đẫn đưa con cái It=ra- El rời Ai Cập  để về chiếm ngự “  một miền đất tốt tươi, rộng lớn, miền đất tràn trề sữa và mật , xứ sở của người Ca na an..” ( Sđd 3:8)

 Sứ mệnh của ông Môsê nói trên  cũng tiên báo Sứ Mệnh của Chúa Kitô, Ngôi Hai Thiên Chúa  được sai xuống trần gian làm  CON NGƯỜI  để “hy sinh mạng sống mình làm giá chụộc  cho muôn người. “ ( Mt 20:28) khỏi chết đời đời vì tội .   Thi hành Sứ Mệnh này, Chúa Kitô đã trở thành tân Adam và tân Mô Sê để cứu chuộc cho toàn thể nhân loại khỏi  chết vf tội như Thánh Phaolô đã dạy như sau:  

 “Thật vậy, nếu vì một người duy nhất ( Adam) đã sa ngã mà muôn người phải chết, thì ân sủng của Thiên Chúa ban nhờ một người duy nhất là Đức Giêsu Kitô  còn dồi dào hơn biết mấy cho muôn người.” (Rm 5: 15)

 Ân sủng đồi dào Thiên Chúa đã ban cho nhân loại nhờ Chúa Giêsu Kitô đã vui lòng vác thập giá để chịu đóng đanh và chết trên thập giá để cứu chuộc cho muôn người khỏi phải phạt và chết đời đời vì tội.  Như thế Thiên Chúa đã chấp nhận cái chết của Con mình là Chúa Giêsu Kitô để cứu cho toàn thể nhân loại khỏi chết vì tội.Nói rõ hơn, Chúa Giêsu đã hy sinh chịu chết trên thánh giá cho muôn người được sống. Người đã xin Chúa Cha cất chén đắng tức là cất cho Người khỏi phải chịu đau khổ và chết , nhưng Chúa đã xin vâng Ý Chúa Cha chứ không muốn theo ý của riêng mình,Và Chúa Cha đã chấp nhận sự hy sinh cao cả của Chúa Con  làm của lễ đẹp lòng Chúa Cha nhất cho mục đích xin ơn tha tội cho cả nhân loại. Trong tinh thần và ý nghĩa cao cả đó, Chúa Giêsu đã trở thành “ Chiên Thiên Chúa, Đấng xóa tội trần gian” .như Thánh Gioan Baptist đã tuyên xưng một ngày kia  khi thấy Chúa Giêsu tiến lại với ông ( x.Ga 1 : 29)

  Con chiên, trong Nghi lễ Cựu Ước, bị giết và vị tư tế đã lấy máu của con chiên để rẩy trên bàn thờ và trên các tín hữu có mặt để tha tội cho họ nhờ máu con chiên đã chịu sát tế trong nghi lễ toàn thiêu ( Holocaust) theo truyền  thống Cựu Ước.

 NHững gì đã xẩy ra trong thời Cựu Ước đều đã được thực hiện  trong Thời Tân Ước khi Chúa Kitô đến trong trần gian để thi hành Chương Trình cứu độ nhân loại của Chúa Cha, “  Đấng cứu độ chúng ta, Đấng muốn cho mọi người được cứu độ và nhân biết chân lý” ( 1Tm  2: 4),  

 Để thi hành Chương Trình Cứu Độ của Chúa CHA, Chúa Kitô đã vui lòng vác thập giá và chịu chết treo trên đó  “để làm  giá cứu chuộc cho muôn người,” ( Mt 20:28)

 Như thế việc sát tế , dù là con chiên trong thời Cựu Ước hay chính  cái chết của Chúa Giêsu trên thập giá sau này đã có giá trị tha tội  và cứu rỗi cho những ai tin và muốn được cứu độ nhờ Công Nghiệp Cứu Chuộc vô giá của Chúa Giêsu Kitô.”Dấng đã hy sinh mạng sống mình làm giá chuộc cho muôn người.”* MT 20: 28)

 Thiên Chúa Cha -trong Bản Thập giới-, đã cấm việc giết người ( Điều Răn Thứ Năm) Nhưng lại chấp nhận cái chết của Con mình là Chúa Giêsu Kitô, Đấng đã chịu sát tế như Con Chiên vẹn sạch để cứu chuộc cho cả loài người tội lỗi đáng phải phạt và chết đời đời vì tội.

 Xưa kia trong thời Cựu Ước, để cứu toàn dân Do Thái khỏi ách thống khổ trên đất Ai Cập, Thiên Chúa đã giáng Mười tai họa- trong đó có tai họa giết các con đầu lòng của Ai Cập để làm nản lòng vua Phara- ô  ngoan cố không chịu cho dân Do Thái rời khỏi Ai Cập; như Thiên Chúa đã thông cảm nỗi thống khổ của dân Do Thái mà đã sai ông Môsê dẫn đưa họ về quê hương Thiên Chúa hứa ban là đất Ca-na-an “đầy sữa và mật”.

 Việc giết các “con đầu lòng” của người Ai Cập , mặt khác, cũng cho thấy Thiên Chúa trong thời Cựu Ước là Thiên Chúa công thẳng , là Thiên Chúa trừng phạt những kẻ làm sự dữ mà không biết sám hối ăn nan để được tha thứ.   ĐỨC CHÚA thấy  trên mặt đất sự gian ác của con người  quả là nhiều, và suốt ngày lòng   

Sách Sáng Thế đã kể cho  chúng ta hai trường hợp Thiên Chúa phải đánh phạt con người vì những sự dữ con người đã làm mà  không biết sám hối và từ bỏ để không bị đánh phạt. Đó là trận lụt “ Hồng Thủy” thời ông NÔ-E và hai thành Gô-môra  và Sô-đôm đã bị lửa từ trời xuống thiêu rụi thời ông Apraham  

Lý do Thiên Chúa phải trừng phạt nhẫn tiền với Trận lụt  Hồng Thủy ( Deluge) vì “ chúng nó chỉ toan tính những ý  định xấu. ĐỨC CHÚA hối hận vì đã làm ra con người trên mặt đất, và Người buồn rầu trong lòng. ( St 6: 5-6) 

Vì thế. Thiên Chúa đã quyết định  tiêu diệt con người và mọi sinh vật  trên mặt đất trừ gia đình ông NÔ E và những sinh vật được ông đem lên Tầu trước khi mưa tuôn đổ bốn mươi đêm  ngày xuống địa cầu và cuốn vào lòng đại dương mọi người và sinh vật bên ngoài con Tầu của ông NÔ Ê.Ông được coi là người công chính đã sống đẹp lòng Chúa nên ông và vợ con ông không bị tiêu diệt trong Trận  Hồng Thủy nói trên .

 Đến thời ông Apraham, Thiên Chúa lại phải đánh phạt hai thành  SÔ ĐÔM và GOMORAH bằng lửa trên trời rơi xuống thiêu rụi mọi người  và sinh vật trong hai thành tội lỗi trên đây.Thiên Chúa phán: 

 “ Tiếng kêu trách SÔ ĐÔM và GOMORAH thật quá lớn, tội lỗi của chúng quá nặng nề. Ta phải xuống xem  thật sự chúng có làm như tiếng kêu trách đã thấu đến Ta chăng. Có hay không Ta sẽ biết,” (St 18: 20-21)

 Ông Apraham, người công chính sống đẹp lòng Chúa, đã kêu xin Chúa tha trừng phạt cho hai thành  đó. Ông đã xin với Chúa là nếu ông tìm được 50 người lành thì Chúa có vì họ mà tha chết cho những khác không. Chúa đồng ý tha, nếu ông tìm được 50 người  tốt lành.Nhưng ông đã không tìm được . Ông lại rút xuống 45 người để xin Chúa Tha. Chúa cũng đồng ý nhưng ông cũng không tìm được . Ông lại rút xuống còn 30 người, rồi 20 người và cuối cùng là 10 người . Chúa vẫn kiên nhẫn chờ nhưng ông không tìm được ai là người công chính để xin Chúa tha tiêu diệt hai thành tội lỗi trên. Rốt cuộc ông và gia đình đành rời khỏi nơi đó  trước khi Chúa cho lửa từ trời xuống thiêu hủy hai thành tội lỗi kia !

 Sự kiện trên đã cho thấy là Thiên Chúa, dù Người là tình yêu và tha thứ, nhưng nếu con người cứ phạm tội ,cứ làm sự dữ mà không kíp sám hối để xin tha thứ thì Thiên Chúa sẽ giáng cơn thịnh nộ  của Người xuống cho những ai lợi dụng lòng thương xót của Người để cứ làm sự dữ, sự tội mà không mau kíp ăn năn sám hối để xin tha thứ. Chúa ghét và ghê tởm mọi tội lỗi, nhưng lại yêu thương kẻ có tội biết sám hối  và xin tha thứ. 

 Hai tai họa  Lụt Hồng Thủy và tiêu diệt hai thành SÔ ĐÔM và GÔ MÔ RAH mà Thiên Chúa đã giáng xuống trên  con người trong thời ông NÔ Ê và ông Apraham đã cho ta thấy thái độ cứng rắn của Thiên Chúa đối với những sự dữ ,sự tội  con người làm ở khắp nơi trên trần gian này mà không biết sám hối, ăn năn để xin tha thứ. Đây là hình ảnh của Thiên Chúa trong thời CỰU ƯỚC qua đó chúng ta thấy Thiên Chúa là Đấng nhân lành nhưng lại dễ nổi cơn thịnh nộ để  thẳng tay trừng phạt những sự dữ và những kẻ làm những gì xúc phạm đến bản chất yêu thương , thánh thiện và công bằng của Chúa.

 Nhưng nếu Thiên Chúa của CỰU ƯỚC  là hình ảnh của một người CHA nghiêm khắc  dễ thịnh nộ và trừng phạt thẳng tay con cái loài người , thì THIÊN CHÚA của Chúa

Kitô-Giêsu trong thời TÂN ƯỚC lại là hiện thân của lòng thương xót ,khoan hòa và thứ tha không bờ bến.

 Thật vậy, THIÊN CHÚA của CHÚA GIÊSU là THIÊN CHÚA tha không chỉ giới hạn đến 7 lần mà đến 70 lần 7 . Hơn nữa, còn  là Thiên Chúa tha thứ và cầu nguyện cho cả kẻ thù , chứ không giới hạn cho người thân ,người bạn của mình.Cụ thể , Chúa Giêsu đã tha cho mọt phụ nữ phạm tội ngoại tình  bị bọn Biệt phái bắt gặp và dẫn đến để xin Chúa cho ném đá theo luật của ông Môsê, nhưng Chúa Giêsu đã nói với chị kia : “…Tôi không lên án chj đâu ! Thôi chị cứ về đi và  từ nay đừng phạm tội nữa.” ( Ga 8: 11). Cụ thể hơn nữa, qua dụ ngôn về Đứa con hoang đàng hay Người Cha nhân hậu” Chúa  Giêsu đã dạy mọi người chúng ta bài học quí giá về lòng quảng đại tha thứ của Chúa đối với những  người tội lỗi biết sám hối để xin tha thứ. Chúa nói : Ta không  đến để kêu gọi những người công chính , mà để kêu gọi người tội lỗi sám hối ăn năn.” (Lc : 5-22).

 Cũng vậy, Chính vì muốn  tha thứ hơn là trừng phạt thẳng tay, nên Chúa Giêsu đã nói với mấy người thuộc nhóm Biệt Phái đến hỏi Chúa xem có phải những người bị Tổng Trấn Phi-la-tô giết và mười tám người khác bị thác Si-lô-a đổ xuống đè chết có phải họ là những người tội lỗi hơn người khác không, Chúa đã trả lời họ như sau:

 “  Tôi nói cho các ông biết : không phải thế đâu.Nhưng nếu các ông không chịu sám hối  thì các ông cũng sẽ chết hết y như vậy,” ( Lc 13: 5)

 Lại nữa  , nhân có mấy người Biệt Phái xầm xì với nhau  về việc Chúa đến dùng bữa với mấy người thu thuế mà họ coi là quân tội lỗi, Chúa Giêsu đã trả lời họ như sau: “ người khỏe mạnh không cần thầy thuốc, người đau ốm mới cần …Ta  không đến để kêu goi người công chinh, mà đến để kêu gọi người tội lỗi.” ( Mt 9 :13) . Như thế, Thiên Chúa  của Chúa Giêsu Kitô là Thiên Chúa của sự khoan dung và  tha thứ, là Thiên Chúa kiên nhẫn chờ đợi kẻ tội lỗi ăn năn sám hối để được tha thứ chứ không muốn  trừng phạt không chút khoan nhượng. Điều này đã thể hiện cụ thể khi Chúa Giêsu còn đang bị treo trên  thánh giá . Chúa đã cầu xin cho những kẻ đã đóng đanh và sỉ nhục Người , thay vì lên án và muốn thẳng tay  trừng phạt họ như sau :

 “ Lậy Cha , xin tha cho chúng vì chúng không biết việc chúng làm.” ( Lc 23:34)

 Qua lời cầu nguyện trên, Chúa Giêsu đã bào chữa cho những kẻ tử thù của Người khi xin Đức Chúa Cha tha tội cho chúng mặc dù chúng quả thật  phải biết việc chúng làm là đã kết án Chúa cách vô lý đầy bất công.Nhưng Chúa không chấp khi tha tội và còn cầu nguyện cho chúng nữa.   Tôi bảo thật anh : hôm nay anh sẽ được ở với tôi trên Thiên Đàng.” (Lc 23: 43)

Và đối với người gian phi cùng chịu đống đanh nhưng biết sám hối, Chúa đã nói với anh ta như sau: “Anh gian phi này đã một đời sống trong tội lỗi, đã làm biết bao tội ác và sự dữ đáng bị đóng đanh trên cây thập tự cùng với  một gian phi nữa và cùng chung với Chúa Kitô, Người lành vô tội.Nhưng chỉ một phút ăn năn sám hối nhận biết mình là kẻ có tội thì lập tức Chúa đã tha hết mọi tội cho anh  và cho anh được vào Thiên Đàng với Chúa , một vinh phúc mà các Thánh Nam Nữ khác đã một đời sống đẹp lòng Chúa trên trần thế, đã hy sinh chịu chết vì đức tin như các Thánh Tử Đạo, hoặc chấp nhận mọi gian nan  bách hại khi đi rao giảng Tin Mừng Cứu Độ của Chúa như các Thánh truyền giáo. Các ngài xứng đáng được vào Nước Trời sau khi đã hoàn tất hành trình đức tin trên trần gian này.

  So với anh trộm lành bị đóng đanh, đã  sám hối và được Chúa cho vào Thiên Đàng cùng với Người, thì các Thánh Nam Nữ kia cũng  đã chiu nhiều đau khổ và khó khăn biết bao mà cũng chỉ được hưởng vinh phúc Thiên Đàng  như anh trộm lành kia, đã đi đường tắt mà được vào Thiên Đàng trong khi các Thanh Nam Nữ khác đã phải đi qua những con đường dài đầy trông gai trở ngại mới đạt được phần thưởng đích đáng cuối cùng  là được hưởng Thánh Nhan Chúa trên cõi vĩnh hằng.

 Như thế, đi đường tắt như anh trộm lành hay đường dài như các Thánh Nam Nữ thì cuối cùng đều được vào Thiên Đàng vui hưởng Thánh Nhan CHÚA  là quá đủ hạnh phúc cho họ rồi, vì lý tưởng hay mục đích của họ là được chiếm ngự Nước Trời để vui hưởng Thánh Nhan Chúa là Nguồn an vui , hạnh phúc  và bình an đích thực. Đó cũng là lý tưởng và mục đích của mọi người tín hữu chúng ta  đang sống đức tin có Thiên Chúa là CHA cực tốt cực lành, Đấng đã tạo dựng và cứu chuộc chúng ta nhờ Chúa Cứu Thế Giê su, “  Đâng đã hy sinh mạng sống mình làm giá chuộc cho muôn người. ( Mt 20:28) 

Tóm lại, Thiên  Chúa là tình yêu, dù Người phải đánh phạt con người cách nhãn tiền như ta đọc thấy trong Kinh Thánh thời Cựu Ước. Thiên Chúa đã đánh phạt con người cách

nhãn với trận lut Hồng Thủy  thời ông NO E và tàn phá hai thành SÔ ĐÔM và GOMORAH thời ông Apraham cũng như đã giết các con đầu lòng của người Ai Cập để làm nản lòng vua Phara-ô là kẻ đã ngoan cố ngăn cản không cho dân Do Thái đang nô lệ bên Ai Cập được trở về quê hương của họ.  Thiên Chúa đã truyền cho ông Môsê sứ mệnh dẫn đưa dân Do Thái rời Ai Cập về chiếm ngự đất mới “ đầy sữa và mật” là đất Canaan.

   Nhưng Thiên Chúa của Chúa Kitô trong thời Tân Ước lại tỏ ra nhẫn nại và khoan hòa với kẻ tội lỗi mặc dù Người chê ghét mọi tội lỗi và sự dữ như giết người, giết thai nhi, thù hận, chia rẽ , gây chiến tranh giết hại dân lành, trộm cướp, ngoại tình, dâm ô thác loạn, nhất là buôn bán phụ nữ và trẻ nữ cho bọn ma cô tú bà hành nghề mãi dâm  và ấu dâm (Child prostitution) rất khốn nạn và tội lỗi như thực trang sống của biết bao người trong thế giới tục hóa , vô luân vô đạo ngày nay.

 Thiên Chúa chưa đánh phạt họ và thiêu hủy  các thành phố của bọn làm những sữ dữ trên như Chúa đã thiêu hủy hai thành SÔ ĐÔM và GOMORAH trong thời Cựu Ước đã cho ta thấy là Thiên Chúa còn nhẫn nại và khoan hòa với những kẻ lâm sự dữ sự tội xúc phạm nặng nề đến bản chất yêu thương  thánh thiện và an hòa của Thiên Chúa, Đấng chậm bất bình và hay thương xót.Chậm bất bình để cho kẻ tội lỗi có thêm thời giờ ăn năn sám hối, từ bỏ con đường tội lỗi dẫn đưa đến hư mất đời đời.Nhưng không phải thấy Chúa khoan dung mà lợi dụng lòng thương xót của Chúa để không cố gắng từ bỏ tội lỗi  mà sống theo đường lối của Chúa hầu được cứu độ để vào Nước Trời hưởng phúc Thiên Đàng với các Thánh và các Thiên Thần. Ai có thái độ sống lợi dụng như vậy thi hãy nghe lời Chúa nghiêm khắc cảnh cáo như sau trong Sách Khải Huyền :

 “  Ta biết các việc ngươi làm,.Ngươi chẳng nóng mà cũng chẳng  lạnh.Phải chi ngươi lạnh hẳn hay nóng hẳn đi. Nhưng vì ngươi cứ hâm hâm chẳng nóng chẳng lạnh nên Ta ( Kh3 : 15-16)  Tuy Chúa  nghiêm khắc cảnh cáo như vậy, nhưng Người  vẫn nhẫn nại và khoan dung chờ đợi kẻ có tội  ăn năn sám hối để khỏi bị trừng phạt, vì Thiên Chúa là “Đấng cứu độ  chúng ta , Đấng muốn cho mọi người được cứu độ và nhận biết chân lý.” ( 1Tim 2: 4) sặp mửa ngươi ra khỏi miệng Ta.”

 Như vậy, còn tình thương và khoan hòa nào lớn hơn tình  Chúa yêu thương và khoan dung với mọi người chúng ta ,con cái loài người ?

 Tóm lại, Thiên Chúa quả thật là tình thương như Thánh Gioan Tông Đồ đã quả quyết :

  “  Ai không yêu thương thì không biết Thiên Chúa  Vì Thiên Chúa là tình yêu,” ( 1Ga 4:8)

 Thiên Chúa là tình yêu trong mọi hoàn cánh dù phải đánh phạt con người  như ta đọc thấy trong Kinh Thánh Cựu Ước , hay khoan hòa đại lượng với con người  như Thiên Chúa của Đức Giêsu-Kitô trong thời Tân Ước.

 Chính vì yêu thương con người tội lỗi, mà Thiên Chúa đã sai Con Một của  Người là Chúa Giêsu Kitô xuông trần gian làm Con Người để “hy sinh mạng sống  của mình làm giá chuộc cho muôn người.” ( Mt 20 :28)

 Trong Chúa Cứu Thế Giêsu, chúng ta thấy rõ Thiên Chúa là CHA khoan dung, nhẫn nại, nhân từ, chậm bất bình  và hay tha thứ. Nếu Thiên Chúa không nhẫn nại khoan hòa và tha thứ thì không ai có thể làm được điều gì xứng đáng để vào Nước Trời  ưởng phúc Thiên Đàng. Nhờ Chúa Giêsu đã dâng mình tế lễ đền tội cho nhân loại , mà Chúa Cha đã tha thứ hết cho con người tội lỗi và hứa sẽ không còn nhớ những việc xâu sa họ  đã làm nữa:, như Người đã phán :  Ta sẽ không còn nhớ đến  Lỗi lầm và việc gian ác của chúng nữa’” ( Dt 10: 17).

 “  Vậy, chúng ta hãy  cảm tạ Chúa muôn vàn về tình thương tha thứ quá rộng lượng của Chúa dành cho mọi người chúng ta trong Chúa Giêsu Kitô, Đấng trung gian duy nhất giữa Thiên Chúa và loài người, Đấng đã hỏa giải con người với Chúa CHA  qua sự vâng phục và vui lòng chịu chết trên thập giá năm xưa để cứu chụộc cho muôn người được sống. Amen.

 Ước mong những giải đáp trên thỏa mãn câu hỏi đặt ra.

 Lm. P.X Ngô Tôn Huấn

Hỏi : Tác giả:  Lm. Ngô Tôn Huấn, Doctor of Ministry
===================================
Ông cha này nói dài dòng nhưng không giải thích được về khía cạnh của lương tâm và đạo đức khi ĐTC đã giáng hoạ (trực tiếp ra tay) bằng cách giết các con đầu lòng của người Ai Cập:
1/ Vua Ai Cập đã ngoan cố không muốn cho dân Do Thái hồi hương: Đúng. Nhưng không phải là người dân Ai Cập, nhất là những người sinh con đầu lòng xui rủi phải chịu tai hoạ khủng khiếp này.
2/ Thiên Chúa đã dùng một sự dữ nhỏ là giết các con đầu lòng của Ai Cập để đạt mục đich to lớn hơn là giải phóng cho toàn dân Do Thái khỏi ách nô lệ thống khổ bên Ai Cập: Không đúng. Đây là 1 sự dữ không nhỏ và không tương xứng. Hãy tưởng tượng nổi đau của những người có con bị giết hại. TC hoàn toàn có thể dùng nhiều cách khác hợp lý hơn.
3/ Với tai họa thứ mười này, Pharra ô đã phải nhượng bộ để cho Dân Do Thái được rời khỏi Ai Cập mà trở về quê hương dưới sự lãnh đạo của ông Mô-sê: Đúng. Nhưng hiệu quả của việc này có giới hạn, chỉ là nhượng bộ tạm thời mà thôi. Sau đó, Vua Pharaon đã sai binh lính đuổi theo truy bắt người Do Thái và ĐCT đã mở cuộc thảm sát thứ 11 là chôn sống toàn bộ đại quân Ai Cập dưới làn biển đỏ.
4/ Việc giết các “con đầu lòng” của người Ai Cập , mặt khác, cũng cho thấy Thiên Chúa trong thời Cựu Ước là Thiên Chúa công thẳng, là Thiên Chúa trừng phạt những kẻ làm sự dữ mà không biết sám hối ăn nan để được tha thứ: Không đúng. Hình phạt áp dụng không đúng đối tượng và quá nghiêm khắc, không tương xứng với hành vi, như trên.
MS

Alphonse Family

unread,
Nov 4, 2019, 5:50:12 PM11/4/19
to Alphons...@googlegroups.com

Bài giải thích này của Lm.Ngô Tôn Huấn vừa đăng ở website Conggiaovietnam.net không ngờ bị 3 nhà ...thần học giáo dân là MS, Già Làng Vũ Sinh Hiên và Huy Trần chê quá. Hãy xem các bình luận dưới đây:

From: hien vu sinh

Sent: Monday, November 04, 2019 6:24 AM
Subject: Re: Tại sao TC lại giết các con đầu lòng của người Ai Cập? | Conggiaovietnam.net (BL)

Tôi hoàn toàn đồng thuận với "lời bàn" của MS, và bực bội khi đọc lời giải thích vòng vo tam quốc của ông Lm. Ngô Tôn Huấn.

VSH

From: Huy Tran
Sent:
Monday, November 04, 2019 7:54 PM
Subject: Re: Tại sao TC lại giết các con đầu lòng của người Ai Cập? | Conggiaovietnam.net (BL)

Giải thích vừa dài dòng, dở ẹc.

---o0o---

* Xin lưu ý: Linh Mục Phanxicô Xaviê Ngô Tôn Huấn là nhà thần học thứ dữ: Pastor St. Gregory The Great Church (Houston, Texas, Mỹ), Linh Hướng Phong trào Cursillo Việt Nam /GP Galveston-Houston, một chuyên viên giải đáp các thắc mắc về giáo lý, có danh xưng là Doctor of Ministry (Tiến sĩ mục vụ)

Sở dĩ Lm. Ngô Tôn Huấn giải thích thấy dài dòng là do ông ta đã dùng phương pháp quy chiếu chỉ ra mối liên hệ giữa Cựu ước và Tân ước với mục tiêu là dùng Tân ước để hoá giải các hành động được coi là của ĐCT ở Cựu ước (ngược lại với cách thông thường mà ta thường gặp là dùng Cựu ước để minh hoạ cho hình ảnh của Chúa Giêsu là Đấng Cứu Thế ở Tân ước).

Tin hay chê thì tuỳ theo quan điểm mỗi người. Nhưng vấn đề tiếp theo là làm sao giải thích được 1 cách hợp lý về các hành động được coi là của ĐCT ở Cựu ước, có vẻ tàn bạo, nhằm mục tiêu giải thoát cho dân Chúa Israel. Đây cũng là chìa khoá để giải thích về tính hợp lý và hiện thực của cuốn Sách xuất hành (Exodus) mà các tôn giáo lớn có tín đồ chiếm đa số trên hành tinh này đều tin và coi là Kinh thánh: Do Thái giáo, Kitô giáo và Hồi giáo (sách Suras 7, 10, 28 và 44 trong Qu'ran)

Departure of the Israelites (David Roberts, 1829)

Có các cách giải thích khác như sau:

1/ Nếu như câu chuyện của Exodus là có thực thì hành động trừng phạt mang tính cảnh cáo của ĐCT là hợp lý và tương xứng vì trước đó Vua Pharaoh đã ra sắc lệnh giết chết tất cả trẻ nam sơ sinh Do Thái rồi vứt xuống sông Nile.

2/ Sách Xuất hành chỉ là huyền thoại sáng lập của người Do Thái, có một số cơ sở lịch sử nhưng có nhiều yếu tố không có thực.

Theo các học giả hiện đại, sách này cung cấp một nền tảng tư tưởng cho văn hóa và thể chế của người Israel, chứ không phải là sự mô tả chính xác về lịch sử của họ.

Không có giai đoạn nào trong lịch sử Ai Cập phù hợp với các nội dung của cuốn Xuất hành. Một số yếu tố của câu chuyện rõ ràng có ý nghĩa là sự giải thích hợp lý kỳ diệu của bệnh dịch, nạn châu chấu, nước  biển biến thành màu đỏ... thường xẩy ra ở Ai Cập và dĩ nhiên không phải là do bàn tay của ĐCT. Mục đích của câu chuyện là để phóng đại sức mạnh của ĐCT (Yaveh) và Moses.


Illustration of the Exodus from Egypt by the Providence Lithograph Company, 1907

3/ Sách Exodus là huyền thoại không có thực trong lịch sử:

Các học giả hiện đại phản bác như sau:

- Theo Exodus, lúc đó có 603.550 người kể cả phụ nữ và trẻ em ra đi với tất cả hành lý, chiên, bò... Hiện tại nhìn lại, nhiều học giả nghi ngờ khi dân Israel vượt qua Sinai, hệ sinh thái sa mạc của bán đảo Sinai có thể không cung cấp đủ thức ăn và nước uống để duy trì sự sống cho một lượng người lớn như thế. Trong khi dân số hiện nay của Sinai ước lượng chỉ khoảng hơn 38.000. Sa mạc Sinai không bao giờ có thể hỗ trợ cho 603,550 người Israel vượt qua như đã được đề cập ở Kinh thánh.

- Các nhà khảo cổ Israel FinkelsteinNeil Asher Silberman nói rằng khảo cổ học tìm thấy dấu vết của những nhóm người săn bắn hái lượm nhỏ ở Sinai, không có bằng chứng nào cho một số đông người sinh sống ở đó như được mô tả trong câu chuyện Exodus.

- các văn bản Ai Cập cổ đại về đế chế Ai Cập có đề cập đến sắc dân được gọi là "Asiatics" sống ở Ai Cập với tư cách là nô lệ và công nhân. Tuy nhiên những người này không có mối liên hệ với người Israel và không có văn bản Ai Cập đương đại nào đề cập đến một cuộc di cư quy mô lớn như nô lệ được mô tả trong kinh Thánh.


Israel in Egypt (Edward Poynter, 1867)

- Sự ghi nhận của lịch sử còn tồn tại lâu đời nhất của người Israel là Tấm bia Merneptah

(Merneptah Stele) của Ai Cập (có khoảng năm 1207 trước Công nguyên), dường như cho rằng dân tộc Israel cư ngụ ở xung quanh Canaan và không có dấu hiệu nào về cuộc di cư có quy mô lớn vào thời điểm đó như theo cách được mô tả trong Kinh Thánh.

- Các cuộc khai quật và khảo sát lặp đi lặp lại trên toàn bộ khu vực thậm chí không cung cấp bằng chứng nhỏ nhất về cuộc di cư này. Thay vào đó, khảo cổ học hiện đại cho thấy sự liên tục giữa khu định cư của người Canaan và người Do Thái, cho thấy nguồn gốc chủ yếu của người Canaan đối với Israel.

Nguồn: https://en.wikipedia.org/wiki/The_Exodus

Mời các huynh có ý kiến  giải thích khác hợp lý hơn. Với BL của 2 huynh trên bài này đã được đánh dấu là Thảo luận (TL).

MS


Vào 05:54:45 UTC+7 Thứ Hai, ngày 04 tháng 11 năm 2019, Alphonse Family đã viết:

Alphonse Family

unread,
Nov 6, 2019, 5:16:30 AM11/6/19
to Alphonse Family
Chú giải của cha Thuấn quá hay
From: Huy Tran
Date: Tue, 5 Nov 2019 19:15:59 -0800 (PST)
Subject: Re: Tại sao TC lại giết các con đầu lòng của người Ai Cập? | Conggiaovietnam.net (TL)
Xin mời đọc lại 1 phần giáo trình của GLDT - GĐAP về v/đ nầy, trích dẫn từ các chú giải của Cha Thuấn

XUẤT  HÀNH

 1. DẪN NHẬP SÁCH XUẤT HÀNH.

 Sách xuất hành, tập sách thứ hai trong ngũ kinh được người Dothái gọi là  “Torah ”, thường được dịch là Lề Luật. Sách Xuất hành đề cập đến việc thành lập dân được chọn và việc thiết lập Lề luật và tôn giáo. Trình thuật được ghi lại thông qua khung cảnh cuộc đời của Môsê. Hai đề tài chính trong Xuất hành: Việc giải phóng khỏi Aicập và giao ước tại Sinai. Hai đề tài được nối kết nhau bằng 1 đề tài phụ là cuộc hành trình trong sa mạc.

Sách Xuất hành là trung tâm của Cựu ước khi trình bày cho chúng ta một Thiên Chúa giải thoát con người. có thể nói, Sách xuất hành là Tin Mừng thời Cựu ước. Sách nầy, mang lại cho Dothái giáo và Đức Tin Kitô giáo, định hướng khác hẳn các tôn giáo khác. Thiên Chúa không đến để cho người ta tôn kính hay chỉ vẽ con đường linh đạo thường thấy ở các tôn giáo khác, nhưng Người đến để chọn lựa một dân và rồi thông qua họ mà Người hoạt động giữa lòng lịch sử nhân loại. Thiên Chúa tự mặc khải mình cho Môsê, vì Người muốn chọn cho mình một dân riêng. Đó chính là Israel, như lời hứa với tổ phụ Abraham. Các Kitô hữu về sau nhận ra chân dung Đức Yêsu chính là Môsê mới. Chính Ngài sẽ khai mào cuộc mạo hiểm mới và những hình ảnh trong Cựu ước được tìm thấy trong thực tại Hội Thánh như vượt biển Đỏ là phép Rửa, tảng đá phát sinh dòng nước là Đức Kitô …

Tuy nhiên, Xuất Hành, trong ý nghĩa đầu tiên: Cuộc giải thoát khỏi nô lệ và sự chọn lựa của dân Israel. Thiên Chúa đem Israel ra khỏi Aicập, như người hộ sinh đem đứa trẻ sơ sinh khỏi bụng mẹ. Các trình thuật trong sách Xuất Hành dẫy đầy những chuyện hay. Những chuyện nầy dệt nên những bức tranh hoành tráng chúng ta sẽ cùng nhau  nghiên cứu các ý nghĩa của nó .

Cuộc xuất hành trở về Đất Hứa của Israel diễn ra khoảng năm 1240 trước công nguyên, khi mà người Aicập trổi dậy nắm giữ lại vương quyền tuyệt đối, các dân du mục lưu cư trên lãnh thổ nầy không còn được tôn trọng. Nhiều nhóm trong số nầy phải trốn chạy để tránh các khoản thuế hà khắc hay lao động cưỡng bức, trong đó có hậu duệ của Yuse ngày xưa. Chính trong bối cảnh nầy mà có cuộc xuất hành trốn chạy trong đêm và bị binh đoàn Aicập truy đuổi và họ chỉ được cứu thoát nhờ sự can thiệp của Thiên Chúa. Vị thủ lãnh dẫn đầu cuộc trốn thoát đó đã giải thích cho họ biết biến cố đó là do chính Thiên Chúa độc nhất, Thần của cha ông họ, chọn họ làm dân của Người,  đã cứu họ. Thời gian lưu lại trong sa mạc Sinai là thời gian họ được trao luật Thiên Chúa và huấn luyện sao để trở thành dân riêng của Người .

Trong Xuất Hành chúng ta gặp thấy lịch sử nhưng ngoài ra sách còn tường thuật nhiều hơn nữa mà lịch sử hiểu theo nghĩa hiện đại không đồng thuận. Sách không phải là tác phẩm cuả một tác giả, nhưng là thành quả của một quá trình lâu dài và được dùng dưới nhiều phương thức khác nhau để nói lên lịch sử xa xưa. Hình thức cuối cùng, được các tư tế định hình vào thời lưu đày Babylon trở về. Họ tập hợp các kỷ niệm, các bản văn, biên soạn và triển khai theo phương thức mà dân Israel phải nhìn lại quá khứ của mình để hiểu chính mình. Làm như thế, các soạn tác chỉ cho dân đương thời nhận ra cách  cha ông làm Dân Thiên Chúa và đến lượt họ, họ phải thực hiện tiếp như thế nào . Chính từ đây mới có quan niệm về một dân đông đảo được huấn luyện, có tổ chức, có Thánh điện trong sa mạc, có tư tế, có cả công nghệ đúc kim loại (thế mới đúc được bò vàng  và đám dân nầy bước đi như một con người duy nhất, được nuôi dưỡng bằng Manna trong suốt bốn mươi năm. Toàn dân đã được trang bị cẩn thận để tiến vào Hứa Địa.

Chúng ta, những Kitô hữu ngày nay, phải đối diện với một thực tại lịch sử kép: Lịch sử của khoa học và lịch sử đã huấn luyện dân Israel ngày xưa, dân Chúa ngày nay. Lịch sử đầu tiên, cho chúng ta nhận biết Thiên Chúa thật sự đi vào nhân loại và hoạt động như thế nào, đồng thời mở ra cho thấy: phương pháp sư phạm rất kiên nhẫn của Người. Lịch sử thứ hai cho chúng ta là những kẻ đón nhận Người, biết chúng ta là ai và chỉ mang trọn vẹn ý nghĩa với ai thực sự đón nhận Đức Kitô là gia nghiệp.

Chúng ta không tách rời hoàn toàn hai lịch sử ấy nhưng thông qua các trình thuật mà cảm nghiệm  thấy Thiên Chúa hằng sống, Đấng Giải Thoát Israel, được các soạn tác ghi nhận để truyền cho chúng ta ngọn lửa đã được thắp sáng từ núi Sinai .

2 . MÔSÊ  ĐƯỢC GỌI VÀ GIAO SỨ MẠNG .

2.1 DUNG MẠO VỊ CỨU TINH TRONG CỰU ƯỚC.

Trong cuối thập niên sáu mươi của thế kỷ trước, các nhà điện ảnh làm một tập phim hoành tráng với tựa đề “ Mười điều răn ” mô tả cuộc vượt thoát cảnh nô lệ của dân Israel dưới sự dẫn dắt của Môsê khỏi Aicập. Tất nhiên phim ảnh thì phải có hư cấu mới hấp dẫn người xem, trong đó có câu chuyện tình tay ba giữa Môsê, Pharaoh và vị công chúa xinh đẹp. Tuy nhiên, thiết nghĩ cần nói trước với các anh chị, phim ảnh làm méo mó đi sứ điệp mà Kinh Thánh muốn truyền đạt, tạo cho người xem cái cảm tưởng sự kiện trên phim ảnh diễn ra thực như buổi tường thuật tại chỗ như chúng ta đang xem tivi ngày nay một phóng sự nào đó. Vậy, Môsê, Ông là ai?

Trước tiên, chúng ta cần loại bỏ cách hiểu của Mặc khải trong Kinh Thánh  cách thô thiển. Khi trình bày về Môsê như vị cứu tinh đưa dân Israel khỏi ách nô lệ Aicập, các trình thuật đã được biên tập để nói cách Thiên Chúa cứu độ dân Người.

Môsê, Nhân vật nổi bật trong ngày đầu của Israel, khi trở thành 1 dân được định danh, khó vạch rõ dung mạo, tâm tình, hoạt động. Kinh thánh không thõa mãn những yêu cầu sử hạnh con người đó, chỉ cho thấy tính chất vị cứu tinh là thế nào:

Theo Midrash, Yannes, Yambres là các đại pháp sư Aicập, báo trước cho Pharaoh về sấm 1 trẻ nhỏ Dothái sẽ hủy diệt Aicập khi đến ngày cùng tháng tận ( Safer ha Yashar), dẫn dân Dothái khỏi Aicập. Pharaoh, những người khôn ngoan, dân Aicập kinh hãi, bàn mưu kế để thoát hiểm. Lệnh tru diệt trẻ em Dothái được ban hành.

Amran, người chi tộc Lêvi, đề nghị mọi người không sinh con 1 cách vô ích: Hãy ly thân. Ông làm gương trước bằng cách ly thân với vợ là Yokhabed, không biết bà đã có thai được 3 tháng. Myriam, nữ tiên tri, con gái ông cho biết:  Chính ông sẽ sinh vị cứu tinh cho dân tộc. Ông tái hôn bà Yokhabed. Điều đó lý giải: Môsê sinh ra đã ba tháng  mà không bị phát hiện. Môsê thoát nạn và được công chúa Aicập nuôi nấng cách kỳ diệu. Môsê nghĩa là được vớt lên khỏi nước.

Chúng ta dễ dàng nhận thấy sự phát họa chân dung 1 vị cứu tinh cùng với những kỳ tích. Sau nầy, Matthêu cũng dùng chính những hình ảnh nầy mô tả triệu báo sinh nhật của Vị Cứu Tinh Yêsu.

2.2 MÔSÊ Ở AICẬP.

Dòng dõi Lêvi thuộc nhóm di dân cầu thực, hoặc là tù binh. Công việc họ phải làm nặng nhọc như: Hái nho, đào hầm mỏ, xây dựng. Khá hơn là viên chức nhỏ, ký lục. Muốn thế, họ cần được đào tạo dưới quyền quản đốc của các mệnh phụ quý tộc. Điều nầy giải thích về thiếu thời của Môsê.

Môsê được đào tạo thành viên chức nhưng vẫn giữ liên lạc họ hàng thân tộc. Lúc nầy Aicập có chiến tranh với Hattu nên phải đề phòng bằng cách xây tường lũy, kho tàng. Nhân công chính là các dân du mục lưu cư, tù binh, bao gồm cả Israel. Dân du mục thường chuộng tự do tất nhiên chống đối. Bị cưỡng bách là việc dễ hiểu.

 2.3 MÔSÊ TẠI MADIAN.

Trong 1 biến cố, có lẽ các tư tế muốn trình bày ý muốn cứu thoát dân bằng chính quyền lực mình, Môsê phải trốn sang Madian, một bộ tộc du mục có họ hàng thân tộc với dân Israel. Ông có cơ hội sống đời tự do phóng khoáng như các tổ phụ từng sống. Sinh con, lập nghiệp. Cuộc đời của ông sẽ đi vào quá khứ như 1 thường nhân nếu không có sự can thiệp của Thiên Chúa. Trong 1 lần chăn thả súc vật tại Khoreb, Thiên Chúa đã thay đổi tận cùng cuộc đời Môsê.

 2.4 ƠN GỌI MÔSÊ.

 Thiên Chúa tỏ mình cho Môsê như là Thiên Chúa của tổ tiên ông, mang tính liên tục, dấu chỉ Thiên Chúa trung tín, sống động (nghe, nhìn, yêu thương). Với lời kêu gọi và sai đi, Môsê thoạt đầu đã năm lần bảy lượt chối từ. Có lẽ đây là kinh nghiệm của ngôn sứ khi nhận ra tình trạng bất xứng của mình trước Thiên Chúa và lời mời gọi của người. Thiên Chúa đã gọi, tất nhiên ân sủng sẽ được ban cho người thừa sai thi hành sứ vụ. Môsê cũng thế.

 2.5 MẶC KHẢI DANH ĐỨC CHÚA.

Khi được hỏi về Danh Thiên Chúa để loan báo cho dân, Môsê được cho biết Người Là YHWH ( Yahveh). Dịch nghĩa văn vẻ “ Ta là Đấng hiện Hữu”. Nhưng như thế cũng chưa diễn đạt được sự huyền nhiệm sâu thẳm thần tính của Người :

       - Thiên Chúa làm cho có, hoặc Có đó.

       - Ta là ai, việc đó không phải việc của ngươi.

- Chính là Ta - Ego eimi - từ tương đương Yahvê ( Chúng ta sẽ thấy Chúa Yêsu mặc khải về Người với từ nầy trong Tân Ước) , hãy tựa vào Ta… Ta là Ta.

 Mặc khải về hình thức có Tên, nhấn mạnh đến sự hiện diện của Người. Người long trọng cam kết sự hiện diện của Người. Mặt khác, điều nầy lại không phải thuộc tính đích thực của bản chất YHWH. Bản tính Thiên Chúa vô phương đạt thấu, Người cho biết Người điều khiển hoàn vũ theo ý định Người. Chỉ duy nhất Người: Đấng hiện hữu. Tất cả còn lại là không.

(Các anh chị lưu tâm đến việc mặc khải  Danh nầy để có thể hiểu về tuyên ngôn Nước Trời về sau, trong các Mối Phúc Thật)

 3. XUÁT HÀNH KHỎI AICẬP.

 Sách xuất hành sử dụng thể văn truyền kỳ, chung chung mang âm hưởng thiên anh hùng ca, thường được kể lại, diễn kịch, dưới lều trại,  trong các chợ phiên để ca tụng kỳ công Thiên Chúa đã cứu thoát Israel khỏi ách nô lệ. Chính vì thế chúng ta cần châm chước nhiều với các biến cố có tính cường điệu:

   - Pharaoh : một vị tướng lĩnh biên thùy nào đó.

   - Tai ương : phóng đại các hiện tượng tự nhiên ngày nay vẫn còn xãy ra.

   - Vượt Biển Đỏ : Thủy triều lên xuống…

 Khía cạnh lịch sử, dân Dothái bị bắt bớ đọa đày có lẽ vào thời SETI (1314-1232) và biến cố xuất hành dưới thời RAMSES II (1298-1232). Tuy nhiên, chúng ta không quá quan trọng về lịch sử theo nghĩa cận đại nhưng theo những gì soạn giả nhân danh Thiên Chúa để nói với mỗi người.

 3.1. LỄ VƯỢT QUA ( Pascha)

Nghi tiết nầy có từ rất lâu trong dân du mục, bán du mục. Nghi lễ không cần tư tế, bàn thờ. Quan trọng là: dùng máu bôi lên cửa lều trại để xua đuổi tà thần xấu xa. Vào khoảng trăng rằm mùa xuân, người ta bắt con chiên non béo tốt, cho ở gần gia đình, hàm ý như 1 thành viên. Sau đó, người ta giết thịt, lấy máu bôi lên lều trại. Chiên được nướng, đơn giản vì không cần dụng cụ, ít hao nước, ăn với ít rau đắng mọc hoang trong sa mạc, có độc nhưng như là gia vị.

Đến thời Môsê, nghi tiết vượt qua nầy có ý nghĩa thánh sử: Đánh dấu việc Thiên Chúa can thiệp để cứu dân khỏi ách nô lệ Aicập, một việc làm công chính mà Thiên Chúa vì trung tín với Lời Hứa, đã thực hiện. Nghi thức nầy xy ra sau tai ương giáng xuống Pharaoh và vương quốc. Trong đó, việc tường thuật giết con đầu lòng người Aicập, gây cho người đọc khá nhiều phản cảm. Vậy chúng ta hiểu các vấn đề nầy thế nào?

 3.2. CÁC TAI ƯƠNG GIEO XUỐNG PHARAOH VÀ AI CÂP.

Rất nhiều và rất nhiều anh chị trong các khóa học hay có dịp đọc các đoạn trình thuật nầy tỏ ra rất bất bình, cảm thấy Thiên Chúa thật bất công giáng họa trên dân Aicập, trừng phạt tập thể. Đặc biệt với tai ương thứ 10 - giết con đầu lòng người và vật Aicập, hình như để chứng tỏ uy quyền tối thượng.

Ngoài ra, khi trả lời các chất vấn nầy, do nhiều nguyên nhân, người trình bày không diễn đạt được tường tận nên cũng tạo sự bất mãn ngấm ngầm trong lòng các học viên. Quả thật, đây là một trong nhiều đoạn trình thuật khó nuốt trôi khi miêu tả Thiên Chúa vốn mệnh danh là Thiên Chúa tình yêu, lại ra tay thanh trừng sắc tộc. Cứu lấy một đám dân nầy mà tàn sát dã man vô số kẻ khác. Một Thiên Chúa được miêu tả như thế, người Aicập ngày nay khi đọc, làm sao có thể tin yêu, phó thác trọn vẹn được? Một Thiên Chúa như thế, liệu có đáng cho chúng ta tin theo? Vậy, đâu là ý nghĩa trình thuật nầy đề cập đến?

Phải nói rằng, trình thuật về tai ương giáng xuống Pharaoh và người Aicập không phải là sự trừng phạt tập thể nhưng diễn tả tính liên đới. Nếu lưu ý Midrash tường thuật miêu tả khi nghe triệu báo về vị cứu tinh Israel sinh ra, Pharaoh và triều thần cùng dân chúng đều kinh hãi, bàn mưu và cùng đồng phạm trong quyết định giết trẻ em sơ sinh.

 Pharaoh và vương quốc của mình được biên tập tiêu biểu cho quyền lực xấu xa tàn ác, thống trị, nô lệ con người, cụ thể là người Dothái. Thiên Chúa giết con đầu lòng người và vật Aicập là dấu chỉ Thiên Chúa tận diệt tới tận mầm mống của sự dữ để giải phóng con người khỏi ách nô lệ. Khi đề cập con đầu lòng , là đề cập tính kế thừa liên tục.

Thật ra, trình thuật nầy mang sứ điệp tiên tri. Bằng cái chết và sự phục sinh của Đức Yêsu Kitô, Người đã tiêu diệt tận cùng ách nô lệ tội lỗi do tên ác thần tròng vào nhân loại, mà đỉnh cao của sự dữ là cái chết. Do đó, khi đọc tới đoạn văn nầy, các anh chị đừng bận tâm theo nghĩa đen mà các tư tế viết lại để mang lại một ý nghĩa tuyệt đối về ơn cứu độ Thiên Chúa đã làm cho Dân mà Người chọn.


Vào 05:50:12 UTC+7 Thứ Ba, ngày 05 tháng 11 năm 2019, Alphonse Family đã viết:
Reply all
Reply to author
Forward
0 new messages