Sinh hoạt Ca nhạc - Sân khấu của ĐTV & Học viện DCCT VN ngược dòng thời gian 40 năm về trước ( 1940- 1970) | Trích Hồi ký Lm.Tiến Lộc.
Có nhiều bạn thân quen từ hồi sinh viên, thập niên 70, cách nay đã 50 năm, cho đến nay, vẫn thắc mắc hỏi Pv.Lại tôi về chuyện học kịch nghệ ở dâu [?] mà dám thành lập Ban Kịch THỤ NHÂN Viện Đại Học Đà Lat.
Chỉ biết trả lời học Anh Nguyễn Lập Chí và những Bạn bè thân quen hồi Trung học, trong Ban Kịch như các Anh: Nguyễn văn Minh [Văn Khoa Pháp] - Nguyễn văn Xuyên, Nguyễn đức Diện ... Thực tế là từ các Cha Giáo Đệ Tử Viện Dòng Chúa Cứu Thế Vũng Tầu - Ecole Saint Gerard Cap Saint Jacques, cùng với các Anh Xuyên, Minh, Diện ... Từ thời những chú nhóc 10, 11 tuổi năm 1960. Nhưng Pv.Lại không đủ tư cách và dữ liệu viết về thời kỳ này. Mãi đến nay , được Cha Yuse Tiến Lộc gởi tặng cuốn Hồi Ký của Ngài mới xuất bản tháng 5/2020, nên xin Ngài cho phép trích phần Ca Nhạc và Sân Khấu, bổ sung vào cuốn Ban Kịch Thụ Nhân của Pv.Lại viết tháng 12/1019, để Quý Bạn được...tỏ tường.
Pv.Lại - 16/9/2020.
Trên sàn showbiz
Chú thích: Bài viết được đăng làm nhiều kỳ trong tập san ‘ Duc In Altum’ (1970), sau này ‘ Kỷ yếu An Phong’ in lại khi anh Mã Kim Tòng viết về Đệ tử viện Dòng Chúa Cứu Thế Vũng Tàu ( 2018)
HỒI KÝ Lm. Yuse TIẾN LỘC CssR. (trích)
SINH HOẠT CA NHẠC – SÂN KHẤU của ĐỆ TỬ VIỆN VÀ HỌC VIỆN DCCT VIỆT NAM
NGƯỢC DÒNG THỜI GIAN 40 NĂM VỀ TRƯỚC ( 1940- 1970)
Trở về với thập niên 50 – 60, trong chương trình đào tạo Dòng Chúa Cứu Thế, theo các cha Canada, phần sinh hoạt văn hóa nghệ thuật thể thao là một mục tiêu giáo dục không kém phần quan trọng so với các mục tiêu khác: Trí, Đức, Thể, Mỹ. Vì thế mà đối với chúng tôi, những sĩ tử Dòng Chúa Cứu Thế của hơn 30 năm về trước đã lấy làm hãnh diện vô cùng về những năm vàng son của Đệ tử viện. Hãnh diện về lãnh vực tu đức đã đành nhưng còn cả về âm nhạc, nghệ thuật, thể dục thể thao nữa.
Trước tiên, chúng tôi xin đề cập đến phần âm nhạc.
TRUYỀN THỐNG ÂM NHẠC

Dòng Chúa Cứu Thế có một truyền thống âm nhạc với ca đoàn An Phong, là chi nhánh của Pueri Cantores de Paris chúng tôi được công nhận là thành viên của Hội Les Petils chanteurs à la Croix de Bois de Paris năm 1955. Chúng tôi đã hát hầu hết các bài 3,4 giọng đều hoặc hỗn hợp ( voix mixtes ou e'gales) trong thư mục trình diễn ( re'pertoire) của ca đoàn quốc tế này. Chúng tôi đã hát hầu như tất cả các bài hát đa âm của các nhạc sĩ Việt Nam, từ những bản của Cha Phaolô Đạt đến nhạc sĩ Hùng Lân, Hải Linh… Và kể cả nhạc đời nữa: Cung Đàn Bạc Mệnh ( Hải Linh), Ngày Trọng Đại ( Hoàng Thi Thơ), Con Đường Cái Quan ( Phạm Duy), Hòn Vọng Phu ( Lê Thương), Mẹ Việt Nam ( Phạm Duy). Giọng ca của đoàn An Phong sớm được đưa vào đĩa Microsillon vào những năm 1956 – 1957. Đó là một trong những đĩa hát Thánh ca đầu tiên ở Việt Nam. Truyền thống đó được tiếp nối qua nhiều thế hệ khác nhau, do các linh mục quản nhạc sau đay hướng dẫn: Henri Bạch Văn Lộc, Robert Fortier, Sylvère Drouin, Phan Phát Huồn, Charles-Octave Gagnon, Hoàng Diệp, Paul Anh. Jean Toàn.
Đồng thời với sự cộng tác của các ca trưởng, cũng là những Đệ tử được đào tạo để hướng dẫn ca đoàn. Việc đào tạo không có tính cách chuyên nghiệp, nhưng với một giờ lý thuyết mỗi tuần, nửa giờ tập hát mỗi ngày, cứ thế liên tục ít nhất 7 năm, đủ để giữ vững truyền thống âm nhạc và được trang bị những kiến thức, kinh nghiệm về hợp xướng, nhạc lý, xướng âm và thanh nhạc, một số đông những ca trưởng xuất thân từ Đệ tử viện khi ra đời, đã trở thành những nhạc trưởng, ca trưởng nổi tiếng. Chẳng hạn như các nhạc sĩ Trần Văn Tín (QN), Lê Như Khôi (QN), Lê Hữu Mục (QD), John Trần Văn Quý ( Trùng dưng), Pierre Hùng ( TT), Trần Văn Quý (SV), Bosco Hùng(CTTT), P.Phan, Vũ Nhuận, J. Nguyễn Như Ánh ( Ca Đoàn Hương Xưa), Phạm Long.
Những buổi ‘ tuyển lựa ca sĩ’ là những sinh hoạt phát huy năng khiếu đồng thời cũng là tạo bầu khí vui tươi trong các dịp lễ lạy. Sơ thảo, bán kết, được gói ghém vào giờ…cơm! Chỉ có chung kết mới tổ chức long trọng tại hội trường. Những giọng ca ‘ xuất chúng’ ngay từ lúc còn 10,12 tuổi, được cha Hoàng Diệp ‘ chăm sóc nâng niu’như Quốc Tuấn, Minh Tuấn ( con anh Trần Văn Tín), Lương Thế Vinh…Chỉ cần 3 giọng soprani này là cân bằng lực lượng với các bè khác và bỏ xa các bè soprano của các đoàn giọng nữ hiện nay. Chăm sóc nâng niu vì trước khi ra sân banh mỗi chiều, cha Hoàng Diệp đều gọi các ‘ gà’ soliste của mình vào phòng bắt ngậm xí –mụi và không cho la hét ngoài sân banh (điều này chắc cha Diệp nối tiếp truyền thống của cha Henri Lộc, với món chanh rất ư là chua!).

Nhắc đến giọng soprani xuất chúng thì cũng không thể từ bỏ qua các giọng tenor, basse không kém phần ‘chiến đấu’ như giọng của Vũ Sinh Hiên, Vũ Khởi Phụng( tenor), Bùi Thông Giao, Trần Văn Thưởng (Dũng, basse). Cha đương kim Giám tỉnh Cao Đình Trị, từng là ca trưởng ca đoàn An Phong và cũng là một giọng ténor cừ khôi. Đặc biệt những giờ tập hát, dù trời Vũng Tàu không nắng lắm nhưng ngài ca trưởng tôi đánh nhịp văng cả mồ hôi!!! Hai tay ướt sũng, chắc là có bệnh?
Có ca đoàn thì phải có đàn phụ họa. Các organistes nổi tiếng thời đó ngoài cha Nguyễn Hữu Phú là linh mục đệm orgue số 1, số 2 của Việt Nam ta hiện giờ, phải kể đến Michel Mỹ, Joseph Nguyễn Đức Nhuận, Jos. Huỳnh Công Lợi, Joseph Nguyễn Trường Thái, Matthieu Nguyễn Minh Hiến, Jos. Nguyễn Văn Tấn. Các thứ nhạc cụ khác thì chỉ có anh Thành Tâm và Hoàng Đức, chơi hàng loạt như violon, guitare, saxophone, clarinette, flute, accordéon và trống, maracas, contre-temps, tambourin, triangle, xylophone… nghĩa là trong dàn nhạc có gì, các anh chơi ráo trọi!
Những buổi văn nghệ gia đình, những cuộc thi hợp xướng truyền thống Cécilia- giải thưởng Cécilia là một bức ảnh thánh Cécilia đựơc luân lưu suốt mười mấy năm trời dành cho lớp thắng cuộc đã tạo ra những ca đoàn tí hon của từng lớp Đệ tử viện. Do đó, mỗi lớp đều có ca trưởng, bè trưởng riêng của mình (thời thế tạo anh hùng mà! ). Con số ca trưởng đếm bằng…đốt ngón tay ( chứ không phải trên đầu ngón tay!), nghĩa là hơi nhiều quá!
Chưa kể đến những giọng ca các bè để những lúc có dịp đi chung xe hay họp nhau nơi đâu là chúng tôi có thể cùng nhau hát lại những bài hát cũ với 3,4 bè nhuần nhuyễn như hát dân ca!
Vài giọng ca đã lên đài phát thanh, đài truyền hình (các anh Hùng, Tuấn, Trúc, Nghi, Phạm Long) với ca đoàn Tinh Thần và trung tâm ATAS. Lm. Nguyễn Tự Do cũng đúng lúc kịp thời đưa kỹ thuật âm thanh ánh sáng những nỗ lực nhân sự và nội dung nghệ thuật mang tính ‘ cây nhà lá vườn gia đình An Phong’ để phát huy ngành truyền thông MASS MEDIA, đang được Giáo hội cổ võ.
Là con cái thánh An Phong, truyền thống sáng tác âm nhạc cũng nằm trong máu huyết chúng tôi… Để nối dài ‘ Hội Nhạc Thiên Quốc’ mà thánh An Phong đã đè xướng, các nhạc sĩ sáng tác thuộc Dòng Chúa Cứu Thế cũng đã góp phần vào lịch sử Âm nhạc Thánh ca Việt Nam nhiều bài có giá trị của các cha Nguyễn Văn Vàng, Hoàng Diệp, Nguyễn Hữu Phú, Vũ Văn Thiện ( Thiện Thi), Thành Tâm, Hoàng Đức, Trần Sĩ Tín. Ban Nhạc Vào Đời ( Ban nhạc của Học viện Dòng Chúa Cứu Thế nổi tiếng một thời. Có một bài viết riêng về ban Alleluia và phong trào Nhạc Vào Đời)… rồi các nhạc sĩ sáng tác trẻ nối tiếp với Chu đình Chuyển, Hoàng Phúc, Quang Uy, Xuân Đường v.v…
Quả thật, truyền thống âm nhạc, hợp xướng, sáng tác đã và sẽ vẫn còn là một gia sản lớn được lưu giữ trong gia đình An Phong mỗi dịp họp mặt. Ca đoàn An Phong đã sớm được tiếp xúc với các nhạc sĩ nổi tiếng thời đó, như cụ thân sinh của nhạc trưởng Trần Văn Lý, vốn là một nhạc trưởng cung đình dưới triều vua Khải Định, cụ đốc Đinh Doãn Sắc, cùng đông đảo các nhạc sĩ, nghệ sĩ của nền âm nhạc cải cách Việt Nam ( Lê Thương, Thu Hồ, Phạm Duy, Hùng Lân, Hải Linh) tại Huế cũng như tại Sài Gòn.
Nhà ACCUEIL trước của nhà Dòng Chúa Cứu Thế do cha Dòng Chúa Cứu Thế Canada thành lập vốn là trung tâm văn hóa duy nhất tại cố đô Huế thời bấy giờ. Nhiều buổi văn nghệ và sinh hoạt văn hóa đã tổ chức tại đây.
Tại Sài Gòn và Vũng Tàu năm 1959. Đó là lần đầu tiên cử tọa của Đệ tử viện Dòng Chúa Cứu Thế được nghe những Nụ cười Xiêm, Lòng Mẹ, Đà Lạt trăng Mờ do chính nhạc sĩ Hải Linh điều khiển (hôm đó, trong số ca viên của ca đoàn Hồn Nước có cả mấy anh cựu Đệ tử Dòng Chúa Cứu Thế như anh Lê Minh Đường, nhà sản xuất Ampli và đàn Organ điện tử hiếm có thời bấy giờ- anh cũng là người sáng chế ra bảng ‘ Tin tức điện tử’ đầu tiên, chạy tin bằng đèn tại quảng trường chợ Bến Thành từ thập niên ( 60). Nhờ quen hát hợp xướng nên về sau những bản hợp xướng của nhạc sĩ Hải Linh đã trở thành những bài tủ của ca đoàn An Phong. Ví dụ: Cung Đàn Bạc Mệnh, Ave Maria… và có ít ca đoàn nào dám trình diễn những bài tầm cỡ như thế. Cũng vậy cho những bài trường ca của Hoàng thi Thơ và Phạm Duy.
Tôi còn nhớ lần đi thu thanh tại trung tâm Điện ảnh- gần bên Đài Phát thanh bây giờ- nhạc sĩ Phạm Duy rất ngạc nhiên và thích thú khi nghe chúng tôi, mấy chú học sinh không chuyên nghiệp- từ mới bây giờ là’ ca sĩ nghiệp dư’- đã hát bản Tình Ca của ông với 4 bè. Rồi về sau chúng tôi còn thấy nhiều bài khác nữa trong chương trình hợp xướng của Đài Phát thanh Tự do.

Chúng tôi nghĩ rằng hiện nay có thể vẫn còn có những đĩa hát hoặc băng nhạc của ca đoàn An Phong’ lưu lạc’ đâu đó nơi những người mến mộ. Quý vị nào còn giữ xin đừng thưởng thức một mình, hãy vui lòng cho anh em gia đình An Phong cùng thưởng thức với. Hiện nay đang có một cuốn C.90 đang được lưu hành nội bộ gồm một số bài hát do ca đoàn An Phong hát ( thế hệ Nguyễn Tri Phương, Chợ Lớn). Dĩ nhiên chúng tôi không chỉ trình diễn hợp ca thuần túy mà lắm lúc còn phải lồng các tiết mục vào các vở kịch nữa, hoặc thực hiện dưới hình thức Đại nhạc kịch (như trong Opera Joseph của Méhul) hay nhạc cảnh (Con Đường Cái Quan, Phạm Duy). Và mỗi lần chúng tôi đi làm văn nghệ hay diễn một vở kịch nào đó tại Huế, Nha Trang, Sài Gòn thì ca đoàn An Phong đều được cổ vũ nồng nhiệt. Tôi còn nhớ rõ các vở kịch:
• Hy Sinh, được trình diễn tại rạp Việt Quang, Nha Trang với 6 diễn viên: Sĩ Tín, Kim Văn, Mã Kim Tòng, Vũ Khởi Phụng, Tiến Lộc.
• Tờ Di Chúc, trình diễn tại Huế, sau khi diễn 5 lần tại Vũng Tàu, Sài Gòn với Sĩ Tín, Kim Văn, Thế Vinh, Mã Kim Tòng, Vũ Khởi Phụng, Tiến Lộc, J.B.Minh, Thành Tâm, Jos.Hòa, Paul Soạn.
• Thiếu Nhi Anh Dũng với Emmanuel Tuấn ( soliste soprano) tài tử chính, cùng với Jos. Vị làm rơi lệ bao nhiêu khán giả.
Đi trình diễn nơi đâu thì anh em Đệ tử chúng tôi cũng vừa là ca viên của ca đoàn An Phong, lại vừa là ‘ cu li’ giăng biểu ngữ quảng cáo. Một lần kia chúng tôi diễn vở Tờ Di Chúc tại Sài Gòn ở hội trường Thiên Phước, Tân Định, chúng tôi đã nghe thấy khách qua đường trầm trồ: “ Ô! Ca đoàn từ bên Tây sang mà có cả trăm người trình diễn thế kia!”, có lẽ họ đọc thấy những hàng chữ kẻ trên biểu ngữ quảng cáo ‘ Hàng trăm ca viên thuộc Ca đoàn Pueri Cantores de Paris’. Nghe oai thật! Và thật ra chúng tôi đâu phải mượn danh để lòe thiên hạ, mà thực chất nó là thế, cả hình thức lẫn nội dung!