Sự thiêng liêng của con người
(Đạo sư Duy Tuệ)
Gửi đệ tử phương xa!
Thầy nhắc lại:
Nguồn Tâm Trong Sáng không gợn chút ý tưởng nào ở mỗi chúng ta đều có sẵn.
Nó thật linh thiêng, biến đổi cả trời đất không ai lường nổi.
Nó thật mầu nhiệm, thường sáng tạo ra muôn công đức.
Nó đáng để ta hy sinh cả đời mình cho nó.
Đức Phật Thích Ca và nhiều Thánh nhân khác đã hiến dâng trọn vẹn cuộc đời cho trạng thái tâm này.
Nhưng tại sao quá nhiều người không nhận ra được nó?
Vì con người đã sử dụng trí óc vào những việc tranh giành lợi lạc cá nhân nhỏ bé tầm thường.
Như bằng cấp, nhà cửa, xe cộ, tiền bạc, tình dục, cãi nhau, tranh giành,
Hận thù, giết chóc, uống rượu, hút thuốc,
chích xì ke, giết người hàng loạt, chế tạo các thứ phương tiện để khống chế lẫn nhau, để sẵn sàng tiêu diệt nhau.
Họ dùng trí não để phát minh nhiều thứ phần lớn đều xuất phát từ lợi lạc cá nhân, hoặc cho một nhóm, kể cả sáng lập ra các tôn giáo.
Dù cho hàng ngàn, hàng vạn giáo phái ra đời với nhiều lý thuyết tuyệt vời.
Dù cho áp dụng trùng trùng điệp điệp pháp tu luyện cũng chưa thực sự giúp ích gì cho con người. Tôn giáo tự bản thân nó cũng không phải xấu cũng không phải tốt, nó cũng đáp ứng nhu cầu tinh thần cho một số người. Nhưng con người đã sử dụng tôn giáo như thế nào thì đó là kết quả của sự sử dụng trí óc riêng tư. Chúng ta hãy làm một cuộc thống kê lại lợi ích của tôn giáo đối với loài người từ khi
nó có mặt đến nay. Cũng có khả năng một số người đã sử dụng trí óc của mình để chế tạo những phương tiện giết người hàng loạt gọi là để bảo vệ tôn giáo hay phương pháp tu luyện của họ. Lịch sử giết chóc trong một truyền thống tâm linh hay giữa các truyền thống tâm linh trên thế giới vẫn còn sách vở, phim ảnh lưu giữ đó.
Tại sao vậy?
Bởi vì, mọi hoạt động trí óc của họ đều xuất phát từ thoả mãn cá nhân và hướng tới lợi ích cá nhân dưới nhiều màu sắc trang nhã.
Ngay cả các loại “thiền” từ trước tới nay cũng chỉ là động cơ và mục tiêu cá nhân dưới hình thức tâm linh mà thôi. Hãy coi lại các kết quả mà họ đã đạt được là gì? Tiền, cơ sở vật chất như nhà cửa, xe
cộ và những thứ hưởng thụ cá nhân khác! Các truyền thông tâm linh lớn trên thế giới đều có “thiền”, ngay trong Thánh Kinh Ki- Tô Giáo cũng nói đến thiền. Và rất nhiều truyền thống tâm linh đều ca ngợi thiền, nhất là Phật Giáo. Nhưng thiền mà nhiều người rao giảng và chỉ bày nhiều thế kỷ qua đã giải quyết chuyện khổ đau của nhân loại như thế nào? Hay nói nhỏ lại nó đóng góp gì cho hạnh phúc của một dân tộc, hay nhỏ hơn nữa một hệ phái về thiền? Thầy muốn nói đến “toạ thiền” là hình thức dễ thấy nhất. Rõ ràng người ta muốn xây dựng một hình thức thiền thì mới gọi là thiền! Quý vị có biết rằng đã có hàng triệu người làm việc vất vả để nuôi hàng trăm nghìn người ngồi thiền suốt ngày không? Thế mà cũng lôi cuốn khá
nhiều sự chú ý. Trong khi đó lịch sử nhân loại cũng có vài Bậc Thiền Nhân Đáng Tôn Kính như Bồ-Đề Đạt- Ma ở Ấn Độ, Vua Trần-Nhân-Tông ở Việt Nam thực hiện sống thiền siêu thoát ra mọi ràng buộc nội tâm chỉ được một số người đời nhắc tới như để trang điểm cho sở thích của mình chứ không phải để bắt chước theo đó mà thực hiện một đời sống thiền thực sự. Bên cạnh ấy, pháp tu Niệm Phật trong Phật Giáo cũng là một loại thiền đem lại nhiều an ủi cho nhiều người thực hành nó lại bị một số vị toạ thiền chê bai, có lẽ nó không có hình thức có vẻ như huyền bí của toạ thiền. Hay ngay như trong truyền thống tâm linh của Ki-Tô Giáo có nhiều tín đồ thiền về Thiên Chúa mà họ ngưỡng vọng cũng đem lại cho họ sự an ủi khi
họ cần có sự an ủi. Có lẽ những người thực hành tâm linh này họ chỉ cần sự an ủi thôi. Nếu thế thì cũng tốt vì trí óc của họ đã dừng lại ở đó nên họ được hưởng ân huệ, họ cảm thấy bình yên trong tâm hồn. Sự bình yên trong tâm hồn này mới là hạnh phúc đích thực.
Người ta lên án chuyện tình dục vì chuyện ấy chỉ đem lại khoái cảm của thân xác. Nhưng ta phải nghiên cứu cẩn thận xem thân xác có thực sự hưởng thụ không? Câu trả lời là không. Vì thân xác có biết gì đâu. Đó là hoạt động của trí não và trí não cũng biết hưởng thụ cảm giác tình dục ấy. Các phương pháp thực hành tâm linh cũng là hoạt động của trí não và nó cũng đem lại khoái lạc cho người thực hành nó. Nếu không khoái lạc thì họ sẽ không theo. Nhưng ác
nỗi nó lại là thứ khoái lạc được khoác lên những hình thức có vẻ như huyền bí, vì vậy mà nhiều người đã bị mắc vào bẫy khoái lạc này!
Có vài tu sĩ trẻ tâm sự rằng “Mình tụng kinh cầu siêu cho người thân của các thí chủ đã qua đời, nhưng thật lòng mình cũng không biết có siêu thật không? Nên đôi khi cảm thấy rất áy náy, nhưng vì cũng muốn làm thoả mãn tâm lý của họ nên cứ phải làm”. Họ tưởng nhầm rằng đây là sự chứng ngộ tâm linh! Điều quan trọng là kết quả của những việc làm tâm linh ấy có mang lại sự khai mở thánh trí để con người vượt qua khổ đau tinh thần mà không lệ thuộc nhiều vào hoàn cảnh vật chất hay không?
Chúng ta bình tâm xem xét lịch sử phát triển của những ý tưởng của loài người từ trước tới nay
để xem những ý nghĩ của con người có thực sự đem lại hạnh phúc cho một người trong cuộc đời ngắn ngủi của họ? Câu trả lời là không. Không phải trí óc có tội. Không phải trí óc quá tồi tàn. Không phải nó có vấn đề. Vấn đề chính ở chỗ mỗi con người sử dụng nó. Nó cũng giống như tiền, tình, địa vị xã hội chẳng có gì xấu hay tốt. Nhưng cách sử dụng của con người theo chiều hướng nào mà chúng được coi là xấu hay tốt mà thôi.
Một quyển kinh ghi lại những lời dạy của Thánh nhân có thể sử dụng theo ba cách:
-Dùng để gợi ý cho con người khai tâm mở trí, mở thánh trí, tức trả lại cho tâm trạng thái vô nhiễm đối với mọi tri thức.
-Dùng để trói buộc con người phải lệ thuộc tâm linh với người sử dụng nó giống như là
để giữ khách hàng vậy.
-Dùng để lôi kéo con người vào những cuộc chiến tranh đẫm máu.
Kinh sách là một loại sản phẩm của trí óc. Nó không xấu cũng chẳng tốt. Tuỳ vào động cơ và mục tiêu của người sử dụng.
Hướng Tới Sự Chứng Ngộ Toàn Triệt.
Xin nhắc lại điều Thầy đã nói trước nay:
“Thầy đang sống giống như người chết chưa chôn!”. Chết là gì? Khi người ta chết thì chuyện gì xảy ra cho người đó? Nngừng thở. Trí não không còn làm việc được. Thế giới này không còn đối với người ấy. Không mang theo bất cứ thứ gì, kể cả những ý nghĩ, các loại tâm lý, sự hiểu biết, bằng cấp, tài sản như nhà cửa xe cộ, người mình yêu thương nhất, các hợp đồng béo bở, những kế hoạch vĩ
đại, các công trình nghiên cứu, tam tạng kinh điển, các chức tước ở đời và chức sắc trong các tôn giáo, quyền lực, sự trả thù, sự đền ơn, lòng từ thiện, sự chứng ngộ, chùa chiền, các loại tháp chung và riêng, tiếng tăm, sự chúc tụng và tôn vinh, công đức, tội lỗi… và nhiều thứ khác nữa.
Còn sống là gì? Là thở vào thở ra và sự làm việc của trí óc để thu vào, để gìn giữ, để tước đoạt những thứ kể trên. Có phải vậy không?
Tất cả những thứ kể trên có hai đặc điểm quan trọng, các đệ tử cần phải hiểu là: Một là bản thân nó, tự nó không xấu cũng không tốt và hai là những thứ ấy không dính vào thân thể của con người được. Tuy chúng không dính vào phần thân thể chúng ta được nhưng hình như có cái gì đó vô hình
làm trí não của chúng ta ngày đêm dính chặt trong ấy, quây quần trong ấy để phân tích, chia chẻ, mưu toan, thiết lập các thủ đoạn bằng mọi phương tiện, kể cả sử dụng thánh thần để đoạt cho được, để thoả mãn sự thôi thúc cá nhân. Chỉ khi chết mới chấm dứt sự dính chặt ấy. Có phải vậy không?
Chính vì vậy chẳng ai hạnh phúc cả, kể cả các vị nghĩ rằng mình đã bỏ chuyện thế gian để tìm đường giải thoát. Tại sao trong thế gian này người ta tin một cách kỳ quặc rằng hễ ai vào chùa, nhà thờ sống và thực hành một số nghi lễ thì gọi là người “xuất thế”. Đa số chúng ta từ bỏ chỗ ở nhỏ, chỗ thiếu thốn để đến chỗ ở rộng lớn hơn, đầy đủ phương tiện hơn, thoải mái hơn thì lại có tên gọi là “xuất thế”. Vậy
xuất thế là gì? Thật tình không hiểu nổi!
Thầy khuyên các đệ tử đừng nên “xuất thế” kiểu ấy.
Thầy mong các đệ tử tập sống xuất thế như vầy: Hãy sống bình thường như tất cả mọi người, chỉ riêng mình ta biết rằng ta thường theo dõi sự nô lệ của trí óc trước tất cả mọi ham muốn, kể cả ham muốn thánh thiện. Khi ta nhận biết trí óc đang tự do, lúc ấy Chư Phật luôn ở với ta. Khi trí óc đang bị nô lệ bởi các loại ham muốn, lúc ấy Chư Phật tạm xa lánh ta, chỉ còn mình ta đối phó với cuộc đời đầy bất trắc!
Tiến đến thế giới thống nhất giữa sống và chết là một.
Hãy kéo sự chết lại với sự sống. Nhập một chúng lại và tập sống như vậy. Đây là sự vĩ đại của trí tuệ trong việc điều khiển trí óc
của chúng ta! Hãy nhận ra điều này. Cố gắng thực tập đừng lý sự và phân chia và nhận xét đúng sai. Hãy làm thử. Khi thực tập điều này chính là sự thiền định đích thực. Vì sao? Vì động cơ thoả mãn cá nhân hay tư lợi không thể xuất hiện được mà ta vẫn tỉnh táo để tan biến vào Đạo, vào làm một với năng lượng tạo hoá! Chúng ta đang vào cõi bất định không còn chia chẻ nữa. Lúc này sẽ tiến đến nhận ra sự vĩ đại tuyệt luân của phật tính.
Thánh Trí
Thầy nói rất bình dị cho các học trò dễ hiểu. Như thế này nhé: Thầy muốn nói đến cách sử dụng trí óc của con người.
Thánh nhân là gì vậy? Trước nhất các Ngài cũng là con người bình thường như bao nhiêu người khác. Nhưng có sự khác biệt khó
thấy giữa các ngài với đa số con người. Chỗ khác biệt ấy không phải chỗ ở, không phải y phục, không phải cạo đầu hay để râu tóc, không phải cách ăn uống chay hay mặn hoặc ăn một bữa hay nhiều bữa, không phải điệu bộ đi đứng nằm ngồi, không phải tụng đọc kinh điển, ngồi thiền hay nhập thất, không phải có kiến thức về kinh luật luận, cũng không phải khả năng giảng nói về kinh sách, cũng không phải cung cách cư xử nhẹ nhàng điềm đạm, hay nặng lời, cũng không phải cách nằm ngủ và thời gian ngủ ít hay nhiều, hoặc các hình thức khác.
Vậy khác nhau chỗ nào là chính? Đó là cách sử dụng trí óc của mình. Thánh nhân sử dụng trí óc hồn nhiên. Không tách biệt giữa sống và chết, giữa xấu và tốt, giữa được và mất, giữa hạnh phúc và
đau khổ… Khi xem xét mọi vấn đề, thánh nhân chỉ tập trung quan sát bản chất của nó mà không sa ngã vào các mặt đối lập của nó. Các Ngài xem xét nó không vì một động cơ nào, chỉ vì nó đang diễn ra mà thôi. Có hiểu được ý thầy không? Còn đa số con người khi xem xét một vấn đề nào thì phân chia nó theo mục đích tế nhị của mình. Có hiểu được ý chính của thầy không?
Có Ích Gì Khi Nhắc Lại Sự Hiểu Biết Của Mình.
Khi các đệ tử cố nhớ những gì mình đã học và hiểu trong các kinh sách để nói lại với ai đó thì chỉ sướng miệng mà thôi. Hoặc cũng chỉ để loè thiên hạ hoặc như mình đang hành nghề nói mà thôi. Nếu cứ làm chuyện này mãi thì càng ngày càng xa Đạo mà lại gần ma! Thầy lấy một ví dụ này cho dễ hiểu: Khi hai người
yêu nhau thật tình, lúc ấy họ chỉ có những ứng xử hy sinh danh dự, mạng sống, và sự nghiệp của mình để bảo vệ tình yêu của họ khi tình yêu của họ đang đứng trước một sự đe doạ. Họ chỉ biết ứng xử ngay tức thời chứ không kịp thảo luận là nên làm cái gì. Nhưng nếu khi ấy họ cố moi ra những kinh nghiệm ứng xử thì lúc ấy họ đã rời xa tình yêu rồi vậy. Mọi ứng xử đều xuất phát từ lợi ích của riêng mình, họ bắt đầu sử dụng trí óc có động cơ tư lợi. Đau khổ xảy ra!
Bản chất của trí óc là Đạo, nhưng cách sử dụng trí óc xuất phát từ động cơ riêng tư để tính toán thì xa Đạo rồi. Một trong những tính chất của Đạo là thản nhiên. Ta sử dụng trí óc cho phù hợp với bản chất thản nhiên ấy mới hợp Đạo. Bản
chất của trí óc cũng như muôn pháp là vô tình. Nhưng con người sử dụng tính chất vô tình ấy theo suy nghĩ của mình thì vấn đề phức tạp sẽ xảy ra. Tình, tiền, danh, lợi… bản chất của chúng cũng vô tình. Nhưng con người đem suy nghĩ riêng tư của mình dùng nó thì vấn đề sẽ xảy ra. Khổ đau xảy ra. Có hiểu được không? Một trong những cách dễ thấy nhất của việc sử dụng trí óc xa Đạo là hay nhắc lại sự học hỏi, sự hiểu biết của mình! Hơi khó hiểu một chút, cố hiểu rồi sẽ hiểu được.
Một Trạng Thái Tâm Không Có Tên Gọi.
Bây giờ Thầy chỉ một trạng thái tâm đặc biệt để sau này có vị nào vào được thì chia sẻ với các đồng đạo. Tâm có trạng thái như vầy: Thấy cái gì cũng mới, cũng kỳ
diệu. Khi vào trạng thái ấy ta không còn khả năng suy nghĩ, không nói được gì. Tay ta sờ vào bất cứ vật gì hầu như cơ quan biết tự động của tính biết của tâm tự báo với ta rằng, những vật ấy là linh ảnh của thực tại mầu nhiệm không có tên gọi. Lúc ấy ta giống như đứa bé vừa mới sinh ra, thấy cái gì cũng lạ lắm, nhưng lòng ta hân hoan sâu xa, muốn diễn tả điều gì cũng không được. Mà ta cũng biết rõ là ta không thể diễn tả được, không thể nói được. Không nghe âm thanh bên ngoài, nhưng lại nghe sự hướng dẫn bên trong để giúp ta học những điều huyền bí của các sự vật hữu hình mà ta đang ngắm hay đang va chạm. Thế giới hữu hình lúc ấy như là một cảnh giới hoàn toàn khác: Bình yên, thanh tịnh, không thấy sự đẹp xấu, không có sự
vừa ý hay không vừa ý, trời đang nắng gắt cũng giống như ánh sáng trăng rằm. Lúc ấy, ta không có chút tư tưởng, kinh nghiệm, ký ức, không thấy có sự lo âu, ta cũng không thấy có “tâm không”, không biết gì là phàm hay thánh, cũng không có ý niệm tính phật hay tính phàm, không có bất cứ ý niệm gì. Hễ cái gì xuất hiện trước mình thì hình như có sự giới thiệu từ cõi sâu xa nào đó về tính chất vô thượng, tức tính chất tuyệt đối tối linh của những gì ta đang đối diện, nghĩa là cái ta đang sờ đến. Còn cái gì trước mặt ta mà ta chưa sờ đến thì sự giải thích từ cõi sâu xa của tâm cũng chưa xuất hiện. Lúc ấy ta cũng không cho rằng ta đang sống ở cõi này hay ở cõi nào khác. Ý niệm về cảnh giới cũng không có.
Có thể tạm nói rằng tâm ta
có một trạng thái đặc biệt, nghĩa là ở trạng thái này trí óc không thể làm việc được. Có lẽ trí óc gồm có tâm trí và não. Còn ở trạng thái này chỉ có phần tâm hiện hữu và lúc ấy có một bộ máy tự động của tâm làm việc chứ phần não không can thiệp vào được. Giống như tâm có bộ não riêng của nó mà không cần tới bộ não nằm trong họp sọ.
Khi ra khỏi trạng thái này, lòng ta hoàn toàn thay đổi kỳ lạ: Gần như thánh nhân với ta là một vậy. Gần như ta có thể hiểu sâu sắc về các thánh nhân. Đọc bất cứ kinh sách nào, ta cũng dễ bắt gặp được đâu là năng lượng của các Ngài, từ trí tuệ đến lòng từ mẫn. Bất cứ kinh sách của bất cứ truyền thống tâm linh nào, chúng ta cũng thâm hiểu sâu sắc nỗi trắc ẩn của các bậc
thánh.
Để vào được tráng thái này, điều cần phải triệt để là: Không thích bất cứ gì. Như không thích chùa, không thích chứng ngộ, không thích tu, không thích thành phật, thành thánh, không thích làm bất cứ gì để trở thành bất cứ gì. Không thích có đệ tử, không thích thuyết giảng, không thích nhập thất, ngồi thiền, ăn chay ăn mặn, không thích ai tôn vinh mình, lễ lạy mình, không thích tiền, tình, danh, lợi. Gần như cái gì con người thích thì mình đã ngán đến tận óc rồi. Chỉ cần khi nghe tới là muốn ói rồi. Khi ấy toàn cõi mầu nhiệm của tâm sẽ bắt đầu hoạt động và cho ta nhiều cơ hội tuyệt vời đáng để cho ta hy sinh cả cuộc đời mà tôn thờ và tôn vinh trạng thái tâm ấy.
Tập Sống
Hãy tập sống:
Hãy tập quan sát những gì đang xảy ra với ta như là chuyện hoàn toàn mới mẻ, chuyện ta chưa từng biết bao giờ. Đừng nói chuyện này ta biết rồi, ta gặp rồi, ta đã có kinh nghiệm giải quyết nó. Ví dụ một bữa cơm trưa: Ta chưa từng ăn trưa bao giờ, đây là lần đầu tiên ta biết chuyện này, làm sao đây. Hãy quan sát nó cho thật tường tận như mới biết lần đầu. Đừng động não, ngay bây giờ, quá khứ, tương lai, và hiện tại sẽ là một (cố hiểu). Đừng động não! Sẽ có trí tuệ từ bộ não đặc biệt của tâm cho ta trí tuệ ứng xử phù hợp. Trí tuệ này không gây ra xung đột, không để lại sự hối tiếc nào. Hãy ở trong trạng thái ngây thơ trước sự việc thì động cơ không xuất hiện (kể cả động cơ tốt và xấu). Ở trạng thái này cũng không bị
cảnh tác động làm cho trí não thông thường hoạt động. Giữ được như vậy, sự tối linh của tạo hoá, cũng tức phật lực sẽ xuất hiện và sự nhiệm mầu sẽ bao trùm lên tất cả mọi hoàn cảnh.
Có năm loại người sử dụng trí óc:
1. Người đầu óc tăm tối: Hoàn toàn bị lòng ham muốn chi phối trí óc. Dùng trí óc suy nghĩ nhiều thủ đoạn để thoả mãn lòng ham muốn của mình. Lấy việc thoả mãn lòng ham muốn của mình làm động cơ và mục tiêu cho mọi hành động. Loại người này không phân biệt sai trái, phải quấy, thiện ác do thế gian quy ước. Tất cả suy nghĩ và việc làm của họ theo tiêu chuẩn thoả mãn lòng tham muốn của họ. Nhiều người nói chuyện đó ác đừng làm, nhưng họ thấy làm chuyện ấy thoả mãn ham
muốn của họ thì họ cứ làm. Tiêu chí suy nghĩ và hành động của họ là thoả mãn lòng ham muốn của họ.
2. Kế đến là người sử dụng trí óc của mình để xem xét chuyện xấu tốt, thiện ác, đúng sai để nên tránh và nên làm. Nhưng cũng vì động cơ cá nhân mà sử dụng trí óc để thoả mãn các ham muốn của mình. Họ sử dụng trí óc hơi nghiêng về thiện một chút, nhưng cũng không ngần ngại nghiêng về phía kia một chút, hoặc hơn một chút.
3. Loại thứ ba là người sử dụng trí óc nghiêng về thiện nhiều hơn. Những người này ít nhiều có thầy dạy về Đạo và đạo đức. Có luyện tâm chút đỉnh. Nhưng sâu xa bên trong họ vẫn sử dụng trí óc để kiếm chút tư lợi. Như kiếm chút công đức chẳng hạn. Những người này đôi khi cũng có một
chút giác ngộ chân lý. Gần như rất nhiều suy nghĩ và việc làm của họ có lợi cho nhiều người. Nhưng mặc hại cũng không nhỏ. Những mặc hại của người khác, loại người này ít thấy vì họ ỷ y vào suy nghĩ và việc làm thiện của họ.
4. Loại thứ tư: Họ sử dụng trí óc nghĩ và làm việc thiện, làm việc của người gần như thánh nhân. Họ có sự giác ngộ do học tri thức của người đi trước. Họ giác ngộ trong sách vở mà họ thường sử dụng. Giác ngộ sách vở. Và họ cũng được nhiều người ca ngợi về tri thức mà họ kiếm được trong sách vở và thầy của họ. Họ rất tự hào. Những nhà buôn này rất đông khách hàng nhưng sản phẩm trí tuệ của họ không đem lại kết quả cụ thể cho người tiêu dùng. Những người này đã khéo sử dụng
trí óc để sản xuất, quảng bá, và bày bán, chào hàng nhiều kiểu khác nhau tại các chợ khác nhau. Những chợ đó người thế gian thấy giống như chợ thánh vậy.
5. Loại thứ năm: Sử dụng trí óc giống như trong kinh Kim Cang của Phật Giáo Đại thừa: Người Bồ tát khi thực hành bố thí không thấy có ta là người bố thí, có người nhận bố thí và có vật để bố thí. Loại người này hoàn toàn sống trong năng lượng mầu nhiệm thống nhất giữa mình và vũ trụ vạn vật. Những người này không có sản phẩm và có chợ để bán.
Cách sử dụng này hoàn toàn tự do khỏi mọi động cơ và mục đích. Hay còn gọi là cách ứng xử vô tư khi đứng trước sự việc đang diễn ra.
Có Hai Loại Trí Tuệ
Thông thường trí hữu
học là tri thức thu lượm được từ sách vở và cộng đồng mà người ấy sống. Trí hữu học cao nhất của nó là sự hiểu biết chuyên môn về một môn nào đó do người đi trước đúc kết lại. Nếu theo học ở trường thì lấy bằng cấp. Cao nhất là bằng tiến sĩ. Bằng này nói lên khả năng của người học thu lượm được bao nhiêu tri thức của người khác làm tri thức của mình. Từ đây trở đi người này thường dùng tri thức này như là thứ tài sản mà mình kiếm được để sử dụng nó tạo ra những tài sản khác lợi mình và có thể lợi người. Phần lớn người này sử dụng trí não của mình để khai thác tri thức này. Dĩ nhiên là sự sử dụng trí não của họ không vượt ra sự thôi thúc cá nhân thầm kín bên trong. Tri thức này không phải của họ nên
nó không mang tính chất ông chủ được.
Tri thức có tính chất ông chủ thường chứa đựng tri thức vô học nhiều hơn. Chữ vô học dùng ở đây có tính cách như vầy: Ta không gọi người này là “kẻ vô học” , mà phải gọi một cách kính trọng là”Bậc vô học”. Trí là cung cách ứng xử trước các đòi hỏi bức bách đang xảy ra. Người có trí hữu học đem kinh nghiệm tri thức học được ra ứng xử để thoả mãn nhu cầu cá nhân. Còn bậc vô học trước hoàn cảnh đòi hỏi cần ứng xử họ ở trạng thái tâm vô tư, tự nhiên sẽ có cách ứng xử phù hợp hiệu quả mà không để lại sự hối hận hay sửa chữa nào. Tri thức vô học là thứ trí tuệ tuôn ra từ tâm hồn ngây thơ trong trắng, không ý niệm, kinh nghiệm hay tiềm thức nào, trước hoàn cảnh cần xử
sự.
Ngày nay máy tính có bộ nhớ thật to lớn có thể làm việc tốt hơn bộ nhớ trong đầu óc con người. Tuổi trẻ ngày nay cần phải biết hai loại trí tuệ khác biệt này. Nếu chỉ sống bằng loại tri thức thu lượm được từ bên ngoài thì chỉ là người suốt đời làm nô lệ cho lòng ham muốn của mình và làm nô lệ cho kẻ khác. Hoàn toàn là người nô lệ. Và dễ đánh mất chính mình trong loại tri thức này. Như vậy không thoát khỏi sự lo âu thường xuyên trong tâm hồn. Tâm hồn luôn luôn mất tự do. Dù cho ta có dược nhiều người kém hiểu biết trọng vọng ta đi nữa thì thêm lần nữa ta là tên nô lệ cho sự trọng vọng ấy.
Phải học thêm cách để về với tư cách của người thường có trí tuệ vô học. Lúc ấy ta mới không đánh mất tâm hồn của mình.
Lúc ấy ta có thể cho xã hội thuê tri thức của mình học được, nhưng ta không cho ai thuê tâm hồn của ta, vật thiêng liêng đáng tôn thờ nhất chứ không phải các loại thành tựu bên ngoài. Có hiểu không?
Trước khi tạm chấm dứt những lời tâm sự với các đệ tử trong dịp cuối năm, Thầy trở lại với câu hỏi rất cũ mà cũng luôn luôn mới mà Thầy đã trao đổi với quý vị nhiều rồi. Đó là: “Tu là sửa tâm tính của mình cho tốt phải không thầy?”
“Tu là sửa” thường được hiểu là sửa tâm của mình sao cho tốt. Đây là cách nói quá chung chung và nếu chúng ta hiểu như vậy thì vấn đề tâm sẽ không được giải quyết cặn kẽ có hiệu quả. Vì sao? Sửa tâm nào? Tâm nguyên thuỷ thì rất hoàn chỉnh, không một chút nhiễm ô thì sửa cái gì? Còn tâm
lăng xăng như sóng nước thì làm sao sửa được? Các thứ tâm ấy như mây, như bọt nước, như sóng nước, như điện chớp làm sao sửa đây? Hôm nay chúng ta sửa một suy nghĩ không đúng đắn đã nổi lên trong trí óc chúng ta, nhưng liệu ngày mai, ngày mốt nó có trở lại không? Có nhiều người sửa tâm để tiến bộ, nhưng khi có điều kiện cho tâm ác xuất hiện thì họ vẫn không kiềm chế được.
Hãy tưởng tượng trí óc mình như một cỗ máy đặc biệt, có hai cách tác động cho cỗ máy ấy nổ và vận hành:
- Cỗ máy ấy nổ và vận hành do công-tắc của mọi thứ ham muốn đã bật.
- Hay cỗ máy ấy nổ và vận hành do nó tự nổ để đáp ứng lại những gì đang diễn ra trước nó.
Tạm kết luận.
Tóm lại, các
đệ tử nên thường theo dõi những suy nghĩ và cách sử dụng trí óc của mình xuất phát từ nguồn gốc nào? Từ lòng ham muốn thôi thúc bên trong, hay từ lòng ham muốn bị tác động từ bên ngoài? Hay từ sự đáp ứng vô tư trước các hoàn cảnh đang xuất hiện trước mặt chúng ta? Hãy tập sống với trí tuệ siêu thoát khỏi mọi ràng buộc của mọi thứ ham muốn. Có như vậy trí óc của chúng ta mới thoát khỏi kiếp nô lệ của mọi lòng ham muốn. Sống như vậy là đích thực sống giải thoát.
DUY TUỆ