Có nên coi tranh Đông Hồ là di sản văn hóa Việt? Google Groups

45 views
Skip to first unread message

Mikali Nguyễn

unread,
Mar 1, 2026, 11:58:51 PM (10 days ago) Mar 1
to Alphons...@googlegroups.com, Giaitri...@googlegroups.com
Có nên coi tranh Đông Hồ là di sản văn hóa Việt đáng để bảo tồn và phát huy?
download.jpg
Bài này tiếp nối cho 2 bài sau đây:
Lựa chọn nào để "thoát Trung" trong văn hóa Tết Việt - Google Groups
https://groups.google.com/g/giaitrikienthuc/c/c5b_bF4sMpI
image.png image.png
Nguồn gốc và ý nghĩa tranh Đông Hồ | HCD (BL)
https://groups.google.com/g/giaitrikienthuc/c/wEz1pUZus6Q
image.png image.png


Tập 1. Tổng quan về tranh Đông Hồ
 images (3).jpg
1. Tham khảo các con AI về tranh Đông Hồ thì được biết:
Tranh dân gian Đông Hồ là một dòng tranh thuần Việt, không có nguồn gốc từ tranh dân gian TQ, được sáng tạo và phát triển bởi chính người dân làng Đông Hồ (thuộc xã Song Hồ, huyện Thuận Thành, tỉnh Bắc Ninh) từ khoảng thế kỷ 16 - 17. Đây là kết quả của quá trình lao động sáng tạo, sự khéo léo và cảm quan nghệ thuật độc đáo của người nghệ nhân Việt Nam trong bối cảnh đời sống nông nghiệp cổ truyền.
Để hiểu rõ hơn về lý do vì sao có sự nhầm lẫn này hoặc sự tương đồng giữa hai dòng tranh, dân gian của VN và TQ, chúng ta có thể nhìn vào một vài điểm chính sau:
Bản sắc riêng biệt: Tranh Đông Hồ mang đậm hồn cốt Việt, từ chất liệu (giấy dó, màu sắc từ thiên nhiên như than lá tre, vỏ sò điệp, lá chàm, gỗ vang...) đến nội dung (phản ánh đời sống, khát vọng, phong tục của người dân Việt, như đám cưới chuột, đấu vật, vinh quy bái tổ). Những nét vẽ, bố cục và tư duy thẩm mỹ này hoàn toàn do người Việt hình thành.
Sự giao thoa văn hóa: Trong lịch sử, các nước trong khu vực Đông Á (bao gồm Việt Nam và Trung Quốc) có nhiều nét tương đồng về văn hóa, triết học và tín ngưỡng (như ảnh hưởng của Nho giáo, Phật giáo). Vì vậy, một số chủ đề có thể có điểm chung (ví dụ: các bức tranh chúc tụng, tranh lịch sử, hay các nhân vật trong truyện cổ tích). Tuy nhiên, cách thể hiện, ngôn ngữ tạo hình và tinh thần trong tranh Đông Hồ luôn mang tính bản địa rất cao và không hề là một bản sao từ nước ngoài.
Sự tương đồng về loại hình: Việc cả Việt Nam và Trung Quốc đều có dòng tranh dân gian (Trung Quốc gọi là "Niên họa") là điều dễ hiểu trong bối cảnh văn hóa khu vực. Tuy nhiên, mỗi quốc gia đều phát triển những kỹ thuật in ấn và phong cách đặc trưng riêng biệt phù hợp với văn hóa của chính nước mình.
Tóm lại, tranh Đông Hồ là một di sản văn hóa phi vật thể quốc gia vô cùng quý giá, tự hào của người Việt với quy trình chế tác thủ công hoàn toàn từ thiên nhiên, thể hiện một thế giới quan và cảm quan nghệ thuật rất riêng của làng nghề Đông Hồ. 

2. Coi trên mạng thì thấy nhiều lời nói tốt đẹp quảng bá cho tranh Đông Hồ
👉 Tranh dân gian Đông Hồ tiêu biểu - di sản văn hóa dân tộc Việt Nam
tranh-dong-ho-dai-cat-nghinh-xuan--1643056832568725831601.jpg
👉 Tranh Đông Hồ: Hồn Việt trong từng nét chạm
👉 Tranh dân gian Đông Hồ _ Danh mục Di Sản Văn Hóa Phi Vật Thể Quốc Gia
👉 Làng tranh Đông Hồ, nơi truyền thụ nét đẹp văn hóa đặc sắc
👉 Tranh làng Hồ - Dòng tranh dân gian đặc sắc của Việt Nam
tranh-dong-ho-cung-ong-tao-16430569042901774127835.jpg
👉 Tranh Đông Hồ - Nét tinh hoa của văn hóa dân gian Việt Nam
👉 Tranh Đông Hồ, tài sản quý của nghệ thuật tạo hình dân gian Việt Nam
686076171201833426499928728805599237636096n-1643056555660143981591.jpg
👉 Tranh Đông Hồ hậu vinh danh: Cần những bước đi xứng tầm di sản


3. Tập quán treo tranh Đông Hồ
Trước đây dân ta thường treo tranh Đông Hồ vào ngày Tết Nguyên Đán, hết năm sẽ bỏ đi và sang năm lại mua tranh Đông Hồ mới để treo, 
Như ta đã biết, tranh Đông Hồ xuất xứ từ làng Đông Hồ (huyện Thuận Thành, tỉnh Bắc Ninh). Do đó, nó là đặc sản văn hóa của miền Bắc (Đồng bằng sông Hồng). Thời điểm hoàng kim: Tranh thịnh hành nhất từ thế kỷ 18 đến giữa thế kỷ 20.
Chợ tranh Đông Hồ họp vào các ngày 6, 11, 16, 21, 26 tháng Chạp (tháng 12 âm lịch). Người dân từ các tỉnh lân cận đổ về mua tranh. Tết đến, nhà nào cũng dán tranh mới lên vách đất, vách liếp tre. Hết năm, họ bóc bỏ và dán bức mới.
Sự mai một của tranh Đông Hồ không diễn ra ngay lập tức mà qua 3 giai đoạn chính:
Giai đoạn 1 (Sau năm 1945): Chiến tranh chống Pháp bùng nổ, làng tranh bị giặc đốt phá, ván khắc bị hỏng hoặc thất lạc. Người dân lo chạy giặc, không còn tâm trí và điều kiện để làm tranh Tết.
Giai đoạn 2 (Thời kỳ Bao cấp 1975 - 1986): Đời sống kinh tế khó khăn, nhu cầu thẩm mỹ thay đổi. Sự xuất hiện của tranh in offset, lịch treo tường có ảnh màu rực rỡ, phong cảnh nước ngoài bắt đầu lấn át tranh khắc gỗ thủ công.
Giai đoạn 3 (Từ năm 1990 đến nay): Quá trình đô thị hóa mạnh mẽ. Nhà gạch, nhà chung cư thay thế nhà vách đất. Tranh Đông Hồ (vốn phù hợp với không gian mộc mạc) trở nên "lạc quẻ" trong nội thất hiện đại. Nghề làm tranh dần biến mất, cả làng chỉ còn vài hộ nghệ nhân cố gắng duy trì.
Tranh Đông Hồ không phải là tập quán truyền thống gốc của người miền Nam. Người miền Nam xưa thường chơi tranh kiếng (tranh vẽ trên kính), tranh khắc gỗ đồ họa kiểu Chợ Lớn hoặc tranh thờ màu sắc rực rỡ phù hợp với khí hậu nắng nóng.
Tranh Đông Hồ chỉ được biết đến nhiều ở miền Nam sau này thông qua các đợt di cư, giao thoa văn hóa và các chương trình bảo tồn văn hóa quốc gia.

4. Nỗ lực của Nhà nước VN v/v công nhận Di sản văn hóa phi vật thể quốc gia
Đầu năm 2013, Nhà nước chính thức công bố đưa nghề làm tranh dân gian Đông Hồ vào danh mục Di sản văn hóa phi vật thể quốc gia. Đây là bước đi quan trọng trong việc khẳng định giá trị bản địa của dòng tranh này đối với lịch sử và nghệ thuật dân tộc.
Năm 2017: UBND tỉnh Bắc Ninh phối hợp với Viện Văn hóa Nghệ thuật quốc gia lập hồ sơ trình UNESCO. 
Tháng 3/2020: Chính phủ Việt Nam chính thức gửi hồ sơ "Nghề làm tranh dân gian Đông Hồ" tới UNESCO để xem xét ghi danh vào danh sách Di sản văn hóa phi vật thể cần được bảo vệ khẩn cấp.
Tháng 11/2024, Bắc Ninh ban hành Quyết định phê duyệt dự án đầu tư trên 45 tỷ đồng xây dựng công trình Trung tâm bảo tồn tranh dân gian Đông Hồ thuộc Đề án “Bảo vệ và phát huy giá trị di sản văn hóa tranh dân gian Đông Hồ, huyện Thuận Thành, giai đoạn 2014-2020 và định hướng đến 2030”.
- Ngày 09/12/2025, tại kỳ họp lần thứ 20 của Ủy ban Liên Chính phủ về Bảo vệ Di sản văn hóa phi vật thể diễn ra tại Thủ đô New Delhi (Ấn Độ), Nghề làm tranh dân gian Đông Hồ của Vchính thức được UNESCO ghi danh là Di sản Văn hóa phi vật thể cần bảo vệ khẩn cấp của nhân loại.
tranh_dong_ho_1.jpg 1012.tranh_dong_ho_4.jpg

5. Tranh Đông Hồ tiêu biểu trên thị trường hiện nay
download (1).jpg download (2).jpgdownload (3).jpg download (5).jpg  download (9).jpgdownload (10).jpg download (11).jpg images (2).jpg images (4).jpg images (5).jpg images (9).jpg image.png
images (6).jpg download (4).jpg download21.jpg DongHo-netviet-05.jpg
images (7).jpg image.png image.png
MS






Mikali Nguyễn

unread,
Mar 3, 2026, 8:54:28 PM (9 days ago) Mar 3
to Alphons...@googlegroups.com, Giaitri...@googlegroups.com
Tập 2. Có sự nhầm lẫn về thuật ngữ: "Nghề làm tranh khắc gỗ dân gian Đông Hồ" "Tranh Đông Hồ?
images.jpg

1. Nhận xét, đánh giá về tranh Đông Hồ
Trước khi đi sâu vào phân tích ta hãy xem thêm vài nhận xét đánh giá tiếp theo về tranh Đông Hồ.
1.1. Wikipedia:
https://vi.wikipedia.org/wiki/Tranh_Đông_Hồ
Tranh Đông Hồ, hay tên đầy đủ là tranh khắc gỗ dân gian Đông Hồ, là một dòng tranh dân gian Việt Nam với xuất xứ từ làng Đông Hồ (phường Song Hồ, thị xã Thuận Thành, tỉnh Bắc Ninh). Trước kia tranh được bán ra chủ yếu phục vụ cho dịp Tết Nguyên Đán, người dân nông thôn mua tranh về dán trên tường, hết năm lại lột bỏ, dùng tranh mới.
Nghề làm tranh dân gian Đông Hồ là Di sản văn hóa phi vật thể cấp Quốc gia.[6] Được sự đồng ý của Thủ tướng Chính phủ, Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch đã phối hợp với Ủy ban Nhân dân tỉnh Bắc Ninh và các cơ quan chuyên môn tiến hành nghiên cứu, lập hồ sơ khoa học cho Nghề làm tranh dân gian Đông Hồ để đệ trình UNESCO đề nghị công nhận Di sản văn hóa phi vật thể.

1.2. Tổng quan AI
Tranh dân gian Đông Hồ (Bắc Ninh) là di sản văn hóa phi vật thể quốc gia, nổi tiếng với kỹ thuật in khắc gỗ trên giấy điệp và màu tự nhiên (đen than tre, trắng vỏ sò, vàng hoa hòe). Tranh mang đậm bản sắc Việt, phản ánh đời sống sinh hoạt, chúc tụng, và đang được bảo tồn khẩn cấp trước nguy cơ mai một.
Hoàn toàn nên coi tranh dân gian Đông Hồ là di sản văn hóa Việt Nam. Nghề làm tranh Đông Hồ (Bắc Ninh) đã được UNESCO chính thức ghi danh vào Danh sách Di sản văn hóa phi vật thể cần bảo vệ khẩn cấp vào tháng 12/2025, khẳng định giá trị nghệ thuật, lịch sử và bản sắc văn hóa dân tộc độc đáo.
Tại sao tranh Đông Hồ là di sản văn hóa?
Giá trị di sản quốc gia: Tranh Đông Hồ, hay tranh khắc gỗ dân gian, từ lâu đã được công nhận là di sản văn hóa phi vật thể quốc gia.
Bản sắc văn hóa sâu sắc: Tranh phản ánh đời sống tinh thần, vật chất, ước mơ bình dị, ấm no, hạnh phúc của người lao động Việt Nam qua các chủ đề như đám cưới chuột, đàn lợn âm dương, vinh quy bái tổ....
Chất liệu tự nhiên: Tranh được làm từ giấy điệp, màu sắc tự nhiên (màu đen từ than xoan/tre, màu xanh từ gỉ đồng/lá chàm, màu vàng từ hoa hòe, màu đỏ từ sỏi/gạch son).
Cần bảo vệ khẩn cấp: Sự vinh danh của UNESCO nhấn mạnh việc bảo tồn làng nghề truyền thống trước nguy cơ mai một.
Việc tôn vinh tranh Đông Hồ không chỉ là ghi nhận quá khứ mà còn bảo tồn một nét tinh hoa văn hóa đặc sắc cho thế hệ tương lai.

1.3. Tranh Đông Hồ thấm đẫm tinh thần Việt
https://www.qdnd.vn/van-hoa/doi-song/tranh-dong-ho-tham-dam-tinh-than-viet-1028148
image.png
Đường nét khúc chiết, thanh đậm phân minh; tạo hình phồn thực mà dung dị; bố cục hài hòa theo những quy tắc dân gian bền bỉ qua thời gian-tất cả làm nên nét độc bản của tranh dân gian Đông Hồ (phường Thuận Thành, tỉnh Bắc Ninh).
Ở đó, vẻ đẹp bản địa và hồn cốt văn hóa Việt được lưu giữ, trao truyền qua nhiều thế hệ, như một dòng chảy âm thầm nhưng bền bỉ trong đời sống tinh thần của người Việt.

1.4. Tranh Đông Hồ: Hồn Việt trong từng nét chạm
https://www.elledecoration.vn/cultural-special/heritage/tranh-dong-ho-hon-viet-trong-net-cham
image.png
Đường nét khúc chiết, thanh đậm phân minh, tạo hình phồn thực – ba quy tắc hòa hợp, tạo nên nét độc bản của tranh dân gian Đông Hồ, nơi vẻ đẹp bản địa và văn hóa Việt được lưu giữ.
Trong văn hóa dân gian Việt Nam, tranh Đông Hồ đã đi vào nếp sống, trở thành món ăn tinh thần trong đời sống văn hóa của người Việt, đặc biệt vào dịp Tết Nguyên Đán. Theo lời kể của người làng Đông Hồ, một ngôi làng thanh bình bên bờ sông Đuống thuộc tỉnh Bắc Ninh, dòng tranh dân gian độc đáo này có thể đã xuất hiện từ thời nhà Lý, khoảng thế kỷ 11. Tuy nhiên, khi truy tìm nguồn cội, các nhà nghiên cứu lại cho rằng những nghệ nhân đầu tiên bắt đầu in tranh từ triều đại nhà Lê, dưới thời vua Lê Kính Tông (1600-1619). Dù nguồn gốc còn mơ hồ, nét độc bản trong phong cách và tính bản địa của từng bức tranh lại hiện hữu rõ ràng, mạnh mẽ trong dòng chảy văn hóa dân gian Việt Nam.

Như vậy, như đã đề cập ở mục 2 - Tập 1, hầu như tất cả, kể cả trí tuệ nhân tạo của AI, đều cho rằng "Tranh Đông Hồ" đồng nghĩa với "Nghề làm tranh khắc gỗ dân gian Đông Hồ", cả 2 là 1.

2. UNESCO nói gì?
Ở Tập 1 đã có đưa tin: 
- Năm 2013: "Nghề làm tranh dân gian Đông Hồ" được công nhận là Di sản văn hóa phi vật thể Quốc gia.
- Ngày 09/12/2025: UNESCO chính thức ghi danh "
Nghề làm tranh dân gian Đông Hồ" của Vvào Danh sách di sản văn hóa phi vật thể cần bảo vệ khẩn cấp của nhân loại.

Và đây là tin gốc từ UNESCO:
Craft of making Đông Hồ Folk woodblock printings

Viet Nam

 

Inscribed in 2025 (20.COM) on the List of Intangible Cultural Heritage in Need of Urgent Safeguarding

image.png

Đông Hồ Folk woodblock printing is the practice of creating colourful prints using carved wooden blocks, observed in a village forming part of Bắc Ninh province. The themes of these prints often include worship, history, daily life and landscapes. The entire process is carried out by hand, from drawing the design with ink on special paper, to carving the image onto woodblocks, preparing natural colour pigments, and printing the image on a special paper coated with scallop powder. Colours are applied in a specific order, with black outlines added in the final step to complete the picture.

Đông Hồ Folk woodblock printings are closely linked to important festivals such as the Lunar New Year and the Mid-Autumn Festival, as well as to rituals honouring ancestors and deities. Today, a small number of families continue this craft, passing down the related knowledge and skills within their households and to apprentices through hands-on training and close mentorship. Some parts of the process, such as designing images and carving blocks, require dedicated training and are mastered over many years. The woodblocks used for printing are treasured family heirlooms that are handed down through generations.
Dịch:
Được ghi vào năm 2025 (20.COM) trong Danh sách Di sản Văn hóa Phi vật thể cần được Bảo tồn Khẩn cấp
Nghệ thuật in khắc gỗ dân gian Đông Hồ là nghề tạo ra các bản in màu sắc rực rỡ bằng cách sử dụng các khối gỗ được chạm khắc, được quan sát thấy ở một ngôi làng thuộc tỉnh Bắc Ninh. Chủ đề của những bản in này thường bao gồm thờ cúng, lịch sử, đời sống thường nhật và phong cảnh. Toàn bộ quá trình được thực hiện bằng tay, từ việc vẽ thiết kế bằng mực trên giấy đặc biệt, đến việc khắc hình ảnh lên khối gỗ, chuẩn bị màu tự nhiên và in hình ảnh trên giấy đặc biệt được phủ bột vỏ sò. Màu sắc được tô theo một thứ tự cụ thể, với các đường viền đen được thêm vào ở bước cuối cùng để hoàn thiện bức tranh.
Tranh khắc gỗ dân gian Đông Hồ gắn liền mật thiết với các lễ hội quan trọng như Tết Nguyên đán và Tết Trung thu, cũng như các nghi lễ thờ cúng tổ tiên. Ngày nay, chỉ còn một số ít gia đình tiếp tục nghề thủ công này, truyền lại kiến thức và kỹ năng trong gia đình và cho người học việc thông qua đào tạo thực hành và hướng dẫn sát sao. Một số công đoạn, như thiết kế hình ảnh và khắc bản in, đòi hỏi sự đào tạo chuyên sâu và cần nhiều năm để thành thạo. Các bản in gỗ được sử dụng là những vật gia truyền quý giá được truyền lại qua nhiều thế hệ.

* Như vậy: theo đề nghị của VN, UNESCO đã công nhận: Nghệ thuật in khắc gỗ dân gian Đông Hồ (không phải tranh Đông Hồ) được ghi danh trong Danh sách Di sản Văn hóa Phi vật thể cần được Bảo tồn Khẩn cấp.

3. Phân biệt khái niệm và tại sao nó quan trọng?
"Nghệ thuật in khắc gỗ dân gian Đông Hồ" và "Tranh Đông Hồ" là 2 khái niệm hoàn toàn khác nhau, nếu không phân biệt được hay cố tình không phân biệt chính là sự "đánh tráo khái niệm", dẫn đến cách hiểu hoàn toàn khác nhau dẫn đến các sai lầm tệ hại về mặt văn hóa! Đây là sự phân định cực kỳ quan trọng mà nếu không làm rõ, rất dễ bị sa vào tranh cãi cảm tính.

Hãy nhìn nhận sự khác biệt này như sau:
3.1. "Nghề làm tranh" (Di sản Phi vật thể - UNESCO công nhận)
Đây là đối tượng thực sự được vinh danh tại New Delhi vào tháng 12/2025 vừa qua.
👉 Nội dung: Bao gồm toàn bộ tri thức, kỹ năng, bí quyết và quy trình thực hành để tạo ra một tác phẩm.
Ví dụ: Cách nghệ nhân chọn gỗ Thị để khắc ván, cách họ "chế" màu đen từ lá tre hay màu trắng từ vỏ sò điệp (điệp phong hóa), kỹ thuật in sấp bằng tay trên giấy Dó.
👉 Tại sao là phi vật thể? Vì nếu không có con người (nghệ nhân) thực hiện và cách chế tác cổ truyền hiếm có này thì những kỹ năng đó sẽ biến mất. Bản thân "kỹ năng" không phải là một món đồ bạn có thể cầm nắm, nó nằm trong tư duy và đôi bàn tay của chủ thể văn hóa.

2.2. "Bức tranh Đông Hồ" (Văn hóa Vật thể)
Đây là kết quả cuối cùng của nghề làm tranh.
👉 Nội dung: Là tờ giấy có hình ảnh, màu sắc và chữ viết cụ thể (như bức Đám cưới chuột, Vinh hoa, Phú quý). Nó có thể chế tác 
theo phương pháp cổ truyền của làng nghệ VN ở Bắc Ninh hoặc theo phương pháp hiện đại.
Ví dụ: Một bức tranh cổ treo trên tường hoặc ván in gỗ lưu giữ hàng trăm năm.
👉 Bản chất: Đây là di sản vật chất. Nếu bạn đốt bức tranh, nó mất đi. Nhưng nếu nghệ nhân vẫn còn "nghề", họ có thể in ra 1.000 bức tranh khác y hệt.

"UNESCO công nhận cái Nghề (phương pháp làm màu, kỹ thuật in của người Việt), chứ không phải họ công nhận bức tranh gồm cả Kỹ thuật chế tác và các Nội dung trong bức tranh.
Sai lầm của chúng ta là đang dùng sự công nhận của UNESCO dành cho KỸ THUẬT để bảo vệ cho những NỘI DUNG không còn phù hợp hoặc mang tính lệ thuộc văn hóa. Nếu chúng ta dùng chính cái 'nghề' phi vật thể tuyệt vời đó để in những nội dung thuần Việt (chữ Quốc ngữ, nhân vật lịch sử Việt), chúng ta vẫn đúng tinh thần di sản mà lại thoát được cái mác 'Hán hóa'."

* Vấn đề này sẽ được làm rõ hơn ở các tập tiếp theo

MS

Mikali Nguyễn

unread,
Mar 5, 2026, 7:41:17 AM (7 days ago) Mar 5
to Alphons...@googlegroups.com, Giaitri...@googlegroups.com
Tập 3. Các mốc lịch sử quan trọng nhất của nghề làm tranh Đông Hồ, từ lúc cực thịnh đến khi trở thành di sản quốc gia
image.png

1. Giai đoạn Hình thành và Cực thịnh (Thế kỷ 16 - đầu Thế kỷ 20)
image.png
- Thế kỷ 16: Nghề làm tranh bắt đầu xuất hiện tại làng mái (tên nôm của làng Đông Hồ, Bắc Ninh).
- Thế kỷ 18 - 19: Đây là thời kỳ hoàng kim. Làng có 17 dòng họ thì tất cả đều làm tranh.
- Trước năm 1945: Chợ tranh Đông Hồ họp 5 phiên vào tháng Chạp (tháng 12 âm lịch). Hàng triệu bản tranh được bán ra khắp các tỉnh miền Bắc và Bắc Trung Bộ.

2. Giai đoạn Suy thoái và Biến động (1945 - 1990)
image.png
- Năm 1945 - 1954: Kháng chiến chống Pháp. Làng Đông Hồ bị giặc đốt phá nhiều lần, nhiều bộ ván khắc cổ quý giá bị thiêu rụi hoặc thất lạc. Nghề làm tranh gần như đình trệ.
- Năm 1967: Nhà nước thành lập Hợp tác xã tranh Đông Hồ để quy tụ các nghệ nhân (như cụ Nguyễn Đăng Chế, cụ Nguyễn Hữu Sam) nhằm giữ nghề trong thời kỳ chiến tranh và bao cấp.
- Thập niên 1970 - 1980: Tranh vẫn được in nhưng chủ yếu để xuất khẩu sang các nước Đông Âu (XHCN) và phục vụ một phần nhỏ nhu cầu trong nước.
- Sau năm 1986 (Đổi mới): Cơ chế thị trường tràn vào. Tranh in máy (Offset), lịch màu, tranh Trung Quốc hiện đại rẻ và rực rỡ hơn bắt đầu lấn át hoàn toàn tranh thủ công.

3. Giai đoạn "Mai một" và Chuyển nghề (1990 - 2010)
image.png
- Thập niên 1990: Hợp tác xã tan rã. Cả làng Đông Hồ gần như bỏ nghề làm tranh để chuyển sang làm Vàng mã. Đây là cú sốc lớn nhất: Nghề làm giấy Dó và kỹ thuật in vẫn còn, nhưng thay vì in tranh thờ phụng/chúc tụng, người dân in đồ thế thân cho người chết vì lợi nhuận cao hơn.
- Năm 2010: Cả làng chỉ còn khoảng 2-3 gia đình nghệ nhân (dòng họ Nguyễn Đăng và Nguyễn Hữu) quyết tâm giữ nghề truyền thống.

4. Giai đoạn Vinh danh và Bảo tồn khẩn cấp (2013 - Nay)
image.png
- Tháng 12/2012 (công bố đầu 2013): Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch chính thức đưa nghề làm tranh dân gian Đông Hồ vào danh mục Di sản văn hóa phi vật thể quốc gia.

- Năm 2017: UBND tỉnh Bắc Ninh phối hợp với Viện Văn hóa Nghệ thuật quốc gia lập hồ sơ trình UNESCO.
- Tháng 3/2020: Chính phủ Việt Nam chính thức gửi hồ sơ "Nghề làm tranh dân gian Đông Hồ" tới UNESCO để xem xét ghi danh vào danh sách Di sản văn hóa phi vật thể cần được bảo vệ khẩn cấp.
- Sau đó, như đã biết, vào ngày 09/12/2025, Nghề làm tranh dân gian Đông Hồ của Vchính thức được UNESCO ghi danh là Di sản Văn hóa phi vật thể cần bảo vệ khẩn cấp của nhân loại tại kỳ họp tại New Delhi (Ấn Độ).
Sau đây là 3 cam kết then chốt mà CPVN đã hứa với UNESCO trong hồ sơ trình năm 2020 đối chiếu với thực trạng năm 2026 này:

1. Phục hồi và Truyền dạy (Transmission)
Cam kết: Mở các lớp đào tạo nghệ nhân trẻ, đưa nghề làm tranh vào chương trình giáo dục địa phương tại Bắc Ninh để đảm bảo kỹ thuật in ấn không bị thất truyền.
👉 Đến năm 2026, có bao nhiêu người trẻ ở làng Đông Hồ thực sự sống được bằng "Nghề làm tranh" hay họ vẫn đang mải miết làm "Vàng mã"? Nếu chỉ học để biết rồi bỏ đó, thì việc truyền dạy này có thực chất?

2. Số hóa và Lưu trữ (Documentation)
Cam kết: Xây dựng cơ sở dữ liệu số về toàn bộ các bản khắc cổ, các bài bản pha màu tự nhiên và các tích truyện liên quan đến tranh Đông Hồ.
👉 Việc số hóa các bản khắc có chữ Hán và điển tích cũ là cần thiết để lưu trữ lịch sử. Nhưng chúng ta đã có bước nào để "Việt hóa nội dung" trong cơ sở dữ liệu đó chưa? Hay chúng ta chỉ đang số hóa lại những yếu tố lệ thuộc văn hóa từ quá khứ?

3. Phát triển thị trường bền vững (Viability)
Cam kết: Tìm đầu ra cho tranh Đông Hồ thông qua du lịch và các sản phẩm ứng dụng (quà tặng, thiết kế thời trang, đồ họa hiện đại) để nghệ nhân có thu nhập ổn định mà không cần làm vàng mã. 
👉 Đây là điểm yếu nhất. Tranh Đông Hồ hiện nay vẫn chủ yếu nằm trong khung kính bảo tàng hoặc cửa hàng lưu niệm cho khách Tây. Nó chưa thực sự trở lại bàn thờ hay vách nhà của người Việt mỗi dịp Tết.  

Tập 4. Làng Đông Hồ ngày nay - Sự thắng thế của tính thực dụng
image.png

Hiện nay, khoảng hơn 90% các hộ gia đình ở làng Đông Hồ đã chuyển hẳn sang làm vàng mã. Chỉ còn khoảng 2-3 gia đình nghệ nhân (như dòng họ Nguyễn Đăng, Nguyễn Hữu) là còn bám trụ với tranh.
Sự chuyển mình sang vàng mã là do thu nhập chi phối: Làm một bức tranh điệp mất nhiều công đoạn, kén người mua, lợi nhuận thấp. Làm vàng mã thì đơn hàng đều đặn quanh năm, đặc biệt là rằm tháng Bảy hay dịp cuối năm, thu nhập cao gấp nhiều lần.

Làng tranh Đông Hồ trên đường hóa thân 'làng vàng mã'
image.png
Làng Đông Hồ giàu lên nhờ... vàng mã
image.png
Về làng vàng mã Song Hồ những ngày cuối năm
image.png
Làng Đông Hồ nhộn nhịp sản xuất hàng mã
image.png

Điều nghịch lý là sự đối lập về "Hệ tư tưởng" và "Mục đích sử dụng"
👉 Tranh Tết Đông Hồ (Sự sống): Từng là biểu tượng của niềm vui, sự sinh sôi và hy vọng cho năm mới. Tranh được dán lên vách nhà để người sống ngắm nhìn, chúc tụng nhau (Vinh hoa, Phú quý).
👉 Vàng mã (Cái chết): Là sản phẩm phục vụ thế giới bên kia. Nó đại diện cho sự mất mát, tâm linh và niềm tin vào việc cung phụng người chết.

Điểm chung trớ trêu: Cả hai đều dùng chung kỹ thuật in khắc gỗ và giấy Dó/giấy bản. Nhưng thay vì in hình "Em bé ôm gà", người ta in "Quần áo, xe cộ, tiền tệ" để đốt đi.
Người dân làng Đông Hồ đã 'khai tử' tranh Tết để nhường chỗ cho vàng mã. Chúng ta đang cố gắng bảo tồn một di sản mà ngay cả người làm ra nó cũng không còn mặn mà vì nó không nuôi sống được họ.  

Liệu chúng ta có đang tự lừa dối mình khi gọi Đông Hồ là nơi sản sinh ra "di sản văn hóa nhân loại", trong khi thực tế nó đã biến thành một 'công xưởng vàng mã' lớn nhất miền Bắc? Phải chăng thứ chúng ta đang bảo tồn thực sự chỉ là cái kỹ thuật in ấn để phục vụ mê tín dị đoan, chứ không phải là tâm hồn nghệ thuật của người Việt?"  

MS

Mikali Nguyễn

unread,
Mar 5, 2026, 11:21:08 PM (6 days ago) Mar 5
to Alphons...@googlegroups.com, Giaitri...@googlegroups.com
Tập 5. Đặc điểm về bản sắc Việt cần bảo tồn của Nghề làm tranh dân gian ở Đông H
image.png

Nghề làm tranh dân gian Đông Hồ (Bắc Ninh) không chỉ là một hình thức nghệ thuật, mà còn là một "cuốn từ điển sống" về văn hóa, triết lý và tâm hồn của người Việt xưa. Để bảo tồn nghệ thuật này, chúng ta cần tập trung vào những đặc điểm cốt lõi tạo nên bản sắc độc bản của nó.

Dưới đây là những đặc điểm quan trọng nhất cần được lưu giữ:
1. Chất liệu tự nhiên và Giấy Điệp truyền thống
Đây là đặc điểm nhận dạng quan trọng nhất của tranh Đông Hồ.
👉 Giấy Điệp: Được làm từ vỏ cây dó, quét lên một lớp hồ trộn với bột vỏ con điệp (một loại sò biển). Lớp vỏ điệp này tạo nên độ trắng lấp lánh và giúp mặt giấy không bị nhòe màu.
👉 Màu sắc tự nhiên: Màu sắc không dùng phẩm hóa học mà được chiết xuất hoàn toàn từ thiên nhiên:
- Màu đen: Từ than lá tre hoặc than gỗ xoan đào.
- Màu xanh: Từ lá chàm hoặc gỉ đồng.
- Màu vàng: Từ hoa hòe hoặc hạt dành dành.
- Màu đỏ: Từ sỏi son hoặc gỗ vang.

2. Kỹ thuật khắc ván và in ấn thủ công
Tranh Đông Hồ là loại tranh in ván mộc bản. Mỗi màu sắc trong tranh tương ứng với một bản khắc gỗ riêng.
- Bản khắc: Phải được làm từ gỗ thị (loại gỗ dẻo, bền, không bị nứt vỡ khi khắc chi tiết nhỏ). Kỹ thuật khắc đòi hỏi sự tỉ mỉ để các đường nét thanh mảnh nhưng vẫn chắc chắn.
- Quy trình in: In theo thứ tự từng màu một, màu nào nhạt in trước, màu đậm in sau, cuối cùng mới là bản nét đen để định hình toàn bộ bức tranh.

3. Đề tài và Nội dung đậm tính Nhân văn
Nội dung tranh Đông Hồ phản chiếu ước vọng của người nông dân về một cuộc sống no đủ, hòa thuận. Các mảng đề tài cần bảo tồn bao gồm:
👉 Chúc tụng: Như Em bé ôm gà (Vinh hoa), Em bé ôm vịt (Phú quý) thể hiện mong cầu con cái hiển đạt.
👉 Sinh hoạt và Lễ hội: Như Đấu vật, Đánh đu, Chăn trâu thổi sáo.
👉 Châm biếm xã hội: Nổi tiếng nhất là bức Đám cưới chuột – một cách phê phán tinh tế chế độ phong kiến xưa.
👉 Lịch sử và Truyện cổ: Tái hiện các anh hùng dân tộc như Bà Trưng, Ngô Quyền.
image.png

4. Bố cục và Đường nét đặc trưng
Tranh Đông Hồ không chú trọng vào luật xa gần của hội họa phương Tây mà tập trung vào ước lệ.
- Đường nét: Thường to, đậm, dứt khoát nhưng vẫn uyển chuyển, tạo cảm giác dân dã và khỏe khoắn.
- Bố cục: Chặt chẽ, thường kèm theo các dòng chữ Hán hoặc chữ Nôm để giải thích ý nghĩa hoặc minh họa cho câu chuyện trong tranh.

Thách thức và Hướng bảo tồn
Hiện nay, nghề tranh Đông Hồ đang đối mặt với sự mai một do thị trường thu hẹp và sự lấn át của các loại hình giải trí hiện đại.
- Bảo tồn nghệ nhân: Truyền dạy bí quyết pha màu và kỹ thuật khắc ván cho thế hệ trẻ.
- Số hóa tư liệu: Lưu trữ các bản khắc cổ (nhiều bản đã có tuổi đời hàng trăm năm).
- Ứng dụng thực tế: Đưa họa tiết Đông Hồ vào các sản phẩm thời trang, bao bì, hoặc thiết kế nội thất hiện đại để tranh "sống" lại trong đời thường.

Khi nói về nghề làm tranh dân gian Đông Hồ, có một sự giao thoa văn hóa rất thú vị. Dù tranh Đông Hồ mang đậm tâm hồn và bản sắc thuần Việt, nhưng xét về mặt lịch sử kỹ thuật, có hai yếu tố cốt lõi có nguồn gốc hoặc chịu ảnh hưởng từ các kỹ thuật cổ xưa của Trung Quốc:

1. Kỹ thuật in mộc bản (Woodblock Printing)
Đây là "xương sống" của tranh Đông Hồ. Kỹ thuật in ấn bằng ván gỗ khắc được phát minh từ thời nhà Đường (Trung Quốc) và lan tỏa khắp Đông Á.
Sự tương đồng: Cả tranh Đông Hồ và tranh Tết Trung Quốc (như tranh Dương Liễu Thanh) đều dùng ván gỗ để định hình đường nét và màu sắc.
👉 Sự sáng tạo của người Việt: Điểm khác biệt nằm ở chỗ người Trung Quốc thường in nét đen trước rồi mới tô màu thủ công bằng tay (gọi là "vẽ điểm"), trong khi nghệ nhân Đông Hồ in chồng nhiều bản màu trước, cuối cùng mới in bản nét đen. Điều này tạo nên vẻ đẹp mộc mạc, khỏe khoắn riêng biệt.

2. Sử dụng màu từ khoáng vật và thực vật
Việc dùng các nguyên liệu tự nhiên để chế màu là một kỹ nghệ phổ biến trong hội họa cổ truyền Trung Hoa (thủy mặc, công bút) và được các nghệ nhân Việt Nam tiếp thu, chọn lọc:
Màu đỏ từ sỏi son: Kỹ thuật khai thác và tán nhỏ đá khoáng (chu sa, thần sa) để làm màu là một kỹ thuật cổ của Trung Quốc.
👉 Màu đen từ than: Việc dùng than gỗ (mực tàu) để in ấn và vẽ cũng là một ảnh hưởng rõ rệt từ văn hóa Hán. Tuy nhiên, người Đông Hồ đã thay thế bằng than lá tre để tạo ra sắc đen có độ mịn và bóng đặc trưng của làng quê Việt.

Những điểm "Độc bản" không bắt nguồn từ Trung Quốc
Dù tiếp thu kỹ thuật in ấn, nhưng tranh Đông Hồ có những sáng tạo mà bạn không thể tìm thấy ở Trung Quốc hay bất kỳ nơi nào khác:
👉 Giấy Điệp: Đây là "đặc sản" hoàn toàn của Việt Nam. Việc dùng vỏ sò (điệp) nghiền nát trộn hồ rồi quét lên giấy dó để tạo độ óng ánh là sáng tạo độc nhất vô nhị của các nghệ nhân vùng Kinh Bắc.
👉 Tư duy thẩm mỹ: Tranh Đông Hồ không mang tính triết lý cao siêu hay quá trau chuốt như tranh Trung Quốc. Nó mang vẻ đẹp hồn nhiên, hóm hỉnh và phản ánh trực diện đời sống nông nghiệp Việt Nam (con lợn có xoáy âm dương, con gà đàn, đám cưới chuột...).

Bảng so sánh nhanh
Đặc điểmNguồn gốc ảnh hưởng (TQ)Sáng tạo của Đông Hồ (VN)
Công cụ inVán gỗ khắc (Mộc bản)Ván khắc từ gỗ thị, gỗ vàng tâm
Cách inIn nét trước, tô màu sauIn màu trước, in nét đen sau cùng
Chất liệu nềnGiấy xuyến chỉ, lụaGiấy Dó quét lớp Điệp óng ánh
Màu sắcKhoáng vật, phẩm nhuộmHoàn toàn từ cỏ cây, hoa trái địa phương
Có thể nói, người nghệ nhân Đông Hồ đã rất khéo léo khi "Việt hóa" những kỹ thuật in ấn cổ xưa để tạo ra một dòng tranh mang đậm hơi thở của làng quê Việt Nam.

Trong tranh Đông Hồ, mỗi hình ảnh con vật hay đồ vật đều không đơn thuần là "vẽ cho đẹp", mà là những biểu tượng phong thủy ẩn chứa lời chúc tụng, mong cầu sự hòa hợp và thịnh vượng. Dưới đây là ý nghĩa phong thủy của những bức tranh kinh điển nhất:

1. Con Lợn (Lợn đàn, Lợn ăn lá ráy)
image.png
Hình ảnh con lợn trong tranh Đông Hồ luôn béo tròn, trên mình có những xoáy âm dương.
- Xoáy âm dương: Tượng trưng cho sự vận động của vũ trụ, sự sinh sôi nảy nở.
- Ý nghĩa: Cầu mong sự sung túc, ấm no và con đàn cháu đống. Đây là lời chúc phổ biến nhất cho những gia đình làm nông nghiệp ngày xưa.

2. Con Gà (Em bé ôm gà - Vinh hoa)
image.png
Con gà trống trong phong thủy hội tụ đủ 5 đức tính (Ngũ đức): Văn, Vũ, Dũng, Nhân, Tín.
Tiếng gáy: Được coi là âm thanh xua đuổi tà ma, gọi mặt trời dậy mang lại ánh sáng.
Ý nghĩa: Chúc cho bé trai lớn lên có danh tiếng, hiển đạt (Vinh hoa).

3. Cá Chép (Em bé ôm cá - Phú quý)
Cá chép gắn liền với điển tích "Cá chép hóa rồng" (Lý ngư vọng nguyệt).
- Biểu tượng: Sự kiên trì, nỗ lực để đạt đến thành công lớn.
- Ý nghĩa: Chúc cho sự giàu sang, của cải dư dả (Phú quý). Khi treo tranh này, người ta tin rằng con cái trong nhà sẽ học hành đỗ đạt, thăng tiến.

4. Đám cưới chuột
image.png
Dù mang tính châm biếm, nhưng ở góc độ phong thủy và triết lý dân gian, nó thể hiện sự cộng sinh hòa bình.
Ý nghĩa: Nhắc nhở về sự khôn khéo trong ứng xử, biết mình biết ta để giữ cho cuộc sống êm ấm, tránh xung đột vô ích.

Cách treo tranh Đông Hồ đúng phong thủy
Để tranh phát huy tối đa ý nghĩa "chiêu tài, nạp phúc":
- Tranh Vinh Hoa - Phú Quý: Thường treo ở phòng khách hoặc phòng của trẻ nhỏ để cầu mong thông minh, thành đạt.
- Tranh Lợn, Gà: Treo ở bếp hoặc phòng ăn để cầu mong sự no đủ, ấm cúng.
- Tranh Tùng Hạc: Rất thích hợp làm quà mừng thọ, treo ở phòng của người cao tuổi.

Sự thật thú vị: Các con vật trong tranh Đông Hồ luôn có vẻ ngoài "mũm mĩm" vì quan niệm phong thủy xưa cho rằng sự đầy đặn chính là biểu hiện của phúc khí.

Mikali Nguyễn

unread,
Mar 9, 2026, 8:08:48 PM (3 days ago) Mar 9
to Alphons...@googlegroups.com, Giaitri...@googlegroups.com

Tập 6. Tranh Đông Hồ: Hồn Việt trong từng nét chạm...?
image.png

Ở tập này ta sẽ bắt đầu làm rõ về chủ đề trên ở nhiều phương diện: Tranh Đông Hồ: Hồn Việt trong từng nét chạm? Là dòng tranh dân gian đặc sắc của Việt Nam? Tranh Đông Hồ thấm đẫm tinh thần Việt? Làng tranh Đông Hồ, nơi truyền thụ nét đẹp văn hóa đặc sắc?...
Trong đó phân biệt giữa văn hóa mang đậm dấu tích Bắc thuộc và nền văn hóa thuần Việt.

Ở Tập 2, ta đã thấy UNESCO công nhận "Nghệ thuật in khắc gỗ dân gian Đông Hồ" là Di sản phi vật thể (không phải tranh dân gian Đông Hồ), tức Hồ sơ UNESCO tập trung vào "Cách làm ra bức tranh" (Kỹ nghệ) nhiều hơn là "Cái gì được vẽ trong tranh" (Nội dung).

 nghệ thuật in khắc gỗ dân gian Đông Hồ, các nhà nghiên cứu làm nổi bật 3 cột trụ bản địa sau đây:

image.png

1. Kỹ nghệ "Điệp" – Căn cước độc bản của người Việt
Đây là "át chủ bài" trong hồ sơ. Tranh dân gian Trung Quốc, Nhật Bản hay Hàn Quốc có thể dùng kỹ thuật in khắc gỗ, nhưng không nơi nào dùng vỏ sò điệp để làm nền tranh.
👉 Sáng tạo bản địa: Người dân vùng Thuận Thành (Bắc Ninh) đã lấy vỏ con điệp từ biển về, nghiền nát, trộn với hồ nếp tạo thành một loại nhũ tự nhiên.
👉 Giá trị nghệ thuật: Khi quét lên giấy Dó, nó tạo ra những đường vân "nhấp nhô" và độ óng ánh lấp lánh mà tranh Trung Quốc (vốn chú trọng sự mịn màng của giấy Xuyến Chỉ) không có. Đây được coi là sự sáng tạo hoàn toàn của người Việt để thích nghi với nguyên liệu sẵn có.

2. Hệ thống màu sắc "Cây nhà lá vườn"
UNESCO đánh giá rất cao cách một cộng đồng tự tạo ra bảng màu từ hệ sinh thái xung quanh họ. Màu của Đông Hồ là màu của làng quê Việt Nam:
Màu đen: Không dùng mực tàu, mà dùng than của lá tre khô hoặc than nứa.
Màu vàng: Từ hoa hòe (loại cây phổ biến ở đồng bằng Bắc Bộ).
Màu đỏ: Từ gỗ vang hoặc sỏi son trên núi.
Màu xanh: Từ lá chàm.
Lập luận của nhà nghiên cứu: Một bức tranh dùng màu từ lá tre và vỏ sò Việt Nam thì không thể gọi là tranh của nước khác, dù nó có vẽ điển tích gì đi nữa.

3. Phương pháp "In chồng màu" đặc thù
Khác với tranh Hàng Trống (Hà Nội) là in nét rồi tô màu bằng tay, tranh Đông Hồ là in hoàn toàn bằng bản khắc.
Mỗi màu là một bản khắc gỗ riêng. In màu nào trước, màu nào sau để chúng chồng lên nhau tạo ra hiệu ứng thị giác là một quy trình kỹ thuật riêng biệt của làng Đông Hồ.

Các nhà nghiên cứu khi công nhận đây là di sản phi vật thể, họ không chỉ chú trọng về chất liệu, cách phối màu hay phương pháp in đặc sắc mà còn quan tâm vào đôi bàn tay của nghệ nhân: Cách họ cầm xơ mướp quét màu, cách đặt giấy sao cho khớp giữa các lần in. Đây chính là "di sản sống" mà UNESCO bảo tồn.

Nhưng không thể với cách làm nghệ thuật dân gian như vậy  kết luận tranh Đông Hồ là thấm đẫm tinh thần Việt... bởi vì đối với đại chúng, cái đập vào mắt (nội dung) luôn quan trọng hơn là chất liệu hay cái quy trình kỹ thuật (cách làm). Nếu 90% nội dung là văn hóa ngoại bang, thì trong mắt người dân, đó là một sản phẩm ngoại bang, bất kể nghệ nhân có dùng giấy dó hay vỏ điệp kỳ công đến đâu.
Đây là mâu thuẫn giữa góc nhìn của nhà bảo tồn (quan tâm đến kỹ thuật) và góc nhìn của người dân/người hưởng thụ văn hóa (quan tâm đến căn cước dân tộc).

Dưới đây là sự bóc tách sòng phẳng về việc cái nào đáng lưu tâm hơn:
1. Cái đập vào mắt: "Căn cước thị giác"
Khi một người dân bình thường nhìn vào bức tranh em bé mặc đồ kiểu Thanh, có chữ Hán bên cạnh, họ sẽ nhận diện ngay: Đây là văn hóa Trung Quốc.
Điều này dẫn đến hệ quả là việc treo những bức tranh này trong đời sống hiện đại vô tình duy trì sự lệ thuộc về thẩm mỹ và tư duy từ văn hóa Bắc thuộc.
Logic ở đây là nếu nó không mang lại niềm tự hào dân tộc về mặt nội dung, thì sự tồn tại của nó trong đời sống chỉ là sự "vay mượn kéo dài".
Thử hỏi ở thời đại hiện ngày nay, có nhà thờ, đền, chùa, trung tâm thương mại, công sở hay nhà dân nào (trừ nhà người Hoa và nhà người theo đạo Lão) mà không ngại treo các hình ảnh này trong nhà hay trong ngày Tết:
image.png image.png image.png
2. Giá trị của "Cách làm tranh": Chỉ là nền tảng công cụ
Cách làm tranh (giấy dó, màu điệp) chỉ là công cụ.
Nếu chúng ta chỉ bảo tồn công cụ mà cứ bắt nó tải nội dung cũ, thì chúng ta giống như người giữ một chiếc điện thoại hiện đại nhưng chỉ để chạy phần mềm lỗi thời.
Giá trị thực sự của cách chế tác truyền thống chỉ có ích khi nó được dùng để tải một nội dung Việt mới.

3. Cái nào đáng lưu tâm hơn?
Trong xu hướng hiện nay, nội dung và căn cước văn hóa đáng lưu tâm hơn nhiều hơn là công cụ làm ra nó. Người ta khó thể phân biệt được 1 bức tranh có được chế tác bằng phương pháp thủ công truyền thống thứ thiệt của làng Đông Hồ hay không. Nhưng nội dung bức tranh diễn tả điều gì thì họ nhận ra ngay. Do vậy:   
👉 Bảo tàng: Giữ lại các bản khắc cổ có chữ Hán để nghiên cứu lịch sử (chấp nhận đó là quá khứ bị ảnh hưởng).
👉 Đời sống: Nếu tranh Đông Hồ muốn tồn tại, nó buộc phải lột xác. Nếu không lột xác về nội dung (bỏ chữ Hán, thay đổi trang phục nhân vật, vẽ về tích Việt), thì việc nó bị đào thải khỏi đời sống là điều tất yếu và hợp lý.
Việc tranh Đông Hồ muốn tồn tại vẫn còn phụ thuộc vào một vướng mắc là thị hiếu của người dân có chấp nhận "tranh Đông Hồ lột xác" so với các thể loại tranh khác.
image.png

Dưới đây là các "đối thủ" chính đang trực tiếp cạnh tranh thị phần với tranh dân gian cải biên:
1. Tranh Hàng Trống "Hồi sinh"
Khác với Đông Hồ mộc mạc, tranh Hàng Trống (Hà Nội) mang tính thành thị, sang trọng và tỉ mỉ hơn với kỹ thuật "vờn màu" bằng bút lông.
Điểm mạnh ở dòng tranh này là đã có nhiều dự án hiện đại hóa thành công (như dự án Họa sắc Việt), đưa các họa tiết Hàng Trống vào bao bì sản phẩm cao cấp, thời trang.
Nó cạnh tranh ở chỗ đánh vào phân khúc khách hàng yêu thích sự tinh tế, quý phái – nơi mà tranh Đông Hồ (vốn thiên về dân dã) khó lòng chen chân nếu không thay đổi tư duy thẩm mỹ.

2. Tranh Đồ họa hiện đại (Digital Art) lấy cảm hứng dân gian
Đây là đối thủ nặng ký nhất từ giới trẻ. Các nghệ sĩ kỹ thuật số dùng phần mềm (Photoshop, Illustrator) để vẽ lại các tích Việt, anh hùng Việt bằng ngôn ngữ của truyện tranh, game hoặc hoạt hình.
Điểm mạnh ở dòng tranh này là màu sắc cực kỳ rực rỡ, bố cục hiện đại, dễ dàng in ấn trên mọi chất liệu (áo thun, ly sứ, ốp lưng điện thoại).
Giới trẻ sẵn sàng bỏ tiền mua một sản phẩm ứng dụng có hình Hai Bà Trưng vẽ kiểu "cool ngầu" hơn là mua một bức tranh Đông Hồ truyền thống chỉ để treo tường.

3. Tranh Sơn mài và Lụa cách tân
Nhiều họa sĩ đương đại đang dùng kỹ thuật sơn mài hoặc vẽ lụa (hai chất liệu cực kỳ "Việt") để thể hiện các chủ đề đương đại.
Điểm mạnh ở chỗ nó mang giá trị nghệ thuật và kinh tế cao, được coi là "tác phẩm nghệ thuật" thực thụ chứ không phải là "hàng thủ công mỹ nghệ" bán tràn lan.
Nếu tranh Đông Hồ "lột xác" thành tranh nghệ thuật cao cấp, nó sẽ phải đối đầu với sự sang trọng và chiều sâu của sơn mài.

4. Tranh "Thoát Trung" từ các dòng tranh vùng miền khác
Đừng quên các dòng tranh như Tranh Kiếng (Nam Bộ) hay Tranh thờ miền núi. Hiện nay, nhiều dự án đang khôi phục tranh Kiếng với nội dung về đời sống sông nước miền Tây, dùng chữ Quốc ngữ cách điệu rất đẹp.
Nó tạo ra một sự đa dạng văn hóa, khiến tranh Đông Hồ không còn là "lựa chọn duy nhất" khi người ta nghĩ về tranh dân gian Việt Nam.
image.png

Trong khi tranh Đông Hồ vẫn đang loay hoay với việc bảo tồn 'cái xác' (chữ Hán, điển tích cũ) hay chờ "lột xác" để được UNESCO bảo vệ khẩn cấp, thì các nghệ sĩ Digital Art và các dòng tranh dân gian khác đã âm thầm 'cướp' mất khán giả trẻ bằng cách dùng chính tâm hồn Việt, chữ Việt và câu chuyện Việt. Nếu Đông Hồ lột xác mà chỉ dừng lại ở việc in lại mẫu cổ lên giấy mới hay mẫu mới trên giấy cổ mà không có nét canh tân thu hút, thì nó sẽ thua ngay trên sân nhà trước những dòng tranh dám từ bỏ quá khứ để sống cùng hiện đại.

Trong thực tế, tranh Đông Hồ cổ đang chết lâm sàng trong đời sống vì nó không còn đại diện cho căn cước Việt hiện đại.
👉 Nếu chỉ giữ kỹ thuật: Nó là một nghề thủ công, cần được bảo tồn trong viện bảo tàng hay trong các cuộc trình diễn văn hóa.
👉 Nếu muốn phổ biến là Văn hóa Việt: Nó phải vẽ câu chuyện nêu bật các đặc sắc của văn hóa người Việt.
Nếu chúng ta cứ tiếp tục quảng bá những bức tranh "chữ Tàu", "điển tích Tàu", "tín ngưỡng Tàu", "em bé Tàu, mặc đồ Tàu"... coi đó là tinh hoa Việt, chúng ta đang tự làm khó mình trong việc xây dựng một nền văn hóa tự chủ.

* Các bài sau ta sẽ phân tích về nội dung của tranh Đông Hồ trên nhiều khía cạnh: nó vẽ cái gì?

MS

Mikali Nguyễn

unread,
Mar 11, 2026, 9:21:11 PM (13 hours ago) Mar 11
to Alphons...@googlegroups.com, Giaitri...@googlegroups.com
Tập 7. Tranh Đông Hồ thường vẽ cái gì để gọi là thấm đẫm tinh thần Việt?

Ta sẽ xét về chủ đề này trên nhiều phương diện để làm rõ Tranh Đông Hồ là Di sản "Khẩn cấp" hay là xác ướp văn hóa Hán hóa?

Mục 7.1. Việc sử dụng phổ biến chữ Hán - Nôm 
image.png

Dù không có một bảng tổng kiểm kê đến từng bức tranh lẻ, nhưng giới chuyên môn thống kê dựa trên hệ thống ván khắc cổ và các bộ sưu tập lưu giữ tại bảo tàng như sau:

Tỷ lệ phân bổ văn tự trong tranh Đông Hồ
Tổng số tranh Đông Hồ có xuất hiện chữ (văn tự) chiếm khoảng 80% - 90% toàn bộ kho tàng. Trong đó, sự phân chia cụ thể như sau:

Chữ Hán: Chiếm khoảng 70% - 80%
image.png
Lý do vì đây là loại chữ chiếm ưu thế tuyệt đối. Các bức tranh chủ đạo về Chúc tụng (Vinh hoa, Phú quý, Tiến tài, Tiến lộc) hay Điển tích (Tô Vũ chăn dê, Nhị thập tứ hiếu) đều dùng chữ Hán.
Lý do là chữ Hán thời đó đại diện cho sự trang trọng, học thuật và hệ tư tưởng Nho giáo vốn ăn sâu vào đời sống xã hội.

Chữ Nôm: Chiếm khoảng 10% - 20%
image.png
Chữ Nôm thường xuất hiện trong các dòng tranh mang tính Trào phúng, Đời sống hoặc Giáo huấn dân gian. Ví dụ như: Các bức tranh như Đánh ghen, Thầy đồ Cóc, Chuột vinh quy (Đám cưới chuột) thường có những câu thơ Nôm hoặc từ ngữ nôm na chú thích để tạo sự gần gũi, hóm hỉnh với người nông dân.
Một điểm rất đáng lưu ý là chữ Nôm có gốc chữ Hán là loại chữ gần như thất truyền, ít ai đọc được. Chữ Nôm đang ở trạng thái "đóng băng" đối với đại chúng và ngay cả với AI. Chữ Nôm là "tử huyệt" của các công cụ dịch thuật hiện nay, ngay cả các AI thông thường như ChatGPT, Gemini cũng đành bó tay!

Không ghi chữ: Khoảng 10%
image.png
Chủ yếu là các bức tranh thuần hình ảnh hoặc các mẫu tranh đã được giản lược qua thời gian để tập trung vào biểu tượng (ví dụ một số bản Lợn âm dương, Gà dạ xướng chỉ thuần hình).

Sự lệ thuộc văn hóa với 70-80% là chữ Hán, rõ ràng tranh Đông Hồ là một sản phẩm "hỗn dung" văn hóa rất mạnh. Việc gọi nó là di sản "thuần Việt" về mặt nội dung là một điểm cần phải xem xét lại một cách sòng phẳng.
👉 Rào cản ngôn ngữ: Ngày nay, gần như 100% người trẻ không đọc được chữ Hán và Nôm trên tranh. Khi 90% giá trị văn tự bị "mã hóa", bức tranh đối với người hiện đại chỉ còn là một tờ giấy có màu sắc mà thiếu đi phần hồn (thông điệp).
👉 Sự bảo thủ trong bảo tồn: Tại sao chúng ta vẫn giữ tỷ lệ 80% chữ Hán đó trong các bản in mới mà không mạnh dạn chuyển sang chữ Quốc ngữ để di sản thực sự "sống" lại trong tâm trí người Việt? 
Nếu 90% linh hồn của một di sản quốc gia đang được viết bằng những ngôn ngữ mà con cháu không còn đọc được, thì chúng ta đang bảo tồn niềm tự hào hay đang bảo tồn một sự xa lạ?"

Chúng ta đang sống trong kỷ nguyên mà AI có thể giải toán học búa, viết code trong vài giây, nhưng lại 'mù chữ' hoàn toàn trước vài dòng chữ Nôm trên một bức tranh dân gian Việt. Khi ngay cả trí tuệ nhân tạo mạnh nhất cũng không thể đọc nổi những gì cha ông viết, thì việc chúng ta cứ khư khư giữ lại những bản khắc gỗ đó mà không có sự giải mã, Việt hóa, thì thực chất chúng ta đang bảo tồn một 'mật mã chết'. Chúng ta vinh danh di sản, nhưng chúng ta lại không thể hiểu nổi di sản đó đang nói gì với mình. Đó chẳng phải là đỉnh cao của sự mâu thuẫn trong bảo tồn sao?"

Có vấn đề là có hiện tượng đáng lưu ý là "đục bỏ chữ Hán - Nôm trên các ván khắc tranh Đông Hồ hiện nay" là một vấn đề cực kỳ nhạy cảm, gây tranh luận gay gắt giữa một bên là bảo tồn nguyên trạng và một bên là thích nghi thị trường.

Hiện tượng "Đục bỏ" đang âm thầm diễn ra bằng cách:
👉 Đục bỏ để thay bằng chữ Quốc ngữ: Một số nghệ nhân muốn tranh gần gũi hơn nên đã đục phần ván khắc có chữ Hán/Nôm cũ để ghép vào đó các chữ Quốc ngữ như "Chúc mừng năm mới", "Vinh hoa", "Phú quý".
👉 Đục bỏ hoàn toàn (Để trống): Nhiều bản in hiện nay lược bỏ hẳn phần chữ, chỉ để lại hình vẽ. Điều này giúp bức tranh trông "sạch sẽ", hiện đại hơn và quan trọng nhất là... tránh bị khách hàng hỏi "chữ này nghĩa là gì" khi chính người bán cũng không giải thích được.

Tại sao đây lại là một sự "đau đớn" cho di sản?
👉 Trong nghệ thuật tranh khắc gỗ dân gian, Chữ và Hình là một thực thể không thể tách rời:
Chữ Hán/Nôm trong tranh Đông Hồ được tính toán để tạo sự cân bằng (tả hữu, trên dưới). Khi đục bỏ, bức tranh sẽ có những khoảng trống "hơ hoác", làm m
ất cân bằng bố cục và làm  hỏng cấu trúc mỹ thuật của tiền nhân. 
👉 Ngoài ra chữ Hán/Nôm là chữ tượng hình, có nét thanh nét đậm hợp với lối khắc gỗ. Chữ Quốc ngữ là chữ Latinh, nét chữ thường cứng và khó hài hòa với những đường nét mềm mại của tranh dân gian, tạo cảm giác "râu ông nọ chắp cằm bà kia".
Việc đục bỏ chữ Hán - Nôm trên ván khắc không phải là 'sáng tạo', mà là một sự tự sát văn hóa trong tuyệt vọng. Chúng ta đục bỏ vì chúng ta dốt (không đọc được), vì chúng ta lười (không muốn giải thích) và vì chúng ta muốn biến di sản thành một món đồ trang trí rẻ tiền phục vụ thị hiếu đám đông.
Nếu nghệ nhân đã cầm đục để xóa đi dấu tích của cha ông, thì danh hiệu UNESCO 'Cần bảo vệ khẩn cấp' liệu có còn ý nghĩa gì khi chính chúng ta đang chủ động tiêu hủy linh hồn của di sản ngay trên ván khắc?" 
Theo khảo sát, nhiều bộ ván khắc cổ từ thế kỷ 18-19 tại các gia đình nghệ nhân đã bị hư hại hoặc bị "sửa chữa" sai lệch do thói quen đục bỏ này.
Đây là hiện trạng mâu thuẩn sâu sắc mà các nghệ nhân đang vật lộn giữa 2 dòng nước: giữa bảo tồn và thích nghi, giữa thực tế lịch sử của tranh cổ và xu hướng "thoát Trung" để khẳng định tính Thuần Việt, giữa bảo tồn "Xác" hay bảo tồn "Hồn"?

 Chữ Hán là dấu ấn của sự lệ thuộc, chữ Nôm là nỗ lực thoát ly nhưng đã thất bại. Việc khư khư bảo tồn những văn tự này trong tranh Đông Hồ hiện nay chẳng khác nào việc thờ phụng một 'xác ướp' ngôn ngữ. Nếu không thể làm cho chữ Nôm sống lại, thì việc giữ chúng trên ván khắc chỉ là sự trì trệ văn hóa. Chúng ta cần bảo tồn cái Nghề (kỹ thuật của người Việt), chứ không phải bảo tồn cái Rào cản (văn tự ngoại lai) đang ngăn cách chúng ta với tổ tiên.
  
Nếu chúng ta tiếp tục giữ lại những dòng chữ Hán - Nôm mà đến cả nghệ nhân không hiểu, hậu thế không đọc được và máy móc cũng không dịch nổi, thì việc bảo tồn chúng là vô giá trị. Một di sản không thể giao tiếp với hiện tại là một di sản đã chết. Thay vì cố giữ cái 'mật mã' đã thất truyền, hãy dũng cảm thay thế bằng hồn cốt Việt của thời đại mới, hoặc chấp nhận rằng chúng không còn đáng để bảo tồn như một thực thể sống.  

MS
Reply all
Reply to author
Forward
0 new messages