Dẫn nhập:
1. Bức thư dài này là có thực:
- Carlo Maria Viganò thực sự đã công bố 1 bức thư đề ngày 25/1/2026 gửi ĐGH Leo XIV
- Bức thư nội dung đã được đăng trên trang QExsurge Domine, 1 tổ chức do Viganò thành lập
- Nhiều trang web truyền dẫn đã đăng nguyên văn bản tương tự trong các ngày 15–16/6/2026.
- Các câu chữ trong bản tiếng Việt trùng khớp với các bản tiếng Ý, TBN và Anh được công bố
2. Tôi thấy Bức thư này gửi tràn lan trên mạng xã hội, chủ yếu ở FB của những người theo đạo Công giáo. Dự định bỏ qua không coi vì biết vị này đã bị vạ tuyệt thông vì tội ly giáo, không đáng để coi. Nhưng thấy Bức thư được chuyền đi nhiều nơi gây hoang mang cho các tín hữu nên xin có vài lời phân tích và bình luận phản biện.
3. Những người Công giáo đọc và cảm nhận thấy gì?
Phần lớn các tín hữu không đồng ý về các nội dung Bức thư này. Nhưng có 1 số ít hoang mang hoặc đồng tình kèm theo các lời bình luận chỉ trích Giáo hội thậm tệ (xin mạn phép trích):
- Nếu hôm nay không phải Maria Viganò mà là Jesus nói bằng lá thư này thì sao? Chúng ta phải tìm hiểu và nhìn vào thực tế đi. Thay vì cứ đi vu khống người khác là chia rẽ. Nhiều người không hề biết và cảm nhận được TGM Vigano yêu Hội Thánh như thế nào.
- Bản chất giáo hội Công giáo là tổ chức của Tam Điểm rồi, đâu cần ai phải thâm nhập hay công phá. Bức thư này xuất hiện là do bởi sự ngộ nhận từ lâu nay của người trong cuộc hoặc đơn thuần chỉ là chiêu bài nhằm cứu lấy danh tính và sự thật về hội kín Vatican đang ngày càng bị bóc mẻ, phơi bày, và lộ rõ nguyên hình của nó trong thời đại mới, thời đại của sự tỉnh thức và thanh lọc mạnh mẽ. Nhân loại tiến bộ cần được tháo dỡ ra khỏi những xiềng xích gông cùm của các hình thái tôn giáo có tổ chức nhằm đạt đến sự tự do, khai phóng, và độc lập về tư tưởng, về tâm linh, về các sự thật trần trụi đang bị ẩn giấu trong tầm nhìn. - Tôi tin GM Vigano này... và chính tôi cũng đăng đàng câu nói "Ma Vương (Leo XIV)" đã len lõi vào Thánh Địa Vatican hòng phá Giáo Hội Công Giáo.
- Lạy Chúa xin Chúa thương xót chúc lành và gìn giữ Ngài Tổng Giám mục nhân lành, một người thơ vườn Nho khiêm nhường hiền lành và siêng năng của Chúa.
Lạy Chúa xin Chúa thương xót nâng đỡ Ngài, xin Chúa bao phủ Ngài bằng Máu Châu báu cực Thánh của Chúa. Tạ ơn Chúa Amen
- Vatican đã trở thành hang ổ của hắc ám từ 500 năm này rồi.Còn rất nhiều bình luận chỉ trích hay phỉ báng khác từ Bức thư này, không tiện trích ra thêm
3. Bức thư này liên quan đến nhiều sự kiện của Giáo hội thuộc lịch sử thời Cận đại và Hiện đại, thần học, quản trị nội bộ và xoáy sâu vào vấn đề giáo lý, tín điều. Do vậy ta sẽ phân tích từng luận điểm bằng nhiều Tập tiếp theo.
Tập 1. Bức thư của Carlo Maria Viganò gửi Đức Lê-ô XIV nói gì?
Đức TGM Viganò nói rõ Tam Điểm thâm nhập và đang đánh phá Giáo hội từ bên trong!

Đức Tổng Giám mục Carlo Maria Viganò gửi Đức Lê-ô XIV
Thư tín năm 2026 Ngày 15 tháng 6 năm 2026
Cách đây vài tuần, tôi đã công khai những sự việc liên quan đến yêu cầu diện kiến Đức Lê-ô của tôi, việc ngài chấp thuận ban đầu, rồi sự hủy bỏ đột ngột và bãi bỏ dứt khoát sau đó. Trong khi một Tổng Giám mục Công giáo không được xem là xứng đáng để được tiếp kiến trong một Buổi Triều yết, thì một người ủng hộ phá thai và đồng tính luyến ái dưới cương vị "nữ tổng giám mục" Anh giáo lại không chỉ nhận được các nghi thức lễ tân của Vatican, mà thậm chí còn được hiệp thông trong các việc thánh (comunicare in sacris) với Đức Lê-ô cùng các vị Giáo phẩm khác, và còn đi xa đến mức ban một "phép lành" ngay tại nguyện đường của Thủ lãnh các Tông đồ. Điều này là minh chứng cho tiêu chuẩn kép được áp dụng bởi các đại diện của giáo hội hiệp hành. Tôi nghĩ không cần phải bình luận thêm điều gì nữa. Sau nhiều tháng dài im lặng, đã đến lúc phải công bố nội dung bức thư tôi gửi Đức Lê-ô vào ngày 25 tháng 1 vừa qua, nhằm lưu lại một bằng chứng văn bản.
Trọng kính Đức Thánh Cha,
Qua bức thư này, tôi ước ao đệ trình lên Đức Thánh Cha những sự kiện nổi bật trong đời sống cá nhân và tác vụ mục vụ của tôi, để Đức Thánh Cha có thể hiểu về tôi cũng như định hình được những thiện chí đang thúc bách tôi.
Tôi sinh ngày 16 tháng 1 năm 1941 tại Varese, trong một gia đình Công giáo đạo hạnh sâu sắc, nhờ đó tôi đã có thể lớn lên trong việc thực hành Đức Tin hằng ngày, nhận được một nền giáo dục cấp cao vững chắc và trưởng dưỡng Ơn gọi Linh mục. Tôi được thụ phong linh mục vào ngày 24 tháng 3 năm 1968, và sau một thời gian ngắn làm mục vụ giáo xứ tại Pavia, tôi đã được Đức ông Giovanni Benelli, bấy giờ là Đấng Phụ tá Phủ Quốc vụ khanh Tòa Thánh, mời gia nhập Viện Hàn lâm Ngoại giao Tòa Thánh, nơi tôi được nhận vào tháng 10 năm 1971.
Tôi đã phụng sự năm đời Đức Giáo hoàng: tại các Tòa Sứ thần ở Baghdad, Kuwait và Luân Đôn; sau đó, từ tháng 1 năm 1978, tôi làm việc tại Phủ Quốc vụ khanh Tòa Thánh trong hơn mười năm với tư cách là Thư ký cho ba đời Đấng Phụ tá; cuối cùng là Quan sát viên Thường trực tại Hội đồng Châu Âu và Nghị viện Châu Âu tại Strasbourg (1988-1992). Sau khi nhận phép Tấn phong Giám mục từ chính tay Đức Gioan Phaolô II, tôi được cử sang Nigeria làm Sứ thần Tòa Thánh (1992-1998), rồi được triệu hồi về lại Phủ Quốc vụ khanh Tòa Thánh với chức vụ Đại biểu đặc trách các Phái đoàn Đại diện Tòa Thánh (1998-2009). Vào năm 2009, Đức Giáo hoàng Biển Đức XVI đã bổ nhiệm tôi làm Tổng Thư ký Phủ Thống đốc Thành quốc Vatican, và vào năm 2011 làm Sứ thần Tòa Thánh tại Hợp chủng quốc Hoa Kỳ cho đến năm 2016.
Chính trên cương vị Đại biểu đặc trách các Phái đoàn Đại diện Tòa Thánh mà tôi đã phải xử lý các quy trình thẩm định thông tin cho việc thăng tiến lên hàng Giám mục, tại Giáo triều và tại các Tòa Sứ thần, cũng như các vụ việc mật thiết và nhạy cảm nhất liên quan đến các Giám mục và Hồng y, trong đó có hồ sơ của Theodore McCarrick và của các vị Giáo phẩm đồng tính luyến ái khác. Hoạt động của tôi trong lĩnh vực này đã khiến tôi bị bãi nhiệm khỏi Phủ Quốc vụ khanh Tòa Thánh và bị điều chuyển sang Phủ Thống đốc Thành quốc Vatican với chức vụ Tổng Thư ký, nơi Đức Giáo hoàng Biển Đức đã giao nhiệm vụ cho tôi chống lại sự quản lý yếu kém và mạng lưới tham nhũng tài chính sâu rộng.
Ngay cả trong trường hợp đó, mặc dù trong vòng một năm rưỡi, tôi đã đưa ngân sách của Phủ Thống đốc từ chỗ thâm hụt 15 triệu Euro thành thặng dư 35 triệu Euro, và mặc dù Đức Giáo hoàng muốn thăng chức cho tôi làm Chủ tịch Hội đồng Tòa Thánh về Sự vụ Kinh tế của Tòa Thánh, tôi vẫn bị trục xuất khỏi Giáo triều Rôma và bị phái đến Washington làm Sứ thần Tòa Thánh. Hoạt động của tôi đã gây phiền toái cho những nhân vật bấy giờ rất quyền lực và có khả năng lấn át cả ý chí của Đức Giáo hoàng Biển Đức.
Vào năm 2016, ngay khi tôi vừa tròn bảy mươi lăm tuổi, Bergoglio đã ra lệnh cho tôi rời khỏi Tòa Sứ thần ở Washington và cấm tôi trở lại Vatican, nơi Đức Gioan Phaolô II đã cấp cho tôi một căn hộ vĩnh viễn; ông ta cũng cấm tôi cư trú tại nhà hưu dưỡng dành cho các Sứ thần tại Rôma do Đức Giáo hoàng Biển Đức đặc biệt chuẩn bị. Trước khi qua đời, Bergoglio cũng đã tước bỏ quyền công dân và hộ chiếu Vatican của tôi; ngăn cản tôi hưởng chế độ chăm sóc y tế dành cho các thành viên thuộc Ngành Ngoại giao mặc dù tôi luôn đóng bảo hiểm đều đặn; ra lệnh xóa sổ chiếc xe của tôi khỏi Sổ đăng ký xe cộ Vatican; ngăn cản việc gia hạn bằng lái xe Vatican mà tôi đã sử dụng liên tục từ năm 1973, gây cho tôi những bất tiện vô cùng nghiêm trọng và trên thực tế đã giam lỏng tôi tại gia.
Sau khi công khai bản giác thư chấn động vào tháng 8 năm 2018 về Theodore McCarrick và về mạng lưới tham nhũng cũng như tòng phạm sâu rộng trong lòng Giáo triều Rôma, nơi chính Jorge Mario Bergoglio cũng liên đới trực tiếp, tôi đã phải sống vài năm tại những nơi bí mật, theo lời khuyên của Đức Hồng y Raymond Leo Burke do những lời đe dọa nhận được, và do thực tế là người tiền nhiệm trực tiếp của tôi tại Washington, Sứ thần Pietro Sambi, đã tử vong trong những hoàn cảnh rất đáng ngờ, sau khi có những cuộc đụng độ nảy lửa với vị Hồng y bấy giờ là McCarrick để thông báo cho ông ta về các biện pháp do Đức Biển Đức XVI đưa ra nhằm ngăn chặn các tội ác lạm dụng hàng loạt của ông ta.
Sự băng hoại, các vụ tống tiền, những sự dối trá và phản bội mà tôi đã phải đối mặt đã thúc bách tôi tự vấn về những nguồn gốc sâu xa của tình trạng thảm hại mà Giáo hội Công giáo đang phải gánh chịu.
Khi hồi tưởng lại những năm tháng thụ huấn của tôi tại Đại học Laterano (1960-1964) và Đại học Gregoriana (1965-1969), tôi đã phải nhìn nhận rằng ngay cả trước khi Công đồng Vatican II bế mạc, định hướng ý thức hệ của toàn bộ chương trình học – và của đội ngũ giảng viên – đã mang đậm dấu ấn của các giáo huấn mới từ công đồng, dù chúng chưa hề được phê chuẩn. Tôi nhớ rất rõ việc kỷ luật giáo sĩ tại các Chủng viện Rôma đã nhường chỗ cho sự vô chính phủ trên mọi phương diện như thế nào, và chính các Bề trên đã khuyến khích các chủng sinh tham gia vào các hội nghị của "các nhà thần học mới" ra sao: tôi muốn nói đến những người mà cho đến vài năm trước đó, đã bị Bộ Thánh Vụ nghi ngờ một cách có cơ sở, như Küng, Ratzinger, Rahner, Schillebeeckx, Congar, và cùng với họ là mạng lưới ngầm các nhà tân thời chủ nghĩa mà chẳng bao lâu sau đó đã tàn phá các giảng đường đại học cùng các vị trí đầy trách nhiệm tại Vatican và tại các Giáo phận. Và như vẫn luôn xảy ra đối với mọi hoạt động lật đổ, bầu khí thay đổi toàn diện, những cuộc cải cách liên miên, những biến đổi to lớn đã được dàn dựng một cách khéo léo từ cấp cao nhất.
Từ vị trí quan sát đặc quyền của tôi với tư cách là Thư ký cho Đấng Phụ tá Phủ Quốc vụ khanh, tôi đã chứng kiến sự suy giảm trầm trọng của hàng ngàn ơn gọi linh mục và dòng tu; trong khi những linh mục không muốn hùa theo trào lưu công đồng mới, cũng như không từ bỏ Phụng vụ Tridentino, thì bị bài xích, bị đối xử như những kẻ lạc giáo, bị vạ tuyệt thông hoặc bị đình chỉ chức vụ thánh (sospesi a divinis), bị tước bỏ bổng lộc và bị bỏ mặc cho chết trong cô độc.
Khi đọc lại những biến cố và những cuộc cải cách đó với cái nhìn tỉnh ngộ của ngày hôm nay, cùng với kinh nghiệm rút ra từ các sự kiện tương tự khác – mà không thể không kể đến việc điều hành Thượng hội đồng về Gia đình dẫn đến Tông huấn Amoris Lætitia, và trên hết là cuộc cách mạng hiệp hành đang diễn ra – tôi không thể không nhìn thấy trong tất cả những điều đó một ý đồ đã sắp đặt sẵn hành động lật đổ, mà chẳng bao lâu sau sẽ phơi bày những hệ lụy chấn động nhất của nó.
Cuộc cách mạng công đồng đã đi theo một kịch bản rất chuẩn xác, dưới một sự đạo diễn duy nhất. Mọi sự phải tỏ ra hoàn toàn hợp pháp và phù hợp với thực hành thường bộ của Giáo hội: mỗi văn kiện được ban hành phải vừa cho phép đưa ra một cách giải thích chính thống để trấn an các Nghị phụ Công đồng, lại vừa cài cắm một cách giải thích lạc giáo để kích nổ sau này. Những văn kiện đó tiết lộ mục đích thực sự của những kẻ đã sử dụng một cách gian trá một Công đồng để áp đặt các sai lầm về giáo lý, luân lý và phụng vụ vốn đã bị các Đức Giáo hoàng Rôma lên án.
Trong suốt những năm dài thi hành tác vụ của tôi để phục vụ Tòa Thánh, sự vâng phục vô điều kiện đối với các Đức Giáo hoàng và việc tôi hoàn toàn bị cuốn vào các nhiệm vụ được giao phó đã không cho phép tôi hiểu được cuộc cách mạng đang diễn ra. Làm sao tôi có thể hình dung được sự đảo lộn và phản bội đang được thực hiện? Làm sao tôi có thể tin được rằng Thẩm quyền tối cao của Giáo hội và toàn thể hàng Giám mục lại có thể trở thành đồng lõa với những kẻ thù hiểm độc nhất của Chúa Kitô, những kẻ mà Thánh Pi-ô X đã vạch mặt là những nhà Tân thời chủ nghĩa?
Việc "nghỉ hưu" diễn ra vào năm 2016 đã cho phép tôi dành thời gian cầu nguyện, nghiên cứu và suy niệm về những vấn đề nghiêm trọng này. Nhờ đó, tôi đã thấu suốt rằng Công đồng Vatican II, dù vẫn giữ các đặc tính của một Công đồng Chung, nhưng đã bị muốn lợi dụng với ý đồ cách mạng hóa toàn bộ tòa nhà giáo hội và lật đổ nó trong mọi thành phần: từ Giáo lý, Phụng vụ, kỷ luật, các quy chuẩn giáo luật và đặc biệt là trong cấu trúc phẩm trật của nó. Chính những kiến trúc sư của Vatican II đã định nghĩa nó là "năm 1789 của Giáo hội" và coi cuộc thử nghiệm mang tính lật đổ này của họ là một Công đồng tiêu biểu nhất, từ đó chứng minh sự dị biệt của nó đối với tất cả các Công đồng khác và đối với Truyền thống trường cửu của Giáo hội.
Cả Jorge Bergoglio lẫn các đức giáo hoàng thời hậu công đồng đều tự hào khẳng định sự liên tục về mặt ý thức hệ của họ với Vatican II để thực thi và hợp pháp hóa mọi cuộc "cải cách" của mình. Một cách đầy ý nghĩa, toàn bộ "hệ thống huấn quyền hậu công đồng" đã thiết lập một hệ hình mới được chuẩn y bởi Công đồng. Các giáo lý mang tính chất biến đổi của nó – vốn liên tục tiến hóa như thuyết biện chứng tổng hợp của Hegel mà chúng làm nền tảng – rõ ràng là một sự đứt gãy với Huấn quyền hai ngàn năm của Giáo hội trước thời Vatican II.
Công đồng đã dung túng và góp phần vào quá trình phi Kitô giáo hóa phương Tây, cũng như thiết lập một trật tự mới trong đời sống dân sự, phù hợp với mưu đồ của Hội Tam Điểm. Các kế hoạch của các chi hội Tam Điểm đã quá rõ ràng và chúng ta biết các phương tiện sẽ được áp dụng để đạt được các mục tiêu đã định trước. Đó là thâm nhập vào Giáo hội Công giáo và đánh phá Giáo hội từ bên trong.
Cuộc tranh luận về Vatican II và về cuộc đảo chính trong Giáo hội đã dẫn dắt tôi tái khám phá Nghi lễ Truyền thống trong thời gian tương đối gần đây. Việc từ bỏ thánh lễ thời Montini đã đánh dấu một giai đoạn mới trong Tác vụ giám mục của tôi. Cùng với Thánh lễ Tridentino (vốn là thánh lễ trong ngày tôi chịu chức Linh mục), tôi đã khám phá ra một thế giới ngầm gồm các linh mục, tu sĩ và chủng sinh bị bách hại và gạt ra bên lề. Tôi nhận thấy bổn phận tông đồ của mình là phải lắng nghe tiếng kêu cứu của họ, đưa ra cho họ một câu trả lời nhằm khôi phục niềm tin vào giáo hội mà họ cảm thấy bị phản bội và xua đuổi. Điều này đã dẫn tôi đến việc thành lập Quỹ Exsurge Domine, làm mọi việc cần thiết để bảo đảm các phương tiện sinh kế – cả về thiêng liêng lẫn vật chất – và một căn tính giáo hội Công giáo đích thực cho những ai, vì lòng trung thành với Truyền thống, đã bị tổn hại một cách bất công bởi triều đại khủng bố của Bergoglio.
Trong số này có các thành viên của Tu hội Linh mục Familia Christi, được hình thành và công nhận ban đầu trong phạm vi của Ủy ban Ecclesia Dei, sau đó đã bị phá hủy và xóa sổ một cách tàn bạo. Các thành viên của tu hội này đã là nạn nhân của một cuộc bách hại khủng khiếp – điều mà Ngài không thể không biết – từ phía Tổng Giám mục đương nhiệm của Ferrara là Gian Carlo Perego và từ chính Tòa Thánh. Đối với những giáo sĩ này, những người đã tìm đến tôi sau khi bị bỏ mặc không người nâng đỡ và không có sinh kế, cùng với các ứng sinh Linh mục đã gia nhập với họ, tôi đang bảo đảm sự chăm sóc hiền phụ của tôi dành cho họ.
Sự lên án của tôi đối với sự bội giáo của giáo hội công đồng và hiệp hành cùng sự đứt gãy của nó với Truyền thống, cùng với những nghi ngờ có căn cứ về tính hợp pháp trong "triều đại giáo hoàng" của Bergoglio – điều mà trong lương tâm tôi đã đối mặt với niềm xác tín rằng mình đang chu toàn sứ mệnh của một Đấng Kế vị các Tông đồ – đã khiến tôi phải chịu một vạ tuyệt thông bất công, phi pháp và mang động cơ ý thức hệ. Hình phạt giáo luật này, cho dù tôi coi nó là vô hiệu, vẫn kéo theo những hệ lụy nghiêm trọng về mặt giáo hội, thể chế và cá nhân khiến tôi đau lòng sâu sắc; chúng trở nên hoàn toàn khập khiễng nếu đem so sánh với sự miễn phạt mà các hồng y, giám mục và linh mục lạc giáo và tham nhũng công khai đang được hưởng.
Trong số những người đó, tôi không thể không nhắc đến Eleuterio Vásquez Gonzales, người nổi tiếng ở Chiclayo với danh xưng “cha Lute”, bị cáo buộc lạm dụng tình dục một số nạn nhân trẻ tuổi. Gần đây, Tòa Thánh đã chấp thuận cho “cha Lute” được giải súc (trục xuất khỏi hàng giáo sĩ) mà không qua một tiến trình giáo luật hợp thức, và trên thực tế là để ông ta không bị trừng phạt; trong khi vị luật sư giáo luật của các nạn nhân là Đức ông Ricardo Coronado Arrascue lại bị cách chức khỏi các công năng pháp lý, bị hoàn tục, và bị điều tra vì những cáo buộc nhục mạ. Vụ việc này đã được chính Đức ông Coronado cung cấp tài liệu và trình bày chi tiết cho tôi. Trường hợp này lặp lại chính xác phương thức hành động (modus operandi) mà Bergoglio từng áp dụng với McCarrick, và phơi bày một sự điều hành công lý sai lệch từ phía Tòa Thánh.
Đối mặt với vạ tuyệt thông bị áp đặt một cách phi pháp lên tôi, tôi khẳng định mình không phải là kẻ ly giáo! Nhờ ơn Thiên Chúa, tôi đã, đang và sẽ luôn là người con thảo kính của Giáo hội Rôma Thánh thiện và là một thần dân trung thành của Triều đại Giáo hoàng Rôma. Tôi tin tưởng vững chắc vào sự Hiệp thông Tông truyền và công nhận Quyền Tối thượng của Phê-rô. Tôi cũng công nhận sự cần thiết của việc thuộc về không chỉ Nhiệm Thể vô hình, mà còn cả thân thể giáo hội có tính thể chế và hữu hình nữa.
Cùng với tôi, trên vành móng ngựa của Bộ Thánh Vụ tiền thân, tất cả các Đức Giáo hoàng trong lịch sử cho đến thời Đức Pi-ô XII đều đã bị triệu tập.
Tôi đã tự hỏi nhiều lần về lý do của cuộc bách hại mà tôi phải đối mặt trong giai đoạn cuối của cuộc đời trần thế; và liệu niềm xác tín của tôi về việc hành động ngay thẳng và theo ý muốn của Thiên Chúa có thể đã bị lầm lạc hay không. Nhưng dù tôi có cố gắng duyệt xét lại các hành vi của mình, như thể tôi đang đứng trước Đấng Kitô Thẩm Phán trong giờ phút lâm chung, tôi vẫn không tìm thấy điều gì sai trái về mặt luân lý. Những kẻ cáo buộc tôi chỉ đơn thuần là thi hành một bản án đã được định đoạt sẵn, nhằm mục đích dùng một thủ đoạn "giáo luật" để trục xuất người đã lên án sự bất trung của Phẩm trật Công giáo và công bố Sự Thật mà không chịu bị bịt miệng. Một tiếng nói – là của tôi – không thể bị dập tắt bởi một lý do đơn giản là chưa từng có ai có thể mua chuộc hay tống tiền tôi.
Các viên chức của Bộ Thánh Vụ tiền thân đã không thể bác bỏ bất kỳ một luận điểm nào do tôi đưa ra. Nhưng đối với họ, chỉ cần tôi dám phê phán Vatican II và Jorge Mario Bergoglio là đủ để kết án vạ tuyệt thông tôi vì tội ly giáo, ngay chính vào lúc mà lòng mến của tôi dành cho Triều đại Giáo hoàng và cho Huấn quyền trường cửu của Giáo hội lại là điều đẩy tôi vào cuộc tấn công tàn nhẫn này từ phía Vatican. Tôi chưa bao giờ có ý định tách mình ra khỏi sự Hiệp thông Tông truyền, cũng không bất tuân Đấng Đại diện Chúa Kitô, hay thành lập một "giáo hội song song" như một số người đã cáo buộc tôi muốn làm như vậy. Trái lại, tôi tin rằng tôi đã không thể phục vụ Triều đại Giáo hoàng và Giáo hội Thánh thiện một cách tốt hơn ngoài việc nói và hành động như tôi đã làm, khi đối mặt với những đau khổ nảy sinh từ đó trong tinh thần hiệp thông với cuộc thương khó của Đấng Cứu Chuộc chí thánh.
Tôi hướng đến Ngài như một Tổng Giám mục cao niên, vì lòng mến đối với Chúa Chúng Ta và trong sự trung thành với Giáo hội Thánh thiện. Tôi hướng đến Ngài để bày tỏ cho Ngài nỗi dằn vặt khi chứng kiến Giáo hội Công giáo bị lu mờ và biến dạng bởi những kẻ đang chiếm giữ và nắm giữ quyền lực của Giáo hội. Tôi không thể hiểu nổi làm thế nào mà sau trải nghiệm thảm hại về Jorge Bergoglio, Ngài không những không muốn lên án các sai lầm và gương xấu của ông ta, mà còn không bỏ lỡ cơ hội nào để tái khẳng định sự kế thừa hoàn toàn của Ngài đối với những điều đó, nhân danh một "giáo hội hiệp hành" làm biến chất cấu trúc phẩm trật và bản tính quân chủ mà Chúa Chúng Ta đã muốn ban cho Giáo hội của Người, đồng thời phá sập toàn bộ tòa nhà giáo lý của Giáo hội.
Tôi nài xin một vị Lê-ô khác, Đức Giáo hoàng vĩ đại Vincenzo Gioacchino Pecci (Đức Lê-ô XIII), trong một tình thế nghịch lý khi biết rằng ngài sẽ thấy những lời của tôi là đáng đồng cảm và xứng đáng được ca ngợi, trong khi giáo hội của Bergoglio lại phán xét chúng là thích hợp cho một kẻ ly giáo. Điều gì đã xảy ra trong Giáo hội Công giáo trong vòng vài thập niên qua, để đến nông nỗi tôi thấy mình bị kết án, và cùng với tôi là tất cả các Đức Giáo hoàng thời tiền công đồng? Quomodo facta est meretrix civitas fidelis? (Thành trì trung kiên xưa kia, sao nay lại ra như điếm đàng! - Is 1, 21).
Đức Tin mà tôi tuyên xưng, Thánh lễ Tridentino mà tôi cử hành, các Công đồng và các Văn kiện huấn quyền mà tôi đón nhận, Bản Tuyên xưng Đức tin Tridentino (Professio Fidei Tridentina) và Lời thề chống phái Tân thời (Jusjurandum antimodernisticum) mà tôi đã lặp lại biết bao lần, đều là những điều chung của toàn thể Giáo hội và liên kết tôi với Giáo hội. Đối với Giáo hội Duy Nhất, Thánh Thiện, Công Giáo, Tông Truyền và Rôma này, một Giáo hội bất biến trong giáo lý và luân lý, tôi tự nhận mình là người con và là người tôi tớ trung thành. Triều đại Giáo hoàng đó, một cách tương tự cũng bất biến, chính là Triều đại Giáo hoàng Rôma mà tôi vâng phục, bởi vì trong tiếng nói của Đấng Đại diện vang vọng Sự Thật của Mục Tử Nhân Lành, Đấng hy sinh mạng sống mình cho đoàn chiên (Ga 10, 11).
Thẩm quyền của Chìa Khóa Thánh phải mở cửa thành Giê-ru-sa-lem trên trời cho những người công chính và loại trừ những kẻ bị án phạt khỏi đó, chứ không phải ngược lại. Thẩm quyền này phát xuất từ Chúa Chúng Ta (Rm 13, 1) – và là quyền đại diện cho thẩm quyền của Người. Không thể nào thẩm quyền ấy lại được dùng để hợp pháp hóa những gì Người lên án, và càng không thể dùng để lên án những gì Người đã truyền phải làm. Vì lý do này, tôi không thể vâng phục đấng được đặt lên nắm quyền nhưng bản thân người đó lại từ chối phục tùng và vâng phục Thẩm quyền tối cao của Thiên Chúa.
Tôi nghĩ đến những lời của Thánh Phao-lô: “But though we, or an angel from heaven, preach a gospel to you besides that which we have preached to you, let him be anathema” (Gal 1, 8 - Nhưng nếu có ai – kể cả chúng tôi hay một thiên thần từ trời – loan báo cho anh em một tin mừng khác với Tin Mừng chúng tôi đã loan báo cho anh em, thì đáng bị chúc dữ!). Tôi đang bị tách rời khỏi Giáo hội nào? Và thẩm quyền nào đang kết án tôi? Thẩm quyền của Đấng Đại diện Chúa Kitô hay thẩm quyền của kẻ đang rao giảng một tin mừng khác với Tin Mừng đã nhận được từ Chúa Chúng Ta?
Tôi trao bức thư này vào tay Ngài, để Ngài biết được lý do của những lập trường và hành động của tôi, với niềm hy vọng có thể thúc bách Ngài thực hiện một cuộc xét mình sâu sắc và một cuộc hoán cải bổn phận cũng như không thể trì hoãn của con tim, lý trí và ý chí, khi nhớ lại những lời của Chúa Chúng Ta: “Si-môn, Si-môn ơi, kìa Sa-tan đã đòi sàng anh em như sàng sảo. Nhưng Thầy đã cầu nguyện cho anh, để đức tin của anh không bị suy giảm; và phần anh, khi đã hoán cải, hãy làm cho các anh em của anh nên vững mạnh” (Lc 22, 31-32).
Tôi yêu cầu Ngài thực thi Thẩm quyền tối cao của Ngài để làm cho các anh em nên vững mạnh trong Đức Tin. Tôi yêu cầu Ngài làm cho tôi nên vững mạnh trong Đức Tin: xin Ngài hãy làm điều đó. Bằng không, xin hãy chỉ cho tôi biết tôi đang sai lầm ở đâu và tôi đang mâu thuẫn ở điểm nào với Kho tàng Đức Tin (Depositum Fidei) mà Ngài có nghĩa vụ phải gìn giữ và là nền tảng của Sự Hiệp Nhất Công Giáo. Chính dựa trên sự tuyên xưng Đức Tin chân thật mà tôi phải bị phán xét: vậy xin hãy nói cho tôi biết tôi mâu thuẫn với Đức Tin Công Giáo ở chỗ nào, và tôi sẽ sửa mình.
Nhưng không có luận điểm nào hợp pháp hóa vạ tuyệt thông của tôi: nó đã bị áp đặt lên tôi một cách phi pháp, nhằm hủy hoại con người và hành động của tôi trong việc bảo vệ Sự Thật Công Giáo; một hình phạt được thúc đẩy, không kém phần quan trọng, bởi lòng thù hận khôn nguôi của Jorge Mario Bergoglio đối với tôi. Một sự bất công đòi hỏi phải đền bù cho những tổn hại vô cùng nghiêm trọng đã gây ra cho tôi và cho Sự nghiệp của Giáo hội Rôma Thánh thiện.
Tôi tin tưởng rằng Ngài sẽ cho tôi một buổi triều yết sau khi buổi triều yết từng được chấp thuận cho tôi vào ngày 11 tháng 12 vừa qua bị hủy bỏ. Khi đó, tôi sẽ có thể trực tiếp trình bày với Ngài một số vấn đề có tầm quan trọng tối cao liên quan đến Tác vụ tông đồ của tôi và sự cần thiết phải bảo đảm tính liên tục cũng như tương lai cho tác vụ này.
Ngay từ bây giờ, tôi xin lặp lại ý định vô điều kiện là chu toàn mọi nghĩa vụ đè nặng lên tôi với tư cách là Đấng Kế vị các Tông đồ,
+ Carlo Maria Viganò Tổng Giám mục hiệu tòa Ulpiana, Sứ thần Tòa Thánh
Viterbo, ngày 25 tháng 1 năm 2026 Vào ngày Lễ Thánh Phao-lô Tông đồ trở lại
________________________________