Vatican News
Truyền chức giám mục Huynh đoàn Thánh Piô X: Vạ tuyệt thông
Một văn kiện do Đức Hồng y Tổng trưởng Bộ Giáo lý Đức tin ký xác định nghi thức được cử hành ngày 1/7 là “một hành vi mang bản chất ly giáo”. Một Bản ghi chú giải thích trình bày chi tiết về hình phạt giáo luật nghiêm trọng này.
Các giám mục thuộc Huynh đoàn Linh mục Thánh Piô X, Alfonso de Galarreta và Bernard Fellay, lần lượt là giám mục chủ phong và giám mục phụ phong, cùng bốn tân giám mục Pascal Schreiber, Michael Goldade, Michel Poinsinet de Sivry và Marc Hanappier, đã “đương nhiên” mắc “vạ tuyệt thông tiền kết” dành riêng cho Tông Tòa, vì đã thực hiện “một hành vi mang bản chất ly giáo”, đó là “truyền chức giám mục cho bốn linh mục mà không có sự ủy nhiệm của Đức Giáo hoàng và trái với ý muốn của Đức Giáo hoàng”.
Đây là nội dung được nêu trong sắc lệnh do Đức Hồng y Víctor Manuel Fernández, Tổng trưởng Bộ Giáo lý Đức tin, ký và được hai vị Tổng Thư ký của Bộ đồng ký. Đây là kết cục đáng buồn nhưng đã được báo trước, xảy đến 24 giờ sau nghi thức trọng thể được cử hành tại Écône, Thụy Sĩ, vào sáng ngày 1/7/2026.

Sắc lệnh của Bộ, trước đây là Thánh Bộ, xác nhận rằng khi thực hiện việc truyền chức, cả các giám mục truyền chức lẫn những người được truyền chức đều mắc vạ tuyệt thông theo quy định. Đây là kết cục đau buồn, hậu quả của quyết định mà những người theo Đức cha Lefebvre đưa ra, trái với ý muốn đã nhiều lần được Đức Giáo hoàng Lêô XIV bày tỏ.
Vạ tuyệt thông đặt cả các giám mục lẫn các linh mục thuộc Huynh đoàn Thánh Piô X vào tình trạng tách lìa khỏi Giáo hội Roma. Đối với các tín hữu giáo dân, những người chính thức gia nhập Huynh đoàn phải được coi là đã mắc vạ tuyệt thông.
Những chi tiết đầy đủ hơn được trình bày trong một “Bản ghi chú giải thích”, được Bộ công bố đồng thời với sắc lệnh tuyệt thông. Sau đây là toàn văn.
Bản ghi chú của Bộ
Từ thời Thánh Phaolô VI cho đến những cuộc đối thoại gần đây nhất được tiến hành tại Bộ này, nhiều nỗ lực nhằm đưa những người gia nhập phong trào do Đức cha Marcel Lefebvre khởi xướng trở về hiệp thông trọn vẹn với Giáo hội Công giáo đều không mang lại kết quả.
Tình trạng này càng trở nên nghiêm trọng hơn do những việc truyền chức giám mục gần đây được cử hành mà không có sự ủy nhiệm của Đức Giáo Hoàng, trái với ý muốn của Đức Giáo Hoàng và công khai vi phạm Giáo luật.
Vì thế, trong khi trung thành thực thi những nhiệm vụ được trao phó, Bộ này nhận thấy cần phải xác định rằng hành vi ấy cấu thành tội ly giáo, kéo theo những hậu quả giáo luật đối với các thừa tác viên có chức thánh và các tín hữu giáo dân liên quan.
Thật vậy, như đã được tuyên bố vào năm 1988: “Sự bất tuân này, vốn kéo theo việc thực tế từ chối quyền tối thượng của Giáo hoàng Roma, cấu thành một hành vi ly giáo” (x. Thánh Gioan Phaolô II, Tông thư dưới dạng tự sắc Ecclesia Dei, số 3).
https://www.vatican.va/content/john-paul-ii/it/motu_proprio/documents/hf_jp-ii_motu-proprio_02071988_ecclesia-dei.htmlVề vấn đề này, kể từ nay:
1. Các thừa tác viên có chức thánh thuộc Huynh đoàn Linh mục Thánh Piô X đang ở trong tình trạng ly giáo và do đó phải được coi là những người ly giáo (x. Ecclesia Dei, số 5c; Hội đồng Tòa Thánh về các Văn bản Luật, Ghi chú giải thích về vạ tuyệt thông do tội ly giáo mà những người gia nhập phong trào của Đức cha Marcel Lefebvre mắc phải, ngày 24/8/1996, số 5-6). Vì thế, họ phải chịu vạ tuyệt thông theo quy định của luật (đ. 1364 §1 Bộ Giáo luật).
2. Đối với các tín hữu giáo dân, những người chính thức gia nhập Huynh đoàn Linh mục Thánh Piô X, theo những điều kiện được xác định trong Bản ghi chú giải thích năm 1996 của Hội đồng Tòa Thánh về các Văn bản Luật, phải được coi là những người ly giáo và đã mắc vạ tuyệt thông (x. tài liệu đã dẫn, số 7). Bản ghi chú này vẫn còn hiệu lực và được Bộ này tiếp nhận làm của mình.
https://www.vatican.va/roman_curia/pontifical_councils/intrptxt/documents/rc_pc_intrptxt_doc_19960824_vescovo-lefebvre_it.html3. Sau cùng, Dân thánh Chúa được lưu ý rằng các thừa tác viên có chức thánh của Huynh đoàn Linh mục Thánh Piô X cử hành các bí tích cách bất hợp luật; Bí tích Hòa giải do họ ban và hôn phối do họ chứng đều bất thành sự.
Giáo hội, như một người mẹ ân cần, sẽ đón nhận với lòng yêu thương chân thành và sự quan tâm sâu sắc tất cả những ai mong muốn trở về hiệp thông trọn vẹn. Các Sứ thần Tòa Thánh sẽ thiết lập những thủ tục mà các Đấng Bản quyền có thể áp dụng trong từng trường hợp khác nhau.
Sau cùng, tất cả các tín hữu được khuyến khích kiên vững trong sự hiệp thông với Đức Giáo hoàng Roma, với các giám mục hiệp thông với ngài và với toàn thể Giáo hội (x. Lumen Gentium, số 22; đ. 751 Bộ Giáo luật), đồng thời tránh tham dự các buổi cử hành và những hoạt động do Huynh đoàn Linh mục Thánh Piô X nói trên tổ chức.
Vatican News
Cuộc ly giáo Lefebvre tái diễn sau 38 năm
Bất chấp những nỗ lực quảng đại của Thánh Phaolô VI và Thánh Gioan Phaolô II, quyết định xóa vạ tuyệt thông của Đức Bênêđictô XVI và những năng quyền được Đức Phanxicô ban, với việc tiến hành các cuộc tấn phong giám mục bất hợp pháp trái với ý muốn của Đức Giáo hoàng, Huynh đoàn Linh mục Thánh Piô X một lần nữa tách khỏi Roma.
Đây là một câu chuyện đầy trắc trở, được ghi dấu bằng những nỗ lực quảng đại, những cánh cửa luôn rộng mở và những cơ hội được trao ban. Đây là một câu chuyện đau buồn, đặc trưng bởi hai cuộc đoạn tuyệt nghiêm trọng, khiến Huynh đoàn Linh mục Thánh Piô X, do Đức Tổng Giám mục Marcel Lefebvre thành lập, tách khỏi Đức Giáo hoàng và khỏi sự hiệp thông với Giáo hội Roma, khi thực hiện hành vi
ly giáo bằng việc tấn phong các giám mục mà không có sự ủy nhiệm của Đức Giáo hoàng và trái với ý muốn của Đấng Đại diện Chúa Kitô. Sự rạn nứt diễn ra ngày 1/7 vừa qua gây ra những hậu quả nghiêm trọng không chỉ đối với các giám mục và linh mục thuộc phong trào Lefebvre, nhưng còn đối với tất cả các tín hữu, bởi vì, như được nêu trong Ghi chú giải thích của Bộ Giáo lý Đức tin, các linh mục của Huynh đoàn Linh mục “cử hành các bí tích cách bất hợp pháp, và bí tích Hòa giải do họ cử hành cũng như hôn nhân do họ chứng
hôn đều bất thành sự”.
Những quyết định của Đức Tổng Giám mục LefebvreTrong Công đồng Chung Vatican II, Đức Tổng Giám mục người Pháp Marcel Lefebvre thuộc nhóm thiểu số trong Công đồng phản đối một số cuộc cải tổ, dù vậy vẫn ký vào Hiến chế về Phụng vụ (Sacrosanctum Concilium), cũng như Tuyên ngôn về Tự do Tôn giáo (Dignitatis humanae). Cũng cần nhắc lại rằng Đức Tổng Giám mục Lefebvre đã cử hành Thánh lễ theo nghi thức năm 1965, bao gồm những cải tổ phụng vụ đầu tiên vẫn còn mang tính thử nghiệm.
Sau khi thành lập Huynh đoàn Linh mục Thánh Piô X vào năm 1970, với chủng viện riêng tại Écône, thuộc giáo phận Fribourg của Thụy Sĩ, và được Đức Giám mục giáo phận François Charrière công nhận, Đức Tổng Giám mục Lefebvre từ chối cử hành theo Sách lễ Roma mới. Năm 1974, ngài gọi những điều được Công đồng gần nhất đưa ra là “những điều mới mẻ phá hủy Giáo hội”.
Trong bản tuyên bố ngày 21/11/1974, ngài viết: “Chúng tôi từ chối và luôn từ chối đi theo một Roma mang khuynh hướng tân hiện đại và tân Tin Lành, vốn đã biểu lộ rõ ràng trong Công đồng Vatican II và, sau Công đồng, trong tất cả những cuộc cải tổ phát sinh từ đó. Quả thực, tất cả những cuộc cải tổ này đã góp phần và vẫn tiếp tục góp phần phá hủy Giáo hội...”.
Giáo phận rút lại sự công nhận dành cho Huynh đoàn Linh mục, nhưng Tòa Thánh vẫn tìm cách đối thoại với Đức Tổng Giám mục. Đức Phaolô VI thành lập một ủy ban để lắng nghe những yêu cầu của ngài và năm 1975, yêu cầu Đức Tổng Giám mục Lefebvre đóng cửa chủng viện Écône, đồng thời không tiến hành thêm những cuộc truyền chức linh mục mới. Ba lần, Đức Giáo hoàng Montini viết thư cho Đức Tổng Giám mục và cử những vị giáo sĩ thân tín đến thăm trụ sở của những người theo chủ nghĩa truyền thống.
Sau một lần từ chối nữa, Đức Tổng Giám mục Marcel Lefebvre bị huyền chức “a divinis”. Ngài không còn được phép cử hành các tác vụ thánh. Dù vậy, vào tháng 8 năm ấy, ngài vẫn chủ sự Thánh lễ đã bị cấm, trước sự hiện diện của 10.000 tín hữu và 400 nhà báo, tạo nên tiếng vang rất lớn trên các phương tiện truyền thông.
Tháng 9/1976, Đức Tổng Giám mục Lefebvre được Đức Giáo hoàng tiếp kiến tại Castel Gandolfo. Cuộc gặp không mang lại kết quả nào. Trong cuộc trò chuyện với triết gia người Pháp Jean Guitton vào tháng 9/1976, khi ông xin ngài làm “điều có thể và cả điều không thể để tránh” một cuộc ly giáo, Đức Phaolô VI trả lời: “Tôi cảm nhận điều ấy chính xác như ông. Và còn sâu sắc hơn ông vô cùng: đây là thập giá thực sự đầu tiên trong 13 năm triều Giáo hoàng của tôi. Nhưng tôi có thể nói với ông rằng tôi đã làm tất cả những gì có thể để tránh điều ấy”.
Ngài nói thêm: “Tôi không thấy... làm thế nào, trên thực tế, trong vài tháng nữa, người ta lại không buộc phải biến tình trạng không hiệp thông này thành vạ tuyệt thông”. Trên thực tế, điều ấy đã không xảy ra. Không phải vài tháng, nhưng nhiều năm đã trôi qua, bất chấp bàn tay luôn rộng mở của Đấng kế vị Thánh Phêrô.
Thỏa thuận tín lý được Đức Tổng Giám mục Lefebvre ký kếtSau khi Đức Gioan Phaolô II được bầu chọn, Đức Tổng Giám mục Lefebvre dường như nhìn Roma bằng một nhãn quan khác. Ngày 18/11/1978, Đức Tổng Giám mục được tiếp kiến, và lá thư gửi Đức Giáo hoàng ngày 8/3/1980 viết rằng mình “không chút do dự về tính hợp pháp và thành sự của việc Đức Thánh Cha được bầu chọn”, đồng thời khẳng định mình “chưa bao giờ tuyên bố” rằng Thánh lễ hậu Công đồng “tự bản chất là bất thành sự hoặc lạc giáo”.
Một thỏa thuận nhằm giải quyết ít nhất một phần những bất đồng và gỡ bỏ các án huyền chức “a divinis” dường như có thể đạt được mười năm sau cuộc gặp với Đức Giáo hoàng Wojtyła, vào tháng 4/1988.
Đức Hồng y Joseph Ratzinger, Tổng trưởng Bộ Giáo lý Đức tin, cùng với Thư ký của Bộ là Đức Tổng Giám mục Alberto Bovone, đích thân tiến hành trong ba ngày (từ ngày 11 đến 13/4), cuộc thương lượng không dễ dàng với Đức Tổng Giám mục Lefebvre và một số cộng sự viên của ngài. Sự khích lệ quan trọng nhất đến từ chính Đức Giáo hoàng vào trước ngày diễn ra cuộc gặp cấp cao.
Với lòng kiên nhẫn và sự khôn ngoan, vị Hồng y người Bayern đã đạt được việc ký kết với vị giám mục theo chủ nghĩa truyền thống một nghị định thư tín lý chung. Văn bản được hoàn chỉnh trong cuộc họp tại Roma ngày 4/5/1988 và được Đức Hồng y Ratzinger cùng Đức Tổng Giám mục Lefebvre ký vào ngày hôm sau.
Trong văn bản ấy, vị giám mục và các thành viên Huynh đoàn Linh mục Thánh Piô X cam kết “luôn trung thành với Giáo hội Công giáo và Đức Giáo hoàng Roma”; tuyên bố “chấp nhận giáo lý được trình bày tại số 25 của Hiến chế Tín lý Lumen gentium của Công đồng Vatican II về Huấn quyền của Giáo hội và sự tuân phục phải có đối với Huấn quyền”; đồng thời cam kết “có một thái độ tích cực và thông hiệp với Tông Tòa, tránh mọi cuộc tranh luận”, liên quan đến một số điểm được Công đồng giảng dạy hoặc liên quan đến các cuộc cải tổ phụng vụ và giáo luật sau đó, mà những người theo chủ nghĩa truyền thống cho là “khó dung hòa với Thánh Truyền”.
Nghị định thư viết: “Chúng tôi cũng tuyên bố công nhận tính thành sự của Hy tế Thánh lễ và các bí tích được cử hành với ý hướng thực hiện điều Giáo hội thực hiện”, theo các nghi thức do Đức Phaolô VI và Đức Gioan Phaolô II ban hành.
Văn bản thỏa thuận cũng đề cập đến những vấn đề khác: Huynh đoàn Linh mục sẽ trở thành một Tu đoàn Tông đồ và như vậy được hưởng đầy đủ quyền tự trị; đồng thời, “vì những lý do thực tế và tâm lý, việc tấn phong một giám mục là thành viên của Huynh đoàn Linh mục được xem là hữu ích”. Mọi sự dường như đã được giải quyết.
Hành vi ly giáo đầu tiênNhưng bất ngờ, vào sáng ngày 6/5/1988, vị giám mục người Pháp đã phá vỡ bàn đàm phán, thay đổi quyết định và thông báo riêng cho Đức Hồng y Ratzinger rằng ngài dự định tấn phong các giám mục mới vào ngày 30/6.
Dường như điều dẫn đến thái độ của Đức Tổng Giám mục Lefebvre là xác tín rằng Tòa Thánh không tìm thấy trong hàng giáo sĩ của Huynh đoàn Linh mục những ứng viên thích hợp cho chức giám mục, cùng với nỗi lo rằng vị giám mục mới sẽ là một người đến từ bên ngoài.
Một cuộc gặp khác vào ngày 24/5 không mang lại kết quả nào và ngày 2/6, Đức Tổng Giám mục Lefebvre viết thư cho Đức Gioan Phaolô II, thông báo quyết định gây chấn động: ngài và những người theo ngài sẽ chờ đợi “một thời điểm thuận lợi hơn để Roma trở lại với truyền thống”, đồng thời cầu nguyện để “Roma ngày nay, bị chủ nghĩa hiện đại lây nhiễm, trở lại là Roma Công giáo”.
Ngày 29/6, tức 24 giờ trước các cuộc tấn phong được loan báo, Đức Hồng y Ratzinger gửi điện tín cho Đức Tổng Giám mục: “Vì tình yêu đối với Chúa Kitô và Giáo hội của Người, Đức Thánh Cha, với tình phụ tử nhưng cũng đầy cương quyết, yêu cầu Đức Cha đến Roma ngay hôm nay, và không tiến hành các cuộc tấn phong giám mục ngày 30/6 mà Đức Cha đã loan báo...”.
Nhưng Đức Tổng Giám mục Lefebvre đã quyết định. Ngày hôm sau, với sự trợ giúp của vị giám mục cao niên người Brazil thuộc giáo phận Campos, Đức cha Antonio de Castro Mayer, ngài tấn phong giám mục cho bốn linh mục của Huynh đoàn Linh mục: Bernard Fellay, Alfonso de Galarreta, Richard Williamson và Bernard Tissier de Mallerais.
Ngày 1/7, những vị chủ phong và những người được tấn phong phải chịu vạ tuyệt thông tiền kết vì đã thực hiện một hành vi ly giáo.
Trong khi vào năm 1988, Đức Hồng y Ratzinger đã đạt được một thỏa thuận tín lý với những người theo chủ nghĩa truyền thống tại Écône, nhưng mọi sự đã bị hủy bỏ vì những vấn đề chủ yếu mang tính thực tiễn, thì trong các cuộc thương lượng những năm sau đó, Tòa Thánh tỏ ra sẵn sàng dành cho họ mức tối đa trong giải pháp giáo luật. Tuy nhiên, những người theo Đức Tổng Giám mục Lefebvre tiếp tục cho rằng vẫn thiếu “sự rõ ràng về tín lý”, trên thực tế đòi hỏi Giáo hội Công giáo và Đức Giáo hoàng phải từ bỏ một số phần của Công đồng và một số phần của Huấn quyền hậu Công đồng.
Cuộc hành hương năm 2000 và những nhượng bộ của Đức Bênêđíctô XVINỗ lực hòa giải với Huynh đoàn Linh mục Thánh Piô X được nối lại vào tháng 8/2000. Những người theo Đức Tổng Giám mục Lefebvre thực hiện một cuộc hành hương Năm Thánh đến Roma và tuần hành trong trật tự tại Quảng trường Thánh Phêrô.
Đức cha Fellay, được Đức Hồng y Darío Castrillón Hoyos, Chủ tịch Ủy ban Ecclesia Dei, tháp tùng, đã được Đức Gioan Phaolô II tiếp trong vài phút. Các cuộc tiếp xúc tiếp tục và được tăng cường sau khi Đức Bênêđictô XVI được bầu chọn. Với hai quyết định cách nhau hai năm, Đức Bênêđictô XVI đã đáp ứng những yêu cầu của những người theo chủ nghĩa truyền thống.
Ngày 7/7/2007, ngài ban hành Tông thư dưới dạng tự sắc Summorum Pontificum, mở rộng việc sử dụng Sách lễ Roma năm 1962, có trước Công đồng, được xem là hình thức ngoại thường của phụng vụ Giáo hội Công giáo theo nghi lễ Latinh.
Ngày 24/1/2009, Đức Giáo hoàng Ratzinger xóa bỏ vạ tuyệt thông năm 1988 đối với bốn giám mục được Đức Tổng Giám mục Lefebvre tấn phong bất hợp pháp. Sắc lệnh xóa vạ là một hành động hòa giải đơn phương, khắc phục tình trạng tồn tại của một cuộc ly giáo nhỏ và mở đường cho cuộc đối thoại với Huynh đoàn Linh mục Thánh Piô X.
Đáng tiếc, trước khi quyết định được công bố, một cuộc phỏng vấn với một trong những giám mục thuộc phong trào Lefebvre được xóa vạ tuyệt thông là Richard Williamson đã được phát sóng. Trong cuộc phỏng vấn dành cho một đài truyền hình Thụy Điển vào tháng 11 trước đó, khi đang ở Đức, vị này đã đưa ra những tuyên bố phủ nhận việc người Do Thái bị Đức Quốc xã tiêu diệt trong các phòng hơi ngạt.
Cuộc phỏng vấn gây ra những tranh cãi hết sức gay gắt chống lại Đức Bênêđictô XVI. Đức Bênêđictô XVI đã mong muốn rằng việc xóa vạ tuyệt thông sẽ được tiếp nối bằng “sự dấn thân mau mắn” của các giám mục thuộc phong trào Lefebvre nhằm “thực hiện những bước đi cần thiết tiếp theo để đạt đến sự hiệp thông trọn vẹn với Giáo hội, qua đó chứng tỏ lòng trung thành đích thực và sự nhìn nhận thực sự đối với Huấn quyền và thẩm quyền của Đức Giáo hoàng cũng như của Công đồng Vatican II”.
Tiền đề tín lý năm 2011 và các năng quyền của Đức PhanxicôNhiều năm trôi qua. Tháng 9/2011, khi kết thúc một tiến trình đối thoại tín lý do Huynh đoàn Linh mục Thánh Piô X yêu cầu, Tòa Thánh trình một văn kiện ngắn và đề nghị những người theo Đức Tổng Giám mục Lefebvre ký vào đó.
Về cơ bản, văn bản gồm ba điểm, cùng với yêu cầu ký vào “lời tuyên xưng đức tin” được đòi hỏi đối với bất kỳ ai đảm nhận một chức vụ trong Giáo hội, bảo đảm “sự vâng phục tôn giáo của ý chí và trí tuệ” đối với những giáo huấn mà Đức Giáo hoàng và Giám mục đoàn “đề nghị khi thi hành Huấn quyền đích thực của mình”, ngay cả khi những giáo huấn ấy không được công bố một cách tín điều, như trường hợp của phần lớn các văn kiện thuộc Huấn quyền.
Các nhà chức trách Vatican nhiều lần nhấn mạnh rằng việc ký vào bản tiền đề không có nghĩa là chấm dứt “việc thảo luận hợp pháp, nghiên cứu và giải thích thần học đối với những cách diễn đạt hoặc những công thức riêng biệt có trong các văn kiện của Công đồng Vatican II”. Tuy nhiên, nỗ lực này cũng thất bại: Đức cha Fellay tuyên bố văn bản tín lý được đề nghị là không thể chấp nhận.
Trong những năm tiếp theo, các bản tiền đề tín lý được gác sang một bên và những giải pháp giáo luật được nghiên cứu, chẳng hạn cơ cấu Giám quản Tông tòa hoặc Giám hạt tòng nhân. Tuy nhiên, Đức cha Fellay, khi ấy là Bề trên của những người theo Đức Tổng Giám mục Lefebvre, cho biết “Huynh đoàn Linh mục trước hết không tìm kiếm một sự công nhận về giáo luật”. Trong khi đó, những người đối thoại đã thay đổi và Đức Giáo hoàng Phanxicô đang ngồi trên Tòa Thánh Phêrô.
Nhân dịp Năm Thánh Lòng Thương Xót năm 2016, Đức Giáo hoàng Phanxicô ban cho các linh mục của Huynh đoàn Linh mục năng quyền đặc biệt để giải tội và ban ơn xá giải thành sự cho các tín hữu. Biện pháp này nhằm hiệp nhất các tín hữu và, qua Tông thư Misericordia et misera, năng quyền ấy được gia hạn ổn định sau khi Năm Thánh ngoại thường kết thúc.
Mặc dù vạ tuyệt thông đối với các giám mục của họ đã được xóa bỏ năm 2009, các linh mục thuộc phong trào Lefebvre vẫn tiếp tục hoạt động mà không được chính thức đặt trong thẩm quyền tài phán thông thường của Giáo hội Công giáo Roma. Với hành động này, Đức Phanxicô muốn thực hiện một sự mở ra cho đối thoại và hòa giải mục vụ, trước hết nghĩ đến lợi ích của các tín hữu đi theo Huynh đoàn Linh mục.
Cuộc ly giáo mới, các cuộc xưng tội và hôn nhân bất thành sựNgày 2/2/2026, Huynh đoàn Linh mục Thánh Piô X thông báo sẽ tiến hành các cuộc tấn phong giám mục mới vào ngày 1/7.
Ngày 12/2, Bề trên Huynh đoàn Linh mục, cha Davide Pagliarani, được Đức Hồng y Víctor Manuel Fernández, Tổng trưởng Bộ Giáo lý Đức tin, tiếp tại Roma.
Vị Tổng trưởng đề nghị với những người theo Đức Tổng Giám mục Lefebvre “một tiến trình đối thoại chuyên biệt về thần học, với một phương pháp hết sức rõ ràng, liên quan đến những chủ đề vẫn chưa được xác định đầy đủ”, nhằm làm nổi bật “những điều kiện tối thiểu cần thiết cho sự hiệp thông trọn vẹn với Giáo hội Công giáo”, cùng với một giải pháp giáo luật: “Khả năng tiến hành cuộc đối thoại này giả thiết rằng Huynh đoàn đình chỉ quyết định thực hiện các cuộc tấn phong giám mục đã được loan báo”.
Bất chấp những lời kêu gọi và cảnh báo nhiều lần yêu cầu không tiến hành các cuộc tấn phong giám mục mới, bất chấp những lời mời gọi đối thoại liên tục, những người theo Đức Tổng Giám mục Lefebvre tuyên bố bằng lời rằng họ vâng phục Đấng kế vị Thánh Phêrô, nhưng trên thực tế lại không mở ra bất kỳ khả năng nào, cũng không xem xét những yêu cầu của Đấng kế vị Thánh Phêrô, và vẫn tiến hành ý định của mình, qua đó xác lập một cuộc ly giáo mới.
Trả lời câu hỏi của các nhà báo tại Castel Gandolfo ngày 16/6, Đức Giáo hoàng Lêô XIV khẳng định: “Chắc chắn sự chia rẽ giữa các Kitô hữu luôn là một điều đau buồn. Tuy nhiên, họ từ chối chấp nhận một số yếu tố nền tảng của Giáo hội, bắt đầu từ nhiều điểm của Công đồng Vatican II. Nếu họ đưa ra lựa chọn ấy, tôi rất lấy làm tiếc, nhưng chúng ta phải tiếp tục tiến bước”.
Phanxico.vn
la-croix.com, Mikael Corre , 2026-07-02
Đức Lêô trong thánh lễ ngày 29 tháng 6 tại Vatican. Isabella Bonotto / Anadolu – AFP
Bất chấp lời kêu gọi cá nhân của Giáo hoàng về việc “trở lại con đường cũ”, ngày thứ tư 1 tháng 7, tại Écône, Thụy Sĩ, Hội Thánh Thánh Piô X (SSPX) đã phong chức cho bốn giám mục nhưng không có ủy quyền của Giáo hoàng. Sự ly khai này đã đưa Đức Lêô trở lại con đường của Đức Gioan-Phaolô II, khác với thái độ cởi mở của Đức Bênêđíctô XVI và Đức Phanxicô.
Nhưng không vì vậy mà ngăn cản các lễ tấn phong. Ngày thứ tư 1 tháng 7, tại Écône, Thụy Sĩ, Hội Thánh Pius X đã phong bốn giám mục, không có ủy quyền của Giáo hoàng, bất chấp lời kêu gọi cuối cùng của Đức Lêô. Ngày 29 tháng 6 trong thư gởi bề trên Davide Pagliarani của SSPX, Đức Lêô viết: “Xin quý vị trở lại con đường của quý vị!” Đức Lêô không chọn ngôn từ lạnh lùng của một sắc lệnh. Ngài thừa nhận sự gắn bó của phong trào với phụng vụ, việc đào tạo linh mục và lòng nhiệt thành tông đồ, với lòng thương xót của người cha ngài xin họ từ bỏ hành động ly giáo đã lên kế hoạch.
Giọng điệu nhắc lại giọng điệu của Đức Phaolô VI. Năm 1976, sau khi đình chỉ chức vụ “a divinis” của Marcel Lefebvre, người sáng lập SSPX – một hình phạt cấm ông thực hiện chức vụ của mình – Đức Phaolô VI vẫn gọi ông là “người anh em đáng kính”. Nhưng ngài xác định trọng tâm cuộc tranh luận, vượt xa việc cải cách Thánh lễ đơn thuần: “Quý vị đã không tuân phục thẩm quyền của Công đồng Vatican II và Tòa Thánh – điều này đã thành mấu chốt của vấn đề.”
Cơ sở kỷ luật và giáo lý
Đức Lêô đặt hai cơ sở kỷ luật và giáo lý vào trung tâm của chuỗi sự kiện dẫn đến cuộc ly giáo năm 2026. Về kỷ luật: việc phong giám mục không được Giáo hoàng ủy quyền, theo quan điểm của ngài, là hành vi bất tuân nghiêm trọng. Về giáo lý: hành động đó tương đương với việc thách thức khả năng của ngài, và của các giám mục hiệp thông với ngài, trong việc giải thích truyền thống.
Sự nhấn mạnh kép này thể hiện rõ ngay từ khi các lễ tấn phong được công bố vào tháng 2. Người được đặt lên hàng đầu không phải là Hồng y Arthur Roche, phụ trách phụng vụ tại Vatican, nhưng là Hồng y Victor Manuel Fernandez, Bộ trưởng Bộ Giáo lý Đức tin. Với sự chấp thuận của Đức Lêô, ngày 12 tháng 2, Hồng y Fernandez đã tiếp bề trên Davide Pagliarani của SSPX, đề xuất cuộc đối thoại về việc tuân thủ các văn bản của Công đồng Vatican II, với điều kiện là đình chỉ các lễ tấn phong. Hội dòng đã từ chối. Ngày 13 tháng 5, Hồng y Fernandez nhắc lại cụm từ Đức Gioan-Phaolô II đã dùng: “Hành động ly giáo”.
Năm 1988, sau khi các cuộc đối thoại được tiến hành “đến giới hạn cuối cùng của khả năng” thất bại, Đức Gioan-Phaolô II đã xem các lễ tấn phong của Marcel Lefebvre là sự bác bỏ cụ thể quyền tối cao của Rôma. Tuy nhiên, ngài phân biệt giữa những người chịu trách nhiệm của sự chia rẽ và các tín hữu gắn bó với phụng vụ cũ, họ là những người ngài mở ra con đường hiệp thông. Logic tương tự cũng được áp dụng dưới thời Đức Lêô XIV: ranh giới đỏ không phải là Thánh lễ theo nghi thức cũ, nhưng là việc thiết lập sự kế vị giám mục tự trị. Hội dòng SSPX có thể thảo luận về những diễn biến hậu Công đồng với Rôma, nhưng không thể biến cuộc thảo luận này thành điều kiện tiên quyết cho sự phục tùng của họ.
Đây chính là điều phân biệt giữa Đức Lêô với Đức Bênêđíctô XVI và Đức Phanxicô. Đức Bênêđíctô XVI hy vọng vào chính sách hòa giải: mở rộng việc dùng sách lễ năm 1962 (nghi thức cũ) năm 2007. Năm 2009, dỡ bỏ án phạt tuyệt thông với bốn giám mục được phong năm 1988. Ngài hy vọng cách giải thích của ngài về Công đồng Vatican II như một cải cách “tiếp nối” sẽ giúp hòa giải và giải quyết tranh chấp. Ngài đã không thành công.
Đức Phanxicô mở rộng chính sách hòa giải này bằng cách trao cho các linh mục SSPX quyền giải tội và, trong một số điều kiện nhất định, cử hành hôn lễ. Đồng thời, ngài hạn chế nghi thức cũ trong các cộng đồng hiệp thông với Rôma: trong thông điệp Cử hành thánh lễ theo phụng vụ tiền Công đồng Traditionis custodes, ngài lập luận các nhượng bộ được thực hiện kể từ năm 1988 đã làm gia tăng thách thức đối với Công đồng Vatican II. Trước những người theo phái Lefebvre, Đức Lêô XIV không áp dụng cả những cử chỉ lớn lao của Đức Bênêđíctô XVI lẫn sự linh hoạt mục vụ của Đức Phanxicô. Trong thư ngày 29 tháng 6, ngài gợi ý các nhượng bộ của Giáo hoàng tiền nhiệm không thể tồn tại sau các cuộc tấn phong ngày 1 tháng 7.
Báo cáo của ngài gởi Công đồng đã làm rõ hơn cách tiếp cận của ngài. Từ tháng 1, ngài đã công khai xem xét các văn bản trong các buổi tiếp kiến thứ tư hàng tuần. Vào mùa xuân, ngài nhắc lại đường lối được Sacrosanctum Concilium – hiến pháp của Công đồng về phụng vụ đặt ra: bảo tồn “truyền thống lành mạnh và cho phép tiến bộ chính đáng”. Theo ngài, Công đồng không phải là một vết thương, một tranh luận về cách giải thích cần được mở lại, hay một thỏa hiệp cần được đàm phán dưới áp lực: đó là khuôn khổ mà trong đó Giáo hội phải tiếp tục tiến về phía trước. Ngày 16 tháng 6, tại Castel Gandolfo, lần đầu tiên phát biểu về những người theo phái Lefebvre, Đức Lêô thẳng thắn nói: “Quý vị bác bỏ một số yếu tố cơ bản của Giáo hội, bắt đầu từ một số điểm của Công đồng Vatican II. (…) Tôi rất tiếc, nhưng chúng ta phải tiến về phía trước.”