From: hien vu sinh
Sent: Thursday, October 28, 2021 6:03 PM
Subject: Fw: Gửi Bố đọc
Gửi các bác bài viết về DCCT/VN.
VSH
DÒNG CHÚA CỨU THẾ VIỆT NAM
VỚI “NHỮNG NGƯỜI NGHÈO NGOÀI VÒNG PHÁP LUẬT”
Cần phải nói ngay, “những người nghèo ngoài vòng pháp luật” không phải là những tội phạm hình sự trốn lệnh truy nã, nhưng là cách nói của các thừa sai Dòng Chúa Cứu Thế Canada, ám chỉ đến những bậc vị vọng, những bậc thức giả, những bậc danh gia vọng tộc, vì thời thế phải chạy loạn, phải tìm nơi lánh nạn và họ đã được Dòng Chúa Cứu Thế cưu mang, chăm sóc.
1. Ông Ngô Đình Diệm

Người đầu tiên được các thừa sai Canada gọi là “người nghèo ngoài vòng pháp luật” chính là ông Ngô Đình Diệm, Tổng thống Việt Nam Cộng Hòa. Trước khi trở thành người lãnh đạo đất nước, trong những năm phải lưu lạc khắp nơi ngay sau Cách mạng tháng Tám, nơi trú ẩn thường xuyên của ông là Nhà Dòng Chúa Cứu Thế, khi thì Hà Nội, khi thì Huế, nhiều nhất là tại Tu viện Dòng Chúa Cứu Thế Sài Gòn.
Đức Cha Phaolô Lê Đắc Trọng, trong “Những câu chuyện về một thời” có nhắc về ông: “Trước ngày 19/12/1946, ông (Ngô Đình Diệm) đã nhanh chân chạy vào ẩn nấp ở Dòng Chúa Cứu Thế Thái Hà Ấp. Vẫn luôn là con người ẩn dật và chỉ có một mình, vì thế ông còn sống sót được lâu.” Việc ông được Dòng Chúa Cứu Thế che chở trong những năm hoạn nạn, đôi khi còn được mặc áo dòng để giả trang trong các chuyến đi gặp Toàn quyền Đông Dương , hay bị quản thúc tại Tu viện Thái Hà sau khi ông bị Việt Minh bắt tại Huế khi đang trên đường từ Dòng Chúa Cứu Thế Huế đi trốn và bị đưa ra gặp Hồ Chí Minh tại Thái Nguyên, được nhiều người nhắc đến như một trong những điểm nhấn quan trọng trong cuộc đời chính trị của ông.
Nhà Báo Văn Bia, một Cựu Đệ tử Dòng Chúa Cứu Thế, cùng lớp cha Rocô Nguyễn Tự Do, nhờ sự giới thiệu của cha Hoàng Yến, C.Ss.R, được theo phò ông Ngô Đình Diệm suốt những năm tham chính đã kể lại cuộc gặp gỡ của ông với ông Diệm tại tu viện Dòng Chúa Cứu Thế Sài Gòn: “Nhà Dòng Chúa Cứu Thế ở đường Kỳ Đồng là nơi tôi gặp ông Ngô Đình Diệm lần đầu tiên vào năm 1947, trong một căn phòng nhỏ mà trước đó vài năm, chính tôi cũng có tạm trú đôi ngày, để chờ chuyến xe lửa ra Huế đi học tu trở lại lần thứ hai. Phòng này nằm bên cạnh phòng khách phía tay mặt. Nhà Dòng thiết lập hai phòng khác kề cận hai bên tiền sảnh để các cha tiếp khách. Ở cuối tiền sảnh, đàng sau chiếc cửa kín mít là hành lang dọc ngang chia đôi tòa nhà, dẫn qua các cửa phòng các tu sĩ. Ông Diệm ở ẩn trong một căn phòng, sống đời yên lặng của một tu sĩ, cũng luôn luôn mặc áo dài thâm quần trắng. Có ai tình cờ gặp chắc cũng tưởng đây là một người trong Nhà Dòng.”
2. Hoàng Hậu Nam Phương và các con

Nhóm những “người nghèo ngoài vòng pháp luật” thứ hai được các thừa sai Canada nhắc đến với tất cả sự kính trọng là gia đình Cựu Hoàng Bảo Đại. Sau khi Vua Bảo Đại thoái vị, trở thành công dân Vĩnh Thụy và được mời ra Hà Nội làm cố vấn cho chính phủ mới, Bà Nam Phương Hoàng Hậu cùng các con về sống tại Cung An Định ngay gần Dòng Chúa Cứu Thế Huế. Tuy nhiên, ngay trong ngày Hồ Chí Minh kêu gọi toàn quốc kháng chiến, biết được Việt Minh muốn đưa gia đình bà ra Hà Nội, vì không muốn nhờ người Pháp và để an toàn cho bản thân và các con, Nam Phương hoàng hậu đã tức tốc đưa các con tới tá túc tại Dòng Chúa Cứu Thế, từ tối ngày 19/12/1946.
Cha Eugène Larouche, người được bà Nam Phương Hoàng Hậu chọn làm cha linh hướng đã kể lại sự kiện này: “Tôi vội ra khỏi phòng và gặp ngay cha Thính đang dẫn theo Hoàng tử Bảo Long, lúc đó mới 10 tuổi. Cùng với anh em trong Dòng, tôi đưa Hoàng Tử vào một nơi xem ra bảo đảm an toàn nhất...Xong việc đó, tôi xuống dưới tầng trệt, nơi Bà Hoàng Hậu và bốn người con khác tuổi từ 9 đến 3 đang ở hành lang giữa nhà...Tôi đã sắp xếp cho Hoàng Hậu và các con, Hoàng tử Bảo Long và hai Công Chúa Phương Mai, Phương Liên một căn phòng”.
Trong những ngày sống tại Tu viện, bà Hoàng Hậu đã để lại nhiều ấn tượng tốt đẹp cho các cha, các thầy và các chú Đệ Tử: “Chúng tôi đã bị cảm kích sâu xa bởi sự khiêm tốn đơn sơ, lòng cẩn trọng và đạo đức của bà Hoàng Hậu. Bà tỏ ra trước hết là người chăm lo giáo dục con cái. Bà canh thức chúng khi đau ốm, theo dõi khi chúng chơi đùa, bồng bế con còn bé đi dạo. Bà luôn làm việc. Khi bà đan quần áo cho các con thì thường ghé mắt vào một cuốn sách đạo đức hay học hỏi. Mặc dù bà phải lánh chịu nhiều khổ đau, nhưng nét mặt bà vẫn luôn tươi tỉnh. Biết rằng những thử thách vẫn còn, nhưng bà luôn nhẫn nại phó thác vào Thiên Chúa”. Đầu tháng 4 năm 1947, vì sợ ở lại lâu liên lụy tới Dòng, nhận được tin mẹ bị bệnh nặng, Hoàng hậu cùng các con rời Dòng Chúa Cứu Thế lên Đà Lạt, một thời gian sau, bà qua Pháp lưu vong cho đến khi qua đời.
3. Đại tá Jean Leroy

Người thứ ba được gọi là “những người nghèo ngoài vòng pháp luật” là Đại tá Jean Leroy. Ông sinh năm 1920 tại Bình Đại, Bến Tre, là con một sĩ quan Pháp với một phụ nữ người Gò Công. Sau khi đậu tú tài tại Trường Chasseloup Laubat ở Sài Gòn, ông đi lính Pháp, học tại trường Tông, Sơn Tây. Năm 1945, Nhật đảo chính Pháp, ông bị truy đuổi. Thời gian này, ông đến xin tá túc tại Tu viện Dòng Chúa Cứu Thế Sài Gòn.
Sau cách mạng tháng Tám, ông trở về quê Bình Đại, tại đây, ông thành lập Các đơn vị lưu động bảo vệ Họ đạo (Unités Mobiles de Défence de la Chrétienté, viết tắt là UMDCs), nhằm chống lại Việt Minh. Theo Trần Thị Liên, tổ chức UMDCs không phải là một tổ chức của Công giáo, nhưng chỉ mang “bình phong Công giáo”, vì ngay “người chỉ huy cũng như đa số thành viên không phải là người Công giáo”. Năm 1952, UMDCs được sát nhập vào Quân đội quốc gia và năm 1953, ông về Pháp.
4. Nhóm Việt Minh làng Cống Vị

Không chỉ che chở cho ông Ngô Đình Diệm, Hoàng Hậu Nam Phương và các con, và coi họ là “những người nghèo sống ngoài vòng pháp luật”, các thừa sai Dòng Chúa Cứu Thế còn ra tay trợ giúp những Việt Minh bị giặc Pháp kết án tử hình chỉ vì những người này dám đứng lên chống lại chế độ thực dân.
Cha Denis Paquette, trong một lá thư viết từ Hà Nội đề ngày 19/12/1948, gửi anh em trong Dòng, đã kể lại một trong những câu chuyện mà ngài cho là hấp dẫn nhất. Đó là câu chuyện liên quan tới năm người bị kết án tử hình:
“Năm kẻ bất hạnh nầy sống ở làng Cống Vị, gần Chủng viện, bị cáo buộc đã gài mìn trên đường quốc lộ… Họ bị bắt, bị tra tấn. Vì chịu không nổi các trận đòn, cuối cùng họ khai hết những gì mà người ta muốn họ khai.
Ông Trưởng đồn gần chủng viện lại là bạn của tôi, nói với tôi về việc bắt bớ nầy và cho tôi biết sắp xin lệnh xử bắn mấy người nầy… Và ông ta đợi lệnh với một lương tâm bình an, bởi vì có bằng chứng phạm tội rõ ràng. Vì thế tôi nói với ông ấy nếu những người tù phải bị bắn thì cho tôi hay để tôi đến dạy chút giáo lý và Rửa tội trước lúc hành hình.
Hôm trước ngày tôi tới gặp ông Trưởng đồn, gia đình 5 người tù đến khóc lóc thảm thiết với tôi, nài xin tôi làm trung gian để giúp thả người thân họ ra. Tôi không nói với họ tôi đã biết chuyện và tội trạng rất nặng của các người tù, mà chỉ khuyến khích họ cầu nguyện cùng Đức Mẹ và trông cậy Mẹ cứu giúp họ. Tôi lấy tất cả mọi thông tin liên quan có thể có được… và tôi xác tín rằng những kẻ bị tình nghi gài mìn chỉ là những người dân tử tế làm ăn cần cù và lương thiện.
Không chút chậm trễ, tôi đi ngay đến Phòng nhì. Ông trung úy Trưởng phòng, một người bạn, tên là Modet, tự nhiên tâm sự với tôi ông đang giữ 5 tên Việt Minh cuồng tín và sắp chờ lệnh xử tử họ. Tôi không nói cho ông tôi biết rõ câu chuyện cũng như tôi đến đây gặp ông đặc biệt để bàn về việc này. Không phải là lúc biện hộ cho sự vô tội của những người đó. Ngược lại tôi chúc mừng ông về việc bắt giữ và cảm ơn ông vì đã nhiệt thành bảo vệ an ninh. Sau đó, tôi yêu cầu ông cho tôi được gặp họ, trước giờ xử bắn, để tôi ban phép Rửa tội cho họ.
Năm ngày sau, tôi nhận được mấy chữ của ông Trưởng đồn mời tôi đến vì công việc tôi đang quan tâm. Tình hình nghiêm trọng… ông đưa tôi vào phòng riêng và khóa cửa cẩn thận, rồi bảo cho tôi biết 5 tù nhân đã đến đây và ngày mai phải bị đưa đi bắn. Nhưng vì tôi từng yêu cầu được gặp họ để ban các phép bí tích nên ông muốn hoãn lại cuộc hành hình. Tự ý ông, ông đề nghị tôi đưa họ về chỗ tôi để có thể dạy giáo lý cho họ dễ dàng hơn. Tôi rất đỗi ngạc nhiên về lời đề nghị nầy và chấp nhận một cách vui vẻ… Và dĩ nhiên, sau vài ngày tôi lại phải trả 5 người về để chịu xử bắn. Vì tôi đi xe tải nhỏ nên tôi đưa họ về ngay. Các tù nhân không hề biết gì về sự can thiệp của tôi, rất ngạc nhiên khi thấy được đưa về Nhà Dòng. Nhưng họ vui sướng biết bao khi hiểu tôi muốn tìm cách cứu họ.
Câu chuyện chưa kết thúc. Như vậy tôi phải giấu họ trong nhà, cấm họ không được ló mặt ra cửa sổ. Tôi giao cho Cha Cân với “mệnh lệnh” phải dạy cho họ được Rửa tội sau 3 hay 4 ngày. Trong thời gian nầy, tôi cần vận động để tha cho họ.
Tôi không thể tìm cách biện minh họ vô tội, tôi chỉ có những chứng cứ tinh thần, không có chút giá trị nào đối với các sĩ quan Phòng Nhì. Tôi chỉ còn cách dùng tài ngoại giao. Trong ba tuần tiếp theo, xảy ra một chuyện lạ nhờ sự can thiệp nhãn tiền của Đức Trinh Nữ. Không thể kể lại đây vì quá dài dòng… Kết cuộc là các tù nhân không bị bắn. Tôi giữ họ ở đây, trở thành những tín hữu còn sống thật.
Cho đến khi việc giải thoát coi như chắc chắn, tôi không cho gia đình họ biết họ đang ở với chúng tôi. Các gia đình nầy vẫn lui tới nài nỉ tôi… và tôi vẫn an ủi và khuyến khích họ cầu nguyện với lòng cậy trông. Cho đến lễ các Thánh Nam Nữ, tôi mới làm cho nước mắt họ ngưng chảy hay đúng hơn biến nước mắt đau buồn thành niềm vui sướng.”
5. Chí sĩ Phan Bội Châu

Các thừa sai Canađa không nhìn cụ Phan như một “người nghèo ngoài vòng pháp luật”, mặc dù, ông bị thực dân Pháp giam lỏng tại Huế suốt 15 năm cuối đời. Chính trong thời gian bị giam lỏng này, ông Già Bến Ngự - biệt danh của Phan Bội Châu, có dịp gặp gỡ nhiều linh mục Công giáo và là bạn thân của họ. Ngày 27 tháng 05 năm 1936, ông đã lần đầu tiên đến thăm Dòng Chúa Cứu Thế, và được cha Larouche tiếp đón trọng thị, dẫn đi thăm viếng khắp nơi trong Tu viện. Khi đến L’Aceuil thăm Thư viện, ông được cha Patrice Gagné cho mượn hai cuốn sách, để như ông nói, ông giữ mãi ấn tượng trong lòng. Sau chuyến viếng thăm, ông đã viết lại cảm tưởng của mình:
“Kể từ khi bắt đầu vào nhà, cho đến lúc thăm bàn thờ Đức Mẹ, được thấy các việc trong ngoài, phúc con mắt của Phan Bội Châu, thật quá chừng đội ơn Chúa...Vì thế, bắt buộc tôi phát sanh ra mấy mối cảm tưởng sau này:
Mối cảm tưởng thứ nhất là thấy Trường Công giáo trọng tinh thần mà không trọng vật chất, trọng thành ý mà không trọng hư văn. Bởi vì khi cha H ngài tiếp tôi vẫn dùng bằng lễ tân chủ, nhưng thuốc không, trà không, mà bánh rượu cũng không, nhất thiết những hình thức giả toàn là không ráo. Nhưng mà ở trong đôi tròng con mắt, biểu hiện ra cái vẻ nhân từ, mà quý hóa nhất lại là những nụ cười rất tự nhiên hòa nhã, những tiếng nói rất chân thành, thật thà.
Sách Nho có câu rằng: “Bất thành tắc vô vật, cố quân tử thành chi vi quí”. Nghĩa là: “Hễ việc gì chân thật, thời có việc ấy mặc dầu cũng in như không. Cho nên bậc quân tử rất quý trọng ở đạo thành.”
Mối thiện cảm thứ hai là rõ được Đạo thờ Trời ở trong Công giáo rất phù hợp với chân lý trong đạo Nho xưa. Sách xưa có câu rằng: “Tế như tại, tế thần như thần tại”. Nghĩa là hễ tế lễ Trời hay tế Thần, phải thường thường nhất tâm thành kính, như có Trời, có Thần ở bên mình vậy. Chẳng một phút đồng hồ nào mà quên lửng Trời và Thần thế mới là tế. Chớ những lễ vật trưng soạn ra, chỉ là khi thiên mạn Thần, chẳng bao giờ gọi bằng tế.
Nay tôi được cung chiêm bàn thờ thánh ở trong trường nhà Dòng, thấy nghiêm túc mà chẳng thấy phiền vãn, thấy cung kính mà chẳng thấy lễ vật. Ngọn đèn cầy nến, biểu hiện ra cái vỏ quang minh, xem lễ đọc kinh, tỏ ra cái tính hòa mục. Ngoài bấy nhiêu hình thức, chẳng thấy gì là mùi tục. Thế chẳng phải là tế như tại hay sao? Thật ta nên cảm phục.
Ấy là hai mối cảm tưởng như trên kia kể, chính vì nhờ một giờ đồng hồ thăm quan nhà trường Cứu Thế.
Trời cao biển rộng, tháng lại, ngày qua, trường Dòng Chúa Cứu Thế còn nguy nguy ở Đất Nước Nam chúng tôi, thời, những mối cảm tưởng về đạo đức hòa bình, còn chất chứa trong óc Phan Bội Châu mãi mãi”.
6. Để kết: “Chúng tôi muốn dọn lòng cả một dân tộc...”
Thực ra, đối với các thừa sai Canada, khi nhắc tới những “người nghèo ngoài vòng pháp luật” được nhà Dòng cưu mang trong những thời khắc khó khăn của lịch sử, các ngài không có ý khoe khoang hay muốn nhân “vì sự ấy” mà cậy nhờ giúp đỡ sau này. Trong thực tế, khi đặt sự giúp đỡ “những người nghèo ngoài vòng pháp luật” vào trong bối cảnh của cuộc “biến động Miền Trung năm 1963”, chính các ngài đã muốn cảnh giác anh em trong Dòng và những ai liên hệ rằng, không được lợi dụng quyền “bất khả xâm phạm” của các tu viện, tự viện và biến tu viện, tự viện trở thành nơi hoạt động chính trị và là nơi nuôi dấu cán bộ nằm vùng; rằng đời tu là vì con người, vì những bất công, đứng về phía bất công là đứng về phía những con người cùng khổ dù họ là ai, thuộc chính kiến hay đảng phái nào, là người Tây hay Ta, chúng ta phải đứng ra bảo vệ họ, nhưng không được lợi dụng họ cho các mục tiêu chính trị, kinh tế, hay bất cứ mục tiêu nào, dù đó là để được dễ dàng hơn về đời sống đạo.
Các thừa sai Canađa đã luôn rõ ràng về điều căn bản này. Năm 1960, khi Tòa Thánh thành lập hàng giáo phẩm Việt Nam, chính phủ Việt Nam, cụ thể là những người trong dòng họ Ngô đã vận động để Đức cha Ngô Đình Thục làm Tổng Giám mục Sài Gòn, họ đã đến cậy nhờ cha Irénée Marquis,C.Ss.R. Thư ký của Tòa Khâm sứ can thiệp, nhưng đã bị ngài cực lực phản đối. Sự việc sau đó đã không thành, và phải mất một thời gian gia đình họ Ngô mới nuốt trôi sự thẳng thắn này của các cha Canađa.
Trong một văn thư gửi chính phủ Canađa đề ngày 6 tháng Giêng năm 1959, để xin họ hỗ trợ kinh phí mua đất tại Nha Trang, chính cha Alphonse Tremblay, Bề trên Giám Phụ tỉnh lúc đó, đã nói rõ lập trường của các ngài, cũng là lập trường của Dòng Chúa Cứu Thế Việt Nam xưa và chắc hẳn cũng là một chọn lựa của các tu sĩ linh mục Dòng Chúa Cứu Thế hôm nay: “Chúng tôi không theo đuổi mục tiêu chính trị, nhưng khi theo đuổi một mục tiêu duy nhất là thực hiện sứ vụ bác ái của đời linh mục và đời tông đồ, chúng tôi đã dọn lòng cho cả một dân tộc, kể cả những người lãnh đạo đầu tiên của dân tộc này, hiểu rằng họ phải biết tự hào về đất nước mình, phải yêu đất nước này, để mong đợi từ đất nước này những điều tốt đẹp nhất, làm cho đất nước đứng vào hàng những cường quốc tốt lành nhất trên thế giới.”
Ảnh: Sưu tầm
Facebook Nguyễn Ngọc Nam Phong