----- Original Message -----
Sent: Wednesday, December 20,
2017 9:20 PM
Subject: chuyện bên
lề
Minh này, đọc thử bài viết này mà tác
giả là một người CGVN, dân du học ở Pháp, trước 75 có về VN tham chính
trong chính phủ NVThiệu, rồi trở lại Pháp. Ở đấy, ông tiếp tục làm chính
trị kiểu "hòa hợp", viết lách toàn các đề tài chính trị. Nay, trước cảnh
đất nước xâu xé tan hoang, đột nhiên ông bàn về tôn giáo: đề cao sự
gần gủi của Giêsu với Phật Giáo: một điều lạ lẫm với CGVN, vì
quan điểm của tác giả rất gần với lối "đạo Tây", hay "đạo duy lý", xa
rời đạo tông truyền của CG. Cũng nên đọc tiếp phản ứng của một
thầy tu Dòng Da Minh khi đối thoại với tác giả.
Bài dài, nhưng dễ đọc,
chắc chỉ hợp với những ai chú ý đến chuyện đạo, nhất là giữa Phật
Giáo và Thiên Chúa giáo. Cách nhìn khác lạ của tác giả đối với Bài giảng
trên núi và nói chung với truyền thống kytô-giáo cũng có cái hay là giúp ta
suy nghĩ thêm về vấn đề đạo và dân tộc.
Báu,
Chúc mừng Giáng Sinh anh
em ở nhà nha, cầu chúc mọi điều tốt lành cho tất cả, cách riêng
cho người phụ trách "trang nhà" này đã dầy công suốt năm tháng phục vụ liên
lỉ anh em và các bạn bốn phương.
Báu
---o0o----
28/09/2017
Trên Núi Phúc nghĩ về một vết thương của đất
nước
Nguyễn
Gia Kiểng
Chúng
ta cần hòa giải các tôn giáo, nhất là Phật Giáo và Công Giáo, hai tôn giáo đã bị
các nhà cầm quyền Việt Nam cũng như ngoại bang bách hại, đàn áp, phân biệt đối
xử và đặt vào thế đối đầu với nhau. Đã thế, các hiềm khích, hậu quả của một hoàn
cảnh lịch sử trong đó cả hai tôn giáo đều là nạn nhân, thay vì được giải tỏa còn
đôi khi bị thổi phồng và khai thác cho những tham vọng bất
chính.
Giê
Su Kitô chắc chắn đã ý thức được tầm quan trọng của bài ông sắp giảng. Theo sách
phúc âm của Mathieu thì ông đã dẫn các môn đệ và một đám đông lên tận một đỉnh
núi để nói.
Người
ta có thể cảm nhận được điều này khi tới đây. Đỉnh núi này tuy thấp hơn mặt biển
Địa Trung Hải nhưng cao hơn gần 200 mét so với mặt Biển Galilê (Galilee) -còn
được gọi là Hồ Tiberiade- kế cận và đúng là một đỉnh núi so với khu vực chung
quanh. Đám đông và các môn đệ chắc chắn đã phải đi theo Giê Su (Jesus) một đoạn
đường khá xa. Ngay bây giờ, dù dân cư đã đông gấp ít nhất 100 lần so với
lúc đó, chung quanh ngọn núi này, được gọi là Núi Phúc (Mount of Beatitudes),
cũng không có người ở. Giê Su đến từ làng Tabgha cách đó hơn mười cây số. Đỉnh
núi này cống hiến một cái nhìn tuyệt đẹp xuống Biển Galilê và cảnh vật chung
quanh.
Theo
những gì được ghi chép lại thì Giê Su đã bắt đầu bài giảng như sau :
1.
Những ai có lòng thanh bạch là có phúc thật vì Nước Trời là của
họ.
2.
Những ai đau buồn là có phúc thật vì sẽ được an ủi.
3.
Những ai hiền lành là có phúc thật vì thế giới này sẽ là của họ.
4.
Những ai khao khát lẽ phải là có phúc thật vì sẽ được toại
nguyện.
5.
Những ai thương yêu người là có phúc thật vì sẽ được thương yêu.
6.
Những ai có tâm hồn trong sạch là có phúc thật vì sẽ được gặp Thiên
Chúa.
7.
Những ai tạo hòa thuận những con người là có phúc thật vì sẽ đúng là con Thiên
Chúa.
8. Những ai chấp nhận chịu nạn vì lẽ phải là có phúc
thật vì Nước Trời là của họ.
Bài
giảng này được gọi là "Bài
Giảng Trên Núi" (Sermon
sur la Montagne, Sermon on the Mount). Có thể nói cùng với
kinh Lạy
Chamà
Giê Su dạy dân thành Jerusalem trên núi Olives, nó tóm tắt triết lý Thiên Chúa
Giáo (*), tương tự như bài giảng Tứ Diệu Đế của Thích
Ca (Shākya) tại vườn Lộc Uyển (Sarnath) đã đặt nền tảng cho triết lý
Phật Giáo.
Bài giảng này đã là chủ đề của vô số giải thích và bình luận mang tính thần học.
Ở đây người viết chỉ tự giới hạn trong góc nhìn tư tưởng và lịch sử.
Điều
người ta có thể nhận xét là Nước Trời, hay thiên đàng, được định nghĩa như là
tấm lòng thanh bạch giản dị không thèm muốn (câu số 1), là sự trung thành với lẽ
phải và không thỏa hiệp với sự gian sai dù vì thế mà bị bách hại (câu số 8). Như
vậy, nếu chỉ cần diệt được lòng thèm muốn và sống đúng theo lẽ phải là thoát
được khổ và có thiên đàng, thì thiên đàng chủ yếu là một trạng thái của tâm hồn
có thể đạt tới ngay tại đây. Nghe quen quen, Thích Ca cũng đã nói về Niết Bàn
như thế hơn 500 năm trước.
Còn
Thiên Chúa ? Đấng Tối Cao được định nghĩa như là điều người ta có thể tìm đến
bằng sự trong sạch (câu số 6) và bằng tình yêu thương, bằng sự khước từ hận thù
và bạo lực (câu số 7). Sự trong sạch mà Giê Su nói phải được hiểu là sự trong
sạch tuyệt đối mà người ta chỉ có thể tới gần bằng ánh sáng của sự hiểu biết,
sau một cố gắng lớn để vượt lên được sự u mê. Cũng không khác gì sự tu luyện Bát
Chính Đạo của Phật Giáo.
Điều
cần được nhấn mạnh trong bài giảng này là sự thượng tôn lẽ
phải. Lẽ
phải được coi là tương đương với Thượng Đế. Trước
Giê Su bốn thế kỷ Socrates và Plato cũng đã nói như thế.
Thoạt
nhìn tư tưởng của Giê Su có vẻ khác với Thích Ca ở chỗ Giê Su nói về hạnh phúc
và những gì cần có để đat tới hạnh phúc trong khi Thích Ca nói về sự đau khổ và
những gì cần để thoát khổ. Phật nói về họa trong khi Giê Su nói về phúc. Tuy vậy
đó chỉ là hai mặt của cùng một vấn đề được trình bày theo một thứ tự thời gian
đương nhiên. Thoát khổ cũng là hạnh phúc và trước khi làm đúng phải thôi làm
sai. Bertrand Russell, một trong những triết gia lớn nhất của thế kỷ 20, trong
tác phẩm Lịch
Sử Triết Học Phương Tây (History
of Western Philosophy) đã tưởng tượng ra một cuộc điều trần trước Thượng Đế của
Thích Ca và Giê Su trong đó Thích Ca gọi Giê Su là "người kế thừa của
tôi".
Điều
thực sự khác giữa hai người là Giê Su đã biểu lộ một niềm tin lạc quan khó tưởng
tượng vào lẽ phải trong khi Thích Ca có vẻ thận trọng hơn. Ông nói
: "Những
ai khao khát lẽ phải là có phúc thật vì sẽ được toại nguyện" (câu
số 4).
Nói
cách khác chính nghĩa nhất định sẽ thắng. Ngày nay rất nhiều người nói như vậy
nhưng có bao nhiêu người biết rằng Giê Su là người đầu tiên nói như thế
?
Đây
là một tuyên ngôn chính trị, chính trị hiểu theo nghĩa chân chính của nó là thể
hiện lẽ phải và những giá trị đạo đức trong xã hội. Giê Su cũng lạc quan tin
rằng thế giới sẽ phải dần dần tiến tới hòa bình và thân ái khi ông quả quyết
: "Những
ai hiền lành là có phúc thật vì thế giới này sẽ là của họ" (câu
số 3). Chứ không phải của những danh tướng, của căm thù và bạo lực. Giê Su còn
đẩy sự lạc quan tới mức độ cho rằng "Những
ai đau buồn là có phúc thật vì sẽ được an ủi" (câu
số 2). Tại sao đau buồn lại là có phúc ? Tuy vậy niềm tin này không nghịch lý và
viển vông như nhiều người có thể nghĩ. Giê Su nói về sự đau buồn
của Người
Đúng.
Điều gì an ủi một người đúng khi đau buồn nếu không phải là niềm tin rằng mình
đã làm tất cả những gì phải làm và không làm điều gì sai trái, và như vậy mình
đã đã rất cao cả và đã đến gần Sự Tối Cao, như trong câu số 8. Không chỉ là một
sự an ủi mà còn là một niềm hãnh diện.
Trong
kinh Lạy
Cha,
mà theo sách Mathieu là đoạn sau của Bài Giảng Trên Núi, Giê Su bổ túc thêm
: "Chúng
tôi nguyện Ý Cha thể hiện trên trái đất này cũng như trên Nước
Trời" và "Xin
Cha tha thứ những sai phạm của chúng tôi như chúng tôi cũng sẽ tha thứ cho những
người đã sai phạm đối với chúng tôi".
Bổ
túc để nhấn mạnh thêm rằng lẽ phải có thể và cần được thực hiện ngay trên trái
đất này và sự khoan dung là một bắt buộc trong cuộc sống.
Quan
trọng hơn là câu : "Xin
giúp chúng tôi đừng sa ngã trước sự cám dỗ". Phật
cũng coi sự cám dỗ của lòng tham là căn nguyên của sai lầm và đau khổ. Kinh Lạy
Cha có tính chất của một cam kết long trọng làm sáng tỏ thêm Bài Giảng Trên
Núi.
Có
thể nói Bài Giảng Trên Núi đã là một đột phá tư tưởng rất lớn, đặt nền tảng cho
nền văn minh Phương Tây cận đại đang được phần lớn thế giới chia sẻ. Điều cần ý
thức rõ khi đánh giá một triết lý đạo đức là điều quan trọng nhất trong một tôn
giáo hay một văn hóa không phải là sự có mặt hay vắng mặt của một số giá trị, vì
nói chung thì nền văn minh nào cũng chứa đựng những giá trị như
nhau.
Điều
quan trọng là thứ bậc và trọng lượng tương đối của các giá trị. Trong tư tưởng
của Giê Su, mà phần cốt lõi là bài giảng này, giá trị cao nhất và bao trùm tất
cả là Lẽ Phải với những tên gọi khác nhau tùy bối cảnh của nó như cái Đúng, cái
Tốt, điều Thiện, Luật, Chính Nghĩa v.v. Bốn thế kỷ trước Socrates cũng đã từng
nói cái Đúng là cao nhất, thượng đế mà không đúng cũng không cần nghe theo,
Plato cũng nói luật là cao nhất nên luật phải đúng, một luật không đúng không
phải là luật.
Caiphe
(Caiaphas) và các giáo sĩ Do Thái thủ cựu đã xử oan một người đúng nhưng họ đã
không lầm khi họ coi Giê Su là một người gây rối loạn trong Do Thái Giáo. Quả
thực những điều mà ông rao giảng rất khác, thậm chí trái ngược với Thánh Kinh Do
Thái (Torah). Thượng Đế mà ông đề cao và thường gọi là "cha
tôi" rất
khác với thần Yavhé (Yahweh) của Do Thái Giáo. Yavhé tự xưng là một thần chiến
tranh, ghen tức và sẵn sàng trừng phạt, Thiên Chúa của Giê Su trái lại là một
thượng dế hiền lành, khoan dung và gần gũi với con người.
Giê
Su gần như quan niệm Thiên Chúa là Lẽ Phải mà con người có thể tới gần sau một
cố gắng kiên trì. Có lúc ông đã nói mọi con người đều có Thượng Đế trong mình
(sách Mathieu) và ông cũng thường xác nhận ông và Thiên Chúa chỉ là một. Nhiều
khi Giê Su còn phản bác cả luật Moise (Moses) trong Thánh Kinh Do Thái. Giê Su
biện luận rằng ông không hủy bỏ mà chỉ hoàn tất luật cũ.
Nhưng
thế nào là hoàn tất ? Đây chỉ là một cách chơi chữ. Dưới cái nhìn của một người
nghiên cứu Giê Su gần
như vô
thần. Gần
như thôi
vì Giê Su thực sự tin có một thượng đế sống động thể hiện Lẽ Phải ; trên thập
giá trước khi chết có lúc ông than thở"Cha
ơi sao Cha nỡ bỏ con ?",
có lúc ông lại xin Thiên Chúa tha tội cho những người giết ông
: "Xin
Cha tha thứ cho họ, họ không hiểu những gì họ làm".
Về
quan niệm Thượng Đế, cũng là điểm cốt lõi của mọi tôn giáo, Giê Su Kitô rất gần
Thích Ca Mâu Ni. Quan điểm của Giê Su về đời sau và thiên đường -mà ông gọi là
Nước Trời- với sự phán xét và thưởng phạt theo những gì mà mỗi người đã làm
trong đời này -công đức cũng như tội lỗi- cũng là một du nhập từ thuyết luân
hồi, nhân quả hiện diện một cách mạnh mẽ trong Phật Giáo chứ không có trong Do
Thái Giáo.
Một
điểm giống nhau quan trọng khác giữa Phật Giáo và Công Giáo là các tu viện. Phật
Giáo và Công Giáo là hai tôn giáo duy nhất có những người tách hẳn khỏi đời
thường, từ chối mọi tiện nghi để sống cuộc đời tu hành độc thân khổ hạnh hoàn
toàn cống hiến cho suy tư và đức tin tôn giáo. Tôi đã thăm tu viện trên Núi Cám
Dỗ (Mont de la tentation, Mount of Temptation), nơi Giê Su đã từng nhịn đói 40
ngày, và đã gặp những tu sĩ như thế. Họ hoàn toàn tự cô lập với thế giới bên
ngoài, ăn uống ở mức tối thiểu cần thiết và không nói nữa vì lời nói không còn
cần thiết khi nội tâm đã là tất cả. Đây là một điều mà không ai có thể chối cãi
rằng Công Giáo đã lấy từ Phật Giáo.
Trên
rất nhiều điểm căn bản Phật Giáo và Thiên Chúa Giáo, nhất là Công Giáo, giống
nhau. Thiên Chúa Giáo đã là kết quả của sự găp gỡ giữa Phật Giáo và Do Thái Giáo
trong đó Phật Giáo là phần chính, Do Thái Giáo là phần phụ. Bertrand Russell
hoàn toàn có lý khi coi Giê Su Kitô là người thừa kế của Thích Ca Mâu
Ni.
Điều
rất đáng ngạc nhiên là rất ít người Việt Nam, kể cả các học giả, nhìn thấy quan
hệ mật thiết và huyết thống giữa Phật Giáo và Thiên Chúa Giáo, nhất là Công
Giáo, mặc dù đây là một sự
thực lịch sử hiển
nhiên, ngoài sự tương đồng về tư tưởng như ta vừa thấy.
Trước
hết hãy nhìn lướt qua lịch sử thế giới. Các tôn giáo và các triết lý bao giờ
cũng ít nhiều là sản phẩm của thực trạng xã hội vào lúc và ở nơi mà chúng xuất
hiện, ngay cả khi chúng được coi là vượt thời gian và không gian. Chúng được lập
ra để giải quyết những khó khăn của cuộc sống. Đó đã là trường hợp của Phật
Giáo. Những cuộc chiến tàn khốc và liên tục giữa vô số các vương quốc dần dần đã
khiến người ta ghê tởm bạo lực và tội ác và đi đến niềm tin rằng tội ác phải bị
trừng trị. (Gần như toàn bộ dòng họ Thích Ca bị tàn sát ngay trong lúc ông còn
sống). Thuyết luân hồi –đã có từ trước- vì thế mạnh lên, người ta tin rằng tội
ác phải bị trừng trị bởi vì người ta mong nó bị trừng trị. Không phải một mình
Thích Ca mà hàng ngàn hàng vạn người trong giai cấp quý tộc và chiến binh thời
đó đã bỏ nhà đi tu, hành hạ thân xác mình để chuộc tội. Điều khác biệt nơi Thích
Ca là ông đã nhìn ra con đường giải thoát và đạo Phật ra đời như một giải pháp
cho bể khổ trong đó xã hội Ấn Độ đang chìm đắm.
Cùng
một hoàn cảnh đã xẩy ra cho vùng đất Hy Lạp hai thế kỷ sau. Những cuộc chiến
liên tục giữa các thành quốc, rồi cuộc chiến tranh bành trướng của Alexander và
sự sụp đổ của đế quốc Alexander sau đó đã khiến xã hội Hy Lạp tan tành trong một
tình trạng tang tóc và khổ cực tuyệt đối. Đó cũng chính là lúc mà Phật Giáo được
truyền bá sang Hy Lạp và gần như tức khắc được chấp nhận. Phật Giáo Hy Lạp,
nghĩa là Phật Giáo thích nghi với văn hóa Hy Lạp, đã là tư tưởng chính của vùng
này trong hơn bẩy thế kỷ. Sự hòa nhập giữa Phật Giáo và văn hóa Hy Lạp có thể
nhìn thấy trên các tượng Phật : tất cả đều được đúc theo nghệ thuật Hy Lạp. Giai
đoạn này cũng chính là giai đoạn mà vùng đất Cận Đông -trong đó có Do Thái,
Palestine, Jordan, Syria, Lebanon- bị chinh phục và thống trị bởi đế quốc của
Alexander, rồi đế quốc La Mã với cùng một văn hóa.
Khi
Giê Su ra đời, ảnh hưởng áp đảo của văn hóa Hy Lạp – La Mã, trong đó Phật Giáo
là tư tưởng tôn giáo chính, đã kéo dài ba thế kỷ. Càng áp đảo vì ngoài sự chiếm
đóng còn có sự gần gũi về địa lý. Hy Lạp không xa Palestine. Sự trao đổi vốn đã
mạnh từ lâu. Sau này khi Giê Su đã bị bách hại, mẹ ông là bà Maria cũng sang Hy
Lạp (phần phía Châu Á, nay thuộc Thổ Nhĩ Kỳ) và sống những năm cuối đời ở đây.
Tư tưởng Phật Giáo cũng đã được chấp nhận tại vùng này vì cùng một lý do khiến
nó đã được chấp nhận tại Ấn Độ : chiến tranh, tang tóc và khổ cực. Nhìn những
thành quách La Mã đồ sộ được xây dựng khắp nơi người ta có thể hình dung dân
chúng thời đó bị đày đọa tới mức độ nào.
Lúc
đó Do Thái Giáo chủ yếu co cụm lại tại miền Nam, trong vùng Judée (Judea) chung
quanh thành Jérusalem. Tại miền Bắc, vùng Galilê chung quanh Biển Galilê, ảnh
hưởng của văn hóa Hy La áp đảo. Thành phố lớn nhất là Tiberiade, mang tên hoàng
đế La Mã Tibère (Tiberius), và Biển Galilê được gọi là Hồ Tiberiade. Giê Su lớn
lên và giảng đạo trong vùng này. Ông chỉ tới Jerusalem năm lần trong suốt cuộc
đời, mỗi lần là một cuộc đụng độ với các giáo sĩ Do Thái chính thống tại
Jerusalem. Lần cuối cùng ông bị sát hại. Ảnh hưởng của Phật Giáo lên ông là điều
hiển nhiên và giải thích những tương đồng giữa Phật Giáo và Thiên Chúa Giáo mà
một phần vừa được trình bày. Ngày nay người ta ít thấy những di tích vật chất
của Phật Giáo tại Hy Lạp cũng như tại Cận Đông vì một đặc tính của Phật Giáo
Nguyên Thủy (Theravada) là nó thấm nhập vào tư tưởng rồi được hòa nhập vào một
tôn giáo khác, Ấn Giáo tại Ấn Độ, Thiên Chúa Giáo tại Hy Lạp và Cận
Đông.
Trên
đỉnh Núi Phúc tôi liên tưởng đến đất nước mình.
Thảm
họa Formosa đã quá kinh khủng và tác hại của nó sẽ còn kéo dài nhưng nhà máy
thép Formosa vẫn còn đó để tiếp tục đe dọa phá hoại môi trường. Tại sao lại chỉ
có đồng bào Công Giáo của giáo phận Vinh phản ứng mặc dù họ chỉ là một thiểu số
8% ? Giải thích thông thường là Công Giáo là cộng đồng duy nhất có tổ
chức.
Đồng
ý, nhưng tại sao phần còn lại của quần chúng không hưởng ứng dù họ cũng là nạn
nhân không khác gì người Công Giáo ? Sự kìm kẹp của bộ máy công an đồ sộ chỉ là
một lý do và cũng không phải là lý do chính. Lý do chính là chính là sự cô lập
của Thiên Chúa Giáo với phần còn lại của dân tộc. Đây là một vết thương vẫn chưa
lành của dân tộc ta, hậu quả những chính sách và ý đồ bất chính trong đó Phật
Giáo đã bị lạm dụng.
Sự
kỳ thị đối với Thiên Chúa Giáo không chỉ bắt đầu từ thời vua Minh Mạng. Chỉ ít
lâu sau khi tới Việt Nam Thiên Chúa Giáo đã gặp phản ứng thù ghét dữ dội của Nho
Giáo. Thiên Chúa Giáo không chỉ đem đến những giá trị mới mà còn phân biệt rõ
rệt Vua và Trời, và tôn thờ Giê Su như là con duy nhất của Trời trong khi đối
với Nho Giáo vua chính là con Trời và thay Trời trị nước.
Giê
Su từng nói hãy
trả cho César những gì của César và trả cho Thiên Chúa những gì của Thiên
Chúa. Điều
này không thể chấp nhận được đối với giới nho sĩ. Họ là một giai cấp sinh sống
nhờ chế độ quân chủ tuyệt đối. Họ đã chấp nhận làm những tôi tớ vô điều kiện cho
các vua chúa, kể cả phạm tội ác, để có miếng ăn và địa vị trong một xã hội nô
lệ. Phản ứng dữ dội của họ đối Công Giáo là một phản ứng tự vệ nghề nghiệp.
Trước hết bằng bạo lực qua những đợt cấm đạo đẫm máu từ thời Trịnh-Nguyễn phân
tranh và bùng phát trở lại dưới thời Minh Mạng và Tự Đức ; sau cùng là các cuộc
tấn công các làng công giáo của các nhóm Cần Vương và Văn Thân.
Việt
Nam đã là nước cấm đạo hung bạo nhất và có nhiều người tử đạo nhất, bởi vì Việt
Nam còn tôn sùng Nho Giáo hơn cả Trung Quốc. Nước ta đã bị Trung Quốc đô hộ
trong hơn một ngàn năm và sau đó các triều đại kế tiếp nhau đã cố gắng áp đặt
văn hóa Khổng Giáo, nhưng Trung Quốc ít ra còn có một vài xét lại, Việt Nam thì
chỉ hoàn toàn rập khuôn.
Giới
nho sĩ chống Công Giáo dĩ nhiên cũng đã sử dụng vũ khi tuyên truyền. Họ đã viết
ra hoặc truyền miệng vô số chuyện bịa đặt để bôi nhọ và gây ác cảm đối với đạo
Công Giáo. Một thí dụ điển hình là cuốn Tây
Dương Gia Tô Bí Lục viết
ra từ đời nhà Nguyễn mà chính quyền cộng sản đã cho in lại và phổ biến năm 1980.
Cuốn sách hoàn toàn không có một giá trị tài liệu hoặc lý luận nào nhưng phá mọi
kỷ lục về hạ cấp và thô bỉ.
Một
thí dụ khác là sự vu cáo rằng Công Giáo đã là dụng cụ để thực dân Pháp thôn tính
nước ta. Hoàn toàn dựng đứng, giáo hội Công Giáo đã bị tàn sát và loại bỏ hẳn
khỏi chính quyền Pháp từ sau Cách Mạng 1789. Đôi khi họ cũng tham khảo lịch sử
Thiên Chúa Giáo nhưng chỉ để tìm những chi tiết có thể xuyên tạc để bôi nhọ.
Cuộc chiến tranh tuyên truyền này vẫn tiếp tục sau khi chính sách cấm đạo đã
chấm dứt.
Dĩ
nhiên họ cũng đã cố gắng lôi kéo Phật Giáo. Phật Giáo tuy không phải là tôn giáo
của đa số người Việt Nam như nhiều người lầm tưởng nhưng là một tôn giáo đã đồng
hành thân thiện với dân tộc trong suốt dòng lịch sử và mọi người Việt Nam dù
theo tôn giáo nào hay không có tôn giáo đều ít nhiều là Phật tử. Xung đột với
Phật Giáo cũng gần như xung đột với dân tộc. Các nho sĩ chống Công Giáo vì thế
phải tìm cách đặt Phật Giáo vào thế xung đột với Công Giáo. Họ lập luận rằng
Phật Giáo là tôn giáo của dân tộc ta từ ngàn xưa nay đang bị một tôn giáo ngoại
lai cạnh tranh và đe dọa. Nhưng họ không thành công. Phật Giáo không hề mâu
thuẫn với Công Giáo, ít nhất cho tới năm 1945. Lý do là vì họ không có lập luận
nào thuyết phuc. Hơn nữa Nho Giáo đã chèn ép và miệt thị Phật Giáo trong suốt
năm thế kỷ từ cuối đời nhà Trần nên không còn tư cách nào để vận dụng Phật Giáo.
Sự miệt thị này thông thường đến nỗi không ai ngạc nhiên khi một người khả ái
như Bà Huyện Thanh Quan có thể viết khi thăm chùa Trấn Quốc "Khéo
ngẩn ngơ thay lũ trọc đầu !".
Thời Pháp thuộc trái lại đã là giai đoạn mà Phật Giáo được kính trọng và được tự
do phát triển.
Nói
chung, cho tới năm 1945 giữa Phật Giáo và Công Giáo không hề có xung khắc. Sự
chia rẽ giữa Phật Giáo và Công Giáo chỉ có thực và trở thành nghiêm trọng sau
năm 1945. Đảng Cộng Sản coi Công Giáo là một kẻ thù không thể thu phục và dùng
mọi thủ đoạn và phương tiện để cô lập, kể cả cho cán bộ đội lốt ni sư để sách
động Phật tử và quần chúng chống Công Giáo. Lần này Đảng Cộng Sản có khá nhiều
đồng minh : những người vốn đã ghét đạo Công Giáo vì tự coi là con cháu tinh
thần của các vị Cần Vương – Văn Thân, những trí thức thân cộng –dù là vì thích
chủ nghĩa cộng sản hay vì lầm tưởng Đảng Cộng Sản chỉ tranh đấu vì độc lập của
dân tộc-, trình độ dân trí của dân ta còn thấp và dễ bị lung lạc, và sau cùng là
sự vô ý thức hoặc vụng về của những người lãnh đạo phe quốc gia, điển hình là
chính quyền Ngô Đình Diệm.
Ngoài
ra cũng phải nói tới trách nhiệm của chính nhiều người Công Giáo và ngay cả một
số tu sĩ. Vì bị cô lập, họ đã có phản xạ co cụm thay vì mở ra, hơn thế nữa đôi
khi còn cao ngạo, như buộc người ngoại đạo phải theo đạo nếu muốn kết hôn với
một người có đạo v.v. Cách ứng xử sai lầm này góp phần không nhỏ tạo ra dị ứng
cho phần còn lại của xã hội. Cuối cùng Đảng Cộng Sản đã khá thành công trong
việc chia rẽ Công Giáo và Phật Giáo. Vết thương của thời kỳ cấm đạo chưa kịp
lành thì lại bị mở ra và vẫn còn chẩy máu.
Ngày
hôm nay Đảng Cộng Sản lại càng có lý do để chia rẽ Công Giáo và Phật Giáo. Họ đã
kiểm soát được Phật Giáo. Họ cần cô lập Công Giáo, thành phần dân tộc đoàn kết
nhất, có lập trường đối lập quả quyết nhất và đáng ngại nhất đối với
họ.
Người
Công Giáo tuy chỉ là 8% dân tộc nhưng mọi kinh nghiệm đấu tranh chống độc tài
trên thế giới đều đã chứng tỏ rằng chỉ cần một khối người 3% có quyết tâm là đủ
để giành thắng lợi với
điều kiện là khối người này không bị cô lập. Phá
vỡ được thế cô lập của người Công Giáo, xóa bỏ được mâu thuẫn giữa Phật Giáo và
Công Giáo, hòa giải được Công Giáo với dân tộc là chúng ta đã không chỉ hàn gắn
được một vết thương lớn của dân tộc mà còn thay đổi hẳn bài toán dân chủ
hóa.
Không
hề có mâu thuẫn về niềm tin và đạo lý giữa Phật Giáo và Công Giáo. Hai tôn giáo
này thực sự là anh em và cũng chưa hề xung đột. Điều này cần được nói ra và đáng
lẽ đã phải được nói ra và chia sẻ từ rất lâu rồi. Sự chia rẽ chỉ là giả tạo do
Đảng Cộng Sản cố tình gây ra trong mục đích chia rẽ dân tộc để thống trị. Nó
phải bị tố giác, lên án và xóa bỏ.
Nguyễn
Gia Kiểng
(28/09/2017)
(*)
Giáo Hội Công Giáo Việt Nam có dịch đoạn này thành kinh Phúc
Thật Tám Mối,
nhưng bản dịch này vì đã quá xưa nên không sát nghĩa và dễ gây hiểu lầm cho
người bình thường. Giê Su giảng bài này vào khoảng năm 30, một thời gian ngắn
trước khi bị bắt và bị đóng đinh trên thập giá tại Jerusalem. Lúc đó Giê Su
khoảng 35 tuổi và đang là một giáo sĩ đạo Do Thái (Rabbin/Rabbi).
Kinh Lạy
Cha theo
phúc âm Mathieu là một đoạn của bài giảng này nhưng một số tài liệu khác lại nói
là Giê Su đã dạy kinh Lạy Cha tại đỉnh núi Olives, có thể ít lâu sau đó, trước
khi mắc nạn.
Tagged
under
mardi,
10 octobre 2017 15:50 posted
by Nguyễn Đình
Con rất cảm ơn ông vì đã phản hồi. Con cũng xin lỗi vì mấy hôm nay con
không có thời gian online.
Con tên là Phêrô Nguyễn Đình, tu sĩ Dòng Đaminh,
đang học "vở lòng" chương trình Thần học.
Con xin có 2 góp ý nhỏ
này:
Thứ nhất, theo quy điển Do-thái giáo, Ngũ Thư (5 cuốn đầu tiên của
Cựu Ước) là nền tảng, là LUẬT "SỰ SỐNG" của người Israel. Điều
quan trọng là đọc Ngũ Thư không phải như đọc 1 tác phẩm văn chương hay 1 bộ lịch
sử dân tộc... Theo những gì con học, nếu nói Yaweh chỉ là thần chiến tranh, hay
ghen tương thì ...tội nghiệp cho Yaweh quá. Theo ngữ âm Kinh Thánh (chưa nói đến
ý nghĩa), Yaweh còn được ví như "núi đá" (cho tôi nương ẩn), như 1 "Đức Đại
Vương" công minh... và còn nhiều nữa. Nhưng tại sao dân Israel lại ví
Yaweh như vậy? Và quan trọng hơn, THEO QUAN NIỆM CỦA NGƯỜI Israel, họ nghĩ Yaweh
là ai và như thế nào? Và tác giả soạn Ngũ Thư muốn truyền đạt điều gì cho độc
giả của ông?
Theo những gì con được học cho tới bây giờ, con vẫn không
đồng ý xem Yaweh đơn thuần là thần chiến tranh, hay ghen tương.
Thứ hai,
con đã hỏi 2 giáo sư (1 chuyên về Ngũ Thư, Kinh Thánh - Tiến sĩ ở Giêrusalem; 1
chuyên về Thần học-Tiến sĩ Angelicum-Roma, có 38 năm học hỏi, giảng dạy, nghiên
cứu ở đó) về vấn đề Phật giáo ảnh hưởng lên Hy Lạp, cả 2 đều phủ nhận quan niệm
này trong giới học thuật. Con vẫn đồng ý giữa Phật giáo và Công giáo có nhiều
điểm tương đồng, nhưng nếu nói Công giáo xuất phát từ Phật giáo thì con vẫn chưa
chấp nhận được (có thể đây là ý kiến chủ quan vì con là người Công giáo..hi).
Con sẽ cố gắng học hỏi thêm.
Còn 1 điểm nhỏ nữa, ở 1 góc độ nào đó, "Bài
giảng trên núi" là nền tảng tư tưởng của Đức Giêsu theo Tin mừng Matthew thì có
thể chấp nhận được. Vì 4 Tin mừng hướng tới 4 nhóm độc giả khác nhau và với mục
đích khác nhau. Theo con Bát phúc chưa diễn tả hết nền tảng Kitô giáo (theo cách
gọi của chúng con là Kitô giáo, christianism, christ hay christus, i:
kitô).
Cuối cùng, con xin cám ơn ông vì những tác phẩm ông giới thiệu.
Con sẽ có gắng tìm hiểu thêm.
Kính mến,
Pet. NguyễnĐình,
OP.
jeudi,
05 octobre 2017 09:30 posted
by Nguyễn Gia Kiểng
Bạn Nguyễn Đình thân,
Trước hết xin cảm ơn bạn đã đọc bài viết của tôi
và nêu ý kiến để trao đổi. Chúng ta cứ coi nhau như anh em là quý rồi. Cũng xin
lỗi bạn đã trả lời trễ. Tôi đã không để ý là có một ý kiến đóng góp cho đến khi
được ban biên tập thông báo. Những câu hỏi bạn nêu ra rất lớn, muốn thảo luận
đến nơi đến chốn thì vài cuốn sách chắc cũng không đủ. Chỉ xin đưa một vài gợi
ý.
Về ảnh hưởng của Phật Giáo lên Hy Lạp trong bẩy thế kỷ các bộ sử thế giới
đều chỉ nói sơ sài thôi, không nhiều hơn những gì tôi đã viết trong bài. Nhưng
bạn có vào Google và tìm "Greco Buddhism" sẽ thấy nhiều dữ kiện hơn và cũng có
reference những tài liệu để đọc. Có một cuốc sách rất hay về chủ đề này: cuốn
Những Nhà Tư Tưởng Lớn của Ấn Độ (Les Grands Penseurs de l'Inde). Nguyên tác
tiếng Pháp, có dịch ra tiếng Anh với tựa đề: Indian Thought and Its
Developments.
Như tôi đã viết, tư tưởng Phật Giáo, đã được truyền sang Ấn Độ
và được tiếp nhận nhanh chóng do hoàn cảnh lịch sử. Nó đã làm nẩy sinh các triết
lý như Cynicism, Stoicism. Đây không phải chỉ là những triết lý mà còn là những
tôn giáo bởi vì đồng thời cũng là những nếp sống. Về tư tưởng chúng rất gần với
Phật Giáo. Trong gần như cùng một thời gian Đế Quốc Hy Lạp chiếm được vùng Cận
Đông và tư tưởng "Greco Buddhism" được truyền sang vùng này góp phần làm nẩy
sinh ra Thiên Chúa Giáo. Thiên Chúa Giáo (Christianism) là tên gọi chung của
Công Giáo và Tin Lành.
Theo tôi thì Nước Trời, Thiên Đàng, Niết Bàn,
Thượng Đế, Đấng Tối Cao là những điều mà con người chỉ có thể hình dung thôi,
tôi viết "định nghĩa" theo ý đó. Bạn có thể đúng hơn nếu dùng tiếng khác.
Bài
Giảng Trên Núi là một đột phá tư tưởng rất lớn. Như vậy là đã quá phong phú rồi.
Những tài liệu khác của Tân Ước chủ yếu có mục đích triển khai những tư tưởng
trong bài giảng này. Nó đặt nền tảng cho tư tưởng Thiên Chúa Giáo cũng tương tự
như bài giảng Tứ Diệu Đế của Phật Thích Ca tại Sarnath đặt nền tảng cho tư tưởng
Phật Giáo.
Tôi đọc về Yahveh trong các cuốn kinh thánh, gồm cả Cựu Ước và Tân
Ước. Tôi có một số kinh thánh bằng tiếng Pháp và bằng tiếng Anh. Các đoạn noi về
Yahveh mà tôi nhắc lại có trong Exodus chương 15 (thần chiến tranh) và chương 34
(Ghen tức)
Tôi chỉ đọc Bài Giảng Trên Núi trong phúc âm Matthew trong các bản
kinh thánh bằng tiếng Pháp và tiếng Anh mà tôi có. Các bản này có hơi khác nhau
(ngay cả giữa các bản cùng ngôn ngữ) nhưng không mâu thuẫn. Kinh nghiệm cũng cho
tôi niềm tin rằng trong tiếng Pháp và tiếng Anh có những tác giả và tác phẫm rất
đáng tin.
Thân mến,
Nguyễn Gia Kiểng
lundi,
02 octobre 2017 15:03 posted
by Nguyễn Đình
Xin chào tác giả Nguyễn Gia Kiểng,
(Trước tiên, để tỏ lòng kính trọng
và thân mật, xin phép được gọi bằng Ông - xưng con)
Con đã đọc tác phẩm
Tổ Quốc Ăn Năn và hầu như tất cả bài viết của ông trên trang web này (Con cũng
rất muốn đọc Khai Sáng Kỷ Nguyên Thứ Hai nhưng hiện tại con không có thời gian).
Có thể nói, con rất ngưỡng mộ ông vì kiến thức uyên bác, thâm sâu cũng như tầm
nhìn rộng lớn qua tác phẩm Tổ Quốc Ăn Năn (cụ
thể là qua cách thức hòa giải dân tộc và đường hướng xây dựng một thể chế dân
chủ cho VN). Và không ai có phủ nhận giá trị những bài viết của ông trên trang
web này.
Tuy nhiên, với bài viết này "Trên Núi Phúc nghĩ về một vết
thương của đất nước", con xin thắc mắc một vài điểm liên quan tới tôn
giáo:
Thứ nhất, theo bài viết trên đây, Hy Lạp và Do-thái giáo chịu ảnh
hưởng của Phật giáo và Phật giáo là tư tưởng chính của Hy Lạp trong hơn 7 thế kỷ
(cũng như ý tưởng Phật giáo(chính) + Do-thái giáo(phụ) -> Thiên Chúa giáo).
Xin ông cho biết nguồn tài liệu hoặc dựa vào nền tảng nào để đưa ra những ý
tưởng này? (xin nói thêm, theo con được biết, không có tôn giáo nào gọi là Thiên
Chúa giáo)
Thứ hai,
- Thiên Đàng, Nước Trời, Thiên Chúa, Đấng
Tối Cao được định nghĩa...
Theo những gì con được học, khi nói về Thiên Đàng,
Đức Giêsu nói "Nước Trời được ví như...", đó là cách nói loại suy. Thiên Đàng
hay Thiên Chúa không có định nghĩa "là" cái này hay cái khác.
- Cốt lõi
tư tưởng của Đức Giêsu là bài giảng trên núi (Tám Mối Phúc). Dựa vào đâu, ông
khẳng định điều này, tư tưởng Đức Giêsu không còn gì khác sao?
- Yahweh,
trong tư tưởng của Do-thái giáo, tự xưng là thần chiến tranh, ghen tương, sẵn
sàng trừng phạt... Xin hỏi, ông đã nghiên cứu Torah cũng như Do-thái giáo trong
bao lâu và nguồn tài liệu nào? Phải chăng Yahweh của Do-thái giáo chỉ vậy thôi
sao?
Thứ ba, ông dịch "Tám Mối Phúc" của Matthêu từ ngôn ngữ nào:
Aram, Híp-ri, Hy-Lạp hay
Latin?
Lý do con đưa ra những thắc mắc này: Những luận điểm trên quá xa
lạ đối với con. Con đã hỏi giáo sư một vài luận điểm, nhưng không có câu trả lời
cũng như không có tài liệu nào giúp con tìm hiểu .
Rất mong ông giải đáp
giúp con. Và nếu có thể, xin ông giới thiệu một vài cuốn sách giúp con học hỏi
thêm.
Chân thành cám ơn
ông.
PetDinhNguyen, OP.