11.
Sửa mũ vườn đào, sủa dép vườn dưa:
Khi
đi qua vườn đào, dù mũ đội đầu có bị lệch cũng không nên giơ tay lên sửa mũ, sẽ
bị ghi là hái chộm đào. Khi đi qua ruộng dưa, dù dép có bị đứt quai cũng đừng
cúi xuống sửa, sẽ bị ghi là hái trộm dưa.
Câu này ý nói tình ngay lí gian, khuyên
ta nên đề phòng để tránh bị ngờ oan :
Qua: Dưa, trái dưa, như dưa hấu, dưa
leo. Điền: ruộng. Lý: cây lý, cây mận. Hạ: dưới. Qua điền: ruộng dưa. Lý hạ:
dưới cây lý. Thành ngữ trên nói đầy đủ là: Qua điền bất nạp lý, lý hạ bất chỉnh
quan. Nghĩa là: Nơi ruộng dưa thì không nên xỏ giày, dưới cây lý thì không nên
sửa nón.
12.
Nằm gai nếm mật:
Câu
này nói lên sự chịu đựng vất vả gian khổ để mưu việc lớn. Thời Xuân Thu ở Trung
Quốc, Câu Tiễn là vua nước Việt bị Phù Sai là vua nước Ngô bắt làm tù binh, phải
chịu mọi điều khổ nhục. Khi được thả về, Câu Tiễn thường nằm trên đệm gai, không
ăn cao lương mĩ vị mà thường lấy tăm nhúng vào mật đắng để luôn nhắc nhở mình
không quên mối thù xưa. Sau hai mươi năm chuẩn bị lực lượng, Câu Tiễn đã phục
thù, đánh bại được Ngô Phù Sai.
13.
Năm thì mười họa:
Trong
tiếng Việt, thì còn đọc là thời (có nghĩa là lúc, thủa). Ví dụ : thời son trẻ,
đương thì con gái, tứ thời, thời gian, thời tiết. Còn họa là từ thuần Việt có
nghĩa là ít có, có chăng.
Ví dụ :
– Sắc đành đòi một, tài đành họa hai
(Truyện Kiều)
– Vào sinh ra tử họa
là thấy nhau (Truyện Kiều).
(Đừng
lầm với họa từ Hán. Họa là vẽ (họa sĩ), họa là đáp lại (họa vần thơ), họa là tai
vạ rủi ro (họa vô đơn chí)).
Thành
ngữ năm thì mười họa có nghĩa là thỉnh thoảng, họa hoằn mới có :
Năm thì mười học hay chăng chớ
Một tháng đôi lần có cũng không.
(Hồ Xuân Hương)
14.
Ngựa quen đường cũ:
Thành
ngữ này vốn gốc ở thành ngữ Hán “Lõa mã thức đồ”. Do đâu có thành ngữ này ?
Chuyện Xưa kể rằng : Tề Hoàn Công đi đánh nước Cô Trúc. Lúc cất quân đi là mùa
Xuân, lúc trở về đã là mùa đông, băng tuyết phủ đầy nên lạc đường. Quản trọng
bèn tâu :
– Thưa bệ hạ, trí nhớ của
ngựa già rất tốt. Xin để con ngựa già đi trước dẫn đường. Quả nhiên, ngựa đã tìm
được đường về.
Trước kia, thành ngữ
này được hiểu theo nghĩa : người có kinh nghiệm thường rất thành thuộc sự
việc.
Ngày nay, thành ngữ này mang
nghĩa xấu dùng để chỉ những người không chịu rời bỏ thói hư tật xấu.
15.
Nguồn đục thì dòng không trong, gốc cong thì cây không thẳng:
Câu
này vừa mang nghĩa đen, vừa mang nghĩa bóng. Nghĩa đen thì ai cũng hiểu. Nguồn
nước có trong thì dòng nước mới trong, gốc cây có thẳng thì cây mới vươn thẳng
lên được.
Nhưng nghĩa bóng mới là
nghĩa có tác dụng giáo dục mọi người. Trong một gia đình, bố mẹ phải làm gương
tốt cho con cái. Nếu bố mẹ làm điều bậy (nguồn đục, gốc cong) thì con sẽ bị
nhiễm thói xấu. Có một câu ca dao đầy chất châm biếm :
Con ơi nghe lấy lời cha
Một đêm ăn trộm bằng ba năm làm.
Bố xấu như vậy thì con cũng sẽ thành
trộm cắp. Trong gia đình, bố mẹ cần sống tốt để làm gương cho con cái.
16. Nhất xương, nhì da, thứ ba
dạc lò:
Đây là thành ngữ
chỉ nghề làm gốm sứ. Muốn có sản phẩm tốt phải chú ý ba yếu tố : xương, da, dạc
lò. Xương là chất đất để nặn ra sản phẩm, da là chất men dùng tráng mặt ngoài
của sản phẩm (có vài chục chất men để tạo màu sắc khác nhau), dạc lò là độ nóng
của lửa nung. Cũng có người giải thích dạc lò là hình dáng lò nung. Lò nung phải
xây đúng cách để khi nung, độ nóng tỏa đều khắp thì sản phẩm mới đẹp.
17.
Nhũn như chi chi:
Thành
ngữ này thường được dùng để chỉ thái độ nhún nhường sợ sệt hoặc bị lép vế trước
kẻ khác. Chi chi là trrn một loài cá nhỏ, thân rất mềm. Con chi chi bị vớt lên
khỏi mặt nước thì chỉ một giờ sau đã nhũn, thân bị bấy ra. Chi chi dùng làm mắm
rất tốt vì mau ngấu. Nhũn từ nghĩa đen (nát bấy ra) đã được dùng với nghĩa nhũn
nhặn để chỉ thái độ con người.
18.
Nổi cơn tam bành:
Nghĩa
của thành ngữ này là nổi giận lên mà làm điều ác :
Mụ nghe nàng mới hay tình
Bây giờ mới nổi tam bành mụ lên.
(Truyện Kiều)
Theo thuyết của Đạo gia, trong con
người có ba vị ác thần là Bành Kiều, Bành Cứ, Bành Chất. Ba vị này thường xui ta
làm điều ác.
19.
Nghèo rớt mùng tơi:
Khi
ta nấu canh mùng tơi, trong lá mùng tơi có nhiều rớt (nhớt) nên khi múc canh vào
bát, môi canh bị trơn tuột, không dính tí gì. Nghèo rớt mùng tơi là nghèo xơ
nghèo xác không có chút của cải gì.
Thành ngữ này cũng còn một cách giải
thích khác. Mùng tơi là phần trên của chiếc áo tơi (phần dày nhất và khâu kĩ
nhất). Áo tơi thường làm bằng lá cọ hoặc lá đót. Khi áo tơi rách thì mùng tơi
vẫn còn, dùng cho đến khi rớt (rơi) hết mùng tơi vẫn không có tiền mua áo khác,
chứng tỏ nghèo lắm.
19b.
Nói nhăng nói cuội:
Nói
nhăng nói cuội là nói vu vơ, hão huyền cũng như thành ngữ nói hươu nói vượn.
Nhăng là từ cổ có nghĩa là băng nhăng
qua quýt…
Cuội là một nhân vật trong
truyện kể dân gian, nổi tiếng nói dối (nói dối như cuội).
Cũng có người cho rằng thành ngữ này là
“nói giăng nói cuội” (Giăng là mặt trăng, chỉ ý xa vời, không thực tế). Dù hiểu
cách nào thì nghĩa cũng giống nhau.
20.
Nồi da nấu thịt:
Những
người đi săn thú muốn làm thịt ăn ngay ở giữa rừng nhưng không có nồi. Họ thường
lột da con thú căng ra làm nồi để nấu thịt con thú ấy. Câu này nói ý cùng ruột
rà máu mủ mà làm hại lấn nhau, giống câu vỏ đậu nấu đậu