Nguyễn Duy Vũ
Chúa Giêsu hỏi các môn đệ - “Còn anh em, anh em bảo Thầy là ai?”(Mark 28, 29)– thiết tưởng đây cũng là câu hỏi Ngài đặt ra cho thời đại hôm nay - Như những vị môn đệ theo Ngài xưa đã gắng tìm ra câu trả lời trong bối cảnh thời ấy, thì ngày nay có lẽ cũng đang nổ lực tìm ra câu trả lời đích thực nhất. Vậy thì làm cách nào chúng ta nên bàn về Chúa Giêsu vào đầu thế kỷ hai mươi mốt này? Là Thiên Chúa nhập thể? Là Con Người cho tha nhân? Là tiền nhân một cộng đồng mới hay của Nước Trời?[1]
Nhiều lối nhìn khác nhau đã và đang được trình bày bởi các nhà thần học nam nữ trên khắp các địa lục và mọi truyền thống Kitô, biểu lộ cho thấy nhiệm vụ tiếp nối Kitô luận ngày hôm nay chính là: diễn giải ý nghĩa sâu đậm và nét đặc trưng Chúa Giêsu Kitô cho thời đại của chúng ta dưới áng sáng của những triển khai mới trong Kinh thánh và lịch sử. Khởi sự từ thời Kinh thánh khi vừa bắt đầu được phổ biến rồi trải qua hơn hai ngàn năm trên các nẻo đường thần học quanh co, thần học Kitô giáo đã xây nhiều công trình để tìm hiểu ý nghĩa con người và sứ vụ Chúa Giêsu Kitô, vị gián tiếp sáng lập Kitô giáo và là nhân vật được tranh luận sôi nổi nhất trong lịch sử tôn giáo. Mỗi thế hệ, các nhà thần học đã đề xuất những diễn giải về con người Kitô và ảnh hưởng của Ngài trong bối cảnh cuộc sống họ nhận ra.
Quả vậy, Chúa Giêsu Kitô xuất hiện ngay trung tâm điểm của đức tin và thần học Kitô giáo. Vì thế, nghiên cứu Kitô luận không cần biện minh việc truy tầm liên tục trong phạm vi đức tin thần học . “Mặc dù không thần học nào có thể tự giành riêng cho mình Kitô luận, nhưng cũng không thần học Kitô nào hoàn thành được nếu không có sự liên hệ nghiêm túc về Chúa Giêsu Kitô.”[2] Trong chiều hướng này, không có nghiên cứu nào kề cận với cốt lõi đời sống Kitô hữu và thần học hơn Kitô luận. Cuộc sống ngắn ngủi của Chúa Giêsu trên trái đất, cái chết của Ngài trên thập tự giá, và các tuyên ngôn của các môn đệ về sự phục sinh và lên trời của Ngài luôn là nền móng cho lịch sử Kitô giáo. “Qua những năm tháng, Kitô luận luôn là một đối tượng của sự say mê liên tục, vì nó là nền tảng thần học cho các Kitô hữu với niềm tin nghiêm túc.”[3]
Cùng với việc thành lập tín lý Kinh thánh vào thế kỷ thứ IV, thần học Kitô giáo, qua hình thức tuyên bố các tín điều kinh điển tại Nicea vào thế kỷ thứ tư và tại Chalcedon vào thế kỷ thứ năm, đã cố gắng hình thành một sự tuyên bố tuyệt đối dứt khoát về Chúa Kitô trong những ảnh hưởng văn hóa thời đại đó. Đa số đã đạt được bằng các công thức chính xác, ngắn gọn liên hệ đến bản thể thiên liêng và đồng thời nhân tính của đức Kitô, nhưng dù sao những tuyên bố đó vẫn còn bỏ sót, rất nhiều vấn nạn đã bị bỏ qua không được đề cập. Cơ bản, những tín điều ban đầu được tuyên bố trong một hoàn cảnh có thể được xem như có phần nào tiêu cực. Hay nói cách khác, các tín lý được thiết lập với mục đích để chống lại các quan điểm dị giáo thời ấy. Nhưng sau đó, trong các thế kỷ tiếp theo và cho đến thời đại chúng ta, thần học đã tiếp tục tái giới thiệu những quan điểm được khởi hành ngay từ những giáo thức ban đầu nhưng chúng dần dà đã được tinh chế thanh lọc lại. Hẳn nhiên, công việc đó vẫn phải được tiếp tục.
Các nghiên cứu và tìm hiểu về Kitô Luận triển nở mạnh mẽ bắt đầu từ đầu thế kỷ XX mà cực điểm là sự xuất hiện của cái gọi Kitô luận trong bối cảnh địa phương hoặc liên văn hóa trong thập niên 1960 và kể từ đó, đã tạo ra một cầu vồng hấp dẫn trong các lối diễn giải Kitô Luận. Thần học Tin lành, Kitô luận là tâm điểm của các cuộc tranh luận trong gần hai thế kỷ nay, bắt đầu với sứ vụ nổi tiếng tìm lại Chúa Giêsu lịch sử. Mục tiêu đó dù không bao giờ đạt được, nhưng sự nhiệt tình của sứ vụ ấy đã thúc đẩy gia tăng của vô số những diễn giải phong phú. Thần học Công giáo La Mã chứng kiến sự hồi sinh của Kitô luận trong ba hoặc bốn thập niên qua. Điểm thú vị nhất trong bối cảnh hiện tại là sự bộc phát của các Kitô luận theo đặc tính xã hội hoặc đa văn hóa như những nổ lực phát lên từ yêu cầu cụ thể tại các địa phương (ví dụ, ở Châu Phi hoặc Châu Á) hoặc đòi hỏi cá biệt của các nhóm (phái nữ hoặc giới nghèo). Một số Kitô luận dựa trong bối cảnh cũng liên kết được với các phong trào triết học hoặc thế giới quan chuyên biệt, chẳng hạn như triết học quy trình (process philosophy). Kết quả sau cùng là sự xuất hiện những Kitô Luận tại châu Phi, châu Á, châu Mỹ La-tinh, phong trào giải phóng, truyền thống da đen, nữ quyền và thuyết quy trình[4].
Nói chung, mặc dầu trong phạm vi hạn chế bài viết, lịch sử Kitô luận cần phải khảo sát trong ba giai đoạn chính như sau:
Giai đoạn 1: khảo sát các cách tiếp cận chính yếu Kinh thánh về con người Đức Kitô được trình bày qua các tác giả Tin Mừng và Phaolô.
Giai đoạn 2: tìm hiểu phát triển lịch sử, tập trung vào hai giai đoạn xác định quan trọng : sự phát triển sơ khởi trong năm thế kỷ đầu tiên đã xây dựng nền móng cho Kitô luận sau đó và, cuộc tìm kiếm Giêsu lịch sử, có liên hệ với sự thay đổi triệt để của phong trào trí thức, kết quả của thời đại Lý Trí, (Enlightment period), đã thay đổi một cách tuyệt đối phương cách nghiên cứu Kitô luận.
Giai đoạn 3: xem xét bối cảnh hiện tại của Kitô luận quốc tế dưới nhiều hình thức khác nhau: diễn giải đương đại ở phương Tây và một số cách tiếp cận trong bối cảnh cụ thể đã được phát triển không chỉ ở châu Âu và Bắc Mỹ mà còn tại châu Á, châu Phi và châu Mỹ La-tinh.
Trong các tác phẩm của Kitô luận được viết trước thế kỷ XX, thường có sự phân biệt rõ rệt giữa “con người” Chúa Kitô (Kitô luận chính) và công việc của Chúa Kitô (học thuyết về sự cứu rỗi). Ngày nay, sự phân biệt ít rõ ràng hơn, khi triết học và tính thực hành là lý do chính cho sự phân biệt trở nên kém phần đậm nét này (mặc dù sự phân biệt rõ ràng có hữu ích trong mục đích giáo dục). Một trong những giáo phụ đầu tiên của giáo hội phương Đông, Athanasius, đã lập luận rằng Chúa Kitô phải là cả con người và thần linh để cứu chuộc chúng ta: thiêng liêng để cứu và con người để đồng cảm với chúng ta. Cái nhìn sâu sắc của vị ấy về đầy đủ thiên tính và nhân loại đã không xuất phát từ một sự phản ánh triết học trừu tượng nào mà chính từ vai trò của Chúa Giêsu là Chúa Cứu Thế. Thông thường, chính sự cứu rỗi và chữa lành từ Chúa Kitô mang lại khiến người ta hỏi về con người của Chúa Kitô. Khi Giêsu thành Nazareth chữa lành một người đàn ông què quặt ở John 5, gã đàn ông này không biết ai là người chữa lành mình. Trong đền thờ, gã ấy mới biết được Chúa Giêsu là ai.
Philip Melanchthon, một đồng nghiệp của Martin Luther trong nhóm Tin lành, được nổi tiếng với câu nói “Khi biết Chúa Kitô thì biết những lợi ích đến từ Người”. Đó là, ngoài Cứu thế học, học thuyết về sự cứu rỗi, thì không còn cách nào khác để tiếp cận con người của Chúa Kitô. Thực tế, Melanchthon và nhiều người khác đã tự hỏi liệu thực sự có con đường nào khác để hiểu Chúa Kitô là ai không. Ngài là Đấng Cứu Thế. Đó là cách tiếp cận của Kinh thánh. Tin Mừng không đi vào một cuộc thảo luận triết học tinh vi nào về con người Chúa Kitô mà chỉ tập trung vào sự cứu rỗi nơi Chúa Kitô mang lại.
Nhà triết học nổi tiếng Immanuel Kant của thế kỷ thứ mười tám, người đã tìm hiểu các điều kiện hiểu biết của con người, nói rằng chúng ta không thể trực tiếp biết mọi thứ mà chỉ có thể nhận ra tác động của chúng. Vị thế của Chúa Giêsu, do đó, được biết đến thông qua tác động của Người đối với chúng ta. Cũng trong tinh thần đó, Albrecht Ritschl, một trong những người sáng lập chủ nghĩa tự do cổ điển, đã lập luận rằng việc tách rời Kitô luận và Cứu Thế học thì không đúng vì cách duy nhất để có được kiến thức về một cái gì đó là quan sát ảnh hưởng của nó đối với chúng ta.
Những quan điểm nền tảng liên quan đến mối liên hệ không thể tách rời giữa con người và công việc của Chúa Kitô đã đưa các nhà thần học đến một nhận thức ngày càng tăng về mối liên hệ giữa chức năng hành vi (những gì Chúa Kitô đã làm cho chúng ta) và “bản thể” (Chúa Kitô ở trong con người Ngài) . Tuy nhiên, các tác phẩm của Kitô luận có xu hướng tập trung vào cái này hay vào cái khác, và bài viết quý vị đang đọc cũng không ngoại lệ. Trọng tâm ở đây là về con người của Chúa Kitô, và do đó, các câu hỏi về thần học sẽ chỉ được giải đáp trong phạm vi chúng liên quan với câu hỏi đó.
Nhưng chúng ta có nên bàn về “Giêsu học” hơn là “Kitô Luận” không? Xét cho cùng, Chúa Giêsu là tên đầu tiên của con-người-thiêng-liêng. Câu hỏi này dẫn chúng ta đến câu hỏi về phương pháp luận cơ bản nhất của Kitô luận.
Một cách dễ hiểu mô hình hướng hạ là khuynh hướng của những thế kỷ đầu tiên. Họ không đặt câu hỏi về độ chính xác lịch sử của các câu chuyện Tin Mừng; các bài tường thuật Tin Mừng đã được họ chấp nhận một cách không thắc mắc. Sự phát triển của truyền thống Kitô Luận trước thời kỳ Khai sáng đơn giản chỉ là một cách giải thích về sự tuyên xưng của Tân Ước về đức tin vào Chúa Kitô và một nỗ lực diễn đạt đức tin ấy theo các thuật ngữ triết học và thần học chính xác thời đó. Phương pháp từ trên xuống cũng có những vị đề xướng trong thế kỷ XX, mặc dù động lực khác rất nhiều so với các định hướng trước thời Khai sáng. Ví dụ các nhà thần học liên hệ đến tân chính thống, neo-orthodoxy, như Emil Brunner và Karl Barth, và những người có khuynh hướng hiện sinh, như Rudolf Bultmann, cho rằng cơ sở để hiểu Chúa Kitô không phải qua Chúa Giêsu lịch sử nhưng kērygma (tiếng Hy Lạp, thuyết giảng, tuyên ngôn), qua lời công bố của giáo hội Kitô. Theo lời của Brunner:
Chúng ta nhất định phản đối quan điểm cho rằng đức tin Kitô giáo hình thành từ việc quan sát lịch sử, xuất phát từ bức tranh lịch sử Chúa Giêsu thành Nazareth.[5]
Theo lối nhìn này thì ưu tiên được dành cho các thư của Phaolô và tin mừng Gioan hơn so với bộ tin mừng Nhất Lãm (Mark, Matthew và Luke), vì Phaolô và Gioan không quan tâm đến các chi tiết cuộc sống trần thế Chúa Giêsu mà chú trọng nhiều đến ý nghĩa về sự kiện Chúa Giêsu trong đời sống Kitô hữu và giáo hội thời ấy.
Do đó, phương pháp hướng hạ cho rằng đức tin vào Chúa Kitô không dựa vào bằng chứng lịch sử hợp lý, vì đức tin đó không thể được chứng minh qua khoa học. Brunner phân biệt giữa “Chúa Kitô trong xương thịt”, là Thiên Chúa nhập thể được tuyên xưng trong Tin Mừng, và “Chúa Kitô sau xương thịt”, được nhà sử học khám phá qua cách nghiên cứu khoa học. Theo Brunner thì tín hữu hiểu được nhiều hơn nhà sử học vì tín hữu biết qua “Chúa Kitô trong xương thịt.” Bultmann cho rằng niềm tin dựa vào công bố đức tin Kitô, kerygmatic, tức qua lời rao truyền của Tin Mừng, chắc chắn không thể nào được kết nối chặt chẽ với cuộc sống trần thế thực sự tìm được của Chúa Giêsu. Bất cứ ai biết gì về Chúa Giêsu lịch sử, trần thế đó thì dẫu sao cũng không thiết yếu bằng so với lối nhìn hiện sinh của họ về Chúa Kitô.
Tuy nhiên điều đáng chú ý là xu hướng chính của Kitô luận kể từ thời Khai sáng[6] là hướng thượng, tức “từ dưới lên”. Điều này có thể hiểu được qua những thay đổi liên quan trong thời Khai sáng: Tất cả giáo quyền, triết học và các vị chức sắc nay được thay thế bằng các phán đoán cá nhân, độc lập vì mỗi người có quyền tự do trình bày quan niệm riêng. Tại sao ta nên dựa vào lời tuyên xưng đức tin của những vị thuộc thời thuở xa xưa? Thay vì cố gắng tái xác định những diễn giải mới về Chúa Kitô thích ứng hơn cho thời đại ngày hôm nay? Thích hợp nhất cho phương pháp tiếp cận này đương nhiên là sứ vụ tìm kiếm Chúa Giêsu lịch sử. Các nhà thần học tham gia vào sứ vụ này cố gắng vượt ra khỏi những lời tuyên xưng trong Tin Mừng, và tự định hướng xác định Chúa Giêsu thành Nazareth là ai. Họ nghiên cứu con người lịch sử của Chúa Giêsu Kitô như bất kỳ nhân vật lịch sử nào khác. Trong mục đích đó, thế kỷ XIX tìm kiếm Chúa Giêsu lịch sử là “Giêsu học” chứ không phải các Kitô luận vì họ tập trung vào con người Giêsu hơn là vào Chúa Kitô thiêng liêng được tuyên xưng và tôn thờ bởi giáo hội tiên khởi.
Dẫn đầu đề xuất phương pháp tiếp cận hướng thượng hay từ dưới lên, một khuôn mặt khác ngoài các học giả của sứ vụ tìm kiếm Chúa Giêsu lịch sử, là Wolfhart Pannenberg, trong tác phẩm Giêsu, “Thiên chúa và Con Người,” “Jesus, God and Man”[7], và sau đó ông thiết lập một thần học hệ thống như một cơ sở lịch sử và khoa học uy tín để tiến hành công việc nghiên cứu Kitô luận. Pannenberg luôn duy trì mục đích chính yếu Kitô luận là cung cấp sự hổ trợ của lý trí vào niềm tin vào bản tính linh thiêng của Đức Giêsu. Khi các phương cách hướng hạ hay từ trên xuống, theo Pannenberg thì đương nhiên, đã tự đặt niềm tin ngay vào tiền giả định, presuppose, thay vì bằng cách minh chứng để đạt tới, và chính vậy không thể được coi như những phương cách có căn cứ hợp lý.
Phương cách hướng hạ có xu hướng bỏ rơi lịch sử của Đức Giêsu và chính vì thế nó đương nhiên tránh né đối đầu câu hỏi về bản chất trung thực của những nguồn tin về Đức Giêsu. Pannenberg quả quyết rằng cuộc tìm kiếm lịch sử rất khả thi và cần thiết. Nếu chúng ta chỉ đặt niềm tin chúng ta vào những tuyên ngôn kērygma cổ xưa mà không dựa vào những bằng chứng lịch sử thì nguy cơ chúng ta đang sáng tạo ra “những Đức Kitô cho riêng chúng ta” thay vì theo nhân chứng thật xuất hiện trong Kinh Thánh.
Không chỉ quyết tâm bảo vệ sự cần thiết về việc nghiên cứu lịch sử trong truyền thống Tin Mừng và Chúa Giêsu, Pannenberg còn tin chắc rằng điều quan trọng là không nên giới hạn nghiên cứu lịch sử như thế kỷ XIX và các truyền thống sau đó đã thực hiện qua việc giới hạn, hay không chấp nhận các phép lạ và các sự kiện siêu nhiên khác. Các nguồn lịch sử nói về các phép lạ liên quan đến cuộc đời của Chúa Giêsu, trong đó quan trọng nhất là cuộc Phục sinh. Khi tiến hành nghiên cứu quan trọng về nguồn gốc và cơ sở lịch sử của Kitô luận, theo Pannenberg, người ta không nên quyết định trước những sự kiện nào có thể xảy ra trong lịch sử. Mặc dù chính nghiên cứu lịch sử có thể không bao giờ dẫn ta đến một kết luận cuối cùng về đức tin vào thiên tính của con người Chúa Giêsu, đối với Pannenberg, nhưng nhất thiết phải để sứ vụ phê bình và kiểm tra lịch sử đi tới tận cùng quá trình hay cho đến khi người ta được thuyết phục. Ví dụ như xác nhận phục sinh của Chúa Giêsu là hợp lý, hoặc ít nhất là có thể xảy ra hay không. Vì từ đó, niềm tin vào thiên tính của Chúa Kitô là kết quả của nghiên cứu lịch sử chứ không phải là một chấp nhận mù quáng của đức tin, như lời phê bình từ nhóm hiện đại và chủ nghĩa hiện sinh[8].
Lời phân tích cuối, người ta có thể không cần phải chọn một trong hai phương pháp, theo cách này rồi loại trừ cách khác.
· Người ta có thể có một lối tiếp cận cho cả hai phương pháp. Vấn nạn cơ bản của cách tiếp cận từ trên xuống là nền tảng của đức tin: Làm thế nào để chúng ta biết chúng ta tin vào đúng Đức Giêsu ? Còn những chân dung Giêsu khác có những xác nhận tương tự thì sao?
· Còn vấn nạn cơ bản đặt ra cho cách tiếp cận từ bên dưới là đức tin có thể phụ thuộc vào kết quả thay đổi của nghiên cứu lịch sử, và khách quan là chắc chắn rất khó để thành đạt được. Đối với mục đích hàn lâm, người ta nên phụ thuộc chủ yếu vào cách tiếp cận từ bên dưới, khi cách này vẫn có thể phục tòng lòng cam kết đức tin của mỗi cá nhân. Tuy nhiên, cuối cùng, niềm tin vào thiên tính và những công bố liên quan đến Chúa Kitô là một cam kết thế giới quan rất riêng tư của mỗi cá nhân mà vì thế không thể bị thách đố đương độc qua lối lý luận hàn lâm.
|
Kitô Luận “Từ Trên Xuống”[9] Cơ Bản Thần Luận: • Tin mừng được xem là tài liệu lịch sử do Thiên Chúa phán ra.
• Nhấn mạnh vào sự sa ngã của nhân loại từ ân sủng và cần sự cứu chuộc.
• Thiên Chúa như siêu việt, “trên kia”.
• Chúa Giêsu được hiểu là Lời Thiên Chúa tiền hữu, Ngôi Hai Thiên Chúa Ba Ngôi được Thiên Chúa gửi đến. • Chúa Giêsu hiểu như Ngài ý thức đầy đủ về bản sắc và vai trò của mình từ khi sinh ra. • Chúa Giêsu cứu thế bởi “chết vì tội lỗi của chúng ta” trong một hành động hy sinh hoàn hảo, qua đó thỏa mãn Thiên Chúa và mở những cổng thiên đàng cho nhân loại. |
Kitô Luận “Từ Dưới Lên”[10]
Cơ Bản Thần Luận: • Tin mừng được xem như những chứng ngôn sau Phục sinh được truyền qua cảm hứng. • Nhấn mạnh vào kinh nghiệm sống bản thân, cho người khác, cho Thiên Chúa
• Chúa là bản vị cá nhân, vô thường, “tại đây”. • Chúa Giêsu trước tiên phải được hiểu là một vị thầy và nhà tiên tri người Do Thái ở Palestine vào thế kỷ thứ nhất. • Chúa Giêsu được hiểu như Ngài dần dà lớn lên trong ý thức về bản tính và vai trò của mình • Chúa Giêsu chết trên thập tự giá là hậu quả trực tiếp của các cuộc xung đột với chính quyền Do Thái và La Mã và là sự biểu hiện của tình yêu trọn vẹn. |
Giảng dạy về Chúa Giêsu hôm nay cần thiết phát xuất từ:
1. Kinh Thánh (Bắt nguồn từ học hỏi suy niệm rành mạch). 2. Lịch sử (Nhận thức về sự phát triển giáo điều). 3. Cá nhân (Phản ảnh, trải nghiệm từ tâm linh mỗi người).
|
|
Các mô hình của Kitô học: Ý nghĩa ảnh hưởng đến với tâm linh
Sự hiểu biết của chúng ta về kế hoạch cứu rỗi và vai trò của Chúa Giêsu trong đó sẽ có những ảnh hưởng sâu sắc đến sự hiểu biết và nhận thức của chúng ta về mối quan hệ của Thiên Chúa với chúng ta. Đó là, Kitô học của chúng ta sẽ xác định rất lớn hình dạng tâm linh của chúng ta. Sau đây là một cố gắng so sánh các đặc điểm của linh đạo đặt nền móng giữa hai mô hình: “Kitô học cao” và “Kitô học thấp”. Xin lưu ý: Lược đồ này có vẻ thừa nhận nhấn mạnh tác động tiêu cực của Kitô học cao và phóng đại tác động tích cực của Kitô học thấp. Sự thật, như thông thường, sẽ được tìm thấy trong sự cân bằng giữa hai cách tiếp cận. |
|
"Từ trên xuống" (hướng hạ)
• Giêsu giải cứu chúng ta. Ngài nhận lãnh sự đau khổ cho chúng ta và đã làm hài lòng Cha người. • Chúa Giêsu liên kết chúng ta trở về với Chúa Cha sau khi đã “trục xuất chúng ta ra khỏi vườn địa đàng.” • Chúa Giêsu cứu chúng ta bằng cách chết cho tội lỗi của chúng ta và loại bỏ mặc cảm tội lỗi chúng ta thừa hưởng từ Adam và Eva. • Chúa Giêsu kêu gọi chúng ta chịu đựng cuộc sống, cam kết trung tín nơi Ngài để đấu tranh qua “màn nước mắt” trên cõi thế này. Chúng ta hãy trao phó tất cả cho Giêsu. • Bắt chước hoặc theo chân Chúa Giêsu ngụ ý không chỉ mô phỏng nhân cách của Ngài mà còn kiềm nén bản sắc của chúng ta và xem bản thân chúng ta cơ bản là xấu xa, tội lỗi. • Khuynh hướng nhìn thấy Chúa Giêsu nơi tha nhân bằng cách nhìn qua họ như một thực tế sâu đậm của con người ; tình yêu dành cho tha nhân là nền tảng của sự cam chịu và lòng khoan dung.
• Kitô hữu được đặc trưng bởi lòng khiêm nhường; giá trị duy nhất chúng ta có được từ Chúa Giêsu chết vì chúng ta; không có Chúa Giêsu chúng ta vô giá trị. • Chúa Giêsu là “Lời của Thiên Chúa”, cái chết của Ngài có sức thuyết phục Thiên Chúa về giá trị của chúng ta và giành được sự ưu ái của Thiên Chúa. |
"Từ dưới lên" (hướng thượng)
• Chúa Giêsu làm điều đó trước cho chúng ta. Ngài chỉ cho chúng ta phải làm thế nào, chúng ta cũng phải làm như đó. • Chúa Giêsu tiết lộ Abba, Cha Ngài, Đấng chưa bao giờ và sẽ không bao giờ bỏ rơi chúng ta.
• Chúa Giêsu cứu chúng ta khỏi những hiểu biết sai lầm về ý nghĩa thân phận con người; Ngài “hỏi những câu hỏi đúng”.
• Chúa Giêsu kêu gọi chúng ta hãy ôm lấy cuộc sống và sống một cách trọn vẹn như Ngài đã sống. “Ta đến để các con có thể có cuộc sống và có được cuộc sống thật trọn vẹn.” • “Bước theo sau Chúa Giêsu” có nghĩa là ôm lấy và sống trong bản sắc quý giá và duy nhất của mỗi chúng ta một cách chân thực như Ngài đã sống; chúng ta bắt chước Chúa Giêsu bằng lòng thành thật với chính mình. • Nhìn người khác như Chúa Giêsu đã làm, tức là cùng qua nhận thức và tầm nhìn của Ngài; nhìn thấy Chúa Giêsu trong tha nhân; tình yêu bắt nguồn từ lòng từ bi và tôn trọng sự bí ẩn ở mỗi con người.
• Chúa Giêsu chết vì chúng ta vì Ngài thấy chúng ta đã có một giá trị tuyệt vời; Ngài chết cho chúng ta vì chúng ta xứng đáng được Ngài chết cho; bẩm sinh phẩm giá là điểm khởi đầu của chúng ta. • Chúa Giê-su mạc khải rằng mỗi người chúng ta cũng là “lời của Thiên Chúa” phát ra đúng thời điểm; cuộc sống ta cho thấy tình yêu và sự huyền bí của Thiên Chúa cũng như chính cuộc sống của Chúa Giêsu. |
Các biến cố ngỡ ngàng trong đời sống dẫn đưa
chúng ta đến những suy nghĩ như hai môn đệ làng Emmaus được thuật lại
trong Tin Mừng[11]. Học hỏi Kinh
Thánh và có một tấm lòng sốt mến nhiệt thành vẫn chưa đủ: vì thông
hiểu Kinh Thánh cũng như thành thạo các tín điều chỉ là nguyên tắc,
chưa thể mang lại niềm tin và niềm vui của Thần Khí. Người ta có thể
nghĩ mình biết mọi sự, nhưng rồi chợt nhận ra mình chẳng hiểu tí
gì cả! Cái hố
sâu ngăn cách giữa “trái tim bằng đá” và “trái tim bằng thịt”, giữa
sự “hiểu biết bằng xác thịt” và sự “hiểu biết nhờ Thần Khí” là
như thế đó. Phải có một tác động siêu nhiên qua lại và biện chứng
giữa Kinh Thánh và đời sống đức tin phải được thể hiện chân thật qua
hành động trong môi trường sống hằng ngày của người tín hữu: đời
sống của kẻ có đức tin chỉ có ý nghĩa khi họ được Lời Thiên Chúa
chiếu soi, nhưng Lời Thiên Chúa thì chỉ sống động trong cuộc hành
trình của mỗi người dấn thân vào trần thế.
Như trong cuộc hành trình rất bình thường của hai môn đệ làng Emmaus, việc nhận ra được sự hiện diện kín đáo của Đức Giêsu không phải hiển nhiên mà có được, và cũng không phải chỉ tùy thuộc vào quyết định ta. Hiếm khi Thiên Chúa tự tỏ một cách rõ ràng. Chúng ta có thể khám phá ra Ngài qua các ý nghĩa được che dấu trong các sự việc xảy ra, nhưng chỉ sau đó, khi lòng mình lúc ấy cảm nhận sự nồng cháy.
Sự hiện diện kín đáo nhưng hữu hiệu của Thần Khí giúp con người thấy được khuôn mặt và tầm vóc đích thật của Đức Giêsu, và mạnh mẽ mời gọi chúng ta hành động trong tiến trình làm cho thế giới vạn vật thấy dấu ấn của Con Người đích thật, như Thiên Chúa hằng kêu mời nhân loại, từ thuở nào.
Nguyễn Duy Vũ
(Viết trong tuần Thánh 2020, giữa mùa dịch Coronavirus.)