|
|
Người ta nói với nhau khi câu chuyện chạm đến vấn đề tôn giáo, mà đặc biệt: khi một người được mời vào đạo Công giáo; hay khi người ta có con cháu, bạn hữu đi học giáo lý để gia nhập Giáo Hội. Nói như thế bởi vì trên 90% những người trưởng thành học đạo với tôi trong 15 năm qua đều đã nghe bà cô, bà bác hay anh chị em bạn rỉ tai: "Ðạo nào cũng giống nhau, đạo nào cũng dạy làm lành lánh dữ. Vậy thì cha mẹ theo đạo nào, con cháu theo đạo đó, tội gì phải vào đạo Công giáo. Ðã đi làm vất vả còn phải đi học giáo lý. Ðạo nào cũng giống nhau. Chỉ cần mình sống ngay lành là đẹp lòng Trời rồi."
Những
người nói câu "đạo nào cũng giống nhau" thường là những người thành
tâm, có niềm tín ngưỡng, muốn quý trọng hết mọi đạo. Họ nói câu này với
con cháu, bạn bè như để cho một lời khuyên, một sự thông cảm, một ý kiến
xây dựng, chứ không ngăn cản ai, không có ý phê bình chỉ trích tôn giáo
nào. Ðối với họ đạo nào cũng tốt và cũng đáng kính trọng. Cách đây mấy
năm, tại ga xe hỏa gần Paris, tôi gặp một ni cô, một bà Phật tử và một
bà Công giáo tôi quen biết. Bà Công giáo nói với tôi "Con dẫn ni cô và
bà này đi mua một 'pavillon' để làm Phật đường." Trong câu chuyện dài
không đầy 10 phút, cả ba người đều lần lượt nói rất tự nhiên: "Ðạo nào
cũng giống nhau cả cha ạ!."
Càng
ngày tôi càng xác tín: đây là vấn đề rất quan trọng trong mục vụ giáo
lý. Không một người tân tòng nào lại không được cắt nghĩa tường tận vấn
đề này trước khi quyết định đón nhận đức tin Công Giáo. Và để chu toàn
công việc mục vụ giáo lý này, tôi nghĩ những người có trách nhiệm dạy
giáo lý cho người trưởng thành cần góp ý và trao đổi kinh nghiệm với
nhau. Ðó chính là mục tiêu của những trang viết thô sơ này.
Chúng
ta biết: một cách chung, về phạm vi tôn giáo, thế giới bao giờ cũng
chia thành hai khối lớn: khối hữu thần và khối vô thần. Khối hữu thần
lại chia làm hai, khối độc thần (Do Thái giáo, Kitô giáo, Hồi giáo) và
khối đa thần (Linh hồn giáo, Ấn giáo, Phật giáo, Khổng giáo, Lão giáo
...).
Riêng tại Việt Nam, về tôn giáo nổi bật hai khối:
1. Khối độc thần hay Thiên Chúa giáo (Hồi giáo, Kitô giáo tức Công giáo và Tin lành). Xét về số tín đồ, về sinh hoạt và ảnh hưởng xã hội, Công giáo mạnh hơn cả.
2. Khối đa thần hay Tam giáo (Lão giáo, Khổng giáo, Phật giáo). Vì khó phân biệt tín đồ của mỗi tôn giáo này, cho nên dù "số tín đồ Phật giáo thuần túy" hay đã "qui y tam bảo" không nhiều, cho đến nay Phật giáo vẫn "được coi" là quan trọng và đông đảo tín đồ hơn cả.
Nhận
định trên cho phép chúng ta hạn định việc tìm hiểu câu "Ðạo nào cũng
giống nhau, cũng dạy làm lành lánh dữ" vào việc so sánh Công giáo với
Phật giáo trên ba điểm chính:
1) Người sáng lập đạo.
2) Niềm tin.
3) Sống đạo.
Chúng
ta có thể khẳng định ngay rằng: đối chiếu Ðức Kitô và Ðức Phật, câu nói
"Ðạo nào cũng giống nhau" không đúng. Xét về "Niềm tin," câu vừa nói
cũng không đúng. Vì căn bản của quan điểm về Thiên Chúa (Thượng Ðế
quan), về con người (nhân sinh quan) và về vạn vật (vũ trụ quan) giữa
Công giáo và Phật giáo thật khác nhau. Xét về "Sống đạo", câu nói trên
kia không hoàn toàn đúng, bởi vì trong cách sống đạo giữa Công giáo và
Phật giáo có nhiều điểm giống nhau về sự kiện nhưng lại rất khác nhau về
ý nghĩa. Chúng ta trình bày tóm lược như sau:
I. Ðấng Sáng Lập Ðạo:
Ðiều
phải nói ngay: So sánh Chúa Giêsu với Ðức Phật không có nghĩa là đặt
Chúa Giêsu và Ðức Phật ngang hàng nhau. Nhưng chúng ta có thể theo ý
kiến của Cha Romano Guardini trong cuốn Le Seigneur, ngài viết: "Il n'y a
qu'un personnage qui pourrait donner l'idée de le rapprocher de Jésus,
c'est Bouddha" (Chỉ có một nhân vật có thể gợi lên ý tưởng xích gần
người lại với Chúa Giêsu, đó là Phật Thích Ca) 1.
Rồi cũng chính Cha Romano Guardini trong cuốn "L"Essence du
Christianisme" quyết đáp: "Le Christ n'est pas au niveau du Bouddha,
mais ne peut être que infiniment au-dessus" (Ðức Kitô không thể đồng
hàng với Ðức Phật nhưng chỉ có thể vô cùng trổi vượt) 2. Vậy chúng ta có thể nêu lên mấy điểm đối chiếu sau đây:
1. Chúa Giêsu:
a. Ngài là Thiên Chúa làm người:
"Ngôi
Lời đã nhập thể và ở giữa loài người" (Gl 1,14); "Thiên Chúa đã sai con
mình đến trần gian, mặc lấy thân xác giống như thân xác tội lỗi chúng
ta" (1Cr 8,3); "Ðồng bản tính với Thiên Chúa, song đã hạ mình nhận lấy
thân phận tôi tớ và nên giống như phàm nhân" (Pl 2,7). "Ðiều chắc chắn
là Chúa Giêsu từ trời đã đến trong trần gian (1Tm 1,15), và Ngài là
người thật" (1Tm 2,5). "Chúng tôi tin chắc Ngài là Thiên Chúa thật" (1Ga
5,20)...
b. Chọn đạo là chọn chính Ngài:
Hay
đúng hơn là chính Ngài chọn chúng ta (Ga 15,16), cho chúng ta kết hợp
với Ngài như cành nho với thân nho (Ga 15,5-7), "như chi thể trong thân
thể" (Rm 12,5). Vì Ngài là đường đi, là sự sống và là chân lý (Ga 14,6)
là sự sống vĩnh cửu (1Ga 5,20). Vậy chúng ta là những người mang chân lý
của Chúa Kitô trong mình (2Côrintô 11,10), chúng ta phải bước đi trong
Ðức Kitô, hãy ăn rễ trong Ngài (Cl 2,6), sống kết hợp với ngài (1Tx
5,10), để chúng ta ở trong Ngài và ngài ở trong chúng ta (Ga 14,20), để
"chính Chúa Kitô sống trong chúng ta" (Mihi vivere Christus est) (Pl
1,21)...
c. Chính Ðức Kitô là người giải thoát và là cứu cánh sự giải thoát:
"Thiên
Chúa đã sai tôi đến đem tin lành cho kẻ nghèo khó, an ủi kẻ buồn phiền,
báo cho các tù nhân biết họ được tha, cho các người mù biết họ được
sáng mắt, cho kẻ bị áp bức biết họ được tự do" (Lc 4,18). Ta là đường
(Ga 14,6) ai đi theo Ta, người đó sẽ không đi trong bóng tối (Ga 8,13);
Ta là chân lý (Ga14,6) và chân lý giải thoát anh em (Ga 8,32); Ta là sự
sống (Ga 14,32) Ta đến để ban sự sống cho thế gian (Mt 20,28), để cho
mọi người được sự sống (Ga 3,14-15), ai tin theo Ta người đó sẽ được sự
sống muôn đời (Ga 3,15). Tóm lại, "Chúa Giêsu đến giải thoát chúng ta để
chúng ta sống tự do" (Gl 5,1) Và ngoài Ngài, chẳng ai giải thoát chúng
ta (Cv 4,12)...
2. Ðức Phật Thích Ca:
a. Ðức Phật chỉ là người trần, tu thân thành Ðại Giác (illuminé).
Như
lời khẳng định của Cha Romano Guardini "En réalité, il ne se présente
que comme le premier des illuminés" (Sự thật, Ðức Phật chỉ hiện thân như
một người đại giác cao nhất) 3. Giáo sư Walpola Rahula, trong cuốn "What The Bouddha Taught" (Những điều Ðức Phật đã dạy) viết: "Trong
số những nhà sáng lập các tôn giáo, Ðức Phật (nếu có thể gọi Ngài là
nhà sáng lập một tôn giáo theo nghĩa thông thường của danh từ) là vị
Thầy độc nhất đã không tự xưng là gì khác hơn là một con người, hoàn
toàn chỉ là một con người. Ngài lại là một con người tự nhận không được
một thiên khải nào từ bất cứ một vị Thần linh hay một quyền năng nào
khác" 4. Ban Hoằng Pháp, soạn giả
của bộ "Phật Học Phổ Thông," ở mục "Ai khai sáng ra đạo Phật?," sau khi
tóm tắt rõ ràng gia thế, danh xưng của Ðức Phật, đã viết: "Lúc nhỏ
Ðức Phật có trí huệ sáng suốt và tài năng phi thường. Lớn lên, nhìn thấy
nhân sinh thống khổ, thế cuộc vô thường, nên Ngài cương quyết xuất gia
tu hành, tìm đường giải thoát cho mình và cho người, ngõ hầu đưa tất cả
chúng sanh lên bờ giác ngoä"5. Ðàng khác trong chương nói về "Thờ Phật, Lạy Phật, Cúng Phật," Ban Hoằng Pháp xác định rõ rệt: ý
nghĩa của việc "Thờ Phật" là để tỏ lòng tri ân đối với một người đã có
ân đức lớn với nhân loại; Ðức Phật Thích Ca Mâu Ni chỉ là một trong các
Ðức Phật đáng ghi ân, và đáng thơø 6. Trong cuốn "Ðại Thừa Phật Giáo tư tưởng luận," bác sĩ Kimura Taiken viết: "Phật
giáo tuy lấy Ðức Phật làm trung tâm để thành lập, song nói theo Phật
giáo, Ðức Phật -- dù là Phật lý tưởng chăng nữa -- không giống như một
vị thần của các tôn giáo khác chủ trương, hoặc giống bất cứ vị thần
thiên nhiên nào, mà chỉ được coi là do sức tu hành của một người đã đạt
đến quả vụ Phật mà thôi" 7.
Vì thế theo Toan Ánh, có những chuyện như "vừa sinh ra, Ðức Phật đã đi
bảy bước, một tay chỉ lên trời, một tay chỉ xuống đất mà thét "Trên thì
trời, dưới thì đất, duy có ta là đáng thờ nhất" (Thượng thiên hạ địa,
độc ngã duy tôn) chỉ là chuyện hoang đường do các môn đồ thêu dệt ra" mà
thôi 8.
b. Chọn Ðạo Phật không phải là chọn Ðức Phật:
Ðức
Phật là người sáng lập ra đạo Phật, nhưng con người của Ðức Phật, cá
nhân Ðức Phật không đồng hóa với đạo Ngài dạy, nghĩa là Ngài không giữ
một vai trò nào trong công việc giải thoát của người khác. Ðức Phật đã
bày tỏ một con đường mà chính Ngài cũng đã theo, một con đường chung cho
mọi người, trong đó có một cá nhân là Ðức Phật. Ðức Phật đem đến cho
nhân loại một lối thoát, một lý thuyết, nhưng cá nhân Ngài ở ngoài lý
thuyết đó, cũng như người mang thư không liên hệ gì đến bức thư mình
mang 9. Khi đã được giác ngộ rồi, Ðức Phật đi thuyết pháp và luôn dặn: "Những điều ta nói chẳng phải là chân lyù." Lời dạy của bậc giác ngộ không phải là chân lý mà chỉ là phương tiện đi tới chân lý. Ðức Phật nói rõ: "Chân
lý như mặt trăng, giáo lý ta dạy như ngón tay để chỉ mặt trăng cho các
ngươi thấy. Vậy đừng chấp nhầm ngón tay ta là mặt trăng"10.
c. Ðức Phật không phải là người giải thoát và không phải là cứu cánh sự giải thoát:
Trong cuốn "Lịch sử triết học Ðông Phương III," giáo sư Nguyễn Ðăng Thục, có đoạn trích sau đây: "Phật
không phải là người giải thoát cho người khác, nhưng Ngài dạy mọi người
cách tự mình giải thoát cho mình cũng như Ngài đã làm lấy. Người ta tin
theo lời truyền bá về chân lý của Ngài không phải vì chân lý ấy từ ở
Ngài xuất ra mà bởi vì qua lời nói của Ngài một sự hiểu biết cá nhân của
mình về những điều Ngài nói đã biểu lộ ra trong ánh sáng của chính tinh
thần mình" (Oldenberg: Buddha) 11. Nói cách khác để thực hiện việc giải thoát, Ðức Phật dạy "mỗi
người hãy nương tựa nơi chính mình và không bao giờ tìm nơi nương tựa
hay sự giúp đỡ của bất cứ người nào khác, kể cả Ðức Phật." Ngài giảng dạy, khuyến khích và cổ võ mỗi người hãy tự tu tập và tìm sự giải thoát cho chính mình. Ngài nói "Các ngươi nên làm công việc của mình, vì các đức Như Lai chỉ dạy con đường mà thôi."
Nếu người ta có gọi Ðức Phật là một người "cứu thế" đi nữa, thì cũng
chỉ có nghĩa là Ngài đã tìm ra và chỉ con đường đi đến sự giải thoát mà
cứu cánh là Niết Bàn. Nhưng tự chúng ta, ta phải bước trên con đường ấy 12.
Vậy, con đường giải thoát của mỗi người không phải là Ðức Phật, nhưng
là Pháp và Luật mà Ðức Phật dạy. Ai muốn được giải thoát thì kiên thủ
Pháp và Luật. Trước khi chứng nhập Niết Bàn, Ðức Phật đã nói với các đệ
tử: "Ðừng than khóc rằng: Ðức đạo sư của chúng ta đã đi mất và chúng
ta không có ai để tuân theo. Những gì Ta đã dạy, Pháp cùng với Luật, sẽ
là đạo sư của các ngươi sau khi Ta vắng bóng. Nếu các ngươi tuân hành
Pháp và Luật không hề gián đoạn, há chẳng khác Pháp thân của Ta vẫn còn ở
đây mãi sao?" 13. Có thể nói, tất
cả Pháp và Luật của Ðức Phật dạy, thu gọn vào trong bài thuyết pháp đầu
tiên tại Banares về tứ diệu đế: Khổ đế, Tập đế, Diệt đế, Ðạo đế. Tứ diệu
đế là giáo lý căn bản của đạo Phật, chung cho cả Tiểu Thừa và Ðại Thừa.
Muốn thấu triệt cõi đời là khổ, phải lắng nghe Ðức Phật dạy về Khổ đế.
Muốn tìm kiếm nguyên nhân của khổ, hãy lắng nghe Ðức Phật trình bày chi
tiết trong Tập đế. Muốn thấy ánh sáng của Niết Bàn (cứu cánh của sự giải
thoát), phải thực hiện những lời dạy của Phật trong Diệt đế. Muốn thực
hiện Niết Bàn, phải có đủ phương tiện. Những phương tiện này, Ðức Phật
đã cung cấp một cách đầy đủ trong Ðạo đế. Như vậy Ðức Phật đã làm đầy đủ
bổn phận của kẻ dẫn đường, đã đặt vào tay chúng ta bản đồ chỉ dẫn đi
tới Niết Bàn là cứu cánh của sự giải thoát toàn mãn 14.
Giáo sư Takakusu viết: "Trong tâm của người theo đạo Phật, Niết Bàn không chứa chấp một ý tưởng thần thánh hóa nào về Ðức Phật" 15.
Ðiều ấy có ý nói rằng Niết Bàn là cứu cánh của sự giải thoát chứ không
phải Ðức Phật. Theo ý nghĩa nguyên thủy (Tiểu Thừa), Niết Bàn mang nghĩa
tiêu cực là "hủy diệt," hủy diệt sinh tử, hủy diệt thế giới dục vọng.
Theo kinh Ðại Bát Niết Bàn (Ðại Thừa), thì Niết Bàn mang nghĩa tích cực,
là nơi Phật tồn tại trong hoan hỉ và an lạc, là sự giải thoát trọn vẹn,
là lúc chúng ta trở về được cái thể Chân Như, trở thành thực sự Vô Ngã
(không có bất biến), Vô Thường (không có trường tồn), là trạng thái thật
sự của chúng ta và là trạng thái cuối cùng của Niết Bàn 16.
II. Niềm Tin
1. Thượng Ðế quan:
a. Công giáo:
Tin nhận một Thượng Ðế tối cao... Ngài tạo dựng mọi sự... Chúng ta tuyên xưng trong kinh Tin Kính: "Tôi tin kính một Thiên Chúa là Cha Toàn năng, Ðấng tạo thành trời đất hữu hình và vô hình" (xem Sáng Thế Ký 1,1...; Ðnl 4, 39; 1V 8,60; Mác-cô 12,29; Mát-thêu 22,35; Luca 10,26)...
b. Phật giáo:
Không tin nhận có Thượng Ðế tối cao, không tin nhận có Ðấng tạo dựng mọi loài... Giáo sư Kimura Taiken khẳng định: "Ðức Phật phủ nhận một Ðấng Tạo-vật-chủ, đã sáng tạo ra vũ truï"17. Ban Hoằng Pháp, trong cuốn Phật Giáo phổ thông, nói vắn gọn hơn: "Khác với các tôn giáo, Phật Giáo không tin có một Tạo-vật-chuû" 18. Giáo sư Takakusu viết: "Ðạo
Phật đứng hẳn ngoài các chủ trương nhất nguyên hay đa nguyên. Ðạo Phật
là vô thần, cái đó khỏi phải nghi ngờ. Khi được hỏi về Nguyên nhân hay
Nguyên lý tối sơ, Phật luôn luôn không nói" 19. "Vì
thế Phật giáo không coi trọng ý niệm về Nguyên lý, Căn nhân, hay Nguyên
nhân đệ nhất như ta thường thấy trong các hệ thống triết học khác.
Ðương nhiên, một ngành triết học như thần học không phát triển trong
Phật giáo. Ðừng mong có một thảo luận về thần học nơi một triết gia Phật
giáo"20. Ðiều đó dễ hiểu, bởi vì
"Nói về Thượng Ðế chính là phải đề cập đến vấn đề siêu hình. Thế mà Ðức
Phật bao giờ cũng tránh né vấn đề siêu hình. Ngài cho là chuyện vô ích.
Kinh Phật thường lưỡng lự trước ba thái độ về các vấn đề siêu hình: Từ
chối--Công nhận-- Không đề cập tới. Ðức Phật theo thái độ thứ ba là
không đề cập tới. Ðó là một thái độ trung dung. Ðức Phật bảo: "Ðạo
của tôi là Trung Ðạo, tránh cái quá khích, tôi không nói vật sống khác
hay không khác với bản ngã trường tồn. Tôi chỉ dạy luật giải thoát, đau
khổ của sinh diệt, sinh hành; hành là dục, dục là vô minh" 21.
Kết luận Phật Giáo không tin nhận có một Thiên Chúa, một Thượng Ðế hay
một ông Trời tối cao, tự hữu, sáng tạo mọi loài. Do đó không có "Thượng
Ðế quan" trong Phật giáo.
2. Vũ trụ quan và Nhân sinh quan:
a. Công giáo :
Tự
đầu, Thiên Chúa đã tạo dựng vũ trụ và mọi loài, và Công trình sáng tạo
của Chúa đều tốt lành (St 1,1 ...) Nhất là Thiên Chúa đã dựng nên con
người giống hình ảnh Chúa (St 1,27), có nam có nữ (Mt 19,4). Vì thế Chúa
là vua vũ trụ (Tv 48,8), là vua mọi loài thụ tạo (Tv 92,1). Ngài chăm
sóc và nuôi sống mọi loài (Mt 6,24-34). Vì thế con người luôn ngước mắt
về đấng Tạo Thành (Tv 17,7), mọi vật đều ca tụng Thiên Chúa (Tv 144,10),
làm vinh danh Chúa (Tv 28, 1; Pl 2,11); Mọi vật thụ tạo đều đặt hi vọng
nơi Thiên Chúa (Thánh Vịnh 24,5). Con người trông chờ ơn cứu độ (Tv
32,20), vì Chúa chính là phần rỗi của mỗi người (Tv 70,5), là Ðấng giải
thoát của con người (Tv 39,18; 143,2)... Mọi người "trông đợi kẻ chết
sống lại, và sự sống đời sau" (xem Kinh Tin Kính).
b. Phật giáo:
Con
người không do Chúa dựng nên, sống nhiều kiếp (luân hồi). Cứu cánh của
con người là được giải thoát vào Niết Bàn tức trở về thể Chân Như.
Khi
muốn nói về con người và vũ trụ bởi đâu mà có hay nguồn gốc con người
và vũ trụ trong Phật giáo như thế nào, thì chúng ta phải ghi nhận ý kiến
của giáo sư Takakusu: "Về vấn đề sáng thế luận hay vũ trụ luận thì
Phật giáo không có lý thuyết dành riêng cho chúng. Phật Giáo không đề
cập đến sự sáng thế hay sáng tạo nào. Vũ trụ không có điểm đồng tâm. Nó
là một cộng đồng tạo tác của cả mọi loài. Hơn nữa mỗi chúng ta đều tự
tác tự thọ. Phật giáo không tin tưởng các học thuyết cho rằng tất cả
phát xuất từ một nguyên nhân, mà quả quyết rằng vạn hữu nhất định xuất
hiện do nhiều nguyên nhân" 22. Nói cách khác, "Phật
giáo, khác với các tôn giáo khác, không tin có Tạo-vật-chủ. Ðối với
Phật giáo, vũ trụ vạn hữu sinh ra không nhờ một Ðấng nào hay một phép
nào ngoài nó cả, mà chỉ do tự kỉ nhân quả tiếp nối nhau mà thành. Như
thế đối với Phật giáo vũ trụ là vô thỉ, không có cái ban đầu. Mà đã vô
thỉ thì làm gì có cái nguyên nhân đầu tiên?" 23.
Như
trên, khi bàn về vũ trụ quan, Phật giáo không chấp nhận đặt câu hỏi:
"Nguyên nhân đầu tiên của vũ trụ là gì?" hay "Ai sáng tạo vũ trụ vạn
vật?" Ðặt câu hỏi như vậy là sai lầm, phải đặt như thế này: "Thực tại
của vũ trụ vạn hữu như thế nào? Phát nguyên từ thực tại, vũ trụ vạn hữu
đã thành hình và biến chuyển bởi những nguyên nhân gì và như thế nào?."
Trả
lời câu hỏi thứ nhất, Phật giáo có Thực Tướng Luận, tức là lý thuyết về
thực thể của vũ trụ mà Phật giáo quen gọi là Thể Chân Như (Thể: trạng
thái, Chân: cái thật, Như: cái không thay đổi). Trả lời câu hỏi thứ hai,
Phật giáo có Duyên Khởi Luận, tức là năm lý thuyết nói về nguyên nhân
phát sinh vũ trụ vạn hữu, trong đó có con người. Cả năm lý thuyết đều
công nhận:
1. Chân Như là bản thể của vũ trụ vạn hữu.
2. Nguyên nhân làm sanh khởi vũ trụ vạn hữu là mê vọng hay vô minh.
3. Muốn giải thoát, phải trừ cho được mê vọng 24.
Tóm lại Phật giáo cho rằng vũ trụ vạn vật và con người có là do Thể Chân Như bị quấy động. Nói cách khác "Chân Như vì duyên với vô minh mà diêu động và làm phát sanh ra vũ trụ vạn hữu" 25. Theo kinh điển nhà Phật, "Chân Như là một trạng thái bất biến, viên mãn, tròn đầy, trong sáng."
Kinh Phật thường ví sự xuất hiện của vũ trụ, trong đó có con người như
nước biển nổi sóng. Chân Như là nước biển yên lặng. Nước động thành sóng
tức là thành vũ trụ, thành con người giả tưởng, biến hóa sinh diệt...
Khi được hỏi tại sao thể Chân Như bị quấy động, Ðức Phật cho rằng "đó thuộc vấn đề siêu hình, không cần biết đến" 26.
Ðiều quan hệ là nhận sự kiện Thể Chân Như bị quấy động đó, rồi trở lại
được với Thể Chân Như yên lặng trong sáng. Ai đạt tới tức là Như Lai.
Người ta thường gọi Ðức Phật là Ðức Như Lai, nghĩa là người đã viên giác
trở về với Thể Chân Như. Thể Chân Như đây là một trạng thái sống hoàn
toàn trong Niết Bàn, chứ không phải là một ngôi vị, một Thượng Ðế.
Nếu hỏi "mỗi vật hữu hình được tổ hợp bởi những yếu tố nào?," Phật giáo trả lời: "Tất
cả những sắc pháp hay vật hữu hình đều là một tổ hợp của bốn đại chủng
(tứ đại), tức là bốn yếu tố hạt giống: đất (cứng), nước (ướt), lửa (ấm)
và gió (động) (Thổ, thủy, hỏa, phong)." Nếu hỏi "mỗi nhân cách (người) hình thành như thế nào?", Phật giáo trả lời: "Mỗi nhân cách (người) hình thành do tổ hợp của ngũ uẩn: sắc, thọ, tưởng, hành, thức" 27.
Mà
vì được phát sinh ra do Thể Chân Như bị quấy động nên đời sống của con
người và vạn vật là đau khổ: Sinh - Lão - Bệnh - Tử là khổ. Khế Kinh có
câu "Ðời là bể khổ, nước mắt chúng sinh nhiều hơn nước biển" 28.
Vì
chủ trương vạn hữu, kể cả con người, là Vô Ngã, Vô Thường, nên Phật
giáo không chấp nhận có một Ðấng Tối Cao hằng hữu, cũng như không chấp
nhận "người ta có linh hồn bất tử (hay có Ngã Thường Hằng). Phật giáo
nói rõ: "Một Atman hay một linh hồn, hay một ngã là điều không thể có, tin có linh hồn bất tử và Ngã Thường Hằng là sai lầm và điên rồ" 29.
Không
chấp nhận linh hồn bất tử, Ngã Thường Hằng, nhưng Phật giáo lại dạy mọi
vạn hữu đều tử sinh, sinh tử trong kiếp luân hồi. Ðức Phật đã dùng hình
ảnh bánh xe quay tròn để diễn tả luân hồi: sanh tử, tử sanh không ngừng
giống như bánh xe lăn. Thân xác con người (hay thân con thú) đều do tứ
đại mà có là đất, nước, gió, lửa. Khi thân người chết, tứ đại lại trở về
bản thể cũ rồi do cơ duyên tụ họp lại để thành thân người khác, súc
khác, vật khác... cứ vậy mà luân hồi mãi. Con người không chỉ có thân
xác mà còn có tinh thần (không nói là linh hồn) và tinh thần là tổ hợp
bởi ngũ uẩn: thọ, tưởng, hành, thức, sắc (riêng sắc lại là tổ hợp của tứ
đại). Khi người ta chết, Tinh thần cũng không bị tiêu diệt mà chỉ biến
chuyển xoay vần mà thôi, nghĩa là cũng chịu kiếp luân hồi 30.
Kiếp
luân hồi theo luật nhân quả. Nhân và Quả là hai trạng thái tiếp theo
nhau, tương quan mật thiết với nhau, nương vào nhau mà có. Do đó, nếu
kiếp này tạo nhân tốt thì kiếp sau sẽ có quả tốt, bằng kiếp này tạo nhân
xấu thì kiếp sau sẽ có quả xấu. Phật giáo bảo: tùy theo nhân quả tốt
hay xấu mà sau mỗi kiếp trong vòng luân hồi, một chúng sinh (vật, người)
nhập vào một trong sáu cảnh giới (kiếp mới): địa ngục, ngã quỉ, súc
sinh, a-tu-la, loài người và cõi trời. Nhập vào cõi trời là cảnh giới
cao nhất, nhưng vẫn chưa ra khỏi vòng luân hồi. Chúng sinh chỉ ra khỏi
vòng luân hồi khi nhập vào một trong bốn cõi Thánh: Thanh Văn, Duyên
Giác, Bồ Tát và Phật. Buddha được gọi là Phật vì Ngài đã nhập vào cõi
Thánh cao nhất 31.
Ðiều đương nhiên là "Ðạo nào cũng dạy làm lành lánh dữ," "làm thiện lánh ác." Ðối chiếu Công giáo với Phật giáo chúng ta thấy những điểm giống nhau trong phạm vi sống đạo, thực hành đạo hay phạm vi luân lý. Chúng ta có thể đan cử:
III. Sống Ðạo
1. Công giáo:
Sống Lời Chúa. Khi trong đám đông nghe Chúa Giêsu giảng dạy, có tiếng kêu lên: "Phúc thay cho lòng đã cứu mang Thầy, và vú đã cho Thầy buù," lập tức Ngài đáp lại: "Ai nghe và giữ lời Thiên Chúa còn có phúc hơn" (Luca 11,27-28). Chỗ khác, khi Chúa còn đang giảng, có người đến thưa: "Mẹ và anh em Thầy đang đứng ở ngoài, họ tìm Thầy," Ngài liền đưa mắt nhìn đám dân chúng vây quanh và bảo: "Ai là mẹ Ta, ai là anh em Ta?... Ai vâng theo ý Cha Ta ở trên trời thì người đó là anh em Ta, là mẹ Ta" (Mát-thêu 12,50). Nghe lời Chúa và thực hành ý Chúa, chính là tuân thủ giới răn Chúa truyền. Và đó là điều kiện để nên trọn lành, để được sự sống. Lần kia có chàng thanh niên đến hỏi Chúa Giêsu: "Thưa Thầy, tôi phải làm gì để được sự sống đời đời?," Chúa trả lời vắn gọn: "Ðể được sống đời đời, bạn hãy tuân giữ các giới răn Thiên Chúa truyền dạy" (Mát-thêu 19,16-17). Nhiều lần Chúa đã dạy: "Nếu các con yêu mến Thầy, các con hãy giữ giới răn của Thầy" (Galát 14,24; x. Mác-cô 16,15; Galát 14, 21 và 24);...
Phật giáo:
Qui Y Tam Bảo là "trở về với ba điều quý: Phật, Pháp, Tăng. Xét về sự là gửi thân vào Ðức Phật, vào Ðạo Phật, vào Tăng chúng của Phật; Về lí là nương theo đức Giác có đủ Phước và Huệ, nương theo sự Chánh, không theo tà kiến, nương theo đức Tịnh không nhiễm trược, không chấp nệ 32 và giữ Ngũ giới là năm điều cấm mà các Phật tử "tu tại gia" không được làm: không giết hại, không trộm cắp, không tà dâm, không nói sai sự thật, không uống rượu 33.
2. Công giáo:
Bác Ái. Trong bài Tám Mối Phúc Thật, Chúa Giêsu đã công bố: "Phúc cho những kẻ có lòng thương xót, vì họ sẽ được thương xót. Phúc cho những kẻ yêu chuộng hòa bình, vì họ sẽ được gọi là con Thiên Chúa" (Mát-thêu 5,6 và 9). Rất nhiều lần Chúa truyền dạy chúng ta "phải tha thứ cho người khác" (Mát-thêu 5, 21-26), "phải yêu thương cả thù địch của chúng ta" (Mát-thêu 5, 43-48) "phải viếng thăm người đau ốm, tù tội... và Chúa đồng hóa việc bác ái chúng ta làm cho một người hèn mọn nhất như là làm cho chính Chúa" (x. Mát-thêu 25,31-46 Mác-cô 12,28-34). Xin hãy đọc thêm "bài ca bác ái" của Thánh Phaolô (1Côrintô 13,1-33) và "kinh hòa bình" của Thánh Phanxicô thành At-si.
Phật giáo:
Từ, Bi, Hộ, Xả: Từ là "lòng lành," do tấm lòng ấy mà làm lợi ích, an lạc cho chúng sanh; Bi là "lòng xót," do tấm lòng ấy mà cứu tai nạn, khổ não cho chúng sanh; Hộ là "lòng vui," tự mình vui và mừng giùm cho chúng sanh khi họ được điều thiện; Xả là "lòng thí xả," tha thứ cho người, tự mình hi sinh để giúp cho chúng sanh được an lạc, không kể kẻ lạ người quen, kẻ oán người thân. Ðó là Tứ Vô Lượng mà Ðức Phật, nhờ tu trì đã đạt được. Niết Bàn Kinh (quyển 15) chép: "Ai tu Từ thì có thể dứt lòng tham dục, ai tu Bi có thể dứt lòng sân nhuế, ai tu Hỉ có thể dứt lòng buồn oán, ai tu Xả có thể dứt lòng tham dục và sân nhuệ" 34.
3. Công giáo:
Cầu Nguyện. Phúc âm kể rằng Chúa Giêsu đã cầu nguyện trong khi Ngài chịu phép rửa (Luca 3,21), trước khi Ngài đi rao giảng (Mát-thêu 4,1), trước khi Ngài tuyển chọn các Tông đồ (Mác-cô 6,12), khi biến hình trên núi Tabor (Mác-cô 9,29), trong bữa tiệc li, trong vườn cây dầu (Mát-thêu 26,4) và ngay trên Thánh giá (Luca 13,34). Không chỉ làm gương, nhiều lần Chúa còn dạy chúng ta phải cầu nguyện. Thánh Luca nói rõ: Chúa có ý dùng dụ ngôn "một bà góa đã kiên tâm nài nẵng, khiến ông quan án cứng lòng phải nể" cốt dạy chúng ta phải cầu nguyện (Luca 8,1...). Cũng theo thánh Luca, khi vừa vào vườn cây dầu, Chúa đã căn dặn các tông đồ: "Chúng con phải cầu nguyện để khỏi sa chước cám dỗ" (Luca 22,39) (x. Mát-thêu 6,5-13; Luca 11,9-13; Ga 16,23-27)…
Phật giáo:
Tụng Niệm, là Tụng Kinh và Niệm Phật. Hết tụng kinh rồi lại niệm Phật, miệng thì tụng Tên Phật, lòng tin tưởng Ðức Phật. Cất tiếng cao mà tụng Kinh và niệm Phật sẽ được 10 ơn ích: Bài trừ chướng ngủ, thiêu ma kinh sợ, tâm chẳng tán loạn, chư Phật hoan hỉ... 35.
4. Công giáo:
Sám hối, kiêng thịt ăn chay. Chúng ta hãy đọc lại những bài mở đầu Phúc âm của Matthêu (3,1-12), của Maccô (3,1-8), và đọc thêm: Thánh Vịnh 50, Dân Số 6,2; Ðnl 9,9; 12,16; Cv 15,20, để thấy tầm quan trọng của tâm tình thống hối mà Chúa đòi hỏi và kêu gọi chúng ta. Về chay tịnh, xin đọc phúc âm thánh Matthêu để thấy Chúa đã làm gương như thế nào (Mát-thêu 4,2-11) và dạy phải ăn chay làm sao (6,16-18)). Luật hiện hành của Giáo Hội cũng qui định về việc thống hối và chay tịnh (Giáo Luật 1249-1253)…
Phật giáo:
Sám hối, ăn chay trường, cấm sát sanh: Phật dạy: "Phàm còn xuống lên ba cõi, lặn lội trong sáu đường, thì không một loài nào được hoàn toàn trong sạch, không một giống nào dứt hết tội lỗi." Thường các chư Tăng và thiện nam tín nữ tụng kinh sám hối (Hồng Danh Sám) vào tối ngày 14 và 30 hay 29 mỗi tháng 36. Ăn chay là cữ ăn những chất thịt, cá, cữ uống rượu, cữ ăn năm món nồng (hành, tỏi, hẹ, kiệu, ngò). Có "chay kì" là ăn chay có kì hạn nhất định trong mỗi tháng, mỗi năm (nhị trai, tứ trai, lục trai, thập trai, nhất nguyệt trai), và có "chay trường" là ăn chay luôn trong mỗi ngày không gián đoạn cho đến hết đời. Ăn chay là một phương pháp tu hành của người Phật tử. Họ hiểu sâu xa lời Phật nói "Sự sống sống bằng sự chết" 37. Sát sanh là giết mạng sống của chúng sanh. Theo Niết Bàn Kinh, tội sát sanh có ba cấp: Cấp hạ khi giết từ một con kiến cho đến một mạng súc sanh, vì bất cứ một loài vật nào cũng có thể tạo ra chút ít thiện căn. Giết nó là phải chịu tội báo. Cấp trung khi giết một mạng người phàm cho đến một vị tu hành đắc quả Anahàm, lúc đó sẽ bị đọa vào ba đường ác trụy: địa ngục, ngã quỉ, súc sanh. Cấp thượng khi giết cha mẹ cho đến bực Alahán, lúc đó sẽ bị đọa vào Atì đại địa ngục, chịu khổ vô cùng đời đời. Người ta còn phân biệt: "sát tâm" là cố ý giết hại hay vui thích việc giết hại; "sát duyên" là mình làm duyên cớ cho việc giết hại; "sát pháp" là dùng kế hoạch để giết hại (đánh, chém, thuốc độc...). Khi thọ giới, một Phật Tử phát nguyện: "Ðệ tử nguyện giữ không sát hại các loài sanh vật, không tự mình sát, không bảo người ta sát hại, hoặc thấy người khác sát hại mà lấy làm vui" 38.
5. Công giáo:
Làm phúc, bố thí, dâng cúng, từ thiện. Chỉ cần đọc lại bài Phúc Âm của Thánh Matthêu về "ngày phát xét chung" (25,31-46), hay truyện "người giàu có và ông Lagiarô nghèo đói bệnh tật" trong phúc âm Thánh Luca (16,19-31) đủ thấy Chúa dạy người Kitô hữu phải thực hành việc làm phúc bố thí như thế nào. Cũng có thể đọc thêm: Ðnl 26,12...; Mát-thêu, 19,21; Mác-cô 12,41-44; Luca 11,41; 1Co 16,2. Việc dâng cúng vào nhà thờ, cho Giáo Hội, cho các tổ chức từ thiện vẫn là điều được nhắc nhở và kêu gọi... Kinh "Thương người có 14 mối" giáo dân quen đọc mỗi chủ nhật, tóm gọn những điều phải bố thí, làm phúc…
Phật giáo:
Cúng, cúng dường: Cung cấp vật thực, đồ quý hoặc hương, đăng, hoa, quả hay tiền bạc vào Phật sự. Có nhiều cách cúng dường: "Cúng dường Phật" là dâng hương hoa nhang đèn đốt lên; "Cúng dường Tăng" là giúp các ngài tiện bề tu học và cầu nguyện cho mình; "Cúng dường Tam Bảo" là khi đến chùa cúng dường chung cho cả Phật, Pháp, Tăng; "Cúng dường cứu tế" là dâng của cải, tiền bạc, tài năng để giúp người nghèo, hay bệnh nhân, là việc xã hội. Có ba mục đích Cúng dường: để cung kính và sùng mộ; để hạnh nguyện; cho người quá cố hay cho bản thân mai ngày 39. Còn việc Bố Thí cũng rất quan trọng, vì chính nhờ việc bố thí trong những kiếp trước mà Ðức Thích Ca mau lên quả Phật. Trong Phật giáo có hằng trăm bài kinh về sự bố thí quen gọi là "tập bá duyên kinh" 40 ...
Chúng
ta còn có thể nêu ra nhiều điểm khác nữa như "Ðức hiếu thảo đối với cha
mẹ"; "đức thật thà trong lời nói và cách sống" v.v...
Ðến
đây chúng ta phải nói lên rằng: Những điểm trên chỉ gặp nhau hay giống
nhau về "Sự Kiện" (faits) nhưng rất khác nhau về "Ý Nghĩa" (sens). Bởi
lẽ tất cả những việc làm "bác ái, từ bi," "cầu nguyện, tụng niệm," "sám
hối, ăn chay" hay "làm phúc, cúng dường"... là biểu lộ cụ thể hay thực
hành cụ thể những điều tin trong đạo. Thế nhưng như trên chúng ta đã
thấy "niềm tin" liên quan đến Thiên Chúa, đến con người và vũ trụ thụ
tạo đã quá khác nhau giữa Công giáo và Phật giáo, thì do đó những việc
sống đạo cụ thể trên đây rất khác xa nhau về "Ý Nghĩa": Người Công giáo
sống bác ái, cầu nguyện... bao giờ cũng qui về mình, về tha nhân, và về
Thiên Chúa; còn người Phật giáo sống từ bi, tụng niệm... chỉ qui về mình
hay về người khác mà thôi. Bởi lẽ họ không tin có Thiên Chúa.
Kết
luận, khi đối chiếu Công giáo với Phật giáo, câu "Ðạo nào cũng giống
nhau, cũng dạy làm lành lánh dữ," không đúng về phạm vi "Niềm Tin," chỉ
đúng một phần nhỏ về phạm vi "Sống Ðạo," nghĩa là giữa Công giáo và Phật
giáo có những việc "sống đạo" giống nhau về "Sự Kiện," nhưng rất khác
nhau về "Ý Nghĩa." Trong khi đó, ý nghĩa quan trọng hơn sự kiện.
IV. Phật Giáo là Tôn Giáo?
1. Vấn đề khó khăn:
Khó khăn bởi vì đối với người Công giáo như chúng ta, hễ nói đến tôn giáo là tự nhiên nghĩ đến "mối liên hệ giữa một Ðấng Tối Cao, sáng tạo mọi loài với con người và cả vạn vật thụ tạo," nói một cách vắn gọn, "liên hệ giữa Thần và Người." Trong cuốn Théo, người ta viết "La religion (du latin religare, relier) est le lien qui relie l'homme au sacré" (tr. 607). Và như trên chúng ta đã thấy Phật giáo không nhận có một Ðấng Tối Cao dựng nên chúng sanh, và chính Ðức Phật cũng chỉ tự nhận mình là người phàm được giác ngộ. Cho nên, đúng như lời bác sĩ Kimura Taiken: "Phật giáo có thật là tôn giáo hay không, đó là vấn đề rất khó giải đáp!" 41
2. Phật giáo không phải là tôn giáo:
Ðề cập đến vấn đề "Phật giáo có phải là tôn giáo không?," các học giả Âu châu cũng như Á châu, kể cả các vị Thượng Tọa, đã có nhiều ý kiến khác nhau: Ông Koryu Otani cho Phật giáo là một thuyết khoa học chứ không phải tôn giáo 42. Ông G. van der Leeuw lại cho "Phật giáo là một tôn giáo hư vô, một tôn giáo của tiêu cực" (une religion du néant, une religion du négatif) 43. Giáo sư Takakusu quả quyết "Phật giáo là vô thần, cái đó khỏi phải nghi ngơø" 44. Thượng Tọa Thích Nhất Hạnh lại chủ trương "Phật giáo nguyên thủy là những hình thức sinh hoạt văn hóa" 45. Gần đây, giáo sư Nguyễn Huy Bảo có ý kiến: "Phật giáo (hay Khổng giáo) chỉ là những vũ trụ quan hay nhân sinh quan, cả hai đều ở trong phạm vi triết lý"46.
Những
ý kiến khác táo bạo hơn, quả quyết Phật giáo không là tôn giáo, cũng
chẳng là triết học hay khoa học. Trước tiên là ý kiến của giáo sư Tuệ
Quang Nguyễn Ðăng Long trong cuốn Phật Giáo. Ông viết: "Thực ra Phật
giáo không phải là một đạo, một tôn giáo. Tất cả những chùa chiền, tăng
ni, những luật lệ về sự tưởng bên ngoài mà ta vẫn thấy ở khắp cõi Á Ðông
ở khắp vùng Ðông Nam Á (gồm cả Nam Tôn, Bắc Tôn), cho đến các kho tàng
kinh điển ở khắp thế giới, thảy đều chỉ là mấy giọt nước đục, so với
biển cả mênh mông, trong suốt là Phật Pháp.... Phật Pháp không phải là
một tôn giáo, một triết học. Tất cả những điều ta biết về Phật Pháp chỉ
là vài giọt nước đục, so với bể lớn mênh mông trong suốt"47.
Sách này đã được Thượng tọa Thích Tâm Châu, nguyên Viện Trưởng Viện Hóa
Ðạo ở Sài gòn và là đệ nhất Phó Chủ Tịch Hội Tăng Già Phật Giáo Thế
Giới chứng nhận mấy lời: "Một tác phẩm như vậy làm hãnh diện đạo
Phật. Nó sẽ giúp bao trí thức Phật tử hiểu đạo Phật, có một ý niệm rõ
ràng và sâu sắc về đạo. Nó đã tả đúng chân tinh thần Phật giáo. Nó là
nguồn cảm hứng cho người thiết tha tìm hiểu Chính Pháp, cho người thực
hành tu theo Chân lý" 48.
Sau
đó là Thượng Tọa Thích Minh Châu, Viện trưởng Viện Ðại Học Vạn Hạnh
cũng đã lớn tiếng tuyên bố tại Ðại Học Văn Khoa Sài gòn, ngày 6 tháng 4
năm 1967 như sau: "Trước hết chúng tôi xin vào đề ngay rằng đạo Phật
không phải là một tôn giáo, dù nghĩa tôn giáo hiểu theo truyền thống Tây
Phương hay Ðông Phương. Nói đến tôn giáo là nói đến tín ngưỡng, giáo
hội, giáo quyền, thần quyền, thần khải v.v... Ðạo Phật gồm đủ những điều
vừa kể, nhưng điều quan trọng nhất mà tất cả chúng ta cần phải lưu tâm:
những điều kể trên không làm cho đạo Phật trở thành đạo Phật, mà chỉ là
những hình thức tất yếu phát xuất từ sự thoái hóa tinh thần của những
người tự nhận là theo đạo Phật. Ðạo Phật không phải là tôn giáo, mà cũng
không phải là triết lý hay triết học. Tư tưởng triết lý của đạo Phật
chỉ là hậu quả tất yếu của sự sinh thành biện chứng trong sinh hoạt tâm
linh của người theo đạo Phật" 49.
3. Phật giáo là tôn giáo không có nguồn gốc hay tương quan Thần Linh:
Chủ trương Phật Giáo là tôn giáo, bác sĩ Kimura Taiken không muốn tìm nguồn gốc tôn giáo ở các Ðấng Thần Linh mà tìm ở tinh thần con người, bởi vì xét theo phương diện tâm lý, tôn giáo là nhu cầu đáp ứng những hiện tượng tinh thần của con người. Và nhu cầu tinh thần này cốt yếu là sự kết hợp giữa tự do và giải thoát. Nhu cầu tự do và giải thoát có thể chứng nghiệm một đời sống vô hạn, và tất cả đều tự tâm phát ra. Nói như thế có nghĩa là không Thần linh nào có thể thỏa mãn nhu cầu tôn giáo của con người mà chính con người phải tự lực, tự cường thỏa mãn lấy, như lời Ðức Phật dạy: "Hãy tự mình thắp đuốc lên, hãy tự mình nương tựa nơi mình, nương tựa chính Pháp, chứ đừng nương tựa vào một nơi nào khác." Xét như vậy thì Phật giáo là tôn giáo, một tôn giáo độc đáo sánh với các tôn giáo khác 50.
Linh Mục Thiện Cẩm lại có thiển ý: "Người
ta có thể quan niệm Phật giáo là một tôn giáo, nếu người ta hiểu chữ
tôn giáo trên bình diện phẳng, nghĩa là tuy nó không đòi hỏi một tương
quan hướng thượng, tức là không biết đến một Thần linh nào, nhưng nó là
con Ðường đưa tới cái im lặng mênh mông huyền ảo của trạng thái Niết
Bàn, tới cái tuyệt đối là Chân Không (sunyata). Phật giáo là một con
đường giải thoát tâm linh... Tuy Phật giáo không đặt mình trên bình diện
siêu việt tính (Plan transcendental), nhưng cũng không chỉ nằm trong
bình diện "tại thể tính" (plan imminent). Ðạo Phật không lấy con người
làm cứu cánh cho con người, nhưng "muốn đưa con người vượt lên trên con
người," muốn "chuyển nhân bản thành Phật bản." Cái ý vươn lên ấy phải
chăng là một trong những đặc tính của một tôn giáo?" 51.
Ông
Phạm Trọng Chánh, khi góp ý với cụ Nguyễn Huy Bảo nhân bài "Dân Tộc
Việt Nam Trước Vấn Ðề Tôn Giáo," mặc nhiên cho rằng Phật giáo là tôn
giáo khi hiểu theo người Phương Ðông: Ðạo là Con Ðường, và Tôn giáo là
tôn kính giáo dục chứ không có một quan niệm thần quyền 52.
4. Tế nhị với người Việt Nam:
Trừ một thiểu số, người Việt Nam, Phật tử hay không Phật tử sẽ ngỡ ngàng, thậm chí coi là xúc phạm, khi nghe nói "Phật Giáo không phải là tôn giáo."
Bởi
lẽ người Việt Nam có một tâm hồn tôn giáo rất sâu đậm. Và đã nói đến
tôn giáo là tất nhiên có Thượng Ðế, có Thiên Chúa, có Ông Trời, có Tạo
Hóa, có Ðấng Tối Cao. Dù tin đạo Phật, dù kính mến Ðức Phật, họ vẫn nói
là "Trời phạt." Cách chung, khi nói như vậy, họ tuyên xưng trên Ðức Phật
còn có Ông Trời, ông Trời cao hơn Ðức Phật. Ðạo Phật là con đường dẫn
họ đến với ông Trời.
Do đó chúng ta không thể đồng ý với ông Phạm Trọng Chánh về nhận định: "Ðối với người Việt Nam, ông Trời không có nghĩa là Ðấng Sáng Tạo, khai sáng ra vũ trụ, vạn vật và con người" 53. Trái lại, chúng ta coi là xác đáng lời viết sau đây của ông Ðoàn Quang trong bài "Trời người Việt Nam qua ca dao." Ông viết: "Trời
đã ghi dấu vạn năng của Ngài trên không trung cao vút và trong vực thẳm
khôn dò, trong cỏ cây hoa lá, cũng như trong sóng nước đại dương. Ðồng
ruộng mênh mông và biển khơi bát ngát trải rộng trước tầm mắt chúng ta.
Dấu chân của Trời là ở đó. Ngài còn được ghi khắc trong tận thâm tâm của
lòng người. Người Do Thái gọi Ngài là Yahweh, người Ấn Ðộ gọi Ngài là
Bhram, Người Trung Hoa gọi Ngài là Thượng Ðế, còn người Việt Nam gọi
Ngài là Trời, là Ông Trời. Trời của người Việt Nam vượt trên mọi thần
minh. Dù ông theo đạo Khổng hay đạo Lão, dù bà theo đạo Phật hay Cao
Ðài, dù anh chị chỉ thờ cúng Tổ Tiên... thì ông bà hay anh chị vẫn nhận
rằng trên Ðức Khổng, Ðức Lão, Ðức Phật vẫn còn có một Ðấng Tối Cao mà
người mình quen gọi là Ông Trời. Trời quyền năng, Trời tác tạo vạn vật,
Trời can thiệp vào cuộc sống dân gian, Trời ban phúc, Trời giáng họa..." 54. Chúng ta có thể đan cử một vài trong hàng trăm câu ca dao xưng tụng ông Trời:
Lạy Trời mưa xuống,
Lấy nước tôi uống ...
Trời là Cha, Ðất là Mẹ.
Trời sinh trời dưỡng.
Trời sinh voi Trời sinh cỏ.
Cha Mẹ sinh người, Trời sinh tính.
Thiên bất dong gian!
Nhờ Trời mưa gió thuận hòa,
Nào cầy nào cấy trẻ già đua nhau.
Nhờ Trời Hạ kế sang Ðông,
Làm nghề cầy cấy vun trồng tốt tươi.
Ðêm đêm ra thắp đèn Trời,
Cầu cho cha mẹ sống đời với con.
Ðề cập đến quan niệm Trời trong Khổng giáo, ông Toan Ánh viết: "Trời
và Ðất riêng biệt nhưng vẫn liên quan với nhau về phương diện động.
Trời hoàn thiện nhất nên Kinh Thư gọi Trời là Thượng Thiên (trời cao),
là Hiệu Thiên (trời sáng), là Hoàng Thiên, là Thượng Ðế... Vạn vật nhất
thể, mọi vật, không phân biệt vật nào, đều có một nguồn chung. Trời và
đất là cha mẹ chung, loài người là anh em, các vật khác là bầu bạn" 55.
5. Kính Trọng và Ðối Thoại
Nhưng Kiên Vững Sống Ðức Tin
Ðó
là điều Công Ðồng Vatican II truyền dạy chúng ta trong bản văn sau đây:
"Như trong Ấn giáo, con người tìm hiểu mầu nhiệm thần thiêng và diễn tả
mầu nhiệm đó bằng những thần thoại phong phú bất tận cũng như bằng
những nỗ lực suy tư triết lý sâu sắc. Họ tìm cách giải thoát khỏi những
nỗi lo âu của kiếp người hoặc bằng những lối sống khắc khổ, hoặc bằng
tịnh niệm thâm sâu, hoặc bằng việc chạy đến nương ẩn nơi Thượng Ðế với
lòng mến yêu tin cậy. Phật Giáo, theo nhiều tông phái khác nhau, lại
nhìn nhận sự thiếu sót căn bản của cuộc đời thay đổi này và vạch ra con
đường cho những người thành tâm tin cậy, hoặc đạt đến chỗ giải thoát
trọn vẹn hay giác ngộ hoàn toàn. Cũng thế các tôn giáo khác trên hoàn
cầu đều cố công làm cho tâm hồn con người thoát khỏi những băn khoăn
bằng nhiều phương thế khác nhau, bằng cách vạch đường chỉ lối, tức đề
xướng những giáo thuyết và luật sống cũng như những lễ nghi phụng tự.
Giáo
Hội Công Giáo không hề phủ nhận những gì là chân thật và thánh thiện
nơi các tôn giáo đó. Với lòng kính trọng chân thành, Giáo Hội xét thấy
những phương thức hành động và lối sống, những huấn giới và giáo thuyết
kia, tuy rằng có nhiều điểm khác với chủ trương mà Giáo Hội duy trì,
nhưng cũng thường đem lại ánh sáng của Chân Lý. Chân lý chiếu soi cho
hết mọi người. Tuy nhiên Giáo Hội rao giảng và có bổn phận phải kiên trì
rao giảng Chúa Kitô, Ðấng là "đường, sự thật và sự sống" (Galát 14,6);
nơi Ngài, con người tìm thấy đời sống tôn giáo sung mãn và nhờ Ngài,
Thiên Chúa giao hòa mọi sự với mình.
Vì
thế Giáo Hội khuyến khích con cái mình nhìn nhận, duy trì và cổ động
cho những thiện ích thiêng liêng cũng như luân lý và những giá trị xã
hội văn hóa của các tín đồ thuộc các tôn giáo khác, bằng con đường đối
thoại và hợp tác cách thận trọng và bác ái với tín đồ các tôn giáo ấy mà
vẫn là chứng tá của đức tin và đời sống Kitô giáo" (NA 2).
Lm. Mai Đức Vinh (Pháp)
--------------------------------
Tài liệu tham khảo:
(1) Romano Guardini, "Le Seigneur," Alsatia, 1945, I, trg. 346.
(2) Romano Guardini, "L'Essence du Christianisme," Alsatia 1948, Trg. 20
(3) Romano Guardini, "Le Seigneur," Alsatia, 1945, I, trg. 346.
(4) Walpola Rahula, "What the Bouddha Taught," được Thích Nữ Trí Hải dịch ra tiếng Việt với tựa đề "Tư Tưởng Phật Học" (Con đường thoát khổ). Phật học viện quốc tế xuất bản, 1983, trg.1.
(5) Ban Hoằng Pháp (BHP), "Phật Học Phổ Thông" I, trg.17 (Bán ở Chùa Khánh Anh, 14 Ave. Henri Barbusse, 92220 Bagneux)
(6) Ban Hoằng Pháp, sách dẫn I, trg. 115-129.
(7) Kimura Taiken, "Ðại Thừa Phật Giáo" trg. 26 (Chùa Khánh Anh phát hành)
(8) Toan Ánh, "Tín Ngưỡng Việt Nam," I, trg. 277-278.
(9) Nguyễn Văn Trung, "Biện Chứng Giải Thoát của Phật Giáo," Saigon 1960, trg 105-106.
(10) Nguyễn Văn Trung, sách dẫn, trg. 52-53.
(11) Nguyễn Ðăng Thục, "Lịch sử Triết Học Á Ðông" III:Ấn Ðộ, Saigon 1950, trg. 149
(12) Walpola Rahula, sách dẫn, trg. 2.
(13) Takakusu, "The Essentials of Buddhisme Philosophy," Bản dịch Việt ngữ của Tuệ Quang với tiêu đề "Các Tông Phái của Ðạo Phật," Viện Phật học quốc tế xuất bản 1987, trg. 90.
(14) Ban Hoằng Pháp, sách dẫn I, trg 335-354 "Tứ Diệu Ðế." Nguyễn Ðăng Thục, sách dẫn, trg.160-178.
(15) Takakusu, sách dẫn trg. 98.
(16) Tatakusu, sách dẫn trg. 43-44; 100-105.
(17) Kimusa Taiken, sách dẫn trg. 195.
(18) Ban Hoằng Pháp, sách dẫn I, trg 851.
(19) Ban Hoằng Pháp, sách dẫn I trg. 84.
(20) Ban Hoằng Pháp, sách dẫn I trg. 54.
(21) Nguyễn Văn Trung, sách dẫn trg 64; W Rahula, sách dẫn trg. 18.
(22) Takakusu, sách dẫn trg 367-368.
(23) Ban Hoằng Pháp, sách dẫn I trg 853-854.
(24) Ban Hoằng Pháp, sách dẫn, xem trg. 854-866.
(25) Ban Hoằng Pháp, sách dẫn trg. 866.
(26) W. Rahula, sách dẫn trg. 18.
(27) Takakusu, sách dẫn trg. 143.
(28) Ban Hoằng Pháp, sách dẫn trg. 347.
(29) Takakusu, sách dẫn trg. 95.
(30) Ban Hoằng Pháp, sách dẫn xem trg. 259-272.
(31) Ban Hoằng Pháp, sách dẫn xem trg. 250-258.
(32) Ðoàn Văn Còn, "Phật Học Từ Ðiển" II trg. 775; I trg. 60-73.
(33) Ðoàn Văn Còn sách dẫn II trg. 394-395; I trg. 74-98.
(34) Ðoàn Văn Còn, sách dẫn III trg. 1061; I trg. 300-319.
(35) Ðoàn Văn Còn, sách dẫn II trg. 331-335; III trg. 1002; xem Ban Hoằng Pháp, sách dẫn I trg. 133-145.
(36) Ðoàn Văn Còn, sách dẫn III trg. 710-711, xem Ban Hoằng Pháp, sách dẫn I trg. 101-112.
(37) Ðoàn Văn Còn, sách dẫn III trg. 1330, xem Ban Hoằng Pháp, sách dẫn I trg. 150-162.
(38) Ðoàn Văn Còn, sách dẫn II trg. 727-728, xem Ban Hoằng Pháp, sách dẫn I trg. 187.
(39) Ðoàn Văn Còn, sách dẫn I trg. 345-346.
(40) Ðoàn Văn Còn, sách dẫn I trg. 283-284; xem Thích Thanh Từ, Ðạo Phật và Tuổi Trẻ, trg 147-149.
(41) Kimusa Taiken, sách dẫn trg. 139.
(42) Kimusa Taiken, sách dẫn trg. 1377.
(43) G. der Leeuw, "La religion dans son essence et ses manifestations," trg 613, 618, trích dẫn trong cuốn "Kitô giáo với các tôn giáo khác" của Thiện Cẩm, trg. 120.
(44) Takakusu, sách dẫn trg. 84.
(45) Thích Nhất Hạnh, "Ðạo Phật ngày nay," in ronéo, Paris 1964, trg. 13, trích dẫn trong cuốn "Kitô Giáo Với Các Tôn Giáo Khác" của Thiện Cẩm, trg. 120.
(46) Nguyễn Huy Bảo, "Dân Tộc Việt Nam Ðứng Trước Vấn Ðề Tôn Giáo," trong báo Thông Luận số 76, 11.94 và in lại trong báo Bông Sen Âu Châu số 22, 4.95, trg. 26.
(47) Tuệ Quang, "Phật Giáo," Saigon 1964, trg. 164-165, trích dẫn trong cuốn Vấn Ðề Ðau Khổ của Thiên Phong Bửu Dưỡng, Saigon 1969, trg. 9.
(48) Tuệ Quang, sách dẫn trg. 4.
(49) Thích Minh Châu, Tư tưởng Ðại Học Vạn Hạnh số 1, 8.1967, trích trong Thiện Cẩm, sách dẫn. trg. 119.
(50) Kimusa Taiken, sách dẫn xem trg. 135-144.
(51) Thiện Cẩm, sách dẫn trg. 121.
(52) Phạm Trọng Chánh, "Ðối Thoại Về Vấn Ðề Tôn Giáo" đăng trong báo Bông Sen Âu Châu, số 22, 4.95 trg. 21.
(53) Phạm Trọng Chánh sách dẫn, trg. 21.
(54) Ðoàn Quang, "Trời Người Việt Nam Qua Ca Dao," đăng trong đặc san Sao Biển, 12.1982 trg. 18.
(55) Toan Ánh, sách dẫn trg. 239-240.