

LỄ TẾT QUA LỜI KỂ CỦA CÁC DU HÀNH GIẢ VÀ GIÁO SĨ CHÂU ÂU (TRANG 11)
SAMUEL BARON
Samuel Baron, theo ông Maybon, dường như là con trai của Hendrick Baron, trưởng thương điếm Hà Lan tại Đàng Ngoài vào năm 1663. Tuy nhiên, vì đã ở xứ này nhiều năm, ông là một người mang dòng máu lai Tonkin (Bắc Kỳ). Thuở đầu ông phục vụ cho Công ty Hà Lan như cha mình, nhưng sau đó chuyển sang giúp việc cho Công ty Anh quốc Đông Ấn. S. Baron rời đi Tonkin vào năm 1678 và dường như đã lưu trú tại đây nhiều năm; có lẽ ông đã chứng kiến cuộc triều kiến vua Lê Hy Tông của một vị sứ thần Trung Hoa vào năm 1683. Bản mô tả vương quốc Đàng Ngoài của ông có kèm theo một bản đồ và nhiều hình vẽ minh họa. Bản dịch tập hồi ký này, được in lại trong tạp chí Revue Indochinoise (1914), là công lao của ông Deseille:
"Cuộc vui lớn nhất của họ là lễ mừng Năm Mới, thường rơi vào khoảng ngày 25 tháng Giêng và kéo dài trong tám ngày."
"Vào dịp này, ngoài các điệu múa và trò giải trí đã nêu, người ta còn say sưa với đủ loại trò chơi khác, chẳng hạn như đá cầu (xem chú thích [1]), đánh đu trên những cột tre dựng tại mỗi góc phố; những kẻ lực điền thì trình diễn các môn khéo léo hoặc sức mạnh cơ bắp, trong khi những kẻ khác, trên các võ đài, thì diễn trò ảo thuật. Người ta không bao giờ chậm trễ trong việc chuẩn bị các lễ hội và tiệc tùng một cách hào nhoáng. Ai nấy tùy theo khả năng và nguồn lực của mình mà cố gắng vượt mặt láng giềng trong ba bốn ngày ròng. Đây là thời kỳ của sự ăn uống linh đình và phóng túng đến độ thái quá; kẻ nào không biết thu xếp để đón tiếp và thết đãi bè bạn, người quen một cách tử tế thì bị coi là kẻ khốn cùng, dù rằng khi làm thế, họ cầm chắc sẽ phải đi ăn xin hoặc sống thiếu thốn trong suốt thời gian còn lại của năm."

"Ngày mồng Một đầu năm, hạng dân thường không ai ra ngoài (trừ những kẻ lệ thuộc vào một vị quan quyền nào đó); ai nấy đều tự nhốt mình trong nhà, chỉ tiếp đón thân quyến và gia nhân. Trong ngày này, người ta sẽ từ chối không cho bất kỳ ai dù chỉ một ngụm nước hay một thanh củi, nếu không họ sẽ nổi giận với kẻ đi xin. Kẻ nào dám đưa ra lời yêu cầu như vậy sẽ bị coi là mang đến điềm gở, vì họ tin rằng việc cho đi bất cứ thứ gì trong ngày này sẽ chuốc lấy sự rủi ro, buộc phải cho đi mãi và cuối cùng sẽ rơi vào cảnh bần hàn. Tục lệ không ra ngoài cũng xuất phát từ một lý do tương tự: họ sợ gặp phải những sự vật mang điềm xấu, vì một sự gặp gỡ không may trong ngày này sẽ mang lại vận rủi cho cả năm. Người xứ Đàng Ngoài tin vào sự dị đoan về vận may hay vận rủi mà một số lượng lớn các sự kiện nhỏ nhặt mang lại."
"Ngày mồng Hai Tết, họ đi thăm viếng lẫn nhau, làm tròn bổn phận và nghĩa vụ đối với bề trên và đi chào hỏi họ; binh lính và gia nhân cũng làm như vậy đối với chủ mình. Tuy nhiên, các vị quan lại thì vào ngày mồng Một đã đến cung vua và phủ chúa để chầu chực và giữ gìn tập tục này một cách cẩn trọng hơn hẳn những người khác, vốn thường làm ngược lại với sự chính xác đó."
"Một số người bắt đầu ăn Tết từ ngày 25 tháng Chạp, nhưng điều đó là không đúng phép. Sự lầm lạc này đến từ việc ấn « sup unn » (2) [tức lễ Khép Ấn], vốn là đại ấn được lật ngược và đặt vào trong một chiếc hộp đóng kín trong suốt một tháng trời. Trong khoảng thời gian này, việc thực thi công lý bị đình chỉ và không một văn bản nào được đóng dấu ấy; mọi tòa án đều đóng cửa; con nợ không bị bắt bớ, các tội lỗi, những vụ trộm cắp nhỏ, các cuộc ẩu đả và đánh đập, v.v... đều được đảm bảo không bị trừng phạt. Các quan trấn thủ thành phố hoặc tỉnh thành không thèm để mắt đến những vụ phản bội hay giết người; họ giam giữ những kẻ gian ác cho đến khi đại ấn bắt đầu hoạt động trở lại, khi đó họ mới đưa chúng ra xét xử. Nhưng Năm Mới đúng nghĩa bắt đầu vào ngày mồng Một của tuần trăng mới, thường rơi vào khoảng ngày 25 tháng Giêng, và kéo dài theo phong tục Trung Hoa trong trọn một tháng."
"Từ những gì vừa kể, ta có thể nhận thấy tác giả của chúng ta (3) đã phóng đại thế nào về mọi vấn đề, đặc biệt là khi ông mô tả người xứ Đàng Ngoài là những kẻ siêng năng và cần cù, biết sử dụng thời gian một cách khôn ngoan để đạt được lợi ích lớn nhất. Điều này có thể đúng ở một mức độ nào đó đối với phụ nữ, nhưng đàn ông nói chung là những kẻ lười biếng và ăn không ngồi rồi; nếu nhu cầu cuộc sống không ép buộc họ phải làm việc, tôi tin rằng họ sẽ hạnh phúc khi dành toàn bộ thời gian chỉ để ăn và ngủ, vì nhiều kẻ đã đẩy sự thái quá đến mức nhồi nhét dạ dày vô độ, ăn uống như thể họ sinh ra chỉ để ăn chứ không phải ăn để mà sống."

William Dampier là một du hành giả người Anh đã đến thăm Đàng Ngoài vào năm 1688. Từng là thủy thủ trong hải quân hoàng gia Anh, Dampier đã du hành khắp thế giới, đặc biệt là ở Viễn Đông, vùng Antilles và Trung Mỹ. Những ký ức và ghi chép mà ông công bố dưới tiêu đề New Voyage round the world (Cuộc du hành mới quanh thế giới) đã được in lại và dịch ra nhiều thứ tiếng. Trong tập III của cuốn sách về các chuyến du hành quanh thế giới, người ta tìm thấy một bản mô tả về vương quốc Đàng Ngoài. Ở đó có những thông tin rất thú vị về địa lý, phong tục, tập quán của người An Nam. Đây là bức tranh được vẽ ra bởi bàn tay của nhà du hành người Anh này về ngày Tết:

"Người xứ Đàng Ngoài có hai ngày lễ mỗi năm. Lễ chính diễn ra vào tuần trăng mới đầu tiên của năm mới và năm mới của họ bắt đầu vào tuần trăng mới đầu tiên sau trung tuần tháng Giêng; vì nếu không, tuần trăng này sẽ được tính vào năm trước đó. Trong thời gian này, họ vui chơi mười hoặc mười hai ngày và khi đó người ta không làm việc gì cả, mỗi người đều cố gắng ăn mặc sạch sẽ nhất có thể, nhất là dân thường. Những người này dành thời gian để chơi đùa hoặc thực hiện các bài tập khác nhau và người ta thấy đường phố đầy rẫy những người, cả từ thành thị lẫn nông thôn, đang chăm chú quan sát các trò giải trí này. Có những người dựng những chiếc đu ở ngoài phố và họ thu tiền từ những ai muốn lên đu để nhún nhảy. Hình dáng của họ khi ấy gần giống như..."
Chú thích:
(1) Trò chơi « football » mà ông Baron nói đến không có điểm gì chung với bóng đá hiện đại của chúng ta. Đó là trò chơi đá cầu, hay còn gọi là quả cầu lông, bằng chân, một môn mà người An Nam ngày nay vẫn còn rất điêu luyện.
(2) Có lẽ là Hạp Ấn (đóng ấn).
(3) Ở đây ám chỉ TAVERNIER.