Đức Tin Trong Thần Học. Tập 1: Kinh Thánh & Lịch sử Giáo hội

3 views
Skip to first unread message

Alphonse Family

unread,
Aug 5, 2018, 8:04:22 PM8/5/18
to Alphons...@googlegroups.com
Đây là bài cũng mới đăng, lấy trên website UB Giáo lý Đức tin trực thuộc HĐGM VN, chia ra làm 2 tập. Hi vọng sẽ giúp ta lược lại những vấn đề cơ bản về Thần học & Đức tin.
MS
----- Original Message -----
From: ut giau
Sent: Monday, July 30, 2018 5:47 AM
Subject: Fwd: Đức Tin Trong Thần Học / GLĐT

Đức Tin Trong Thần Học

26/07/2018

I. Kinh thánh.

        A. Cựu ước. 1/ Từ ngữ. 2/ Ý niệm.

        B. Tân ước. 1/ Tin mừng nhất lãm. 2/ Thánh Gioan. 3/ Thánh Phaolô

II. Lịch sử Giáo hội

        A. Thời các giáo phụ. B. Thời Trung cổ. C. Cuộc Cải cách Tin lành. D. Thời Cận đại

III. Đức tin trong các chuyên ngành thần học

        A. Thần học cơ bản. Các tiền đề dẫn đến đức tin.

        B. Thần học tín lý. 1/ Tin như hành động. 2/ Tin như tập quán: nhân đức tin. 3/ Tin xét về chủ thể và đối thể. 4/ Tín điều và gia sản đức tin.

        C. Thần học luân lý. 1/ Tin và cứu độ. 2/ Tin linh hoạt. 3/ Tin và tuyên xưng. 4/ Những tội trái nghịch đức tin.

        D. Thần học tâm linh. 1/ Sống đức tin. 2/ Trưởng thành đức tin.

Chữ viết tắt. GLCG: Sách Giáo lý Hội thánh Công giáo

---------------------------------------

“Đức tin trong thần học” có thể được hiểu theo nhiều nghĩa. Thần học vốn được quan niệm như là “sự suy tư về đức tin” (cogitatio fidei). Đức tin theo sát tiến trình làm việc của thần học (auditus fidei, intellectus fidei, praxis fidei). Điều này hàm ngụ rằng đức tin là linh hồn của thần học: nếu không có đức tin thì thần học mất ý nghĩa. Mặt khác, nếu đối tượng nghiên cứu của thần học là các chân lý đức tin thì đức tin bao trùm hết mọi lãnh vực của thần học. Tuy nhiên, chúng ta cũng có thể đặt câu hỏi dưới một góc cạnh khác: thần học nói gì về đức tin? Đức tin đã đặt ra những vấn đề gì cho thần học? Đây là đối tượng khảo sát của bài này. Đức tin được thần học nghiên cứu trong nhiều lãnh vực chuyên ngành, và mỗi ngành thường chỉ quan tâm đến vài vấn đề đặc thù; vì thế nên có một cái nhìn tổng hợp.

Trước hết, chúng ta hãy lần lượt duyệt qua những vấn đề liên quan đến đức tin trong Kinh thánh và lịch sử Giáo hội; kế đó, chúng ta điểm qua những khía cạnh của đức tin được bàn trong thần học nền tảng, thần học tín lý, thần học luân ly, thần học tâm linh.

Trước khi vào đề, thiết tưởng nên lưu ý đến việc dịch thuật: fides (fides tiếng Latinh, foi tiếng Pháp; faith tiếng Anh) không nhất thiết có nghĩa là “đức tin”. Đôi khi chỉ là “niềm tin, lòng tin, tín ngưỡng”, hoặc đơn thuần là: “tin tưởng, tín thác”, nghĩa là những thái độ được áp dụng trong cuộc sống hằng ngày[1]. Đây mới chỉ là một nhận xét sơ khởi, bởi vì sau này, thần học sẽ còn phân biệt nhiều hình thức và cấp độ của tin: tự nhiên / siêu nhiên; hành vi / nhân đức; chủ thể / khách thể, vv.

I. Kinh thánh

Ta cũng có thể khẳng định rằng thế giới Kinh thánh cũng có một nét giống với thế giới Việt Nam về phương diện từ ngữ. Thật vậy những từ ngữ nói đến “tin” được áp dụng trong đời sống thường nhật trước khi nói đến những thực tại cao siêu.

A. Cựu ước

1/ Từ ngữ. Hai từ ngữ Do thái thường dùng hơn cả là aman và batak.

a) Động từ Aman, xét theo nguyên ngữ, có nghĩa là: đeo, mang (thí dụ mang đứa con trên tay: Ds 11,12; R 4,16; 2Sm 4,4); theo nghĩa bóng, aman là dựa vào ai, nương tựa, tin tưởng. Do động từ aman mà có thán từ (hay trạng từ) amen, có nghĩa là: đúng thế, chắc rồi, chính xác!

b) Batak nói lên ý tưởng: trông cậy, tín thác. Như vậy, tin có nghĩa là: trông mong, hy vọng, tin tưởng.

Những từ ngữ này được dùng trong đời sống hằng ngày, cách riêng trong bối cảnh của mối tương quan xã hội, nhưng ở đây chúng ta giới hạn vào tương quan giữa con người với Thiên Chúa.

2/ Ý niệm

Những ý tưởng vừa gợi lên (nương tựa, tín thác) của việc tin được kiện toàn dần dần trải qua tiến trình mạc khải của Thiên Chúa cho Israel: thời tổ phụ Abraham, thời xuất hành của Môsê, thời các ngôn sứ, thời các nhà hiền triết[2].

a) Lịch sử bắt đầu với ông Abraham. Hồi ấy ông tin thờ các thần khác. Thế rồi, Thiên Chúa hiện ra với ông, hứa ban cho ông một vùng đất màu mỡ và con cháu đông đúc (St 12,1). Lời hứa ấy xem ra xa vời, nhưng ông vẫn tin vào Thiên Chúa (St 15,6), tin vào lời hứa của Ngài. Ông tin rằng Thiên Chúa trung tín với lời hứa và có khả năng thực hiện. Ông tín thác vào Ngài, và thậm chí sẵn sàng hy sinh đứa con của mình khi Ngài đòi hỏi. Ông trở thành khuôn mẫu của một kẻ có lòng tin (Hc 44,20) và tổ phụ của những kẻ có lòng tin (Rm 4,9-11).

      b) Lịch sử mạc khải Cựu ước bước sang một chặng quyết liệt khi Thiên Chúa can thiệp vào cuộc giải thoát dân Israel ra khỏi cảnh nô lệ Ai cập. Thiên Chúa của các tổ phụ đã thăm viếng đoàn dân đang bị áp bức. Thiên Chúa gọi ông Môse, và hứa sẽ ở với ông trong công cuộc dẫn dắt Israel vào đất hứa (Xh 3,11-15). Ông Môsê đã đáp lại bằng niềm tin (Dt 11,23-29). Ông được đặt làm kẻ môi giới giữa Thiên Chúa với dân: ông thông đạt chương trình của Chúa cho dân, và kêu gọi họ hãy tin vào Chúa, hết lòng tín thác vào Ngài (Ds 14,11; Xh 19,9). Tin có nghĩa là vâng nghe (Đnl 9,23), đáp lại amen (Đnl 27,9-6) với lời Chúa, được biểu thị qua giao ước. Như vậy, tin không chỉ là một lời thưa chấp thuận nhưng còn là thái độ trung thành kéo dài qua năm tháng. Niềm tin thường được lặp lại qua những cuộc tuyên xưng (Đnl 6,4-9; 26,5-9; Tv 78; 105): dựa trên việc kỳ diệu của Thiên Chúa đã làm cũng như thâm tín quyền năng và lòng trung tín của Ngài (Tv 136), dân Israel khẳng định quyết chí dành tất cả tâm trí để yêu mến một mình Thiên Chúa mà thôi.

c) Tin có nghĩa là tín thác vào lời hứa; tin có nghĩa là chấp nhận giao ước, và biểu lộ qua việc tuyên xưng. Các ngôn sứ còn vạch ra những yêu sách khác của đức tin, khi đụng đến những hoàn cảnh khác nhau của lịch sử.

- Hệ luận quan trọng của niềm tin vào Thiên Chúa là từ bỏ các ngẫu tượng. Israel luôn bị cám dỗ chạy theo các vị thần của các tôn giáo của dân láng giềng, nhất là khi niềm tin được gắn liền với những phúc lộc trước mắt: tiền của, hoa màu ruộng đất, thắng lợi quân sự. Khi thấy các dân lân bang được những thành quả ấy, Israel bị cám dỗ muốn chạy theo các thần của họ (chẳng hạn thần Baal) vì nghĩ rằng các thần ấy “thiêng” hơn là Giavê, Thiên Chúa của các tổ phụ. Các ngôn sứ không những tố cáo tội thờ ngẫu tượng (Hs 2,7-15; Gr 2,5-13) bởi vì đó là đồ hư ảo (Gr 2,25), mà cả việc cứu viện các cường quốc bởi vì làm như vậy là cậy dựa vào binh mã nhân loại thay vì tin tưởng vào sự che chở của Thiên Chúa (Hs 1,7; Is 31,1). Các ngôn sứ nhắc nhở dân Israel hãy bình tĩnh tín thác vào Thiên Chúa. Thiên Chúa là đá tảng của dân (Is 44,8; 50,10), Đấng trung tín với lời hứa, mạnh mẽ hơn các thần của Babylonia (Is 44,6; 43,8-12; Tv 115,7-11).

- Đức tin của dân Israel đã trải qua một cuộc thử thách nặng nề khi họ chứng kiến cảnh tàn phá đền thờ và cảnh lưu đày sang Babylonia. Các ngôn sứ giải thích rằng đây là một hình phạt về tội bất trung với giao ước, đã được cảnh cáo nhiều lần. Không phải là Thiên Chúa bỏ rơi Israel, nhưng là Israel đã bỏ Chúa, khi họ tìm sự nương tựa nơi các thế lực nhân loại và ngay cả khi việc thờ phượng của họ rỗng tuếch. Dù nói gì đi nữa, nếu có ai nghi ngờ quyền năng Thiên Chúa trước thảm họa này thì cũng là điều dễ hiểu. Thế nhưng trong hoàn cảnh hầu như tuyệt vọng ấy, các ngôn sứ thời lưu đày đã đào sâu hơn khía cạnh bền bỉ của niềm tin vào Thiên Chúa: tin không chỉ có nghĩa là giữ vững lòng tin tưởng kể cả lúc gặp thử thách, nhưng tin còn có nghĩa là hy vọng bất chấp mọi hoàn cảnh trái ngược. Thật vậy, giữa cảnh nước mất nhà tan, các ngôn sứ loan báo rằng Thiên Chúa sẽ đưa dân trở về quê hương, sẽ tái thiết xứ sở. Để củng cố niềm tin tưởng ấy, các ngôn sứ nại đến chân lý về sự tạo dựng: Thiên Chúa có quyền năng tạo dựng vạn vật từ hư vô, thì Ngài cũng có dư sức để tái lập dân Israel hiện đang tản mát nơi đất khách quê người.

d) Các sách Khôn ngoan mở rộng đối tượng của niềm hy vọng: người tín hữu tin tưởng rằng Thiên Chúa không chỉ hứa ban thưởng những phúc lộc ở đời này (tài sản phong phú, con cháu đầy đàn), nhưng nhất là những điều thiện ở đời sau. Vào giai đoạn cuối của Cựu ước, chúng ta thấy thêm một chiều kích mới của đức tin: tin vào Thiên Chúa kể cả vào những lúc bị thử thách, tựa như ông Giób, và thậm chí ngay cả khi người tín hữu bị bách hại (2Mcb 7; Đn 12,2; Kn 2,3; 3,1-9).

Như vậy, quan niệm về niềm tin được tiến triển dần dần: từ chỗ tín thác vào lời hứa, đến chỗ chấp nhận giao ước; từ việc chấp nhận giao ước đến việc trung thành với giao ước; từ việc trung thành với giao ước đến chỗ mở tầm nhìn đến những thực tại không thuộc thế giới này. Song song với sự kiện toàn ý niệm là sự kiện toàn những tâm tình về phía con người: từ chỗ tin tưởng vào một thần linh quyền năng, đến chỗ lắng nghe Lời Chúa, tuyên xưng những kỳ công của Chúa, trung thành với Luật Chúa kể cả khi phải hy sinh mạng sống.

B. Trong Tân ước

Xét về từ ngữ, Tân ước đỡ phức tạp hơn, bởi vì thường chú trọng vào danh từ pistis[3]. Tuy nhiên, xét về nội dung thì phong phú hơn Cựu ước. Trong Cựu ước, tin là tín thác vào Thiên Chúa hoạt động trong lịch sử của dân tộc. Trong Tân ước, sự can thiệp của Thiên Chúa dồn vào thân thế và công trình của đức Kitô. Tin bao gồm nhiều khía cạnh:

- Tin có nghĩa là chấp nhận sứ điệp mà đức Kitô mang lại, đó là ơn cứu độ được Thiên Chúa ban cho nhân loại qua cái chết và phục sinh của đức Giêsu. Tuy đó là một biến cố lịch sử nhưng nó được diễn tả thành sứ điệp, vì thế nó bao hàm khía cạnh đạo lý. Tin là một hành vi có chiều kích tri thức: chấp nhận sứ điệp được rao giảng qua ngôn ngữ và nếp sống.

- Tuy nhiên, tin không chỉ giới hạn vào lãnh vực hiểu biết. Tin đòi hỏi sự tuân phục, tín thác vào tình yêu của Thiên Chúa được biểu lộ nơi việc trao ban Con của Ngài. Tin cũng kèm theo một cuộc thay đổi não trạng và nếp sống.

Đó mới chỉ là những nét khái quát. Mỗi tác giả Tân ước khai triển một vài khía cạnh đặc thù tùy theo nhu cầu của mỗi giáo đoàn cụ thể.

1/ Trong Tin mừng nhất lãm, tin có ba nghĩa: tin tưởng vào quyền năng của đức Giêsu (x. Mc 2,5; 5,34); chấp nhận Tin mừng mà đức Giêsu rao giảng (Mc 1,15; 16,16.17); chấp nhận chính đức Giêsu.

a) Tin có nghĩa là tín thác vào lòng tốt và quyền năng của đức Giêsu. Điều này được nêu bật nơi thánh Marcô. Tin là điều kiện tiên quyết để Chúa làm phép lạ: họ phải tin tưởng Người. Người không thể làm phép lạ nào ở Nazareth bởi vì dân thiếu lòng tin (Mc 6,5-6). Ngược lại, Người nói với ông Giairô đã mất người con gái: “Đừng sợ; chỉ cần tin thôi” (Mc 5,36).

b) Tin có nghĩa là chấp nhận Tin mừng do đức Giêsu rao giảng. Điều này được thấy ngay từ đầu Tin mừng Marcô: “Thời gian đã viên mãn, và triều đại Thiên Chúa đã gần kề; hãy thống hối và tin vào Tin mừng” (Mc 1,15); cũng như vào lúc kết thúc cuốn sách: “Hãy ra đi khắp thế giới, rao giảng Tin mừng cho mọi thụ tạo. Ai tin và lãnh phép rửa thì sẽ được cứu rỗi” (Mc 16,15-16). Tin vào Tin mừng có nghĩa là chấp nhận rằng Thiên Chúa đã can thiệp vào thế giới nơi bản thân, lời nói và lời giảng của đức Giêsu. Vì thế, ai muốn vào vương quốc Thiên Chúa thì phải chấp nhận những điều kiện mà đức Giêsu đặt ra. Điều này đòi hỏi một cuộc hoán cải, thay đổi não trạng.

c) Tin có nghĩa là chấp nhận bản thân đức Giêsu. Đây là bước thứ ba: từ chỗ chấp nhận lời giảng về đức Giêsu đến chỗ chấp nhận bản thân Người: Người là Chủ tể (Kyrios). Điều này xảy ra sau cuộc Phục sinh, và được nhấn mạnh trong sách Tông đồ công vụ (x.cáckerygma). Dù sao, thánh Luca diễn tả thái độ này qua những hành động cụ thể: đi theo đức Kitô, vác thập giá (Lc 9,23), làm chứng và tuyên xưng (Lc 12,8-9).

2/ Thánh Gioan

Tin chiếm một địa vị nổi bật trong các tác phẩm của thánh Gioan. Động từ pisteuein (tin)được dùng 98 lần trong Tin mừng thứ bốn và 9 lần trong các thư ; còn danh từ pistis chỉ được dùng 1 lần trong 1Ga 5,4 (“Đây là điều làm cho chúng ta thắng được thế gian: lòng tin của chúng ta”). Xem ra thánh Gioan quan tâm đến lối sống hơn là đến đạo lý. Tuy vậy, ở cuối Tin mừng, tác giả viết như sau: “Những điều này đã được ghi chép ngõ hầu anh em tin rằng Đức Giêsu là Đấng Kitô, Con Thiên Chúa, và để nhờ tin mà được sự sống đời đời” (20,31). Chúng ta hãy tìm hiểu ba điểm liên quan đến: đối tượng, bản chất, hiệu quả của việc tin.

a) Đối tượng: tin vào Thiên Chúa và tin vào đức Giêsu (8,31.45.46; 10,37.38; 14.11). Đức Giêsu là Đấng Kitô (11,27; 20,31), kẻ được Chúa Cha sai đến (11,42; 17,8.21), là Con Thiên Chúa (20,31), kẻ từ Chúa Cha mà đến (16,27.30). Chúa Cha với đức Giêsu là một (10,30; 17,21).

b) Bản chất: Thánh Gioan quan niệm “tin” như là một tiến trình gặp gỡ. Cùng với động từ “tin”, tác giả còn dùng những động từ đồng nghĩa tựa như: “đến với” (5,40; 6,35.44ff.65; 7,37), “tiếp đón” (1,12; 5,43), “yêu mến” (8,42; 14,15.21.23f.28; 16,27). Tin là một tiến trình năng động: nó tăng trưởng tiệm tiến, từ những bước khởi đầu đến chỗ hoàn bị, từ chỗ đón nhận đức Giêsu vì phép lạ đến chỗ chấp nhận Người mà không cần phép lạ. Vài thí dụ: 4,46-53 (sĩ quan cận vệ, động từ tin được nói đến ở câu 50 và 53, với hai cấp độ); 4,39-42 (người dân Samaria tin vì nghe lời thuật của người phụ nữ và tin vì nghe lời của Chúa); chương 9 (người mù: so sánh câu17 với câu 38).

c) Hiệu quả. Tin liên quan đến chuyện sinh tử: số phận vĩnh cửu của con người tùy thuộc vào việc tin hay không tin: “Ai tin thì sẽ không bị xét xử, ai không tin thì đã bị xét xử rồi” (3,18). Ai tin vào Con thì được sự sống hằng hữu (3,36; 6,40.47; 20,31). Tin dẫn đến sự sống vĩnh cửu; không tin dẫn tới hư vong. Tin mang tính quyết định đến số phận vĩnh hằng. Tin mở đường đến hạnh phúc đời đời; nhờ tin mà chúng ta biết Chúa, ở lại trong đức Kitô.

Ngoài ra, “tin” và “yêu” liên kết với nhau: tin dẫn đến yêu; nhưng tin cũng là kết quả của yêu, bởi vì tin là kết quả của ơn thánh Chúa. Tin là một hồng ân.

3/ Thánh Phaolo

Tin là vâng theo lời Chúa được biết nhờ việc rao giảng (Rm 10,17; 16,26; 1,5; 2 Cr 9,13; 10,5; 2 Tx 1,8). Ông Abraham là tấm gương của đức tin bởi vì ông vâng theo lời Chúa nói cho ông. Tin là một tâm tư nội tâm nhưng cũng bao hàm việc tuyên xưng bên ngoài miệng nữa (Rm 10,9).

Lời giảng và lời tuyên xưng đều có một nội dung: “Đức Giêsu là Chúa; Người đã chịu chết trên thập giá vì tội chúng ta, nhưng Thiên Chúa đã cho Người chỗi dậy vào ngày thứ ba” (1Cr 15,3; xc.1Tx l,9t; Rm 10,4; Cl 2,12; Ep 1,20; Gl 1,1; Rm 4,25, vv.). Tin mừng là đức Kitô. Phàm ai tin vào Thiên Chúa thì cũng chấp nhận kế hoạch cứu độ của Thiên Chúa được thực hiện nơi đức Kitô. Vì thế Đức Kitô là đối tượng của đức tin.

Đức tin là khởi đầu của tiến trình cứu độ, được đặt tên là “ơn được nên công chính” (công chính hóa). Tuy nhiên sự nhấn mạnh đến chỗ “duy chỉ đức tin mới làm nên công chính chứ không vì giữ luật” (Rm 3,28) đã đưa đến những giải thích cực đoan khiến cho thánh Giacôbê phải lên tiếng (Gc 2,14-16; xem thêm Mt 7,21). Thực ra trong các lá thư, ở phần khuyến thiện, thánh Tông đồ đã nói nhiều đến việc uốn nắn cuộc đời sao cho phù hợp với Tin mừng.

Người ta nhận thấy rằng trong những thư đầu tiên, thánh Phaolô nhấn mạnh đến quyền năng và sức mạnh của Lời Chúa hay của Tin mừng, nhưng trong những thư mục tử, Người bận tâm đến “đạo lý” và khuyên răn Timôthê hãy “giữ gìn đạo lý” (1Tm 6,20; 2 Tm 1,14), “đạo lý lành mạnh” (1Tm 1,10; 2Tm 4,3; Tt 1,9; 2,1). Đây là một “gia sản” (depositum: paratheke) được ủy thác và cần phải giữ gìn cẩn thận.

Tuy ngày nay các học giả không coi thánh Phaolô là người viết Thư gửi người Hipri, nhưng tư tưởng của nó gần gũi với thánh Tông đồ. Tác giả dành trọn chương 11 để trưng bày mẫu gương của các chứng nhân đức tin, với lời mở đầu như sau: “Đức tin là bảo đảm cho những điều ta hy vọng, là bằng chứng cho những điều ta không thấy”. Thánh Tôma Aquinô đã nhận thấy nơi đây một định nghĩa cho nhân đức tin (Summa Theologica, II-II, q.4.a.1), gồm bởi hai yếu tố:

- đối thể: những điều tương lai mà ta trông mong;

- chủ thể: xác tín, kiên trì[4].

Tóm lại, pistis trong Tân ước là một thực thể phong phú bao hàm nhiều khía cạnh.

- Khía cạnh tri thức: hiểu biết về bản thân và sứ điệp của đức Giêsu.

- Khía cạnh tin tưởng vào sự chân thành của Thiên Chúa mạc khải cho chúng ta nơi đức Kitô. Sự tín thác kèm theo niềm hy vọng rằng những lời Chúa hứa sẽ được thực hiện (Dt 11,9-11; Rm 4,17-20; 1Pr 1,5-9). Hy vọng phát sinh sự kiên trì và chung thủy (2Tm 4,7; Rm 1,5; Gl 5,6).

- Hiệu quả: đức tin mang lại đời sống mới (ơn trở nên công chính; thụ tạo mới).

Khi đối chiếu giữa quan niệm “tin” trong Cựu ước và Tân ước, các tác giả nhận thấy sự liên tục và sự mới mẻ. Sự liên tục ở điểm là tin bao hàm thái độ tín thác, tin tưởng vào Thiên Chúa can thiệp trong lịch sử; sự mới mẻ ở chỗ đối tượng của sự can thiệp của Thiên Chúa được biểu lộ cách cụ thể nơi đức Giêsu Kitô: kể từ nay, ai tin vào Thiên Chúa thì cũng phải tin vào đức Giêsu Kitô. Như vậy trong Tân ước, tin mang thêm một chiều kích, đó là chấp nhận Đức Kitô. Điều trớ trêu là khi đọc Tin mừng, ta thấy những người không tin đức Kitô là những người Do thái; họ không phải là người vô thần, và phần lớn rất trung thành với Luật Mosê. Trong bối cảnh ấy, ta dễ hiểu vì sao Tân ước nhấn mạnh đến tầm quan trọng của đức tin, tin vào lời giảng của chính đức Giêsu và lời giảng của Hội thánh. Đức tin cần thiết để được cứu rỗi. Đức Giêsu đã làm nhiều phép lạ để chứng minh sứ mệnh của mình, nhưng phép lạ chưa đủ để tin. Cần thái độ cởi mở, cũng như hợp tác với ân sủng. Ngoài ra, vài vấn nạn khác cũng được nêu lên trong cộng đoàn tiên khởi: tương quan giữa tin và biết, tin và thấy, tin và làm, mà thánh Phaolô, thánh Gioan và thánh Giacobê tìm cách trả lời.

II. Lịch sử Giáo hội

Ở đây chúng tôi không có tham vọng kể ra tất cả những lạc thuyết trái nghịch với đạo lý đức tin, nhưng chỉ ghi nhận vài điểm liên quan đến bản chất của đức tin.

A. Thời các giáo phụ

Có thể chia làm hai giai đoạn, lấy thánh Augustinô làm mốc.

1/ Trước thánh Augustinô. Các giáo phụ nhấn mạnh đến sự quan trọng của đức tin để được cứu rỗi. Đức tin được ấn định qua các “quy luật đức tin” (regula fidei).

Các giáo phụ cũng phải trả lời nhiều vấn nạn của các triết gia đương thời. Vì thế vấn đề tương quan giữ đức tin và triết học được đặt ra. Vài giáo phụ không ngần ngại khẳng định rằng đức tin là cửa dẫn vào “triết học chân chính” (minh triết sophia, gnosis), còn triết học chỉ chuẩn bị cho đức tin. Theo thánh Giustinô, triết học chứa đựng những mầm của “lý” (logos) còn đức Kitô là chính Lời (Logos). Clêmentê Alexandria đặt tên cho đạo lý về Thiên Chúa là philosophia. Nói thế không có nghĩa là coi nhẹ triết học; ngược lại, cần phải dùng triết học để chuẩn bị và bảo vệ đức tin. Origene cũng theo chiều hướng đó, nghĩa là đức tin là đỉnh cao của tri thức, tuy không quên nhấn mạnh rằng tri thức đức tin còn hướng dẫn cuộc sống và các hành vi, đòi hỏi cuộc dấn thân luân lý. Cần thiết phải có những đức tính luân lý, chẳng hạn như tâm tình vâng phục, kiên nhẫn, thì mới có thể đạt đến sự hiểu biết mầu nhiệm. Khuynh hướng huyền bí được phát triển cách riêng nơi các giáo phụ Cappađôxia[5].

2/ Thánh Augustinô

Một trong những đề tài suy tư của thánh Augustinô là tương quan giữa lý trí và đức tin, được phát biểu nơi công thức “intellige ut credas, crede ut intelligas"[6]. Có một tác dụng hỗ tương giữa hai phía. Lý trí giữ vai trò chuẩn bị trí tuệ; đức tin mang đến gia tài chân lý. Cần phải chấp nhận đức tin để có thể nắm bắt được nó, mặc dù đức tin vẫn luôn cần được làm sáng tỏ: "fides quaerit, intellectus invenit". Đức tin thúc đẩy sự suy tư[7]. Đối với thánh Augustinô, sự hiểu biết cao cấp nhất (chân lý) thuộc về đức tin chứ không phải là của lý trí (triết học).

Dù sao, trên đường hiểu biết chân lý đức tin, thánh nhân đặt nặng tác động nội tại của Chúa Thánh Thần. Ngoài ra, ngài cũng nhìn nhận vai trò quan trọng của Hội thánh: “giả như không có thế giá của Hội thánh Công giáo thì tôi sẽ chẳng tin vào Tin mừng được”[8].

Đức tin mang tính năng động: con người tiến gần đến Chúa, gắn bó với Chúa, và sẵn sàng hy sinh những chuyện thế sự vì đức tin. Vì thế khi nói đến đức tin mang lại ơn cứu độ, thì đó không chỉ là chấp nhận chân lý mà thôi, nhưng còn là hoán cải và yêu mến.

Tóm lại, thánh Augustinô đã để lại cho hậu thế nhiều suy tư về hành vi đức tin, và cách riêng là sự phân biệt giữa hai khía cạnh: fides quae )khía cạnh khách thể; nội dung đức tin fides qua (khía cạnh chủ thể; việc chấp nhận đạo lý)[9]. Một thuật ngữ khác là credere Deum, credere Deo, credere in Deum. “Credere Deum” nói đến đối tượng của đức tin; “credere Deo” nói đến động lực của đức tin; “credere in Deum” thêm vào khía cạnh hiện sinh, khi con người ký thác tất cả cuộc đời cho Thiên Chúa.

B. Thời Trung cổ

Tương quan giữa đức tin và lý trí vẫn còn là trọng tâm nghiên cứu của thần học thời Trung cổ. Vào giai đoạn đầu của kinh viện, thánh Anselmô tiếp tục đường hướng của thánh Augustinô qua công thức “fides quaerens intellectum”, dùng lý trí để làm sáng tỏ nội dung đạo lý đức tin. Tuy nhiên dần dần kinh viện áp dụng triết học Aristote để phân tích cấu trúc của việc “tin” (hành vi của lý trí và hành vi của ý chí), và dần dần mất đi chiều kích cứu độ của đức tin. Điều này đã gây ra phản ứng nơi khuynh hướng “thần học đan tu” (theologia monastica) của thánh Bênađô và Bonaventura, nhấn mạng đến sự cần thiết nuôi dưỡng đức tin bằng cầu nguyện, ngõ hầu cảm nghiệm về Thiên Chúa, sống kết hiệp với Ngài bằng tâm tình.

Thánh Tôma Aquinô cố gắng trình bày một cái nhìn toàn diện về đức tin. Tin là một nhân đức hướng Chúa: đức tin nằm trong tiến trình hướng đến ơn cứu độ. Đức tin là khởi điểm của sự sống vĩnh cửu (II-II, q.4,1). Để tin cần có những dấu chỉ khả tín (lời giảng, dấu lạ, lý luận), nhưng chừng ấy chưa đủ. Tin là do chính Thiên Chúa là Chân lý thông ban mình ở bên trong con người [10]. Yếu tố quyết định của đức tin là tác động của ân sủng, được ví như là ánh sáng và bản năng. Sự xác tín đức tin dựa trên ánh sáng ấy chứ không phải do sự hiển minh nội tại. Tuy nhiên, mặc dù ánh sáng đức tin vượt quá khả năng lý trí nhưng không hủy diệt lý trí; trái lại, nó nâng cao lý trí và đưa lý trí đến mục tiêu mà nó nhắm. Cũng nên thêm rằng người tín hữu vào thời Trung cổ nhận được một sự hỗ trợ cho đức tin ở nơi cơ cấu văn hóa xã hội của họ.

C. Cuộc Cải cách Tin Lành

Phong trào Cải cách hồi thế kỷ XVI đã gây ra một sự xung khắc trong Giáo hội về quan điểm đức tin.

Đối với Lutêrô, tin là tin tưởng vào lời hứa của Chúa, và phó thác cho lòng Chúa khoan nhân. Đối với ông, con đường dẫn đến Thiên Chúa không phải là sự suy tư của con người, nhưng là sự tin tưởng vô điều kiện. Ông coi nhẹ giá trị của chân lý; nhưng rồi chủ đề chân lý lại được Melanthon và Calvin quan tâm.

Phản ứng lại quan điểm về niềm tin như là tin tưởng phó thác, Công đồng Trentô nhấn mạnh đến việc lý trí chấp nhận đạo lý mạc khải. Việc chấp nhận này chứng tỏ con người muốn quy hướng về Thiên Chúa, và được triển nở nhờ đức cậy và đức mến, là những thành tố của việc được trở nên công chính. Như vậy, bên Tin Lành nhấn mạnh khía cạnh tin tưởng và phó thác vào Chúa; bên Công giáo nhấn mạnh đến sự chấp nhận đạo lý mạc khải, và như vậy nêu bật khía cạnh tri thức cũng như vai trò của huấn quyền Giáo hội. Thật ra đó là hai khía cạnh của đức tin bổ túc lẫn nhau chứ không trái nghịch nhau. Tiếc rằng bầu khí tranh luận sôi nổi của thời ấy không cho thấy điều đó. Bên Tin lành có lý khi nhấn mạnh đến chiều kích tương quan tín thác; nhưng nếu chỉ dừng lại ở chỗ này thì sẽ đưa đến thái độ chủ quan, như thực sự đã xảy ra. Phía Công giáo có lý khi nêu bật chiều kích khách thể của đạo lý mạc khải, cũng như hoạt động của lý trí và ý chí; nhưng nếu chỉ dừng lại ở đây thì có nguy cơ thu hẹp đức tin vào vào một mớ kiến thức, như thực sự đã xảy ra. Phải chờ những cuộc đối thoại đại kết mới đạt được cái nhìn đa diện như sẽ thấy ở Công đồng Vaticanô II.

D. Thời Cận đại

Lịch sử cận đại bên châu Âu được đánh dấu với nhiều cuộc cách mạng chính trị, xã hội, tôn giáo. Sau cuộc ly khai giữa Công giáo và Tin lành là những cuộc cách mạng chính trị xã hội muốn khai trừ tôn giáo ra khỏi xã hội. Về mặt văn hóa, người ta đề cao vai trò của lý trí và khoa học thực nghiệm, và đồng hóa tín ngưỡng với mê tín. Trong bối cảnh này, thần học bị dồn vào thế phòng thủ, tìm cách kháng cự những công kích của đối phương; đó là lý do của sự phát triển của ngành hộ giáo (apologetica).

Công đồng Vaticanô I tìm cách chứng tỏ rằng đức tin không mâu thuẫn với lý trí. Tuy rằng chân lý đức tin vượt quá sự hiểu biết của lý trí nhưng không phải là phi lý. Có những dấu chỉ bên ngoài giúp cho lý trí xác nhận tính hữu lý của đức tin. Tuy nhiên, động lực tất yếu của đức tin là thế giá của Thiên Chúa là Đấng không thể nào sai lầm và Ngài không lường gạt ai[11].

Trong thế kỷ XX, cách riêng từ sau thế chiến thứ hai, những luồng triết học hiện sinh có khi muốn nhấn mạnh đến tương quan liên bản vị, có khi lại muốn đi tìm ý nghĩa cuộc đời. Công đồng Vaticano II đã nắm bắt khía cạnh tích cực ấy khi phân tích đức tin dưới nhãn giới của đối thoại gặp gỡ cũng như hy vọng, như ta thấy trong các hiến chế Dei verbum[12] và Gaudium et spes. Công đồng cũng đề cập đến phần rỗi của những người không biết Tin mừng, bao gồm các tín đồ thuộc các tôn giáo khác cũng như những người vô tín ngưỡng.

Trải qua lịch sử của Dân Chúa trong Cựu ước và Tân ước, ta thấy TIN đặt ra khá nhiều vấn đề. Không lạ gì mà đề tài ấy được phân tích dưới nhiều góc độ khác nhau trong những chuyên ngành thần học.

Trong phần còn lại của bài này, chúng tôi chỉ mô tả vắn tắt những đề tài được thảo luận chứ không đi sâu vào chi tiết.

(continued)

Reply all
Reply to author
Forward
0 new messages